Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

ĐỀ TÀI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (226.85 KB, 37 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MƠN HỌC
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP:TT_HK211 NHĨM: 2, HK211
GVHD: THS. ĐỖ ĐÌNH NGHĨA
SINH VIÊN THỰC HIỆN
S
T
T

MSSV

HỌ

TÊN

%

ĐI

G

ĐI



HI





M

C

BT

H

L

Ú

M
BT
L

1

185111
1

TRƯƠNG HUY

THỊN
H

2


185105
7

NGUYỄN HẢI

ĐĂN
G

3

185108
6

PHẠM KHÁNH

LON
G

4

185266
3

NGUYỄN
THIỆN

PHÚ

5


185108
2

TRẦN DUY

KHO
A

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


GVPT:Ths. Đỗ Đình Nghĩa

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương I:

2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT

NAM

6

1.1 Lý luận về hội nhập kinh tế

6


1.1.1 Lịch sử hội nhập kinh tế

6

1.1.2 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế

8

1.1.3 Tham gia Các hiệp định hội nhập kinh tế

8

Chương II:

THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TÔM NƯỚC LỢ VÀO THỊ

TRƯỜNG TRUNG QUỐC

21

2.1 Thực trạng và nguyên nhân của xuất nhập khẩu tôm tại Trung Quốc
2.1.1 Thực trạng

22

2.1.2 Nguyên nhân

23

2.2 Thách thức và thời cơ của tôm xuất khẩu hậu Covid-19 (2020-2021)

2.2.1 Thách thức

24

2.2.2 Thời cơ

26

2.3 Những định hướng và kiến nghị phát triển về việc nuôi tôm nước lợ

29

KẾT LUẬN

31

TÀI LIỆU THAM KHẢO

33


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
-

Sau khi giành được độc lập, Việt Nam đang từng bước cải thiện trên con đường
hội nhập nền kinh tế thế giới, từ một chế độ kinh tế bao cấp chuyển hướng sang
kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Việt Nam chú trọng việc
xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chiến lược và thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng.


-

Sơ lược tổng quát về thị trường Trung Quốc đối với các mặt hàng thủy như tôm,
cá tra. Mức độ tiêu thụ của thị trường Trung Quốc đối với mặt hàng này như thế
nào? Thách thức đặt ra để các nhà xuất khẩu phải giải quyết ra sao và cơ hội đối
với các các nhà xuất khẩu như thế nào?

-

Tiềm năng của thủy sản Việt Nam như thế nào: Nguồn cung ứng, giá cả, quy trình
sản xuất, chất lượng các lô hàng ra sao? Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu
tôm ra thị trường thế giới ra sao? Thu được kết quả nào.

-

Giới thiệu về mặt hàng Tôm nước lợ của Việt Nam. Kết quả thu được của hoạt
động xuất khẩu tôm ra thị trường thế giới ra sao? Thị trường Trung Quốc thế nào?
Thuận lợi và khó khăn

-

Đặt vấn đề cho việc xuất khẩu tôm sang thị trường Trung Quốc.
Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những nước có bờ
biển trải dài từ Bắc vào Nam và được coi là thiên đường cho ngành thủy sản kèm
với tình hình hạn mặn xảy ra thường xuyên xảy ra ở các tỉnh Đồng Bằng sơng Cửu
Long thì giải pháp hữu hiệu nhất chính là phát triển ngành thủy sản ven bờ đặc biệt
là tôm. Thủy sản Việt Nam không chỉ nổi tiếng về sự đa dạng phong phú của chủng
loại mà còn đặc trưng bởi số lượng lớn. Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước, thủy sản xuất khẩu ngày nay đã và đang khẳng định trên thị trường thế giới



như: EU, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Trung Quốc, Hàn Quốc..., và góp phần đáng kể
trong cơ cấu GDP của Việt Nam.
Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình hội nhập, sau khi Liên Xô và các nước
Đông Âu tan rã, Việt Nam đã nhận thấy Trung Quốc là một thị trường lớn cần
được đầu tư khai thác. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt
Nam với kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2020 theo số liệu thống kê từ Hải
quan Việt Nam cho thấy: “kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung
Quốc năm 2020 đạt 133,09 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2019. Trong
đó, xuất khẩu của Việt Nam tới Trung Quốc đạt 48,9 tỷ USD, tăng 17,9%; nhập
khẩu từ Trung Quốc đạt 84,1 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ.
Nhập siêu từ thị trường Trung Quốc có giá trị 35,2 tỷ USD, tăng 3,74% so
với năm 2019. Theo Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, Bộ Công Thương, Trung
Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường cung cấp hàng hóa lớn
nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (sau Mỹ)” 1. Các mặt hàng
thủy sản Việt Nam xuất khẩu chủ lực sang Trung Quốc gồm tôm, cá tra, cá biển,
nhuyễn thể và các mặt hàng đông lạnh,... Các sản phẩm tôm đông lạnh xuất khẩu
sang thị trường Trung Quốc đạt trung bình khoảng 900.000 tấn/năm(2020). Tuy
nhiên, do diễn biến dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên hoạt động xuất khẩu
thủy sản Việt Nam sang thị trường này đang có dấu hiệu giảm sút cùng với đó việc
Trung Quốc thắt chặt các tiêu chuẩn xuất nhập khẩu chính ngạch khiến cho các
doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm ra giải pháp và các thủ tục liên quan,
tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các lô hàng xuất khẩu của Việt nam có thể cạnh
tranh với các nguồn cung khác ở thị trường Trung Quốc.

Phương Hằng, (2021), Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 48,9 tỷ USD năm 2020, Báo Quân đội
nhân dân(16/01/2021).
1



2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trước hết có cái nhìn tổng quát về nguồn gốc, cơ sở hình thành
và thực tiễn của hội nhập nền kinh tế. Tiếp theo đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ các lý luận về
hoạt động thúc đẩy xuất khẩu, dựa trên kết quả phân tích thực trạng, cũng như thành công
và thất bại của hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam nói chung và tơm nước lợ nói
riêng trong giai đoạn tiền Covid-19 và hậu Covid-19. Từ đó đề xuất những định hướng,
kiến nghị và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Tôm nước lợ vào thị trường Trung
Quốc trong những năm tới, đặc biệt trong điều kiện các hiệp định thương mại tự do giữa
Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
-

Thứ nhất, nhóm đề tài dựa trên cơ sở của hoạt động xuất khẩu

-

Thứ hai, qua phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giai đoạn
2019-2021. Từ đó rút ra những nhận xét, phân tich và đánh giá ưu nhược điểm
cũng như cơ hội và thách thức của thủy sản Việt Nam ra thị trường thế giới trong
giai đoạn 2019-2021, cũng như những trở ngại mà các doanh nghiệp Việt đang đối
mặt

-

Thứ ba, đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy cũng như
nâng cao giá trị cho thủy sản Việt Nam tại thị trường Trung Quốc và Thế giới

trong giai đoạn hậu Covid-19 và nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phục hồi
nền kinh tế sau đại dịch.


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Tôm của Việt Nam
sang thị trường Trung Quốc
Phạm vi nghiên cứu:
-

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu để tìm hướng đi cho Tôm nước
lợ Việt Nam của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại thị trường Trung
Quốc.

-

Về thời gian: Giai đoạn tiền Covid-19 (2019-2021) và định hướng đến năm
2022

4. Phương Pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu
như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê mơ tả, mơ hình hóa..

5. Bốc cục đề tài:
Ngồi phần mở đầu, kết thúc, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 phần
chính như sau:
NAM

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT

Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU
TÔM NƯỚC LỢ VÀO THỊ

TRƯỜNG TRUNG QUỐC


CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VIỆT
NAM
1.1 Lý luận về hội nhập kinh tế:
1.1.1 Lịch sử hội nhập kinh tế:
Nhìn lại lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam thì tư tưởng mở cửa giao thương đã có
từ khá lâu. Các nhà canh tân của Việt Nam như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ… cách
đây nhiều thế kỷ đã nhìn thấy tầm quan trọng của việc mở cửa nền kinh tế, giao lưu buôn
bán với nước ngoài.
Sau Cách mạng tháng 8 (1945), tư tưởng mở cửa về kinh tế, hội nhập với kinh tế thế giới
đã được thể hiện trong lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12 năm 1946) của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, trong đó có những điểm mà trong bối cảnh hiện nay vẫn rất đúng và thích hợp:
- Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà
kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
- Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho
việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
- Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự
lãnh đạo của Liên hợp quốc.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, việc thực hiện tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế đó đã
bị gián đoạn. Chỉ sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước (1975), Việt Nam
mới thực hiện một phần tư tưởng quan trọng đó bằng việc tham gia liên kết kinh tế
XHCN trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) do Liên Xơ đứng đầu (1978).
Q trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chỉ thực sự được đẩy mạnh kể từ khi
Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 cùng với việc bắt đầu

công cuộc Đổi mới đất nước.


Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội
nhập quốc tế đã trải qua một q trình cụ thể hóa và hồn thiện. Có thể chia thành 3 giai
đoạn lớn:
Giai đoạn thứ nhất từ Đại hội Đảng VI (1986) đến đầu Đại hội Đảng VII
(1991), lúc này Việt Nam chưa nói cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế mà mới đặt
vấn đề là “mở cửa nền kinh tế”,“đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng quan hệ đối
ngoại”. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc phát triển hội nhập ở các giai đoạn
tiếp theo.
Giai đoạn thứ hai là từ Đại hội VIII đến Đại hội Đảng X, chủ trương hội
nhập kinh tế quốc tế đã được Đảng CSVN chỉ rõ: "đẩy nhanh quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế", “xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế
giới”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hịa bình, độc lập và phát triển".
Giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng CSVN
đã đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Theo đó, Việt Nam
chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện với hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là nội
dung quan trọng nhất, như được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày
10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị ĐCSVN về hội nhập quốc tế: “Hội nhập
kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi
cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế”.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2015), Đảng CSVN tiếp tục khẳng định “Thực
hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của
đất nước trên trường quốc tế”.
Trong bối cảnh Việt Nam tích cực hội nhập toàn diện và đẩy mạnh tham gia các Hiệp
định Thương mại tự do (FTA), ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh



tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới. Nghị quyết 06 - NQ/TW khóa XII nêu rõ mục tiêu
thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm
tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn,
công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng
cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế.2
1.1.2 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế (tiếng Anh: International Economic Integration) là việc
thực hiện mở cửa kinh tế quốc gia, phát triển kinh tế quốc gia gắn liền với kinh tế khu
vực và thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế là quy luật tất yếu khách quan đối với sự phát
triển kinh tế mỗi quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế của
các quốc gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và tồn cầu, trong đó các nước thành viên
chịu sự ràng buộc theo những quy định chung của cả khối.
1.1.3 Tham gia các hiệp định hội nhập kinh tế:


Hội nhập khn khổ WTO (11/01/2007):

Năm 2013, Việt Nam đã hồn thành Phiên rà sốt chính sách thương mại lần đầu tiên
trong WTO. Cộng đồng quốc tế đã hoan nghênh và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam
trong quá trình cải cách, hồn thiện chính sách và thực thi các cam kết để phù hợp với
quy định của WTO. Hiện Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Phiên rà sốt chính sách
thương mại lần thứ hai tại WTO vào tháng 9 năm 2020.
Với tư cách thành viên WTO, Việt Nam đã tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán
trong khn khổ WTO ở các nội dung có liên quan đến Việt Nam như nơng nghiệp, cơng
nghiệp, sở hữu trí tuệ ... và đóng góp tiếng nói bảo vệ quyền và lợi ích của các nước đang
2


Hội nhập kinh tế trong những năm đổi mới, Trang thông tin điện tử hội đồng lý luận Trung Ương


phát triển. Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 9 (2013), Việt Nam cùng các thành
viên WTO đã thông qua Gói cam kết thương mại Bali - một thỏa thuận lịch sử khai
thông bế tắc trong đàm phán WTO, gồm 10 Hiệp định với 3 nhóm nội dung là nơng
nghiệp, thuận lợi hóa thương mại và thương mại và phát triển.
Nhằm triển khai các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính
sách thương mại theo hướng ngày càng minh bạch và phù hợp hơn với các cam kết, thông
lệ quốc tế. Các nỗ lực mạnh mẽ nhất đã được tiến hành để nội luật hóa cam kết hội nhập
WTO, hình thành mơi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; phát triển các
thị trường; giảm sự can thiệp của Chính phủ vào thị trường thơng qua các biện pháp kiểm
sốt giá cả, phân bổ nguồn lực, sở hữu, các biện pháp bảo hộ, trợ cấp, độc quyền, tạo ra
môi trường kinh tế - xã hội đáp ứng các tiêu chí để Việt Nam được cơng nhận là nền kinh
tế thị trường. Có thể thấy nỗ lực này qua việc chỉ trong vòng 5 năm sau khi gia nhập
WTO, Việt Nam đã xây dựng mới và hồn thiện trên 30 bộ luật; có tới hơn 400 văn bản
pháp luật liên quan đến 300 loại giấy phép kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau đã
được rà soát, đánh giá và loại bỏ. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc lộ trình
mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ theo cam kết của WTO. Cho đến nay, về cơ bản, các
luật, pháp lệnh có liên quan tới việc thực thi các cam kết WTO về cơ bản đều đã được
ban hành đầy đủ theo kiến nghị tại Báo cáo số 192/BC-BTP ngày 09 tháng 12 năm 2008
của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà sốt pháp luật thực hiện
Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP.


Hội nhập khuôn khổ ASEAN (20/09/1977):

trong bức tranh phát triển chung của ASEAN hơn 50 năm qua, hợp tác kinh tế là mảng
sôi động với nhiều kết quả cụ thể và thiết thực. Thành tựu nổi bật nhất dưới trụ cột kinh

tế là chúng ta đã tranh thủ được những cơ hội trong hội nhập kinh tế ASEAN để mở rộng
thị trường xuất khẩu, bước đầu tham gia vào chuỗi giá trị khu vực, góp phần thúc đẩy


tăng trưởng kinh tế, cải cách chính sách trong nước, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng
cao phù hợp với u cầu hội nhập. Về cơng tác nội khối có thể kể đến một số thành tựu
quan trọng mà Việt Nam cùng các nước ASEAN đã đạt được như sau:
Về thương mại hàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN
(ATIGA), Việt Nam và các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn
hàng rào thuế quan (đến năm 2018, các nước ASEAN-6 đã xóa bỏ khoảng 99,2% số dịng
thuế và các nước gia nhập sau là Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam đã xóa bỏ
khoảng 90,9% số dịng thuế; tỷ lệ tự do hóa thuế quan của Việt Nam trong nội khối
ASEAN đạt 98% vào năm 2018, là tỷ lệ cao nhất trong 11 FTA mà Việt Nam đang thực
hiện). Ngoài tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháp
tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp như cơ chế tự chứng nhận
xuất xứ, cơ chế hải quan một cửa v.v... , các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về
tiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao su, thực phẩm chế biến sẵn, dược phẩm và
thiết bị y tế v.v.
Về thương mại dịch vụ, tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những ưu tiên quan
trọng trong Cộng đồng kinh tế ASEAN. Đến nay, các nước ASEAN đã ký kết xong Nghị
định thư thực hiện Gói cam kết dịch vụ thứ 10 thuộc Hiệp định khung ASEAN về dịch
vụ (AFAS-10) và kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA).
Về đầu tư, sau nhiều nỗ lực thực thi Khu vực đầu tư ASEAN và Hiệp định Đầu tư toàn
diện ASEAN (ACIA), trong năm 2017, các nước ASEAN đã hoàn tất việc ký kết Nghị
định thư thứ hai và thứ ba sửa đổi ACIA và tiến tới sớm hoàn thành ký kết Nghị định thư
thứ tư sửa đổi Hiệp định này vào năm 2019 để tăng cường luồng đầu tư trong khu vực
Đông Nam Á.
Về các lĩnh vực khác, Việt Nam và các nước ASEAN đã đạt được những tiến bộ cụ thể
hơn trong việc thực thi các lĩnh vực mới, như các hoạt động chuẩn bị cho cách mạng
công nghiệp 4.0, thương mại điện tử và phát huy vai trò của Cộng đồng kinh tế ASEAN



vào việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Trong năm 2018 vừa qua, có thể kể đến
một số nội dung đã được thống nhất triển khai và hoàn thành như: ký kết Hiệp định
ASEAN về Thương mại điện tử, thông qua Khung Hội nhập số ASEAN, xây dựng Quy
tắc ứng xử về xây dựng xanh của ASEAN,v.v..
Không chỉ tham gia sâu rộng và toàn diện vào hợp tác nội khối, Việt Nam cùng ASEAN
thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác quan trọng khác như Ấn Độ, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Niu Di-lân, Ốt-xtrây-lia, Trung Quốc, v.v... thông qua ký kết một loạt hiệp định
FTA giữa ASEAN với các đối tác này. Quan hệ hợp tác kinh tế với các các đối tác quan
trọng khác như Hoa Kỳ, EU, Ca-na-đa, Liên bang Nga cũng được Việt Nam phối hợp với
các nước thành viên ASEAN khác triển khai tích cực thơng qua các sáng kiến, các
chương trình hành động cụ thể, tập trung vào các nội dung các bên cùng quan tâm như
kinh tế thương mại, đầu tư quốc tế, phát triển năng lực. Cụ thể, một số kết quả nổi bật về
hợp tác ngoại khối trong thời gian gần đây có thể kể đến như:
- Việt Nam đã phối hợp với các nước thành viên ASEAN khác triển khai các thủ tục cần
thiết và hoàn thành việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Hồng Công, Trung
Quốc vào ngày 23 tháng 02 năm 2018, và đang triển khai các thủ tục phê chuẩn Hiệp
định này, hướng tới việc đưa Hiệp định vào hiệu lực trong năm 2019.
- Cùng với các nước ASEAN khác, Việt Nam đã ký kết “Biên bản ghi nhớ về Hợp tác
Kinh tế giữa ASEAN và Liên minh Kinh tế Á - Âu” bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN Nga, tháng 11 năm 2018.
- Việt Nam cùng các nước ASEAN hồn thành rà sốt nâng cấp Hiệp định Thương mại tự
do ASEAN – Ôtx-trây-lia – Niu Di-lân cũng như hồn thành rà sốt pháp lý và các thủ
tục nội bộ để ký kết Nghị định thư thứ nhất sửa đổi Hiệp định Đối tác Kinh tế ASEAN –
Nhật Bản, bổ sung các cam kết về thương mại dịch vụ, đầu tư và di chuyển thể nhân vào


Hiệp định này. Nghị định thư này dự kiến sẽ được ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng RCEP
giữa kỳ lần thứ 7, tháng 3 năm 2019.
- Về đàm phán thương mại với các đối tác, sau khi khởi động đàm phán từ tháng 5/2013,

đến nay, Việt Nam cùng các nước thành viên Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực
(RCEP) đã tham gia 12 đàm phán cấp Bộ trưởng nhiều phiên đàm phán chính thức giữa
kỳ. Việt Nam đã tích cực phối hợp với các nước thành viên RCEP góp phần duy trì vai
trị trung tâm của ASEAN trong đàm phán với các đối tác và thúc đẩy đàm phán RCEP
đạt được tiến bộ quan trọng trong năm 2018, hướng tới kết thúc đàm phán trong thời gian
tới đây.
- Đảm nhiệm vai trò nước điều phối quan hệ ASEAN-EU, Việt Nam đã thể hiện sự tích
cực trong việc điều phối với các nước ASEAN và EU nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu,
thảo luận với EU về dự thảo khung khổ các yếu tố chính trong Hiệp định FTA ASEAN –
EU trong tương lai.
● Hội nhập khuôn khổ APEC (11/1998):
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á –
Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998. Thành tựu phát triển kinh tế và hội nhập quốc
tế của nước ta trong hơn 20 năm qua đã khẳng định chủ trương tham gia APEC là hoàn
toàn đúng đắn và đúng thời điểm.
Thứ nhất, là cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu tại Châu Á – Thái Bình Dương, nơi hội tụ
các nền kinh tế, thương mại và cơng nghệ lớn tồn cầu, chiếm 39% dân số, đóng góp
59% GDP, hơn 49% thương mại của thế giới, APEC đã mang lại nhiều lợi ích về chiến
lược, kinh tế, thương mại và đầu tư, góp phần thúc đẩy cải cách trong nước, nâng cao vị
thế quốc tế của Việt Nam. APEC là diễn đàn quy tụ 14 trên 28 đối tác chiến lược, đối tác
toàn diện và là các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta, chiếm
75% kim ngạch xuất nhập khẩu, 78% tổng vốn đầu tư trực tiếp và 79% lượng khách du


lịch quốc tế của Việt Nam. 14 trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ta đã, đang
đàm phán và ký kết là với 17 trên 20 thành viên APEC. Những con số này minh chứng rõ
nét tầm quan trọng của APEC đối với phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của
Việt Nam.
Thứ hai, tham gia APEC góp phần quan trọng nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Là
thành viên APEC, Việt Nam có vai trị, tiếng nói bình đẳng trước nền kinh tế hàng đầu

thế giới trong tham gia định hình liên kết kinh tế khu vực. Bên cạnh đó, diễn đàn APEC
cũng là kênh quan trọng để chúng ta thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan
hệ với các đối tác đi vào chiều sâu và thực chất. Điều này có ý nghĩa quan trọng để
chúng ta đẩy mạnh triển khai chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và nâng
tầm đối ngoại đa phương.
Thứ ba, nổi bật nhất trong 20 năm tham gia APEC phải kể đến việc Việt Nam là một
trong số không nhiều thành viên đã hai lần đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC,
vào các năm 2006 và 2017. Với vai trị chủ trì của Việt Nam, tại Tuần lễ Cấp cao tháng
11/2006 tại thủ đô Hà Nội, lần đầu tiên các nhà Lãnh đạo APEC đã xác định triển vọng
hướng tới hình thành Khu vực Thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP).
Đây là dấu ấn quan trọng, đặt nền móng cho tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế toàn
khu vực. Cùng với đó, Chương trình Hành động Hà Nội nhằm thực hiện các Mục tiêu
Bơ-go, Gói biện pháp tổng thể cải cách APEC, các cam kết hợp tác về an ninh con người,
phát triển nguồn nhân lực, cải cách cơ cấu, hỗ trợ các thành viên đang phát triển nâng cao
năng lực hội nhập... cũng được đánh giá là những giải pháp kịp thời, hữu hiệu cho những
vấn đề APEC phải đối mặt tại thời điểm đó. Sau 11 năm, chúng ta tiếp tục được các thành
viên tín nhiệm lựa chọn đăng cai APEC lần thứ hai trong bối cảnh năm 2017 được đánh
giá là một trong những thời điểm khó khăn nhất đối với Diễn đàn, với sự nổi lên mạnh
mẽ của chủ nghĩa bảo hộ, dân túy, chống toàn cầu hóa cũng như các thách thức về biến
đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội, già hóa dân số… Ta đã tổ chức thành công xuất sắc


Năm APEC 2017 với đỉnh cao là Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 25 (TLCC APEC 25) tại
thành phố Đà Nẵng. Tuyên bố Hội nghị Cấp cao APEC 25 (AELM 25) và Hội nghị liên
Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế lần thứ 29 (AMM 29) cùng các văn kiện kèm theo đã
góp phần giữ vững đà hợp tác, liên kết, duy trì giá trị cốt lõi APEC về thúc đẩy thương
mại và đầu tư tự do và mở và ủng hộ hệ thống thương mại đa phương. Vai trị và đóng
góp của Việt Nam được đặc biệt đề cao khi chúng ta đảm nhiệm vị trí Giám đốc điều
hành Ban Thư ký APEC (năm 2005 - 2006), Chủ tịch/Phó Chủ tịch nhiều Ủy ban và
nhiều Nhóm cơng tác chủ chốt, chủ trì khởi xướng thảo luận về xây dựng Tầm nhìn mới

cho Diễn đàn APEC sau năm 2020.
Thứ tư, tham gia APEC và thực hiện các sáng kiến về mở cửa thương mại, đầu tư, tạo
điều kiện kinh doanh góp phần tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước, từng bước
hồn thiện thể chế chính sách, quy định phù hợp với các cam kết quốc tế. Tham gia sân
chơi APEC tạo tiền đề để Việt Nam tham gia vào những sân chơi rộng lớn và có mức độ
cam kết hơn hơn như WTO, các FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao.
Việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng là đòn bẩy để hiện thực hóa quyết tâm xây dựng
Chính phủ liêm khiết, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Thứ năm, là thành viên đang phát triển trong APEC, Việt Nam đã đề xuất thực hiện cũng
như hưởng lợi từ các chương trình xây dựng năng lực và hỗ trợ kỹ thuật. Một trong ba trụ
cột chính của APEC là hợp tác kinh tế và kỹ thuật (ECOTECH), hỗ trợ các nền kinh tế
đang phát triển nâng cao năng lực, cải cách kinh tế và hội nhập khu vực, góp phần thu
hẹp khoảng cách phát triển. Việc triển khai các sáng kiến cùng các dự án hỗ trợ của
APEC đã góp phần nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho các Bộ, ngành, địa phương và
doanh nghiệp, tăng cường kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hội
nhập.
Cuối cùng, diễn đàn APEC mang đến những tiềm năng và cơ hội to lớn cho các doanh
nghiệp Việt Nam. Đối thoại giữa các nhà Lãnh đạo APEC với Hội đồng tư vấn doanh


nghiệp APEC (ABAC) và Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC hàng năm là dịp
quan trọng để cộng đồng doanh nghiệp đề xuất khuyến nghị lên các nhà Lãnh đạo, chủ
động tham gia đóng góp xây dựng chính sách liên kết kinh tế khu vực, đồng thời tạo
khuôn khổ để doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các tập đoàn hàng đầu thế giới. APEC
cũng hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong tiếp cận thị
trường, hưởng môi trường đầu tư, kinh doanh và điều kiện đi lại thuận lợi, tìm kiếm các
nhà đầu tư chiến lược, tiếp cận cơng nghệ và trình độ quản lý tiên tiến.
● Hội nhập khuôn khổ ASEM:
Được thành lập cách đây 22 năm (1996), ASEM đã phát triển vượt lên kỳ vọng ban đầu,
khẳng định là cơ chế đối thoại và hợp tác quan trọng, có quy mơ lớn nhất giữa hai châu

lục, thúc đẩy xu thế hợp tác, liên kết đa tầng nấc vì hịa bình và phát triển. ASEM đã và
đang là nhân tố quan trọng góp phần định hình cục diện thế giới trong thế kỷ 21. Thời
gian qua, Diễn đàn đang chuyển mình với những nội hàm hợp tác và liên kết sâu rộng,
từng bước mang lại lợi ích thiết thân cho các thành viên trong nỗ lực duy trì hịa bình, an
ninh, ổn định, phục hồi kinh tế, ứng phó các thách thức toàn cầu. Vượt qua nhiều rào cản
và khác biệt, ASEM ngày nay trở thành đại gia đình với 53 thành viên.
Là một trong những thành viên sáng lập ASEM, Việt Nam ln phát huy vai trị chủ động
tham gia hợp tác Á-Âu trên cả 3 lĩnh vực: đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác
khác. Việc tham gia ASEM tạo thêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục triển khai
chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, hỗ trợ cho quan hệ song
phương, đẩy mạnh ngoại giao đa phương; tranh thủ khả năng hợp tác thương mại, đầu tư,
chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hóa, giáo dục - đào tạo
phục vụ các yêu cầu phát triển đất nước:
Thứ nhất, ASEM là nơi hội tụ 19 trong số 26 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của
Việt Nam, chiếm khoảng 70% đầu tư trực tiếp nước ngoài, 70% tổng giá trị thương mại


quốc tế và 80% lượng khách du lịch quốc tế. 14 trong 16 hiệp định thương mại tự do mà
Việt Nam đã ký hoặc đang đàm phán là với các đối tác ASEM (trong số 60 đối tác có 47
thành viên ASEM). Những con số này phản ánh phần nào ý nghĩa và vai trò của các
thành viên ASEM đối với bức tranh tổng thể kinh tế Việt Nam, nhất là trong việc duy trì
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý cao, từng
bước nâng cao đời sống nhân dân.
Thứ hai, trong bối cảnh mơi trường hịa bình, an ninh trên thế giới và khu vực đứng trước
nhiều thách thức, cạnh tranh giữa các nước lớn phức tạp, chúng ta đã phối hợp chặt chẽ
với các thành viên ASEAN để ngày càng có nhiều thành viên đề cao lợi ích chung trong
duy trì hịa bình, an ninh và ổn định để phát triển, lên tiếng ủng hộ lập trường chính nghĩa
của ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ…
Thứ ba, chiếm 24 trong số 25 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam,
ASEM là diễn đàn quan trọng để Việt Nam đa phương hóa. Các thỏa thuận quan trọng mà

ta đạt được nhân dịp các Hội nghị Cấp cao ASEM như thỏa thuận với EU về việc Việt
Nam gia nhập WTO, ký tắt Hiệp định Đối tác và Hợp tác với EU tại Hội nghị ASEM 8,
Tuyên bố định hướng kết thúc đàm phán FTA Việt Nam - EU bên lề Hội nghị Cấp cao
ASEM 11 năm 2018 là một số ví dụ.
Thứ tư, thơng qua các cơ chế hợp tác về quản lý và giảm thiểu rủi ro thiên tai, Đối thoại
ASEM về phát triển bền vững với trọng tâm là hợp tác Mekong - Danube, các Bộ, ngành,
địa phương đã tranh thủ kinh nghiệm và hỗ trợ thiết thực của các thành viên ASEM trong
ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý nguồn nước gắn với phát triển bền vững và bảo vệ
môi trường. EU khẳng định hỗ trợ các nước hạ nguồn Mekong, cam kết tài trợ 1,7 tỷ
Euro cho các chương trình của Mekong trong giai đoạn 2014 - 2020, Trung Quốc cam kết
hợp tác, ủng hộ các hình thức hỗ trợ phát triển cho các nước hạ lưu sông Mekong, các dự
án hợp tác của Hungary, Hà Lan, Italy, Đức, ở ĐBSCL... là những minh chứng sinh động.
Kênh hợp tác địa phương đầu tiên trong ASEM giữa Bến Tre và Tulcea (Romania), Cần


Thơ và Ruse (Bulgaria) mở ra triển vọng tham gia hợp tác thực chất, hiệu quả của các địa
phương trong hợp tác ASEM.
Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với ASEAN và các thành viên
khác trao đổi tìm ra phương cách phù hợp làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác toàn diện Á Âu; chủ động “đóng góp, xây dựng và định hình”, đề xuất giải pháp cho các vấn đề lớn
của ASEM như vấn đề mở rộng thành viên, củng cố cơ chế hoạt động, thúc đẩy hiệu quả
của Nhóm hợp tác chuyên ngành…; Tranh thủ các thành viên thúc đẩy các quan tâm
chung của ASEM, đồng thời là lợi ích của Việt Nam như phát triển bền vững, biến đổi
khí hậu, ứng phó thiên tai… Đồng thời, nâng cao nhận thức về vai trò ASEM, tăng cường
phối hợp liên ngành, cải tiến, đổi mới cơ chế thông tin, phối hợp giữa các Bộ, ban ngành
với địa phương, doanh nghiệp để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong chủ trương và triển
khai các hoạt động ASEM.
● Tham gia các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA):
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp
định thương mại tự do (FTA). Trong bối cảnh hệ thống thương mại đa biên đang gặp phải
những khó khăn nhất định, sự phát triển hợp tác kinh tế song phương và khu vực, thể hiện

qua việc hình thành các FTA là một sự bổ trợ quan trọng cho mục tiêu tự do hoá thương
mại và đầu tư đa phương trên phạm vi tồn cầu hiện nay. Việc hình thành các FTA với
mức độ tự do hoá sâu rộng đã và đang đem lại những cơ hội và cả thách thức không nhỏ
đối với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, Việt Nam khơng
thể đứng ngoài cuộc mà cần phải chủ động nắm bắt xu thế FTA, tham gia có lựa chọn để
nắm bắt cơ hội tiếp cận thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác
quan trọng.
Cho tới thời điểm hiện nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 12 FTA gồm: 7 FTA ký kết với
tư cách là thành viên ASEAN (CEPT/AFTA và FTA với các đối tác: Trung Quốc, Hàn


Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Niu Dilân, Hồng Kông); 5 FTA ký kết với tư cách là một
bên độc lập (với các đối tác: Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu, và
Hiệp định Đối tác Tồn diện và Tiến bộ xun Thái Bình Dương CPTPP). Hiện chúng ta
đang đàm phán 3 FTA, gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA
với Khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA), FTA Việt Nam - I-xra-en. FTA với Liên
minh Châu Âu (EU) đã hồn tất rà sốt pháp lý và chuẩn bị tiến tới ký kết.
Việc Việt Nam ký kết các FTA song phương và đa phương đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận được thị trường khu vực và thị
trường toàn cầu,cũng như được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi
hơn. Bởi phần lớn các rào cản và điều kiện trong buôn bán đã được cam kết dỡ bỏ, chủ
yếu là các hàng rào thuế quan (hầu hết về 0% hoặc dưới 5%) đã mang lại một lợi thế cạnh
tranh vô cùng lớn và một triển vọng sáng lạn cho nhiều ngành sản xuất hàng hóa của
chúng ta, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động trong các Cơng ty có
hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, các rào cản về thủ tục pháp lý đồng thời cũng được
giảm thiểu và tối giản hơn, tạo điều kiện để Doanh nghiệp bước ra thị trường quốc tế.
Ngoài ra, khi gia nhập và ký kết vào các Hiệp định về thương mại hàng hóa kể trên, Việt
Nam có thể nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường (đặc biệt đối với đầu tư từ
các nước đối tác CPTPP) và bảo vệ quyền lợi cho người lao động nước nhà tốt hơn.
Việt Nam được hưởng ưu đãi theo các FTA, lượng vốn đầu tư vào Việt Nam sẽ gia tăng,

thu hút được các lao động trí thức, có tay nghề cao từ nước ngoài tới Việt Nam làm việc,
các doanh nghiệp cũng có cơ hội tiếp thu với khoa học cơng nghệ – kỹ thuật tiên tiến từ
các nước phát triển. Nói cách khác, nhờ tham gia các FTA mà doanh nghiệp có thêm cơ
hội tranh thủ được vốn đầu tư nước ngồi, cơng nghệ và các nguồn lực quan trọng khác
từ nước ngồi để phát triển. Lợi thế này khơng chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà cịn là tiềm
năng phát triển trong tương lai.


Tuy nhiên, khi tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA), Việt Nam cũng
phải đối mặt với nhiều khó khăn như:
Một là, khi thị trường mở rộng, các cơng ty của nước ngồi cũng sẽ có những cơ hội
thuận lợi để thâm nhập thị trường trong nước. Đặt trên cán cân, rõ ràng các doanh
nghiệp nước ngồi có lợi thế nguồn lực như vốn, trình độ sản xuất và quản lý, kinh
nghiệm thương trường lớn mạnh hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong nước. Điều
này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ không đủ sức cạnh tranh với các doanh
nghiệp nước ngoài, dễ bị cạnh tranh, khó phát triển.
Hai là, về vấn đề rào cản kỹ thuật và yêu cầu về xuất xứ hàng hóa nghiêm ngặt. Đối với
các FTA Việt Nam mới ký kết, gia nhập gần đây thì các quy tắc xuất xứ đều theo xu
hướng là gia tăng giá trị tại Việt Nam trong khu vực các nước tham gia FTA. Đây là một
bất lợi vì Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên phụ liệu về nước để gia công hàng xuất
khẩu, cho nên nếu không chuyển vùng nguyên liệu từ nhập khẩu sang trong nước cung
cấp, hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không được hưởng các ưu đãi thuế. Ngồi ra, các
quy định kỹ thuật như bao gói, nhãn mác, dư lượng hóa chất tối đa trong sản phẩm xuất
khẩu cũng là một rào cản cho hàng xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt là hàng nông sản của
Việt Nam có thể bị mắc ở rào cản về các biện pháp vệ sinh dịch tễ. Việc quy định các
tiêu chuẩn này thuộc quyền của nước nhập khẩu, do vậy khó lòng ngăn cản nước nhập
khẩu lạm dụng các quy định về tiêu chuẩn này để làm rào cản ngăn hàng hóa Việt Nam
xâm nhập vào thị trường nước họ.
Ba là, ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics ở Việt Nam chưa phát triển mạnh
nên chi phí của nền kinh tế sẽ còn cao so với các quốc gia khác. Trước mắt, nền kinh tế

Việt Nam tiếp tục phải vượt qua những trở ngại về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng
quản trị quốc gia của Chính phủ, về môi trường cạnh tranh quốc gia và một số vấn đề an
sinh xã hội…


Tiến trình hội nhập quốc tế đã có những tác động to lớn, nhiều mặt đến thế và lực của VN
trong phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân; tạo
sức ép và điều kiện để hoàn thiện thể chế kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
doanh nghiệp và sản phẩm. Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế, tạo cơ hội để nước ta tiếp
cận những thành tựu của khoa học và công nghệ trên thế giới. Nhiều công nghệ hiện đại,
dây chuyền sản xuất tiên tiến được sử dụng tạo nên bước phát triển mới trong các ngành
sản xuất. Các doanh nghiệp VN có cơ hội tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý sản
xuất hiện đại thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài. Từng bước đưa hoạt
động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh. Các doanh
nghiệp VN trong tiến trình hội nhập đã đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao
năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Tiến trình hội nhập cũng giúp chúng ta tao nền thế và lực mới, qua đó giữ vững ổn định
chính trị, xã hội và củng cố an ninh quốc phòng. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng
đánh giá: “Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế uy tín quốc tế của
nước ta được nâng cao”


CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU TÔM NƯỚC LỢ VÀO THỊ
TRƯỜNG TRUNG QUỐC
2.1 Thực trạng và nguyên nhân của xuất nhập khẩu tôm tại Trung Quốc
2.1.1 Thực trạng:
Năng lực chế biến
Theo số liệu thống kê của Cục chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Agrotrade Việt
Nam), hiện nước ta có trên 300 cơ sở chuyên và có kết hợp chế biến tôm với công suất

trên 1,4 triệu tấn/ năm. Tập trung chủ yếu ở miền Trung, Nam Trung Bộ và các tỉnh
ĐBSCL. Qua kiểm tra các cơ sở đều đáp ứng tốt các điều kiện xuất khẩu. Sản phẩm chế
biến đa dạng, trong đó sản phẩm đơng lạnh chiếm khoảng 90% với nhiều dạng sản phẩm
khác nhau, 10% còn lại tập trung chủ yếu các sản phẩm khô, tươi sống.
Bên cạnh đó, các cơ sở chế biến hiện nay bắt đầu tập trung nhiều sang mảng phụ phẩm,
tận dụng các nguyên liệu đầu, vỏ tôm từ các nhà máy để chế biến thức ăn chăn nuôi và
một số sản phẩm có giá trị như: Chitin, chitosan, glucosamine, astaxanthin… Tuy nhiên,
do công nghệ xử lý thủy hải sản hạn chế, thành phẩm đa phần là sản phẩm đơng lạnh
hoặc có hàm lượng chế biến thấp, nên lượng phụ phẩm thải ra trong q trình sản xuất
cịn khá cao với tỷ lệ khoảng 35 – 60%, tương đương hơn 2 triệu tấn phụ phẩm thủy hải
sản mỗi năm, trong đó có khoảng 250 tấn phụ phẩm tôm.
Công ty Cổ phần Việt Nam Food (VNF) là đơn vị đi đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực chế


biến các sản phẩm phụ từ ngành tôm. Theo đánh giá của đại diện VNF, trong q trình
chế biến tơm, chỉ có 55-65% của con tơm được sử dụng, cịn lại 35-45% phần còn lại
được coi là phụ phẩm, bị bỏ đi. Trong khi đó, phụ phẩm tơm chứa rất nhiều chất dinh
dưỡng có giá trị, có thể được chiết xuất và áp dụng trong nhiều lĩnh vực, tạo ra giá trị mới
cao hơn nhiều lần.

2.1.2 Nguyên nhân
2.1.2.a) Công nghệ
Theo ông Trần Đình Luân – Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, mặc dù là ngành hàng
có giá trị gia tăng cao, nhưng chế biến phụ phẩm thủy sản vẫn chưa được các doanh
nghiệp quan tâm đúng mức. Vì thế, các doanh nghiệp chưa chuyên tâm đầu tư vào chế
biến phụ phẩm, đây chính là điểm nghẽn trong chuỗi giá trị thủy sản. Lý giải về nguyên


nhân này, có thể thấy, ngành chế biến phụ phẩm địi hỏi phải có cơng nghệ hiện đại và
nghiên cứu phát triển sản phẩm. Nhưng hiện nay công nghệ của Việt Nam vẫn đang ở

mức học hỏi từ các quốc gia khác. Các công nghệ để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao
như: chitin, chitosan, protein thủy phân… dùng trong sản xuất thực phẩm chức năng, vật
liệu sinh học, y tế, nơng nghiệp… hiện nay chỉ có một, hai doanh nghiệp làm được.

Do đó, “để khai thác hết được giá trị của phụ phẩm thủy sản, doanh nghiệp cần phải đầu
tư ‘cho tới’ vào khoa học công nghệ, máy móc thiết bị, cũng như người lao động có tay
nghề”, ơng Lộc chia sẻ.
2.1.2.b) Chi phí
Tổng cục Trưởng Tổng cục Thủy sản, ơng Trần Đình Ln nhận định, cơ cấu giá thành
sản xuất thủy sản chiếm khoảng 50-70%, trung bình 60%. Chính vì thế, đây là một trong
những yếu tố nhạy cảm khi giá cả biến động, làm tăng chi phí sản xuất, tăng rủi ro và khả
năng cạnh tranh thủy sản của Việt Nam. Chi phí sản xuất thủy sản của chúng ta từ trước
tới nay vẫn luôn được đánh giá là cao hơn các nước trong khu vực.

Theo ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh
Phú, hiện nay sản phẩm tôm của Việt Nam vẫn đang đứng trước những thách thức từ
trong nước cũng như thị trường xuất khẩu. Ngồi vấn đề chi phí sản xuất thì chất lượng
tơm giống, dịch bệnh tiềm ẩn, tôm nguyên liệu phục vụ sản xuất chế biến chưa đáp ứng
đầy đủ nhu cầu cũng là những thách thức lớn với chúng ta. Bên cạnh đó, các đối thủ
cạnh tranh như Ấn Ðộ, Ê-cu-a-đo, Thái-lan đã tiệm cận trình độ về cơng nghệ ni của
Việt Nam, giá thành sản xuất rẻ hơn. Điều này địi hỏi các nhà quản lý, các doanh
nghiệp, người ni cần phải có giải pháp đột phá, quyết liệt để nâng cao khả năng cạnh


tranh của


×