Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN địa PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI đoạn từ 1960 đến 1980 SO SÁNH với tổ CHỨC CHÌNH QUYỀN địa PHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY và đề XUẤT cải CÁCH tổ CHỨC CHÍNH QUYỀN địa PHƯƠNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (357.63 KB, 29 trang )

BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

CHỦ ĐỀ 7:

“TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN TỪ 1960 ĐẾN 1980. SO SÁNH VỚI TỔ CHỨC CHÌNH
QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ ĐỀ XUẤT CẢI
CÁCH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY.”
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG


Hà Nội - 2021

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CQĐP
HĐND
UBND

Chính quyền địa phương
Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiến pháp năm 1946 đã hồn thành sứ mệnh của nó nhưng so v ới
tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi. Vì
vậy, trong kì họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam dân ch ủ cộng hồ


khố I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946 và thành lập Ban d ự
thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khi làm xong Bản dự th ảo đ ầu tiên, tháng 7
năm 1958, Bản dự thảo được đưa ra thảo luận trong các cán bộ trung cấp
và cao cấp thuộc các cơ quan Quân, Dân, Chính, Đ ảng. Sau đ ợt th ảo lu ận
này, Bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 01/4/1959, D ự th ảo đ ược
cơng bố để tồn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Cuộc th ảo
luận này kéo dài trong 4 tháng với sự tham gia sơi nổi, tích c ực của các
tầng lớp nhân dân lao động. Ngày 31/12/1959, Quốc h ội đã nhất trí thơng
qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 01/01/1960, Ch ủ tịch H ồ Chí Minh kí s ắc
lệnh cơng bố Hiến pháp.
Tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn 1960-1980 được tổ ch ức
thực hiện theo quy định trong Hiến pháp năm 1959. Đã có nh ững đi ểm
mới để phù hợp với tình hình Việt Nam lúc bấy giờ. Nh ưng so sánh v ới
hiện nay thì bộc lộ nhiều hạn chế.
Vì vậy mà tơi đã chọn chủ đề: “Tổ chức chính quyền địa phương
Việt Nam giai đoạn từ 19 60 đến 1980. So sánh với tổ chức chính
quyền địa phương Việt Nam hiện nay và đề xuất cải cách tổ chức
chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay” để thực hiện nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1. Mục đích nghiên cứu


Thơng qua việc nghiên cứu và tìm hiểu về tổ chức chính quyền địa
phương Việt Nam giai đoạn 1960-1980 nhằm nêu ra những căn cứ pháp lý, cấu
trúc bộ máy thời kỳ này. Đồng thời so sánh với tổ chức chính quyền địa phương
Việt Nam hiện nay nhằm tìm ra những điểm giống và khác nhau.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn 1960-1980.
- Trình bày và so sánh tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai
đoạn 1960-1980 với giai đoạn hiện nay tại Việt Nam.

- Đề xuất cải cách tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay .
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu nội dung:
- Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn 1960-1980.
- Trình bày và so sánh tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai
đoạn 1960-1980 với giai đoạn hiện nay tại Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Về tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam
giai đoạn 1960-1980 và so sánh với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam
giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi về không gian: Giai đoạn 1960-1980 và hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đề tài
này tôi sử dụng chủ yếu phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
Phương pháp tổng hợp
Phương pháp logic
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài


- Ý nghĩa lý luận: Về tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai
đoạn 1960-1980 và so sánh với tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam
giai đoạn hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ những quy định về tổ chức chính quyền địa
phương Việt Nam giai đoạn 1960-1980 đưa ra nh ững nhận xét và th ực
hiện so sánh với tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn hiện nay. Th ực
hiện đưa ra một số đề xuất nhằm cải cách chính quy ền địa ph ương hi ện
nay tại Việt Nam.
6. Kết cấu trong tiểu luận

Chương 1: Tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai đoạn t ừ
1960 đến 1980
Chương 2: Những điểm mới về tổ chức chính quyền đia ph ương t ại
Việt Nam hiện nay so với giai đoạn 1960-1980
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để th ực hiện cải cách chính
quyền địa phương Việt Nam giai đoạn hiện nay


NỘI DUNG
Chương 1: TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN TỪ 1960 ĐẾN 1980
1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Từ năm 1959, tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam ra đời và được chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa h ậu thu ẫn
nhằm kêu gọi chính phủ Ngơ Đình Diệm tổ chức Tổng tuyển cử th ống
nhất đất nước. Đầu thập niên 1960, lực lượng vũ trang của M ặt tr ận này
là Quân Giải phóng miền Nam được thành lập và tổ chức bảo vệ các cơ s ở
chính trị cũ của Việt Minh cũng như bảo vệ người dân tr ước sự đàn áp c ủa
chính quyền Diệm. Mặt trận đã kiểm sốt một khu vực rộng l ớn ở nơng
thơn miền nam, và mở nhiều vụ tấn công vào các căn c ứ đ ối ph ương.
Trước đó, Hoa Kỳ đã hỗ trợ tài chính, vũ khí và cố vấn cho chính ph ủ Ngơ
Đình Diệm từ năm 1954 để ngăn chặn sự lớn mạnh của Việt Minh t ại
miền Nam (do tập kết chính trị được phép tiến hành tại chỗ nên các c ơ sở
chính trị của Việt Nam không phải ra Bắc cùng Quân đội Nhân dân Việt
Nam).
Tuy nhiên, những mâu thuẫn giữa chính phủ Ngơ Đình Di ệm v ới
phật giáo Việt Nam, việc chống quân Giải phóng miền Nam khơng đạt m ục
tiêu và thái độ khơng phục tùng của Ngơ Đình Diệm, Hoa Kỳ quy ết đ ịnh
loại bỏ Ngơ Đình Diệm bằng cách ủng hộ Quân lực Việt Nam C ộng hòa



tiến hành đảo chính. Tướng lĩnh Quân lực Việt Nam C ộng hịa đ ảo chính và
ám sát Ngơ Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, ch ấm d ứt n ền Đệ Nh ất
Cộng hòa và thành lập nền Đệ Nhị Cộng hịa.
Sau giai đoạn đảo chính liên tiếp, năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu lên
làm Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa. Ở miền
Bắc, Lê Duẩn là lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hịa sau khi Ch ủ t ịch
Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969.Đầu năm 1968, Quân Gi ải phóng mi ền
Nam Việt Nam và nhân dân địa phương mở cuộc tổng tấn công Chiến d ịch
Tết Mậu Thân vào hầu hết các thành phố chính ở miền Nam Việt Nam.
Cuộc tấn công bị tổn thất lớn nhưng đã đạt được mục đích đề ra: gây thi ệt
hại thật lớn cho quân Mỹ để khiến cho Chính ph ủ và dân chúng Mỹ m ất
lòng tin vào khả năng chiến thắng của quân đội Mỹ ở Việt Nam, cũng nh ư
buộc Chính phủ Mỹ phải ngồi đàm phán với Chính ph ủ Cách m ạng lâm
thời Cộng hịa miền Nam Việt Nam.
Tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã tấn cơng vào quần đ ảo Hồng Sa
lúc đó đang do Qn lực Việt Nam Cộng hịa kiểm sốt và chiếm đóng hồn
tồn quần đảo này.
Các xe tăng số 390 (trái) và số 843 (phải) của Quân Giải phóng miền
Nam Việt Nam tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975
Sau Hiệp định Paris 1973, quân viễn chinh Mỹ rút kh ỏi Vi ệt Nam –
theo đúng điều khoản đầu tiên của hiệp định là công nh ận sự "độc l ập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" của Việt Nam. Các điều
khoản khác là đình chiến và giữ lãnh thổ của mỗi bên tr ước khi đình
chiến, tổng tuyển cử để xác định chính quyền tương lai ở miền Nam.
Với sự rút quân của Hoa Kỳ cùng với những điểm yếu n ội tại của
mình, Qn lực Việt Nam Cộng hịa khơng th ể tòn tại đ ược lâu. Đ ến gi ữa
tháng 3 năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tấn công
ở Tây Nguyên, khởi đầu những chiến dịch nối tiếp nhau. QLVNCH th ất bại
liên tục, để mất Tây Nguyên rồi Huế, Đà Nẵng sau ch ưa đầy 1 tháng.



Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
giành được quyền kiểm sốt Sài Gịn, Tổng thống Dương Văn Minh c ủa
Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng Chính ph ủ Cách m ạng lâm th ời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Ngày 25 tháng 4 năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa
miền Nam Việt Nam tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất về mặt nhà
nước thành một quốc gia có tên chính thức là C ộng hịa Xã h ội ch ủ nghĩa
Việt Nam. Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên H ợp Quốc.
Tuy nhiên, do những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan nh ư:
chủ trương thống nhất mọi mặt theo tiêu chuẩn miền Bắc (thí dụ, kế
hoạch xã hội hóa tồn bộ kinh tế miền Nam nhằm h ợp nhất v ới kinh t ế
miền Bắc); các cuộc tấn công liên tục vào Nam bộ của quân đ ội Khmer Đ ỏ,
thiên tai và lũ lụt năm 1977 và 1978, Trung Quốc tấn công vào các t ỉnh biên
giới phía Bắc, di chứng chiến tranh như chất độc da cam, bom mìn ch ưa n ổ
đã làm cho nền kinh tế quốc gia rơi vào khủng hoảng. S ự đe d ọa c ủa chi ến
tranh, đời sống sút kém gây ra một làn sóng người vượt biên ra nước ngồi
(thuyền nhân) bắt đầu từ năm 1978, chủ yếu là người Hoa.
Đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế – xã hội ở Vi ệt Nam tr ở
nên gay gắt trầm trọng, tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986.
Những khủng hoảng này đã gây sức ép đổi mới cả về chính tr ị và qu ản lý
kinh tế.
Sau chiến tranh Việt Nam, Campuchia nhiều lần xâm phạm lãnh th ổ
của Việt Nam dù cho Việt Nam đã có nhiều động thái đ ể duy trì hịa bình.
Tháng 5 năm 1975, Khmer Đỏ đã tấn công đảo Phú Quốc và Th ổ Chu c ủa
Việt Nam. Từ năm 1975–1978, tranh chấp và xung đột biên gi ới x ảy ra
thường xuyên, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc, quân đ ội Khmer Đ ỏ
nhiều lần tiến hành các cuộc đột kích vào sâu trong lãnh th ổ Vi ệt Nam,
theo thống kê, có khoảng 30.000 thường dân và hàng nghìn qn lính Vi ệt



Nam bị quân đội Khmer Đỏ giết hại trong các cuộc tấn công d ọc biên gi ới
trong thời gian này.
Vào tháng 12 năm 1978, quân Khmer Đỏ mở các cuộc tấn công l ớn
vào các tỉnh biên giới từ Tây Ninh đến Kiên Giang, th ị xã Hà Tiên bị chi ếm.
Quân đội Việt Nam tổ chức phản công, tới ngày 7 tháng 1 năm 1979, h ọ
tiến quân vào thủ đô Phnom Penh đánh đuổi Khmer Đỏ.
1.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 1959 từ điều 78 đến điều 108:
Điều 78:
Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam dân ch ủ cộng hoà phân
định như sau:
Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã;
Huyện chia thành xã, thị trấn.
Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do luật định.
Điều 79:
Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban hành chính.
Các thành phố có thể chia thành khu phố có Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban hành chính theo quyết định của Hội đồng Chính phủ.
Điều 80:
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà n ước ở địa
phương.
Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân địa ph ương bầu ra và ch ịu
trách nhiệm trước nhân dân địa phương.
Điều 81:
Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành
phố trực thuộc trung ương là ba năm.

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân huyện, thành phố, th ị xã,
xã, thị trấn, khu phố là hai năm.
Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân các cấp trong khu v ực t ự
trị do luật định.
Thể lệ tuyển cử và số đại biểu của Hội đồng nhân dân các c ấp do
luật định.
Điều 82:


Hội đồng nhân dân bảo đảm sự tôn trọng và chấp hành pháp luật
của Nhà nước ở địa phương; đặt kế hoạch xây dựng kinh tế, văn hoá và
những sự nghiệp lợi ích cơng cộng ở địa phương; xét duy ệt và phê chu ẩn
dự toán và quyết toán ngân sách của địa phương; duy trì trật tự và an ninh
ở địa phương, bảo vệ tài sản công cộng, bảo hộ quy ền lợi c ủa công dân,
bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc
Điều 83:
Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên, H ội
đồng nhân dân ra những nghị quyết thi hành ở địa phương.
Điều 84:
Hội đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban hành chính và có quy ền bãi miễn
các thành viên của Uỷ ban hành chính.
Hội đồng nhân dân bầu và bãi miễn Chánh án Toà án nhân dân c ấp
mình.

Điều 85:
Hội đồng nhân dân có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ nh ững quy ết định

khơng thích đáng của Uỷ ban hành chính cấp mình; có quy ền s ửa đ ổi hoặc
bãi bỏ những nghị quyết khơng thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp
dưới trực tiếp và những quyết định khơng thích đáng của Uỷ ban hành

chính cấp dưới trực tiếp.
Điều 86:
Hội đồng nhân dân các cấp có quy ền giải tán H ội đồng nhân dân cấp
dưới trực tiếp khi Hội đồng nhân dân này làm thiệt hại đến quyền l ợi của
nhân dân một cách nghiêm trọng. Nghị quyết giải tán phải được Hội đồng
nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn trước khi thi hành. Ngh ị quy ết gi ải
tán phải được Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn trước khi
thi hành. Nghị quyết giải tán của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành
phố trực thuộc trung ương phải được Uỷ ban thường vụ Quốc h ội phê
chuẩn trước khi thi hành.
Điều 87:
Uỷ ban hành chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đ ồng nhân
dân địa phương, là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa ph ương.


Điều 88:
Uỷ ban hành chính gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Ch ủ t ịch,
uỷ viên thư ký và các uỷ viên.
Nhiệm kỳ của Uỷ ban hành chính theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân
dân đã bầu ra mình.
Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ hoặc bị giải tán, U ỷ ban hành
chính tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân m ới b ầu ra
Uỷ ban hành chính mới.
Tổ chức của Uỷ ban hành chính các cấp do luật định.
Điều 89:
Uỷ ban hành chính các cấp quản lý cơng tác hành chính c ủa địa
phương; chấp hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân c ấp mình và ngh ị
quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên.
Uỷ ban hành chính các cấp chiếu theo quyền hạn do luật đ ịnh mà ra
quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những quyết định, chỉ th ị ấy.

Điều 90:
Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo cơng tác của các ngành thuộc
quyền mình và của các Uỷ ban hành chính cấp dưới.
Uỷ ban hành chính các cấp có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ nh ững
quyết định không thích đáng của các ngành cơng tác thu ộc quy ền mình và
của Uỷ ban hành chính cấp dưới.
Uỷ ban hành chính các cấp có quyền đình chỉ việc thi hành nh ững
nghị quyết khơng thích đáng của Hội đồng nhân dân cấp dưới tr ực tiếp và
đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ nh ững ngh ị
quyết ấy
Điều 91:
Uỷ ban hành chính các cấp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Hội đồng nhân dân cấp mình và trước cơ quan hành chính Nhà n ước
cấp trên trực tiếp.
Uỷ ban hành chính các cấp chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính
cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng Chính ph ủ.
Điều 113:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được phân định như sau:


Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đ ơn vị
hành chính tương đương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố
trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;
Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia
thành phường và xã; quận chia thành phường.
Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân.
Điều 114:

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa ph ương, do
nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa ph ương
và chính quyền cấp trên.
Hội đồng nhân dân quyết định và thực hiện các biện pháp nhằm xây
dựng địa phương về mọi mặt, bảo đảm phát triển kinh tế và văn hoá, nâng
cao đời sống của nhân dân địa phương và hoàn thành nhiệm v ụ c ấp trên
giao cho.
Điều 115:
Hội đồng nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn tr ọng và thi hành
nghiêm chỉnh ở địa phương; quyết định các biện pháp thi hành chính sách
của Nhà nước và nhiệm vụ do cấp trên giao cho.
2- Quyết định kế hoạch và dự toán ngân sách của địa ph ương, phê
chuẩn việc thực hiện kế hoạch và quyết toán ngân sách của địa ph ương.
3- Quyết định các vấn đề về sản xuất, phân phối, lưu thơng, văn hố,
xã hội và dịch vụ ở địa phương.
4- Bảo đảm việc xây dựng quốc phịng tồn dân và lực lượng vũ
trang nhân dân ở địa phương.
5- Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
6- Bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa.
7- Bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc.
8- Bảo đảm cho công dân được hưởng quyền lợi và làm trịn nghĩa
vụ của mình.
9- Bầu và bãi miễn các thành viên của Uỷ ban nhân dân và các thành
viên của Toà án nhân dân cùng cấp.


10- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng c ủa U ỷ
ban nhân dân cùng cấp hoặc của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực ti ếp.
11- Giải tán Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi Hội đ ồng

nhân dân này làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của nhân dân.
Nghị quyết giải tán đó phải được sự phê chuẩn của Hội đ ồng nhân
dân cấp trên trực tiếp trước khi thi hành. Nghị quy ết giải tán của H ội đ ồng
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đ ương ph ải
được sự phê chuẩn của Hội đồng Nhà nước trước khi thi hành.
12- Trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, giám sát vi ệc
tuân theo pháp luật của các cơ quan, xí nghiệp và các tổ ch ức khác của c ấp
trên ở địa phương.
1.3. Cấu trúc bộ máy
Theo Hiến pháp năm 1959:
Do vẫn còn phân biệt sự khác nhau giữa quản lý và tổ ch ức bộ máy ở
địa bàn nông thôn khác với quản lý và tổ chức bộ máy ở địa bàn đô th ị nên
Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
các cấp năm 1962 quy định tổ chức các cấp chính quy ền ở tỉnh và thành
phố trực thuộc trung ương là khác nhau. Tỉnh tổ chức ba cấp chính quy ền
hoàn chỉnh là: cấp tỉnh - cấp huyện và cấp xã; ở mỗi cấp đều có H ội đ ồng
nhân dân và Ủy ban hành chính. Khác với tỉnh, thành phố tr ực thu ộc trung
ương chỉ tổ chức hai cấp chính quyền (ở nội thành) là: cấp thành ph ố và
cấp khu phố, ở mỗi cấp đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính.
Giai đoạn này tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính theo
xu hướng tăng cường số lượng các đại biểu Hội đồng nhân dân và các
thành viên Ủy ban hành chính với quan niệm càng nhiều đại bi ểu của
nhân dân tham gia chính quyền càng thể hiện chính quyền dân chủ. Vì vậy,
các văn bản pháp luật về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
các cấp, về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được ban hành
trên cơ sở Hiến pháp 1959 đã quy định số đại biểu Hội đồng nhân dân các
cấp tăng lên nhiều so với trước đây (Hội đồng nhân dân cấp xã từ 20 đến


40 đại biểu, cấp huyện, khu phố từ 30 đến 50 đại biểu, c ấp tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương từ 50 đến 120 đại biểu). Số thành viên Ủy ban
hành chính các cấp và số Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính ở mỗi cấp cũng
tăng (Ủy ban hành chính cấp xã: 5 – 9 người, Ủy ban hành chính c ấp
huyện, khu phố: 7 – 9 người; Ủy ban hành chính c ấp t ỉnh, thành ph ố: 9 –
15 người).
Trong quá trình soạn thảo Hiến pháp 1980, vấn đề tổ chức chính
quyền địa phương nói chung, nhất là chính quyền thành ph ố nói riêng
được đặt ra thảo luận nhiều lần. Thành phố trực thuộc trung ương t ổ
chức mấy cấp chính quyền? Tên gọi mỗi cấp là gì? Vì khi đó ở n ội thành
Hà Nội, Hải Phịng có hai cấp chính quy ền hồn ch ỉnh: cấp thành ph ố và
cấp khu phố, có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. D ưới c ấp khu ph ố
là tiểu khu, Ban đại diện tiểu khu khơng phải là c ơ quan chính quy ền.
Trong khi đó, ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh có ba c ấp chính quy ền
hồn chỉnh: thành phố - quận - phường, có Hội đồng nhân dân và U ỷ ban
nhân dân.
Để thống nhất tổ chức chính quyền ở các thành phố trực thuộc
trung ương trong cả nước, Hiến pháp 1980 đã quy định: các thành ph ố
trực thuộc trung ương tổ chức ba cấp chính quyền hồn chỉnh, có H ội
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; ở nội thành các cấp lấy tên gọi th ống
nhất là: thành phố, quận, phường.
Ngày 30-6-1989, Quốc hội ra nghị quyết sửa đổi một số điều Hiến
pháp 1980, quy định thành lập cơ quan Th ường trực H ội đ ồng nhân dân t ừ
cấp huyện và tương đương trở lên để tách chức năng th ường tr ực H ội
đồng nhân dân khỏi Uỷ ban nhân dân, cơ quan chấp hành của H ội đồng
nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp 1980, cũng tại kỳ họp này, ngày 30-61989 Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và U ỷ ban nhân


dân (sửa đổi). Theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và U ỷ
ban nhân dân năm 1989, Thường trực Uỷ ban nhân dân các cấp (gồm Ch ủ

tịch, các Phó Chủ tịch và Uỷ viên Thư ký Uỷ ban nhân dân) bị bãi bỏ, nh ững
nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân, theo quy định của Luật ph ải
được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số tại phiên họp của Uỷ ban
nhân dân.


Chương 2: NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐIA
PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY SO VỚI GIAI ĐOẠN 1960-1980
2.1. Tổ chức chính quyền hiện nay tại Việt Nam
2.1.1. Căn cứ pháp lý
- Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách tổng quát về phân chia đơn
vị hành chính và mơ hình tổ chức chính quyền địa phương.
- Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 đã quy định về tổ chức đơn vị hành
chính; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của CQĐP; nguyên tắc phân định thẩm
quyền và cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyềngiữa các cơ quan nhà nước ở
trung ương và địa phương cũng nhưgiữa các cấp CQĐP; nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của CQĐP các cấp.’
2.1.2. Quy định về tổ chức chính quyền theo Hiến pháp năm 2013
Điều 110:
1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hịa xã h ội chủ nghĩa Vi ệt
Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố
trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính
tương đương;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia
thành phường và xã; quận chia thành phường.
Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
2. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đ ơn vị
hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục

do luật định.
Điều 111:
1. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của
nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo,
đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.
Điều 112:


1. Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến
pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do
luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định
trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương
và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.
3. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao
thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều
kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.
Điều 113:
1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,
đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quy ền làm ch ủ của Nhân dân, do Nhân
dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân đ ịa ph ương và c ơ
quan nhà nước cấp trên.
2. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa ph ương và vi ệc
thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Điều 114:
1. Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đ ồng nhân
dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, c ơ quan

hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân
dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
2. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp lu ật ở
địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và th ực
hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Điều 115:
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguy ện
vọng của Nhân dân địa phương; liên hệ chặt chẽ với cử tri, ch ịu s ự giám
sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động
của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến ngh ị của
cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đại bi ểu H ội


đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động Nhân dân th ực hiện Hiến pháp và
pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của H ội đ ồng nhân dân,
động viên Nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Ch ủ t ịch Ủy ban
nhân dân, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân
dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ
ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà n ước,
tổ chức, đơn vị ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ ch ức, đ ơn v ị này
có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quy ết kiến nghị c ủa đại bi ểu.
Điều 116:
1. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thơng báo
tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn th ể
nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây d ựng
chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp v ới M ặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng
Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở

địa phương.
2. Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp H ội
đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng c ấp
khi bàn các vấn đề có liên quan.
2.1.3. Thực trạng tổ chức chính quyền hiện nay
Qua gần 4 năm thực hiện những quy định mới của Luật Tổ chức CQĐP
năm 2015, tổ chức và hoạt động của CQĐPđã bước đầu có những chuyển biến
tích cực tích cực, nâng cao được vị thế, trách nhiệm của CQĐP. Bộ máy chính
quyền các cấp ở đơ thị, nơng thôn bước đầu được đổi mới trên cơ sở phân biệt
rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nông thôn, đô thị và hải đảo.
Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 - 10 - 2017 Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương 6 Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ


máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã đề ra yêu
cầu: “Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thể chế xây dựng chính quyền địa
phương theo hướng phân định rõ hơn tổ chức bộ máy chính quyền đơ thị, nơng
thơn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; chủ động thí điểm ở những
nơi có đủ điều kiện. Rà soát, điều chỉnh, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt
động của chính quyền địa phương, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính,
nhất là cải cách thủ tục hành chính theo hướng dân chủ, cơng khai, minh bạch,
chun nghiệp”.
Quán triệt yêu cầu đó và để giải quyết những vấn đề vướng mắc phát sinh
trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định của Luật Tổ chức CQĐP năm
2015, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật
Tổ chức CQĐP năm 2019 đã quy định mơ hình tổ chức chính quyền địa phương
theo hướng linh hoạtvà sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về tổ chức bộ máy và
nhiệm vụ của HĐND các cấp. Luật quy định CQĐP được tổ chức ở các đơn vị
hành chính của nước Cộng hịa XHCN Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông

thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Theo đó, CQĐP ở
quận, phường có thể khơng tổ chức HĐND theo quy định của Quốc hội không
phải là cấp CQĐPđể phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của từng đô thị.
Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo chia thành các đơn vị hành
chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp CQĐP, trừ trường hợp
cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp CQĐP; giao Chính phủ quy định
việc tổ chức các cơ quan thuộc CQĐPở địa bàn hải đảo.Tổ chức CQĐPở đơn vị
hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi quyết định thành lập.
Luật bổ sung quy định việc thực hiện phân cấp, phân quyền phải gắn với
hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân;
bảo đảm các điều kiện về ngân sách, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết
khác cho việc thực hiện; quy định cụ thể các trường hợp được thực hiện phân
cấp, ủy quyền để tránh việc phân cấp, ủy quyền tràn lan.


Luật bổ sung tiêu chuẩn có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam đối với
đại biểu HĐND; quy định rõ khung số lượng theo hướng giảm từ 10% đến 15%
số lượng đại biểu HĐND ở từng loại hình đơn vị hành chính, số lượng phó chủ
tịch HĐND cấp tỉnh (nếu chủ tịch hoạt động chun trách thì có 01 phó chủ
tịch; nếu chủ tịch hoạt động khơng chun trách thì có 02 phó chủ tịch) và nếu
trưởng ban của HĐND cấp tỉnh hoạt động chun trách thì có một phó trưởng
ban; nếu trưởng ban hoạt động khơng chun trách thì có hai phó trưởng ban.
Giảm 01 Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện (từ 02 người xuống còn 01 người);
Trưởng ban của HĐND cấp xã là Ủy viên Thường trực HĐND cấp xã; bổ sung
quy định về trách nhiệm của đại biểu HĐND với cử tri, về tiếp xúc cử tri và thôi
làm nhiệm vụ đại biểu HĐND. Bên cạnh đó, Luật bổ sung thẩm quyền của
HĐND cấp xã thơng qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của cấp
xã (do UBND cấp xã xây dựng) trước khi trình UBND cấp huyện phê duyệt;
UBND cấp xã loại II có khơng q 02 phó chủ tịch.
Thực hiện nhiệm vụ do Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 Hội

nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 Khóa XII đề ra, các thành phố: Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Đà Nẵng đã tiến hành xây dựng đề án tổ chức thí điểm mơ hình
chính quyền đơ thị và được Quốc hội thơng qua, cụ thể:
Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27 -11 - 2019 “Về thí điểm tổ chức
mơ hình chính quyền đơ thị tại thành phố Hà Nội”. Theo đó, CQĐP ở thành phố
Hà Nội, huyện, quận, thị xã, xã, thị trấn là cấp CQĐP gồm có HĐND, UBND; ở
các phường thuộc quận, thị xã tại thành phố Hà Nội là UBND phường. UBND
phường là cơ quan hành chính nhà nước ở phường, thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định của Nghị quyết này và theo phân cấp, ủy quyền của
UBND, chủ tịch UBND thành phố, quận, thị xã. Việc thí điểm tổ chức mơ hình
chính quyền đơ thị tại thành phố Hà Nội được thực hiện từ ngày 1 - 7 - 2021 cho
đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.
Nghị quyết số 119/2020/QH14 của Quốc hội ngày 19 6 - 2020 “Về thí
điểm tổ chức mơ hình chính quyền đơ thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù


phát triển thành phố Đà Nẵng”. Theo đó, CQĐP ở thành phố Đà Nẵng là cấp
chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND thành phố. CQĐP ở các
quận và phường thuộc quận thuộc thành phố Đà Nẵng là UBND quận, phường.
Việc tổ chức CQĐP ở các đơn vị hành chính khác của thành phố Đà Nẵng được
thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức CQĐP. Việc thí điểm tổ chức mơ hình
chính quyền đơ thị tại thành phố Đà Nẵng được thực hiện từ ngày 1 - 7 - 2021
cho đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.
Sau khi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ
và Luật Tổ chức CQĐP có hiệu lực, Quốc hội thơng qua Nghị quyết số
131/2020/QH14ngày 16 - 11 - 2020, về “Tổ chức chính quyền đơ thị tại Thành
phố Hồ Chí Minh”. Theo đó, từ ngày 1 -7 - 2021, CQĐP ở Thành phố Hồ Chí
Minh là cấp CQĐP gồm có HĐND và UBND. CQĐP ở quận, phường thuộc
quận và thành phố thuộc thành phố là UBND quận, phường; UBND là cơ quan
hành chính nhà nước ở quận, phường thực hiện các nhiệm vụ, quy ền h ạn

theo quy định của Nghị quyết này và theo phân cấp, ủy quyền của UBND,
chủ tịch UBND thành phố, UBND, chủ tịch UBND quận, UBND, ch ủ t ịch
UBND thành phố thuộc thành phố. Việc tổ chức CQĐP ở các huy ện, thành
phố, xã, thị trấn của Thành phố được thực hiện theo quy định của Luật Tổ
chức CQĐP.
2.2. So sánh tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam giai
đoạn 1960-1980 với giai đoạn hiện nay
2.2.1. Về căn cứ pháp lý
Giai đoạn 1960-1980:
Theo Hiến pháp năm 1946.
Giai đoạn hiện nay:
- Theo Hiến pháp năm 2013.
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
2.2.2. Về bộ máy nhà nước
Giai đoạn 1960-1980:
- Có 4 cấp hành chính gồm: trung ương, tỉnh, huy ện, xã.


- Có 4 hệ thống cơ quan gồm: Cơ quan quyền lực nhà n ước; cơ quan
hành chính; cơ quan xét xử; cơ quan kiểm sát.
Hệ thống cơ quan quyền lực gồm:
- Quốc hội: là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là c ơ quan duy
nhất có quyền lập hiến, lập pháp được hình thành bằng con đ ường b ầu
cử. Nhiệm kì 4 năm
- HĐND: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân
địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương.
Hệ thống cơ quan hành chính bao gồm:
- Hội đồng Chính phủ do Quốc hội thành lập.
- Các UBHC do HĐND cung cấp thành lập.
Giai đoạn hiện nay:

- Có 4 cấp hành chính gồm: trung ương, tỉnh, huy ện, xã.
- Có 4 hệ thống cơ quan gồm: Cơ quan quyền lực nhà n ước; cơ quan
hành chính; cơ quan xét xử; cơ quan kiểm sát.
Hệ thống cơ quan quyền lực gồm:
- Quốc hội; là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là c ơ quan thực
hiện quyền lập hiến, lập pháp, thực hiện giám sát tối cao HĐND, do nhân
dân bầu ra. Nhiệm kì 5 năm.
- HĐND: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân
địa phương bầu ra chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cấp
trên.
Hệ thống cơ quan hành chính bao gồm:
- Chính phủ.
- UBND các cấp.
2.2.3. Về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
Giai đoạn 1960-1980:
Khơng có sự phân biệt rõ ràng về chính quy ền địa phương.
Giai đoạn hiện nay (Theo Hiến pháp năm 2013):


- Phân biệt giữa cấp chính quyền địa phương hồn chỉnh và c ấp
chính quyền địa phương khơng hồn chỉnh. Điều 110, 111 Hiến pháp năm
2013.
- Phân biệt được địa bàn nông thôn và đô thị.

3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN CẢI CÁCH CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Tiếp tục kiện toàn tổ chức chính quyền địa phương
Luật Tổ chức CQĐP và các luật chuyên ngành cần căn cứ vào nguyên
tắc của Hiến pháp để tiếp tục cụ thể hóa phù hợp với từng cấp chính
quyền, với địa bàn đơ thị, nơng thôn, hải đảo; bảo đảm s ự th ống nh ất,

đồng bộ trong việc thực hiện đúng tinh thần phân cấp, phân quy ền
theo Hiến pháp năm 2013.
3.2. Xác định rõ và cụ thể hơn vai trò và chức năng, nhiệm vụ c ủa mỗi
cấp chính quyền địa phương
Cần thiết lập cơ cấu tổ chức thích hợp với đầy đủ th ẩm quy ền và
khả năng quản lý, điều hành nhằm giúp trung ương các phát triển kinh tế -


xã hội, bảo đảm luật pháp, kỷ cương nhà nước trên địa bàn. Đ ối v ới c ấp
huyện, với vị trí là cầu nối giữa chính quyền cấp tỉnh và cấp c ơ s ở nên
chức năng, nhiệm vụ cũng như mơ hình tổ chức của cấp huyện khơng nhất
thiết phải giống mơ hình chính quyền cấp tỉnh hay cấp xã. Chính quy ền
cấp xã chủ yếu là cấp chấp hành và tổ chức thực hiện, có vai trị quan
trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, ch ủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy m ọi kh ả năng phát
triển kinh tế - xã hội, tổ chức tốt cuộc sống dân cư, do đó cần tăng c ường
tính tự quản cho chính quyền xã để phát huy khả năng sáng tạo, quy ền t ự
chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền và nhân dân ở xã, đồng th ời th ực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tự quản cộng đồng dân cư.
3.3. Đổi mới mơ hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp
với đặc điểm nông thôn và đô thị
Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính quyền địa phương
được tổ chức ở các đơn vị hành chính. Cấp CQĐP gồm có Hội đ ồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô
thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định”. Do đó,
khơng nên rập khn tổ chức chính quy ền ba cấp hành chính ở đơ th ị
giống như ở nơng thơn.
3.4. Phát triển chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số
Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp s ử
dụng dịch vụ công trực tuyến và giao tiếp với các cấp CQĐP thông qua h ệ

thống chính quyền điện tử. Đầu tư phát triển h ạ tầng kỹ thu ật, các n ền
tảng dùng chung, cơ sở dữ liệu của các ngành để xây dựng chính quy ền
điện tử hướng tới chính quyền số. Tập huấn, bồi d ưỡng kỹ năng s ố cho
cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật đáp ứng yêu c ầu tri ển khai chính quy ền
điện tử hướng tới chính quyền số tại địa phương.


KẾT LUẬN


×