BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA SIGMUND FREUD
TRONG TÁC PHẨM PHÂN TÂM HỌC NHẬP MƠN
KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN HẢI MINH
HÀ NỘI – 2020
LỜI CẢM ƠN
Đề tài này là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu và
lĩnh hội, tiếp thu, tích luỹ tri thức của em trong suốt quá trình học tập tại khoa
Triết học – Học viện Báo chí và Tun truyền.
Với lịng trân trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến Thầy, Cô giáo trong khoa Triết học đã luôn tạo điều kiện thuận
lợi cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khố luận này. Đặc biệt
em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thầy PGS.TS Trần Hải Minh
– người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn em nghiên cứu và
hồn thành khố luận tốt nghiệp.
Trong q trình hồn thành khoá luận, mặc dù em đã hết sức cố gắng.
Tuy nhiên do năng lực có hạn, vốn kiến thức cịn nhiều hạn chế. Vậy nên,
trong khố luận khơng thể tránh được những sai sót cần được bổ sung, góp ý,
sửa chữa. Vì vậy mà em rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cơ giáo
để khố luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng
năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Phương Thảo
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA SIGMUND FREUD TRONG TÁC PHẨM
PHÂN TÂM HỌC NHẬP MÔN ...................................................................... 9
1.1 Điều kiện Kinh tế - chính trị - xã hội châu Âu thế kỷ XIX – XX ........... 9
1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên ...................................................................... 12
1.3 Tiền đề tư tưởng, lý luận ........................................................................ 15
1.4 Khái quát cuộc đời, sự nghiệp của Sigmund Freud và tác phẩm Phân
tâm học nhập môn ........................................................................................ 17
CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA SIGMUND FREUD
TRONG TÁC PHẨM PHÂN TÂM HỌC NHẬP MÔN – NỘI DUNG GIÁ
TRỊ VÀ HẠN CHẾ ....................................................................................... 24
2.1 Nội dung tư tưởng triết học của Sigmund Freud trong tác phẩm Phân
tâm học nhập môn ........................................................................................ 25
2.2 Giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Freud trong tác phẩm Phân tâm
học nhập môn ............................................................................................... 62
2.3 Khả năng áp dụng tư tưởng triết học S.Freud ở Việt Nam .................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 76
LỜI NÓI ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, việc mà chúng ta tìm ra định hướng sống để phù hợp với bản
chất văn hóa và nhân văn của mình thì được coi là một nhiệm vụ cấp bách khi
mà chúng ta đang sống, tồn tại và phát triển trong một xã hội vô cùng phức
tạp – chúng ta luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề về tâm – sinh lý của mình
của xã hội. Sự phát triển của nền văn minh nhân loại thì những thành tựu mà
con người có được cho tới thời điểm hiện tại đều dựa vào khoa học – kỹ thuật,
tư duy lý tính vốn được hình thành chủ yếu vào thời kỳ cận đại ở Tây Âu.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi khoa học phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa
tư bản đang đi vào giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, như một điều hiển nhiên khoa
học – kỹ thuật luôn chiếm một vị trí quan trọng trong xã hội. Việc đề cao thái
quá những giá trị vật chất do nền văn minh công nghệ mang lại và việc định
hướng tư duy, lối sống chỉ có khoa học và kỹ thuật. Song thời kỳ này cũng là
một giai đoạn mà bệnh tâm thần phát triển và được coi là căn bệnh trầm kha
của xã hội Châu Âu. Bởi cách tiếp cận duy lý cực đoan tới con người, bản
tính người đã đơn giản hóa nhiều vấn đề của tồn tại người, làm lu mờ đi
những đặc điểm quan trọng của đời sống con người, khiến cho con người bị
đẩy sâu vào bế tắc mặc dù họ đã cố gắng vùng vẫy để thốt ra. Hồn cảnh
sinh tồn của người phương Tây đã làm cho họ bị khủng hoảng tinh thần sâu
sắc, buộc người ta phải tìm hiểu kỹ lưỡng và tồn diện hơn về con người, về
thế giới thầm kín sâu bên trong của con người “thế giới nội tâm”, bản tính
người của mình như con đường, tiền đề lý luận để có được định hướng giá trị
đáng tin.
Ảnh hưởng của xã hội Châu Âu thế kỷ XIX cùng những nghiên cứu về
bệnh tâm thần học mà bản thân của Sigmund Freud trực tiếp là bác sĩ chữa
bệnh cho bệnh nhân tâm thần trở thành tiền đề không thể thiếu cho việc hình
thành Phân tâm học của Freud. Sự phát triển của xã hội luôn đi kèm với
1
những căn bệnh, những tệ nạn xã hội. Xã hội Châu Âu thời kỳ Freud sống và
làm việc không phải là ngoại lệ. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát
triển, sự bành trướng của bộ máy nhà nước, sự phát triển của thể chế kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa, sự chạy đua lợi nhuận độc quyền… đã đẩy con
người, đặc biệt là giai cấp tư sản và vịng xốy của những biến đổi kinh tế chính trị. Sự phát đạt của người này luôn tương đồng với sự thất bại của
người khác, những người sống trên một đống của cải giàu có ln phải đối
mặt với những kẻ sống bên cạnh hố rác… Chính những biến đổi lớn trong
lòng xã hội ấy đã gây lên những hậu quả làm cho con người mất phương
hướng, bệnh tinh thần có cơ hội phát triển. Là một bác sĩ, chuyên gia về tâm
thầm Freud đã không phớt lờ, khoanh tay đứng nhìn mà ln có sự trăn trở,
tìm tịi những phương pháp để trị liệu căn bệnh tinh thần trong xã hội. Và đó
chính là cội nguồn cho sự khơi gợi những ý tưởng ban đầu của Phân tâm học.
Phân tâm học gắn liền với tên tuổi của Sigmund Freud đã ra đời trong điều
kiện đó nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Phương Tây từ cuối thế kỷ XIX
Ngày nay, các tư tưởng của Sigmund Freud không những vẫn có nhiều
giá trị mà cịn được các thế hệ kế tiếp Ông làm phong phú, sâu sắc và phát
triển toàn diện hơn. Tư tưởng của Freud hiện nay không chỉ được nghiên cứu
đơn thuần như một lý thuyết y học hay tâm lý học, mà còn được nghiên cứu ở
các khía cạnh triết học, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, nhân học, xã hội học…
nhằm tạo dựng giá trị, lối sống và hơn nữa là giúp con người hiểu một cách
sâu sắc và tồn diện hơn về chính bản thân mình. Tất cả những lĩnh vực
nghiên cứu đó và ứng dụng của chúng cho thấy ảnh hưởng của phân tâm học
đã tạo ra một sự quan tâm đặc biệt, sâu sắc, có ý nghĩa to lớn, khơng chỉ đối
với triết học mà đối với xã hội tri thức nói chung. Tuy được nghiên cứu ở
nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng việc nghiên cứu phân tâm học trên phương
diện triết học chưa được thực hiện nhiều và nhất là ở Việt Nam. Chúng tơi
cũng ý thức được rằng, khía cạnh triết học trong phân tâm học không tồn tại
một cách cụ thể, nhưng cũng khơng q chung chung. Có thể nhận thấy rằng,
2
vốn là học thuyết tâm lý học được Freud sử dụng vào nghiên cứu con người
và các vấn đề của đời sống xã hội khác nhau, nên phân tâm học cũng đòi hỏi
sự lý giải của triết học. Thực sự, Freud đã có những phát hiện mới cho quan
niệm về con người so với triết học truyền thống. Những điểm mới đó bao hàm
một sự hiểu biết triết học sâu sắc về tồn tại người trong thế giới hiện đại.
Ở Việt Nam, phân tâm học thực ra không xa lạ bởi nó đã được giới
thiệu từ những năm 30 - 40 của thế kỷ trước. Khi ấy, nội dung chủ yếu được
quan tâm của phân tâm học là sự ứng dụng những lý thuyết của Freud để lý
giải hoạt động sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật. Điều đó cho thấy việc
tiếp nhận tư tưởng của Freud thời kỳ đầu và sau này cịn mang tính chọn lọc,
một chiều. Trong bối cảnh hội nhập văn hóa tồn cầu và hội nhập quốc tế hiện
nay, chúng ta không thể tránh đối diện với những vấn đề của con người sống
trong xã hội hiện đại. Những áp lực và đòi hỏi của cuộc sống hiện đại đã
khiến cho con người rơi vào trạng thái trầm cảm, căng thẳng, mệt mỏi, thậm
chí cịn làm gia tăng số ca mắc bệnh tâm thần. Một bộ phận không nhỏ thanh,
thiếu niên hiện nay ở nước ta đã có những hành vi lệch chuẩn so với đạo đức
truyền thống và thuần phong mỹ tục của dân tộc, khi họ đang hiểu lầm, hiểu
sai về lối sống và văn hóa phương Tây, đặc biệt là về cuộc cách mạng tình
dục dường như được khởi xướng từ lý thuyết Freud. Đáng báo động hơn là lối
sống gấp, sống ích kỷ, thói đạo đức giả đang trở thành hiện tượng phổ biến
trong xã hội và đang là những vấn đề đặt cho cả gia đình lẫn xã hội tìm hướng
giải quyết, nó đồng thời cũng đem đến những thách thức cho nền giáo dục
Việt Nam. Mặt khác, trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đang có
chủ trương coi con người là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất để xây dựng
và phát triển đất nước thì việc xem xét một cách nghiêm túc các quan niệm về
con người cũng như tư tưởng triết học của Freud để có một cái nhìn khách
quan, biện chứng về nó nhằm góp thêm một hướng đi mới trong nghiên cứu
con người Việt Nam hiện đại là một việc làm vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý
nghĩa thực tiễn cấp bách.
3
Chính vì những lý do trên, nên em đã chọn vấn đề “Tư tưởng triết học
của S. Freud trong tác phẩm Phân tâm học nhập mơn” làm đề tài Khóa
luận tốt nghiệp nhằm làm rõ tư tưởng triết học Freud trong tác phẩm Phân
tâm học nhập môn, đồng thời chỉ ra những giá trị, hạn chế trong tư tưởng triết
học của ơng cũng như tìm ra một cách tiếp cận mới, hướng đi mới cho nghiên
cứu con người ở nước ta trong xã hội hiện đại ngày nay.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Khi Phân tâm học ra đời nó được xem như là một cuộc cách mạng bởi
vì nó đã định dạng lại nhiều khía cạnh trong xu thế xã hội, văn hóa và tri thức
của thế kỷ XX. Ảnh hưởng mạnh mẽ của nó khơng chỉ trong lĩnh vực triết
học, y học, tâm lý học mà cả đối với đời sống xã hội, đặc biệt trong việc định
hướng giáo dục nhân cách. Tuy nhiên, học thuyết Freud ngay từ khi ra đời, và
thậm chí cho đến tận ngày nay vẫn gây ra nhiều tranh luận. Chính vì lẽ đó,
các nghiên cứu về học thuyết Phân tâm học của Freud rất phong phú, nhất là
trong giai đoạn gần đây.
Ở Việt Nam, Phân tâm học được biết đến từ năm 1936 song vào thời
kỳ đó, nó chưa gây được nhiều chú ý. Ở miền Nam, trước năm 1975, một
số dịch giả đã giới thiệu Phân tâm học như Vũ Đình Lưu, Lê Thanh Hoàng
Dân… Trong những năm gần đây, học thuyết Phân tâm học của Sigmund
Freud đã xuất hiện nhiều trong các bài viết chuyên khảo, những chuyên
luận của Nguyễn Hào Hải, Phạm Minh Lăng, đặc biệt là chùm tác phẩm về
Phân tâm học do Đỗ Lai Thúy biên soạn, được Nxb. Văn hóa thơng tin phát
hành: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (2000); Phân tâm học và văn
hóa tâm linh (2002); Phân tâm học và tình yêu (2003). Hiện nay, nguồn tài
liệu trên mạng internet về Freud và học thuyết Phân tâm học của ông rất đa
dạng và phong phú cho thấy những đánh giá nhiều chiều. Nhiều tác phẩm
của Freud đã được dịch sang tiếng Việt giúp cho việc nghiên cứu phần nào
thuận tiện hơn.
4
Với tư cách là một trào lưu triết học phương Tây hiện đại, Phân tâm
học Freud được đề cập đến trong các cơng trình nghiên cứu về triết học
phương Tây hiện đại như:
- Nguyễn Hào Hải (2001), Một số học thuyết triết học phương Tây
hiện đại, Nxb. Văn hóa thơng tin, Hà Nội.
- Lưu Phóng Đồng (2004), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Lý
luận chính trị, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Đăng Duy (2005), Lịch sử triết học phương
Tây hiện đại, Nxb. Tổng hợp, Tp. HCM.
- Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2008), Đại cương
lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX- nửa đầu thế kỷ XX,
Nxb. Tổng hợp Tp. HCM
Trong các cơng trình nêu trên, những nội dung cơ bản của học thuyết
Phân tâm học Freud đã được trình bày một cách khái quát.
Tìm hiểu sâu hơn về học thuyết Phân tâm học của Freud có thể kể đến
một số cơng trình nghiên cứu như:
- Freud đã thực sự nói gì của tác giả David Stafford - Clark (Nxb. Thế
giới, 1998). Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày các quan niệm của
Freud theo từng nhóm vấn đề với các khái niệm căn bản của Phân tâm học
Freud như: vô thức, sự dồn nén, cấu trúc bộ máy tâm thần….
- Freud và Tâm phân học của tác giả Phạm Minh Lăng (Nxb. Văn hóa
thơng tin, 2000). Đây được xem là một cơng trình nghiên cứu bài bản và có hệ
thống về Phân tâm học Freud. Từ việc đưa ra lý thuyết về cái vơ thức và lý
thuyết về tình dục, tác giả Phạm Minh Lăng đã kết luận: “Tâm phân học
khơng muốn thi vị hóa cuộc đời và ln chấp nhận nó khơng phải để chiêm
ngưỡng nó, khơng phải để bó tay mà để có đối sách phù hợp mà khơng hề có
sự ảo tưởng hay huyễn hoặc nào”. Tác giả cho rằng “tâm phân học là một hệ
thống vô cùng phong phú với rất nhiều vấn đề đáng để chúng ta quan tâm”.
5
- Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam
(Trần Thanh Hà, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008). Trong cuốn sách
này, tác giả Trần Thanh Hà đã phân tích quan niệm của Freud về vơ thức, tính
dục và chỉ ra những đóng góp của học thuyết Freud. Theo tác giả, “Chủ nghĩa
Freud chưa phải là một học thuyết theo nghĩa đầy đủ của nó. Nhưng Freud đã
nêu quan niệm về thế giới tinh thần nói riêng, và con người nói chung và từ
đó đã mở ra một chân trời mới trong khoa học khi chủ nghĩa duy lý đang
chiếm vị trí thống lĩnh. Nhờ học thuyết của Freud, con người được nhìn nhận
đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và trọn vẹn hơn”.
Mặc dù học thuyết của Sigmund Freud là một trong những học thuyết
bị phê bình dữ dội rộng khắp bởi xã hội xô bồ thổi bùng quan niệm về cái vô
thức trong xã hội Châu Âu. Đó cũng chính là một thực tế địi hỏi các nhà triết
học trong đó có Freud phải lưu tâm nghiên cứu, Tuy nhiên thực tế ngày nay
cho thấy Phân tâm học của Freud, không chỉ tồn tại với một phương pháp
chữa bệnh mà còn là khái quát vấn đề triết học của thời cuộc. Do đó, nó đã
xuất hiện với một tư duy khác biệt với các trường phái triết học cùng thời.
Đây cũng là hướng mà khóa luận của em mong muốn đi sâu tìm hiểu, nghiên
cứu được tư tưởng Triết học của Sigmund Freud trong Phân tâm học.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu và trình bày những nội dung chứa
đựng tư tưởng triết học chủ yếu của Sigmund Freud trong tác phẩm Phân tâm
học nhập môn và chỉ ra những giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học của
ông.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của khóa
luận là:
Trình bày bối cảnh, những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời, hình thành
và phát triển tư tưởng triết học của Freud và tác phẩm Phân tâm học nhập
môn
6
Phân tích những nội dung chủ yếu của triết học Freud (trên các vấn đề
về cái vô thức, vấn đề về Libido, Kết cấu tâm lý của con người…) trong tác
phẩm Phân tâm học nhập môn.
Nêu nên giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Freud trong tác phẩm
Phân tâm học nhập môn, đồng thời nêu ra khả năng vận dụng tư tưởng của
Freud ở Việt Nam, cùng với đó chỉ ra tiềm năng kế thừa và phát triển tư tưởng
của ơng bởi chính các nhà phân tâm học khác.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận: Tư tưởng của triết học của
Sigmund Freud trong Phân tâm học nhập môn
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu, làm rõ những tư
tưởng triết học của Freud về vấn đề vô thức, vấn đề libido, kết cấu tâm lý của
con người trong tác phẩm Phân tâm học nhập môn.
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận: Khóa luận thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời có sự kết
hợp cùng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp
diễn dịch và quy nạp…
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA KHĨA LUẬN
Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho mảng kiến thức về tư
tưởng triết học của Sigmund Freud.
Khóa luận khảo cứu, phân tích và trình bày có hệ thống để làm rõ
những nội dung triết học chủ yếu của Freud trong Phân tâm học nhập mơn mà
cịn chỉ ra những giá trị và hạn chế trong tư tưởng của ông.
7
7. KẾT CẤU CỦA KHĨA LUẬN
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm: 2 chương và 7 tiết
8
CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
TRIẾT HỌC CỦA SIGMUND FREUD TRONG TÁC PHẨM
PHÂN TÂM HỌC NHẬP MƠN
Trước khi đi vào tìm hiểu tư tưởng triết học của S.Freud chúng ta
nên khảo sát bối cảnh ra đời cũng như là tiền đề cho sự hình thành tư tưởng
đó. Sự hình thành và phát triển của một hệ tư tưởng đều được quy định bởi
những điều kiện Kinh tế, chính trị, xã hội. Và tư tưởng triết học của Freud
cũng khơng ngoại lệ với điều đó.
1.1 Điều kiện Kinh tế - chính trị - xã hội châu Âu thế kỷ XIX – XX
Giữa thế kỷ XIX, lịch sử Châu Âu có nhiều biến động lớn trong lĩnh
vực của đời sống xã hội và nước Áo – quê hương của S.Freud, cũng chịu
nhiều tác động to lớn bởi những biến đổi ấy.
1.1.1 Điều kiện kinh tế
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Châu
Âu bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Khi phương thức sản xuất ở Tây
Âu về cơ bản đã được xác lập và phát triển mạnh mẽ đang từng bước chuyển
sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Các ông chủ tư bản với mục đích tối đa hóa
lợi nhuận đã khơng ngừng mở rộng quan hệ sản xuất, phát triển khoa học, kỹ
thuật, phát triển mạng lưới giao thông…. Tất cả những điều này chỉ để giúp
cho “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị của mình chưa đầy một thế kỷ,
đã đạo ra những lượng sản xuất khổng lồ nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng
sản xuất của tất cả thế hệ trước gộp lại” [2; tr.42]. Sự ra đời của Chủ nghĩa tư
bản đã chứng minh được tính ưu việt của mình so với các phương thức sản
xuất trước đó. Sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đã khiến cho giai cấp tư
sản giàu lên một cách nhanh chóng và cũng từ đó mà hố sâu giữa khoảng cách
giàu - nghèo trong xã hội đã tăng hơn tất cả các hình thái kinh tế - xã hội
trước đó. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của những mâu
9
thuẫn gay gắt trên nhiều lĩnh vực trong xã hội khiến cho đời sống xã hội trở
nên ngột ngạt, căng thẳng và phức tạp tạo lên những áp lực lớn đối với đời
sống tinh thần con người.
Việc quan tâm đến phát triển khoa học – kỹ thuật, cùng với các phát
minh giúp nâng cao năng suất lao động, thực chất đó chỉ là mong muốn bóc
lột giá trị thặng dư của người lao động một cách tối đa nhất để mang lợi một
nguồn lợi khổng lồ cho các ông chủ tư bản. Vì vậy mà thời kỳ này Khoa học
– kỹ thuật được đặt lên vị trí cao nhất và xét ở một khía cạnh nào đó thì điều
này có sự ảnh hưởng một cách tiêu cực tới sự phát triển đời sống tinh thần của
con người.
Để có sự cung cấp đầy đủ nguồn nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ sản
xuất và giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm, Chủ nghĩa tư bản đã tiến hành
thực hiện hàng loạt các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trên toàn thế giới
gây lên những hệ quả về chính trị - xã hội
1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội
Với mục đích tối đa hóa lợi nhuận, các ơng chủ tư bản thực hiện hàng
loạt những chính sách bất cơng đối với cơng nhân như giảm lương, thậm chí
cịn cắt lương, kéo dài thời gian lao động của cơng nhân… Chính sự bóc lột
tàn bạo và những việc làm mất nhân tính của các ơng chủ tư sản đã làm dấy
lên làn sóng phản đối mạnh mẽ của giai cấp cơng nhân, làm cho những mâu
thuẫn giai cấp ngày càng trở lên gay gắt, khơng thể hịa giải được. Đồng thời
chính các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa đã làm cho trong lòng xã hội
tư bản xuất hiện mâu thuẫn mới, đó là mâu thuẫn giữa các nước tư bản và
thuộc địa, và mâu thuẫn nội bộ giữa các nước tư bản với nhau do sự phân chia
thuộc địa và sự ảnh hưởng của các nước tư bản đối với các nước thuộc địa
khơng giống nhau.
Chính vì thế mà xã hội bấy giờ như một lị lửa sục sơi đầy rẫy những
mâu thuẫn kinh tế, xã hội, tư tưởng, bạo loạn, chiến tranh, chết chóc xảy ra
khắp nơi.
10
Thời kỳ này, thân phận con người vô cùng nhỏ bé trước những hệ quả
của sự phát triển kinh tế đã gây ra ảnh hưởng lớn đối với đời sống tinh thần
con người. Chính sự phát triển của khoa học – kỹ thuật với những thành tựu
vĩ đại đã khiến cho vấn đề hạnh phúc, vấn đề phát triển con người toàn diện bị
lãng quên, sự phát triển của khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học đã chi
phối các học thuyết về chính trị - xã hội với sự thống trị của và ra đời của
phương pháp siêu hình cùng một số học thuyết đề cao khoa học và chủ nghĩa
thực chứng. Chính sống trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền cơng
nghiệp, của máy móc mà đời sống tinh thần của con người đã hình thành
những lối sống vị kỷ, thực dụng, coi thường giá trị tinh thần và đề cao, coi
trọng giá trị vật chất cùng hàng loạt vấn đề thối hóa đạo đức trong xã hội đã
xuất hiện. Ép mình vào một quy trình thuần thục với một cơng việc nhất định
trong sản xuất công nghiệp và đề cao năng suất lao động khiến con người làm
việc như một cỗ máy sống dựa như cầm chiếc tơ vít và cứ vậy vặn các con ốc
từ ngày này qua tháng khác, điều đó đã khiến tâm lý con người chịu áp lực
nặng nề, mất cảm giác tự do và dẫn đến những căn bệnh về tâm lý.
Nhờ chú trọng đề cao, phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật nên chỉ
trong vòng vài thế kỷ các quốc gia Châu Âu đã có những bước nhảy vọt trong
kinh tế, vượt xa những quốc gia phương Đông cổ đại – những quốc gia được
coi là cái nơi của nền văn minh thế giới trước đó. Tuy nhờ vào thành tựu của
nền triết học duy lý mà các quốc gia này đã tạo ra nền sản xuất phát triển,
khoa học, công nghệ tiên tiến. Nhưng cũng chỉ vì quá say sưa với những
thành tựu vật chất mà các quốc gia phương Tây đã bỏ quên bản thân mình, bỏ
qn chính con người đã làm nên kỳ tích cho xã hội. Con người đã trở thành
cơng cụ và trở thành nơ lệ cho chính những sản phẩm do chính bàn tay mình
làm ra. Con người được các giá trị vật chất làm cho đầy đủ, sung sướng
nhưng về tâm hồn thì con người đã cằn cỗi và đã chết từ lâu. Các giá trị vật
chất văn minh tưởng như sẽ mang lại cho con người sự hạnh phúc thì nay lại
trở thành xiềng xích trói buộc con người thành nô lệ cho công cụ lao động,
11
cho máy móc. Khoa học kỹ thuật phát triển bao nhiêu thì bên trong sâu thẳm
đời sống con người lại nghèo nàn, túng thiếu bấy nhiêu. Con người trở nên
căng thẳng, thiếu tự tin trong cuộc sống, trong nếp suy nghĩ và rơi vào trạng
thái “tự kỷ ám thị” với cuộc đấu tranh giữa các mới và cái cũ ngay trong
chính suy nghĩ của bản thân mình. Từ đó những căn bệnh mới về tinh thần
cũng có chiều hướng phát triển. Điều này đã tồn tại rất lâu dưới sự thống trị
của chủ nghĩa tư bản.
Chính những điều này đã đặt ra một yêu cầu cho triết học đi sâu tìm
hiểu, nghiên cứu bên trong sâu thẳm con người. Triết học đã đang và sẽ mãi
có mục đích nhân văn cao cả của mình là thúc đẩy giải phóng con người, đem
lại tự do cho con người, bằng cách chỉ ra bản chất đích thực của sự tha hóa
con người và con đường khắc phục những tha hóa ấy. Và chủ nghĩa S.Freud
là một điển hình đi sâu tìm hiểu lại những vấn đề như bản chất con người và
tâm lý con người. Freud đã khẳng định “Sự công nhận rằng có những hoạt
động tinh thần vơ thức sẽ mở cho khoa học một hướng đi mới có tính chất
quyết định”, hướng đi đó chính là việc mà chúng ta thừa nhận một cách thẳng
thắn những bản năng con người, coi đó là đối tượng nghiên cứu của tồn bộ
học thuyết chứ khơng phải là điều xấu hổ. Chính hướng đi này của Freud đã
xây dựng một hệ thống lý luận riêng và đưa nó vào việc giải quyết những vấn
đề thực tiễn do xã hội đặt ra, đó chính là lối thoát của đời sống tinh thần con
người và đầy tính nhân văn trong xã hội đương thời đó.
1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên
Thế kỷ XIX là thời kỳ mà tư tưởng khoa học – kỹ thuật có sự phát triển
mạnh mẽ. Những phát hiện lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho con người
“Có bước phát triển dài về nhận thức mối liên hệ tương hỗ của q trình tự
nhiên”. Các phát minh có giá trị vạch thời đại như: Thuyết tiến hóa của
Darwin, Định luật bảo tồn và chuyển hóa năng lượng của Mayer và Tâm lý
học biến thái đều có ảnh hưởng lớn cho sự ra đời của Phân tâm học Freud nói
12
riêng và làm chao đảo trong thế giới quan của bản thân các nhà khoa học và
tồn Châu Âu nói chung.
Trong lĩnh vực vật lý
Với sự ra đời của định luật bảo tồn và chuyển hóa năng lượng cùng
với hàng loạt những phát minh quan trọng đã là tiền đề cho tư tưởng về những
năng lượng tâm lý và sự chuyển hóa giữa chúng trong nội tâm của con người.
Luận điểm Dynamics của Freud coi cơ thể con người là hệ thống năng lượng
bao gồm các năng lượng vật lý như năng lượng điện, hóa học biểu hiện bằng
các hình thức sinh lý và năng lượng tâm lý, chủ yếu là năng lượng “Libido”.
Freud coi “Libido” là năng lượng tính dục ngun thủy của con người, khơng
tự sinh ra và cũng khơng tự mất đi. Ơng cũng khẳng định khi năng lượng
“Libido” của con người khơng tìm được mục tiêu, khơng được giải phóng thì
sẽ dẫn đến những biến thái trong tâm lý cá nhân. Chính sự vận dụng định luật
Bảo tồn và chuyển hóa năng lượng vào lý giải quá trình vận động và biến đổi
của các năng lượng tâm lý đã mang lại cho Freud những thành công đầu tiên
trong việc điều trị bệnh tâm lý và nó cũng là cơ sở để Freud sử dụng để chứng
minh cho sự tồn tại của cõi vô thức.
Như vậy, Freud không những đề cập đến vấn đề Vô thức trong tâm lý
người mà ơng cịn khẳng định, Ơng khơng phải người đầu tiên đề cập đến vấn
đề này mà hơn nữa là các nhà triết học và khoa học trước ơng đã đóng góp rất
nhiều cho lĩnh vực này. Cái mới mà ơng kỳ vọng đó là phương pháp nghiên
cứu và cách lý giải về vô thức.
Trong lĩnh vực sinh học
Năm 1979, nhà nghiên cứu lịch sử khoa học nổi tiếng người Mỹ đã
xuất bản một cuốn sách và khẳng định Freud chịu ảnh hưởng rất nhiều từ
Darwin. “Học thuyết tiến hóa” của Darwin cùng cơng trình nghiên cứu về hệ
thần kinh và phản xạ của nhà sinh lý học người Nga, đã cung cấp cho Freud
một cái nhìn tổng quan về cấu trúc, sự vận hành của cơ thể, hệ thần kinh từ
đây đã giúp Freud xác định được hướng nghiên cứu của mình. Chính những
13
kiến thức về kết cấu và quá trình vận hành của hệ thần kinh được xem như cơ
sở lý luận giúp cho Freud hình thành tư tưởng đầu tiên của Phân tâm học, bác
bỏ những quan điểm sai lầm của một số nhà nghiên cứu trước khi coi bệnh
tâm lý hoàn toàn là do sự tổn thương của não bộ. Tiến hóa luận và di truyền
học đã có sức ảnh hưởng lớn đối với Freud trong sự phát triển lý luận bản
năng của ơng. Khi cịn là thanh niên, Freud đã chịu sự chi phối sâu sắc của
Darwin và ông rất thích thú với sinh vật học khi học ở Đại học Viên. Ông
nghe các giáo sư giảng về sinh vật học, sinh lý học, thần kinh học do vậy mà
ông đã xây dựng được cơ sở sinh vật học vững chắc cho quá trình nghiên cứu
tâm lý học sau này của mình. Và để lý giải cho sự coi trọng các mong muốn
bản năng của con người trong các nghiên cứu của Freud, vì vậy mà di truyền
học đã nói rõ cơ thể bản năng hoặc cơ sở của thể xác là khuynh hướng có tính
chất điển hình cho một hành động nhất định.
Trong lĩnh vực tâm lý học
Trong bối cảnh toàn xã hội đang diễn ra một cuộc khủng hoảng trầm
trọng về mặt tâm lý, về những định hướng giá trị của con người thì những
quan niệm cũ coi bệnh lý được gây lên hoàn toàn do tổn thương và khuyết
thiếu trong cơ quan thần kinh đã trở lên lạc hậu và không đáp ứng giải quyết
được hầu hết những vấn đề cấp bách đang được đặt ra trong thực tiễn nghiên
cứu và chữa trị các rối loạn tâm lý. Những quan điểm này ngày càng bộc lộ
những lỗ hổng thể hiện rõ sự bất lực của mình trong việc giải thích các hiện
tượng tâm lý đó.
Trường phái “Tâm lý học biến thái” với đại biểu như J. Breur đặc biệt
là J.M. Charcot đã nhận thấy thực trạng xã hội lúc đó nên đã thơi thúc trong
họ và nhiều nhà nghiên cứu khác đi sâu vào tìm con đường mới cho nghiên
cứu tâm lý học. Ông rất tâm đắc với câu châm ngơn của Charcot “Lý thuyết
thì tốt, nhưng khơng ngăn được thực tiễn tồn tại”. Ơng cũng đã từng tham gia
một khóa học thơi miên của J.MCharcot – người thầy của mình tại Paris và
sau đó Freud đã vận dụng lý thuyết này vào trong các trị liệu tâm lý của mình
14
một thời gian dài trước khi ơng tìm và phát minh ra phương pháp liên tưởng
tự do.
Như vậy sinh sống vào thời đại khoa học, tư duy khoa học đang có
những bước chuyển mình, phát triển mạnh mẽ thì Freud khơng thể khơng chịu
sự ảnh hưởng của nó. Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật siêu hình,
Freud ln ln tâm niệm phải giữ gìn phẩm chất “nhà khoa học của mình”.
Ơng chưa bao giờ có ý định từ bỏ làm khoa học ở nghĩa rộng và làm thầy
thuốc, ngay cả khi ông đã quy hết phân tâm học về tâm lý học.
1.3 Tiền đề tư tưởng, lý luận
Có một số ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng các tư tưởng Triết
học hầu như khơng có sự đụng chạm hay ảnh hưởng gì tới các quan điểm
Phân tâm học, tư tưởng của ơng. Cịn một số các nhà nghiên cứu khác lại cho
rằng có thể nhiều tư tưởng triết học rất có thể đã ảnh hưởng tới việc hình
thành các quan điểm phân tâm học khác nhau. Hay ngay chính bản thân Freud
trong q trình hình thành một số quan điểm của mình ơng cũng khẳng định
ơng khơng quan tâm nhiều đến Triết học, trong các nghiên cứu, học thuyết
của mình khơng có nội dung của triết học và ông cũng không bị chịu sự ảnh
hưởng của các trào lưu triết học đương thời vì theo ơng: Học thuyết phân tâm
học dựa trên sự quan sát lâm sàng, cơ sở của phân tâm học là các quan điểm
tâm thần học và sinh lý học cuối thế kỷ XIX.
Nhưng trong hoạt động thực tiễn, quá trình nghiên cứu của mình cho
đến khi ơng xây dựng thành cơng học thuyết Phân tâm học cũng như các tư
tưởng được trình bày trong tác phẩm của Freud đã có một chứng minh cho
nguồn gốc triết học của học thuyết này. Mặc dù trong một số tác phẩm của
mình hay ngay việc đề cập tới lịch sử phát triển của Phân tâm học, Freud cũng
cho rằng việc xây dựng khái niệm về sự lấn át, ông độc lập, không bị chi phối
bởi bất cứ thứ gì đưa ơng đến khám phá đó, ơng coi tư tưởng ấy là độc đáo
suốt một thời gian dài và cho tới khi ông biết được một điều rằng trong thế
giới có một điều như là ý chí và biểu tượng của Schopenhauer – ông đã cố
15
gắng lý giải sự điên rồ ở đây. Nhưng ở mặt khác, mặc dù phủ nhận ảnh hưởng
bởi các tư tưởng triết học, nhưng trong các tác phẩm của mình, Freud thường
viện ngay vào Schopenhauer. Khi bàn về tính dục, bàn về cái chết ông cũng
dựa vào Schopenhauer. Mặc vậy, Freud vẫn khẳng định chắc chắn là “ông chỉ
bắt đầu đọc Schopenhauer vào giai đoạn cuối đời!”[5; tr.12]. Ông cũng có thái
độ như vậy với Nietzsche, Freud thường viện dẫn tư tưởng của Nietzsche vào
trong tác phẩm của mình, nhưng năm 1908 trong buổi thảo luận tại phiên họp
của Hội phân tâm học ông lại cho rằng tư tưởng của Nietzsche khơng có ảnh
hưởng đến việc hình thành phân tâm học. Cho dù phủ nhận nhưng cuối cùng
Freud cũng thừa nhận rằng ông đã chịu ảnh hưởng từ triết học đời sống của
Nietzsche. Nhà nghiên cứu Đỗ Minh hợp nhận xét: “... ảnh hưởng của triết
học đến phân tâm học là điều hiển nhiên, nhưng Freud lại kiên trì phủ nhận sự
thực này và thường xuyên tuyên bố tính độc đáo trong những tư tưởng phân
tâm học mà ông đưa ra, đồng thời nhấn mạnh không một thế giới quan triết
học nào có ảnh hưởng đến sự hình thành phân tâm học, nếu chỉ viện dẫn vào
nguồn gốc triết học trong trường hợp tối cần thiết”[5; tr. 12]
Tuy nhiên tất cả những dẫn chứng được đưa ra trong quá trình học tập,
nghiên cứu của Freud đều chứng tỏ, ở một chừng mực nhất định Freud đã
viện dẫn các tư tưởng triết học của Schopenhauer và Nietzsche.
Ngoài ra trong tư tưởng của mình Freud cũng chịu rất nhiều ảnh hưởng
từ các quan điểm triết học. Ví dụ như Vơ thức. Trong lịch sử triết học, khái
niệm vô thức đã được nhắc đến ở nhiều góc độ khác nhau như Mạnh Tử và
Tuân Tử có sự đối lập nhau khi xác định bản tính thiện ác con người. Mặc dù
khơng chắc chắn là Freud chịu ảnh hưởng của tư tưởng phương Đông về việc
hình thành khái niệm vơ thức. Nhưng quan niệm của Freud về vai trị của vơ
thức đối với hoạt động tư duy sáng tạo cũng như việc hình thành các giấc mơ
trùng với quan niệm bất tử và quá trình nhận thức của Platon, Freud đã chịu
ảnh hưởng từ quan điểm nhận thức luận của Platon. Ngoài ra một số nghiên
cứu cũng khẳng định Freud còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng về đạo đức và
16
văn hóa bởi Spinoza và Kant. Ảnh hưởng phần nào từ Thuyết đơn tử của
G.H.Leibniz và Thuyết giới hạn ý thức của J.F.Herbart về vơ thức.
Tóm lại q trình hình thành Phân tâm học của Freud thực sự cũng
phụ thuộc vào các tiền đề triết học xét trên nhiều phương diện khác nhau. Và
có thể khẳng định rằng học thuyết triết học có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc
hình thành tư tưởng của Freud là Schopenhauer và Nietzsche. Tuy Freud
không công khai thừa nhận nhưng cũng không thể nghĩ rằng ông quay lưng
với triết học phải chăng Phân tâm học ẩn chứa nhiều nội dung triết học mà
Freud không muốn nói tới? Để làm rõ hơn điều này ta cần phải tìm hiểu kỹ
nội dung triết học lý thuyết và thực tiễn trong Phân tâm học.
1.4 Khái quát cuộc đời, sự nghiệp của Sigmund Freud và tác phẩm
Phân tâm học nhập môn
1.4.1 Khái quát cuộc đời, sự nghiệp của Sigmund Freud
Thuở ấu thơ
Sigmund Freud tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud (1856 – 1939)
sinh tại Freiberg – vùng biên giới giữa Áo và Séc. Ông sinh ra trong một gia
đình Do Thái chính thống. Khuynh hướng bài xích Do Thái ở Châu Âu thời
gian này xuất hiện sớm và gây lên nhiều rối ren trong xã hội, sự phân biệt đối
xử, phân chia địa vị thiệt thòi đổ lên người dân mang dịng máu Do Thái. Ơng
rất lấy làm tự hào về dịng máu của mình, ơng đã kể lại rằng: “Bố mẹ tôi đều
là người Do Thái, tôi cũng vẫn giữ dịng máu ấy. Tơi có lý do để tin rằng tổ
tiên tôi từ rất sớm đã định cư và sinh sống trên bờ sông Ranh” [4; tr. 24],
“Thế kỷ XIV – XV, rất nhiều người Do Thái ở đây bị bức hại, họ phải rời xa
quê hương, chạy về hướng Đông, đầu thế kỷ XIX họ lại rời Litva, xuyên qua
Kaxilia rồi trở về chốn cũ Đức – Áo”[4; tr. 24]. Chính những điều này có thể
cho ta thấy rằng tinh thần dũng cảm, dám đối đầu với thách thức của ông.
Jakob Freud – là cha của Ơng – một nhà bn vải có tính cách gia
trưởng rất khắt khe. Thuở nhỏ, đối với người cha của mình, Freud có thái độ
pha lẫn giữa sự sợ hãi và yêu mến. Nhưng theo lời của con trai S.Freud thì
17
ngài Jakob Freud là người vui tính, cởi mở, mọi người đều yêu mến ngài
Jakob Freud và ngài Jakob Freud luôn đối tốt với lũ trẻ. Mẹ của S.Freud là bà
Amalia Nathansohn – là người vợ thứ ba, kém chồng 20 tuổi, là một người
phụ nữ dịu dàng, chu đáo. Trong hai bậc thân sinh thì S.Freud dành rất nhiều
tình cảm cho mẹ. Nỗi sợ hãi đối với cha và ham muốn tính dục đối với mẹ, có
lẽ đây chính là một trong những cơ sở cho việc phát triển học thuyết về “Phức
cảm Oedipe” của ông sau này.
Do việc làm ăn của cha gặp khó khăn và làn sóng chống Do Thái dữ
dội ở Tây Âu nên gia đình của ông buộc phải rời Freiberg khi ông lên ba tuổi.
Gia đình ơng đến Leipzig – một thành phố nhỏ nằm sát biên giới nước Đức,
sau đó lại chuyển đến Viên – thủ đô của nước Áo. Những cuộc chạy loạn này
đã khiến cho gia đình Freud ngày càng sa sút. Sống ở Viên, cha của Freud đã
lặng lẽ giấu đi những uất ức, nhục nhã, cha ông đã sống dường như hài lòng
với hiện tại, yên phận, cảm thấy nó ổn hơn cuộc sống lưu vong trước đây. Tuy
nhiên, đối với Freud – một người luôn dũng cảm chấp nhận thách thức thì lối
sống nhẫn nhịn của cha mình khiến ơng cảm thấy khơng đồng tình, thậm chí
ơng cịn cảm thấy coi thường, thất vọng cha mình khi ơng nghe được câu
chuyện của cha thời còn trẻ bị một người Công giáo nhổ nước bọt vào mặt và
ném mũ xuống vũng nước, chỉ vì cha ơng là một người Do Thái, cha ông chỉ
lẳng lặng nhặt rồi đi tiếp mà khơng phản ứng gì. Sau này trong tư tưởng của
Freud vẫn luôn tôn thờ những người anh hùng dám chống lại Cơ đốc giáo. Sự
căng thẳng của thành Viên và sự phi nhân tính của chủ nghĩa bài trừ Do Thái
trong xã hội lúc bấy giờ, sự mâu thuẫn giữa hệ tư tưởng chính thống với thực
tế tàn khốc đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành tư duy Freud. Chính
định kiến xã hội đã gây ra nhiều sức ép, gia đình, xã hội bị xáo trộn, hồn
cảnh ngột ngạt đó đã kích động đến tâm hồn của Freud – nó khiến Freud hình
thành một tinh thần kiên cường, bất khuất. Có thể thấy được ngay từ hồi cịn
nhỏ, Freud đã có những bất mãn với hiện thực và ln có nguyện vọng hướng
tới tương lai tươi sáng. Những tháng năm xao động đã biến cải sinh ra Freud
18
– một con người vĩ đại có tư tưởng kiệt xuất, như chính lời nhận xét của Diệp
Mạnh Lý “thời đại biến đổi thường thai ghén ra những vĩ nhân”[4; tr.142]
Sự nghiệp của S.Freud
Mùa thu năm 1873, Freud thi đỗ vào trường Đại học Tổng hợp Viên và
bắt đầu học Y học. Ơng theo ngành Y khơng phải chỉ vì u thích nó mà ơng
cịn muốn tìm hiểu bản chất con người. Đây cũng chính là cột mốc khởi đầu
đánh dấu con đường đến với Phân tâm học của ông. Trong thời gian học tại
Khoa Y học, ông đã dành nhiều thời gian đặc biệt cho sự quan tâm đối với
vấn đề sinh lý y khoa và có nhiều nghiên cứu về sinh lý thần kinh. Năm 1881,
ông tốt nghiệp đại học, làm quen được với Breuer – vừa là bạn, là thầy của
ơng sau này. Ơng làm việc trong bệnh viện đa khoa Viên trong ba năm và đã
thu được nhiều kinh nghiệm thuộc các chuyên khoa khác nhau, trong đó có
lĩnh vực điều trị bệnh thần kinh và tâm thần học. Và ông đã công bố một số
cơng trình về mặt bệnh lý học thần kinh.
Năm 1885, Freud nhận được học bổng tu nghiệp nước ngoài của Đại
học Viên, Ông quyết định sang Pari. Tháng 10 năm 1885 ông theo học một
bác sĩ thần kinh – Jean Martin Charcot. Bốn tháng ở Pari, Freud đã học được
kỹ thuật thôi miên để điều trị bệnh Hysteria. Năm 1886, Freud đã bắt đầu sử
dụng liệu pháp này trong chữa trị với những điểm khác nhau đáng kể so với
phương pháp nguyên bản mà ông đã học ở Pháp. Qua việc ứng dụng và
nghiên cứu thôi miên Freud đã đề xướng một biện pháp mới, mà theo ông là
biện pháp đó có hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp thôi miên trong chữa
trị bệnh lý thần kinh: phương pháp phân tâm học dựa trên sự liên tưởng tự do
– phương pháp này bệnh nhân có thể tự do nói tất cả những ý tưởng hay tất cả
những ký ức ngẫu nhiên xuất hiện trong tâm trí họ.
Cuối năm 1890, Freud rơi vào trạng thái cô đơn và bị khủng hoảng.
Năm 1896, Freud chính thức rời bỏ việc sử dụng thôi miên trong điều trị và
chuyển sang dùng thuật ngữ “Phân tâm học” để chỉ liệu pháp chữa trị do ông
sáng lập ra cũng như những lý thuyết mà dựa vào đó liệu pháp này được xây
19
dựng. Lý thuyết mới này của ơng được hình thành trong thời kỳ mà ơng gặp
khó khăn nhất, suy sụp về mặt tinh thần, ơng tự phân tích giấc mơ của mình
và nhất là giấc mơ sau cái chết của cha, ơng liên tục gặp phải những giấc mơ
phiền tối. Từ việc phân tích chính tâm lý của bản thân và những giấc mơ lặp
đi lặp lại, Freud đã tìm ra những tư tưởng hoàn toàn mới trên lĩnh vực tâm lý.
Và cũng chính trong thời kỳ khó khăn ấy mà năm 1899 Freud đã hồn thành
cơng trình Phân tích các giấc mơ và nhiều cơng trình nghiên cứu khác, tạo cơ
sở vững chắc cho Phân tâm học.
Sự phát triển của “Phân tâm học” và những cống hiến của
S.Freud
Trong sự nghiệp phát triển Phân tâm học dù gặp phải nhiều khó khăn
khiến ơng đau khổ và buồn rầu. Nhưng vốn là con người kiên cường, kiên
định nên ông đã ln ln giữ vững tâm trí và duy trì phát triển sự nghiệp của
mình.
Sau khi thiết lập học thuyết Phân tâm học, ở thời kỳ đầu thì nội dung
chủ yếu của học thuyết xoay quanh nghiên cứu về cõi vô thức, nội dung và
vai trị của nó đối với đời sống cá nhân, từ đó vận dụng vào lý giải một số vấn
đề xã hội. Năm 1909 Freud được mời sang giảng dạy tại Đại học Clark bang
Masschusetts của Mỹ, và trong những năm tiếp theo đó, Hiệp hội Phân tâm
học quốc tế được thành lập – đó là sự công nhận xa hơn cho học thuyết của
ông. Về sau, Freud cũng nói về những bản năng tính dục của con người đó là
“Eros” và ơng lại tiếp tục tìm ra Thanatosc là “bản năng chết”.
Năm 1930, Freud vinh dự được nhận giải thưởng Gothe mà ông luôn
mong muốn với tác phẩm Cảm giác bất ổn với văn hóa – giải thưởng vinh dự
nhất cuộc đời ông. Nhưng không lâu sau thì ơng phát hiện mình bị ung thư
vịm họng và ông phải trải qua đau đớn với 33 lần phẫu thuật. Mặc dù nằm
trên giường bệnh nhưng ông vẫn bổ sung luận điểm về Eros cùng với
Thanatos để lý giải sự chèn ép như là một cơ chế phòng vệ của cái Tôi. Đầu
20
năm 1938, Freud chạy sang London khi Áo sát nhập vào Đức quốc xã, sau đó
vào ngày 23 tháng 9 năm 1939 ông qua đời tại Anh.
Trong cuộc đời của mình ơng đã sống và cống hiến hết mình, ơng đã để
lại một số lượng lớn các cơng trình, tiêu biểu như: “Bình giải những giấc mơ”
1900, “Tâm bệnh lý học của đời sống” 1904, “Ba tiểu luận về tính dục” 1905,
“Totem and Taboo” 1913, “Beyond the pleasure principle” 1920, “The Ego
and the Id” 1923.
Sigmund Freud là một nhân vật lịch sử, sự cống hiến và hạn chế của
ông đều mang tính thời đại, ơng đều có địa vị và sự ảnh hưởng nhất định của
mình với thời đại.
1.4.2 Tác phẩm “Phân tâm học nhập môn”
Phân tâm học nhập môn là một cơng trình nổi tiếng và được phổ biến
rộng rãi nhất của vị bác sĩ thần kinh – Sigmund Freud. Cuốn sách mang tính
dẫn nhập về Phân tâm học, một học thuyết gây nhiều tranh cãi ngay từ khi ra
đời (cuối thế kỷ XIX).
Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, mọi người đều phải oằn
mình lên chiến đấu, trong đó có cả con cái và đồng nghiệp của Freud. Freud
luôn lo lắng khi ba người con của mình thường xun ra vào chiến trận, cịn
vợ ơng thì đầy lo âu sợ nhận được tin chẳng lành. Năm 1916, chiến tranh đã
gây ra bao đau khổ cho nhân dân thì nay sự đau khổ ấy lại càng nhân lên gấp
bội khi thực phẩm bị thiếu hụt một cách nghiêm trọng, đời sống nhân dân khó
khăn, nạn đói xảy ra đe dọa mạng sống bao người. Trong tính hình khốn đốn
do chiến tranh gây ra như vậy nhưng Freud vẫn viết và chữa bài với thời tiết
lạnh giá, ông vẫn đến Đại học Viên nhiều lần để giảng bài. Những bài giảng
đó đã được in thành Phân tâm học nhập môn vào năm 1917.
Tác phẩm này được Freud khởi thảo năm 1915 – 1916 khi sự mâu
thuẫn về kinh tế, xã hội, tư tưởng và trí tuệ con người đang diễn ra rất căng
thẳng. Con người dành nhiều thời gian cùng sự quan tâm cho những ức chế
tâm lý cũng như nhiều chứng bệnh liên quan đến thần kinh mà con người gặp
21
phải. Một trong những căn bệnh đó là chứng nhiễu tâm. Đây chính là một vấn
đề được bàn tới rất nhiều trong Phân tâm học. Và tác phẩm Phân tâm học
nhập mơn đóng vai trị rất lớn trong việc định hướng nghiên cứu ngành khoa
học này.
Năm 2002, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho tái bản có bổ
sung tác phẩm này (dịch giả Nguyễn Xuân Hiến). Cuốn sách được chia thành
3 phần
Phần một: Tác phẩm Phân tâm học nhập môn đề cập tới “Những hành
vi sai lạc” mà con người ta hay mắc phải nhưng con người lại khơng biết điều
đó hay nói cách khác hành động mà con người mắc phải đó khơng được nhận
biết. Freud khẳng định việc con người đọc, nói, viết, sai hay nhầm thì đều có
ý nghĩa, và điều này cần phải có sự lý giải rõ ràng.
Phần hai: Tác phẩm đề cập tới một hiện tượng mà con người ai cũng
gặp khi ngủ đó là Giấc mơ. Đây được coi là một nội dung được Freud bỏ
nhiều thời gian, công sức ra để nghiên cứu. Bằng việc phân định các dạng
giấc mơ, Freud đã lý giải hết sức thuyết phục về những ước muốn của con
người. Mỗi hình ảnh trong giấc mơ đều được tượng trưng cho những mong
mỏi, ước muốn của con người.
Phần ba: Ở phần này, Freud đưa ra “Thuyết tổng quát chứng bệnh thần
kinh”. Ông lý giải nguyên nhân của những chứng bệnh này và sự kiểm sốt
các bản năng tình dục chính là ngun nhân dẫn đến chứng bệnh trên.
Vậy, trong cuốn sách đó Freud đã giới thiệu rất rõ ràng toàn bộ những
nội dung của Phân tâm học. Cuốn sách trình bày một cách có hệ thống về
nguyên nhân của sự nhầm lẫn, về giấc mơ, khái niệm vơ thức và lý thuyết tính
dục. Có thể nói đây là tác phẩm tổng kết thời kỳ đầu của ơng. Sau này, ngồi
Libido, Freud cịn đưa thêm các khái niệm Eros và Thanatos để biểu thị trong
con người ngồi khát khao tính dục cịn có khát vọng chém giết, khát vọng
này biểu hiện thành khát vọng tự tử. Freud đã đưa ra khái niệm Thanatos khi
nghiên cứu những bệnh thần kinh vào chiến tranh thế giới thứ nhất.
22