ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
========***========
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
TIÊU CỰC VÀ CHỐNG TIÊU CỰC TRONG BỘ MÁY
QUAN LẠI DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 - 1884)
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trường Thi
Chuyên ngành
: Sư phạm Lịch sử
Lớp
: 17SLS
Người hướng dẫn
: TS. Lê Thị Thu Hiền
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2021.
1
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý Thầy, Cô khoa
Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giảng dạy, gợi mở
cho em nhiều kiến thức trong quá trình học tập và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất của mình tới Cô giáo - TS. Lê Thị
Thu Hiền người đã hết lịng tận tình hướng dẫn, định hướng chun mơn, quan tâm giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp em hồn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp
này.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ em trong suốt q trình học tập và hồn thành đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khơng thể tránh khỏi những thiếu sót, kính
mong q Thầy Cơ và các bạn đọc đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2020.
Tác giả
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. 1
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 9
3.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................ 9
3.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................ 9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 9
4.1. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 9
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................ 10
5. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 10
5.1. Nguồn tư liệu .................................................................................................... 10
5.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 10
6. Đóng góp của đề tài ................................................................................................ 11
7. Cấu trúc của đề tài .................................................................................................. 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ TIÊU CỰC TRONG BỘ
MÁY QUAN LẠI TRƯỚC THỜI NGUYỄN............................................................ 13
1.1. Tổng quan về triều Nguyễn ................................................................................. 13
1.1.1. Tình hình chính trị ........................................................................................ 13
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội .............................................................................. 15
1.1.3. Tình hình văn hóa - tư tưởng ........................................................................ 20
1.2. Tiêu cực trong bộ máy quan lại trước triều Nguyễn ........................................... 24
1.2.1. Thời Lý - Trần - Hồ - Lê sơ - Mạc ............................................................... 24
1.2.2. Thời Lê trung hưng ....................................................................................... 28
CHƯƠNG 2: TIÊU CỰC TRONG BỘ MÁY QUAN LẠI DƯỚI TRIỀU
NGUYỄN ...................................................................................................................... 36
2.1. Các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn .................... 36
2.1.1.Về chính trị..................................................................................................... 36
2.1.1.1. Trong quản lý quân đội .............................................................................. 36
2.1.1.2. Trong điều tra, xét xử hình án.................................................................... 37
2.1.1.3. Trong bổ dụng quan lại.............................................................................. 41
2.1.1.4. Mưu đồ làm phản .............................................................................................. 42
3
2.1.2. Kinh tế ........................................................................................................... 44
2.1.2.1. Trong quản lý, thu, chi tài sản công .......................................................... 44
2.1.2.2. Trong quản lý khai thác vật liệu, xây dựng cơng trình của nhà nước ....... 48
2.1.2.3. Trong quản lý thuế khóa ............................................................................ 50
2.1.3. Xã hội ............................................................................................................ 52
2.1.3.1. Bóc lột, chiếm đoạt tài sản nhân dân ......................................................... 52
2.1.3.2. Lạm quyền, ức hiếp, nhũng nhiễu nhân dân .............................................. 55
2.1.4. Giáo dục, thi cử ............................................................................................. 57
2.1.4.1. Chấm bài không tinh .................................................................................. 57
2.1.4.2. Sửa bài thi của sĩ tử ................................................................................... 58
2.2. Nhận xét chung .................................................................................................... 59
3.1. Các giải pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại của chính quyền nhà
Nguyễn ....................................................................................................................... 63
3.1.1. Trừng trị những trường hợp vi phạm ............................................................ 63
3.1.1.1. Lĩnh vực chính trị ....................................................................................... 63
3.1.1.2. Lĩnh vực kinh tế: ........................................................................................ 71
3.1.1.3. Lĩnh vực xã hội: ......................................................................................... 80
3.1.1.4. Lĩnh vực giáo dục ....................................................................................... 84
3.1.2. Chế độ kinh lược đại sứ ................................................................................ 87
3.1.3. Chế độ khảo khóa .......................................................................................... 89
3.1.4. Chế độ hồi tỵ ................................................................................................. 90
3.1.5. Các hoạt động của Tam pháp ty triều Nguyễn .............................................. 91
3.1.6. Các hoạt động thanh tra, giám sát ................................................................. 93
3.2. Một số nhận xét ................................................................................................... 99
3.3. Bài học kinh nghiệm .......................................................................................... 101
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 107
PHỤ LỤC 1 ................................................................................................................. 112
PHỤ LỤC 2 ................................................................................................................. 119
PHỤ LỤC 3 ................................................................................................................. 127
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bất kỳ thời đại nào hay ở quốc gia nào, đội ngũ người cán bộ, công chức - là
những người sử dụng quyền lực của nhà nước để thực thi công vụ, luôn đóng một vai trị
quan trọng. Các hoạt động cơng vụ được thực hiện bởi cán bộ, cơng chức có ảnh hưởng
rất lớn đối với mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phịng, góp phần quan trọng tạo nên sự hùng mạnh của quốc gia. Ngay từ thời kỳ quân
chủ, đội ngũ quan lại cũng giữ một vai trò quan trọng như vậy, họ chính là bộ phận quan
trọng của các triều đại quân chủ trong việc kiến tạo bộ máy nhà nước, xây dựng đường
lối, chủ trương, thực thi chính sách của hồng đế, triều đình. Vì vậy, nếu để một người
khơng có tài đức phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân, thì đó sẽ là mối họa trong cả xã
hội và quốc gia.
Trong quá trình tồn tại của mình (1802 - 1945), triều Nguyễn vấp phải khơng ít
khó khăn trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế đất nước, ngoại giao với các
nước lân bang. Trong đó, tiêu cực trong bộ máy quan lại nổi lên và trở thành một vấn đề
xã hội nổi cộm lúc bấy giờ. Triều Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng cùng của nước
ta, có nhiều kinh nghiệm từ việc xây dựng bộ máy quan lại của Trung Quốc và các triều
đại qn chủ của Việt Nam trước đó, chính vì thế hơn ai hết, triều Nguyễn hiểu rất rõ
tiêu cực trong bộ máy quan lại sẽ tác động xấu đến tình hình xã hội, trở thành nguồn lực
cản trở cho sự phát triển của đất nước. Để nỗ lực kiểm soát điều này, triều Nguyễn đã
xây dựng các cơ quan giám sát như: Đô sát viện, lục khoa và Giám sát ngự sử của 16 đạo
cùng với bộ luật Hoàng triều luật lệ góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước từ trung
ương đến địa phương cũng như ổn định xã hội và phần nào đó đảm bảo quyền, lợi ích
của dân chúng.
Tuy nhiên, khơng thể phủ nhận rằng bộ máy chính trị triều Nguyễn ngay từ đầu
đã mang nặng tính chất quan liêu, độc đốn và sâu mọt. Đó là một nhà nước quân chủ
chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với một chế độ chính trị lạc hậu, bảo thủ. Mọi
quyền hành đều tập trung trong tay nhà vua. Vua được coi là "con trời", “thay trời" trị
dân; quyền hành nhà vua được coi là “thần khí” thiêng liêng, vơ hạn. Nhà vua trong thực
tế là đại địa chủ lớn nhất trong nước, có tồn quyền phung phí tài sản quốc gia trên xương
máu của nhân dân, còn quan lại trong triều và ở các địa phương là những tên địa chủ nhỏ
hơn và có những quyền hạn nhất định; tư tưởng chính trị thì bảo thủ, cầu an, kinh tế thì
5
tham lam và cuồng bạo. Từ vua đến quan đều rất tự cao tự đại với mớ học thuyết Khổng,
Mạnh lỗi thời, xem trật tự quân chủ là bất di bất dịch, hình thành nên lối tư duy lỗi thời,
máy móc. Chính điều này tạo ra nạn quan liêu vơ cùng nghiêm trọng trong bộ máy quan
lại dưới triều Nguyễn, quan lại cậy quyền, kiêu căng, hống hách, đạo đức suy đồi, từ đó
sản sinh ra hàng loạt các hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng; nhận hối lộ, đút lót;
bóc lột, ức hiếp nhân dân,… khiến xã hội triều Nguyễn ngày càng rối ren và chứa đầy
những mâu thuẫn. Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề này đóng một vai trị rất quan trọng,
đây là cơ sở để chúng ta nhìn nhận một cách đúng đắn, khách quan về hiện tượng tiêu
cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn, đánh giá các chính sách và biện pháp triều
Nguyễn thực hiện trong việc chống tiêu cực trong đội ngũ quan lại, qua đó rút ra những
bài học kinh nghiệm làm nền tảng cho công tác bồi dưỡng đạo đức, thanh tra bộ phận
cán bộ, công chức của Việt Nam nói riêng trong tình hình hiện nay một cách đúng hướng
và có hiệu quả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói nói: “Có đức mà khơng có tài làm việc gì cũng
khó, có tài mà khơng có đức là người vô dụng”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc,
công việc thành công hay thất bại là do cán bộ” [60]. Như vậy, vấn đề đạo đức cơng vụ
cơng chức là vấn đề có tầm quan trọng rất lớn dẫn đến sự thành bại của nền hành chính.
Trong bối cảnh cải cách mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, nước ta đang có nhiều
chuyển biến phát triển hội nhập nền kinh tế quốc tế, đời sống nhân dân từng bước được
nâng cao, xã hội ngày càng phát triển đã ảnh hưởng tích cực và tiêu cực về nhiều mặt
đến lực lượng cán bộ, công chức, viên chức, tạo sự chuyển biến lớn về tư tưởng, đạo đức
lối sống của cán bộ, công chức, viên chức. Do vậy, đã có một bộ phận cán bộ, cơng chức,
viên chức có biểu hiện suy thối, thiếu gương mẫu về đạo đức và lối sống. Thực trạng
suy thoái về đạo đức trong cán bộ, đảng viên đã và đang có những diễn biến phức tạp,
trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI đã nêu lên những hạn chế, yếu kém trong công
tác xây dựng Đảng hiện nay: “Một bộ phận khơng nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có
những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý
tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài,
kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vơ ngun tắc...” [61], những
biểu hiện đó có nguy cơ làm giảm sút lịng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước,
thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều năm chậm được khắc phục,
nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự mất
6
dần lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng đang ra
sức phấn đấu xây dựng. Đứng trước thực trạng này, việc nghiên cứu tiêu cực và chống
tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn mang lại ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Với những lý do đó, tơi chọn đề tài “Tiêu cực và chống tiêu cực trong bộ máy
quan lại dưới triều Nguyễn (1802 - 1884)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay có khá nhiều cơng trình, bài viết nghiên cứu về quan chế của các
triều đại quân chủ Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng. Có thể chia thành các nhóm
sau:
Thứ nhất, nhóm cơng trình nghiên cứu quan chế ở Việt Nam như: “Giáo trình
Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam” do Phạm Thị Duyên Thảo và Mai Văn Thắng
đồng chủ biên; “Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam và những suy ngẫm”
của Bùi Xuân Đính; “Giáo dục - khoa cử và quan chế ở Việt Nam thời Phong kiến và
thời Pháp”của Nguyễn Công Lý; “Từ điển chức quan Việt Nam” của Đỗ Văn Ninh; “Tổ
chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuấn… Các cơng
trình tập trung khái quát, sơ lược một cách khái quát các phẩm cấp quan chế từ nhất phẩm
đến cửu phẩm, các thể thức tuyển dụng quan lại, phong tước, nhiệm vụ, trách nhiệm của
các chức quan và chế độ thưởng phạt, khảo khóa đối với quan lại kiến theo một diễn trình
kéo dài từ triều đại Ngơ - Đinh - Tiền Lê cho đến thời Pháp thuộc. Đặc biệt trong cuốn
“Lược khảo và tra cứu về học chế quan chế ở Việt Nam từ 1945 trở về trước” của
nhóm tác giả Lê Trọng Ngoạn chọn lọc và định nghĩa một số khái niệm xung quanh các
lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước, chức tước, phẩm hàm (chủ yếu là văn gia) cùng học
chế, học vị, nghiên cứu tiểu sử các nhân vật lịch sử với những chức vụ phẩm hàm, việc
học hành thi cử cùng hệ thống quan lại trong bộ máy Nhà nước thời quân chủ và Pháp
thuộc.
Bên cạnh đó, cịn có các cuốn sách “Việc tuyển chọn và sử dụng quan lại trong
lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” của Bùi Xuân Đính; “Lựa chọn và sử dụng nhân
tài trong lịch sử” của Lê Thị Thanh Hịa, các tác giả này đều chỉ ra rằng chính giáo dục
theo lối tầm chương trích cú, đạo đức thì học theo sách Đạo đức kinh như một lẽ bắt
buộc, hình thức sáo rỗng, xa rời thực tế mà khơng có sự tu dưỡng về nhân cách, khơng
có sự giác ngộ từ trong thâm tâm đã tạo nên một lớp quan lại còn nhiều hạn chế về mặt
nhận thức, về nghĩa vụ và trách nhiệm của người làm quan đối với nhân dân.
7
Thứ hai, nhóm cơng trình nghiên cứu quan chế thời Nguyễn: Trong 2 cơng
trình là “Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn (1802 – 1884)” và “Khảo cứu kinh tế
và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn” của Đỗ Bang đã khái quát các các bộ máy
quan lại, là các cơ quan bao gồm Văn phòng Trung ương (Tam Nội Viện, văn thư phòng,
Nội Các), Cơ mật Viện, Lục bộ,… và bộ máy chính quyền địa phương. Tác giả cũng đề
cập đến vấn đề tình hình xã hội rối ren dưới thời Nguyễn cũng như lý giải nguyên nhân
là do “bản chất của nhà nước Nguyễn và năng lực phẩm chất của đội ngũ quan lại” [].
Ngoài ra cuốn “Quan chức nhà Nguyễn” của Trần Thanh Tâm khái quát về sự thay đổi
nhiều lần của bộ máy quan chức nhà Nguyễn qua các thời kỳ lịch sử, từ khi các chúa
Nguyễn bắt đầu cai trị xứ Đàng Trong (1558 - 1801), trải qua thời kì nhà Nguyễn nắm
quyền cả nước (1802 - 1884) và đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nước ta (1884 - 1945)
đồng thời cũng đề cập đến một số chính sách đối với quan chức nhà Nguyễn như tuyển
chọn, bồi dưỡng, đãi ngộ, khảo khóa, và sử dụng quan lại qua các giai đoạn lịch sử. Tác
phẩm “Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn” của nhóm tác giả Phan Đại Dỗn cũng đã
lý giải nguyên lí cai trị của bộ máy quan lại, quan chế và một số biện pháp kiểm soát
quan lại.
Đề cập đến bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn cịn có một số luận văn như:”Tìm
hiểu chế độ trung ương tập quyền triều Nguyễn (1802 – 1885) của Nguyễn Thị Thùy;
“Tìm hiểu hoạt động của cơ quan tư pháp triều Nguyễnn giai đoạn 1802 – 1883” của
sinh viên Võ Thị Lý; “Tổ chức và hoạt động cơ quan giám sát của triều Nguyễn (1802
– 1885)” của Trịnh Thị Quyên đã đề cập đến tiền đề lịch sử và những yêu cầu thực tiễn
của việc thành lập cơ quan giám sát, đồng thời cũng phân tích sâu hơn về quá trình ra
đời, kiện tồn cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của cơ
quan giám sát trong việc kiểm soát và trừng trị các hiện tượng trong bộ máy quan lại
dưới triều Nguyễn qua các triều vua từ Gia Long, Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức.
Nhìn chung, các cơng trình chưa hệ thống đầy đủ về mặt tư liệu, mới chỉ dừng lại ở mức
độ khảo tả về các biện pháp, chính sách, quy định trong việc giám sát quan lại, chưa đi
sâu vào việc phân tích thực tiễn hoạt động của cơ quan giám sát, trừng trị các trường hợp
vi phạm cũng như đưa ra các đánh giá, nhận định về đóng góp, hạn chế của cơ quan giám
sát triều Nguyễn trong việc chống tiêu cực trong bộ máy quan lại.
Thứ ba, nhóm cơng trình nghiên cứu về tiêu cực thời Nguyễn: Trong cơng trình
“Kinh tế và Xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn” của tác giả Nguyễn Thế Anh
có đề cập đến một số hiện tượng tiêu cực trong xã hội triều Nguyễn như nạn cướp bóc
8
hoành hoành bắt nguồn từ việc sưu thuế, mất mùa, cộng với tình trạng quan lại nhũng
nhiễu, bóc lột nhân dân khiến nạn cướp bóc, thổ phỉ, đạo tặc diễn ra ngày càng nghiêm
trọng, không chỉ vậy nạn buôn bán và sử dụng thuốc phiện, rượu chè, bài bạc trong nhân
dân cũng là một tệ nạn nhức nhối dưới xã hội triều Nguyễn thời bấy giờ. Ngồi ra cịn
có cơng trình nghiên cứu khoa học “Tiêu cực và chống tiêu cực trong thi cực dưới triều
Nguyễn” của nhóm sinh viên Phạm Hoàng Lan Chi đã đề cập khá chi tiết đến các nguyên
nhân, hiện tượng tiêu cực xuất phát từ cả phía sĩ tử (nhờ người thi hộ, mang tài liệu vào
trường thi, làm náo loạn trường thi,…) và quan trường (chấm bài tùy tiện, không tinh, tự
ý sửa bài của sĩ tử, lừa dối, làm tiền,…).
Cho đến ngày nay, có rất ít những cơng trình, tài liệu nào nghiên cứu một cách hệ
thống và chi tiết về tiêu cực và các giải pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới
triều Nguyễn. Tuy nhiên, những cơng trình nói trên là nguồn tài liệu tham khảo quan
trọng, có giá trị để chúng tơi hồn thiện đề tài khóa luận của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các hiện tượng tiêu cực và các biện
pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại của triều Nguyễn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về thực trạng tiêu cực và các biện pháp chống tiêu
cực trong bộ máy quan lại của nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802 đến năm 1884.
Phạm vi không gian: Tìm hiểu về tiêu cực và chống tiêu cực trong bộ máy quan
lại trên phạm vi cả nước.
Phạm vi nội dung: Trên cơ sở khái qt tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội thời Nguyễn, đề tài đi sâu nghiên cứu về thực trạng tiêu cực của bộ máy quan lại thời
Nguyễn và các giải pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại của triều Nguyễn. Từ đó,
rút ra nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm cho công cuộc chống tiêu cực trong đội
ngũ cán bộ, cơng chức ở Việt Nam hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp thêm tư liệu để góp phần đánh giá và nhìn nhận một cách khách quan,
chính xác hơn về vai trị, đóng góp của nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc.
- Tổng hợp và phân tích các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều
Nguyễn.
9
- Tìm hiểu các giải pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn.
Từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm cho công cuộc bồi dưỡng đạo đức cách mạng và
chống tiêu cực trong đội ngũ cán bộ ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nói trên, đề tài cần thực hiện và hoàn thành
những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử thời nhà Nguyễn trên các mặt chính trị, kinh tế, xã
hội, văn hóa.
- Khái quát về tiêu cực trong bộ máy quan lại trước thời Nguyễn.
- Tìm hiểu những hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn,
cụ thể là tìm hiểu về những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của những hiện tượng tiêu
cực đó.
- Tìm hiểu những biện pháp xử lý, khắc phục đối với những tiêu cực trong bộ
máy quan lại của chính quyền nhà Nguyễn.
5. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Đề tài dựa vào các nguồn tài liệu chính sau:
- Các tài liệu biên niên sử như: Đại Việt sử ký toàn thư của Quốc sử quán triều
Lê, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện,
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều
Nguyễn. Hầu hết các bộ chính sử được tiếp tục bổ sung, biên soạn qua nhiều thế hệ của
triều đại nhà Nguyễn, ghi chép khá đầy đủ các sự kiện (kinh tế, chính trị, qn sự, giáo
dục,...), trong đó có đề cập đến các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại và biện
pháp đối với những hiện tượng tiêu cực đó.
- Các tài liệu của sử gia tư nhân như: Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực, Lịch
triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Lịch triều tạp kỉ của Ngô Cao Lãng, Sử
học bị khảo của Đặng Xn Bảng,...
- Ngồi ra, đề tài cịn có sự tham khảo, đối chiếu với các cơng trình nghiên cứu
khoa học lịch sử, khóa luận, luận văn, các bài viết trên báo, tạp chí, bài viết trên các
website,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh quan điểm của Đảng và
nhà nước. Về phương pháp chuyên ngành, đề tài vận dụng các phương pháp:
10
Phương pháp lịch sử: đề tài thông qua các nguồn tư liệu để nghiên cứu và tái hiện
các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại của triều Nguyễn, đồng thời đặt các hiện
tượng đó trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong bối
cảnh xã hội lúc bấy giờ, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực các hiện tượng đã xảy
ra.
Phương pháp logic: đề tài nghiên cứu tổng quát các hiện tượng tiêu cực trong bộ
máy quan lại, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, khách quan làm bộc lộ bản chất, tính tất yếu
của các hiện tượng đó.
Phương pháp thống kê: đề tài dựa trên các dữ kiện lịch sử thu thập được từ các
nguồn cổ sử và tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ và cung cấp
thông tin về các hiện tượng tiêu cực một cách rõ ràng và chính xác.
Phương pháp tổng hợp: đề tài liên kết các thông tin, dữ kiện thu thập từ các nguồn
tài liệu một một chỉnh thể để tạo ra một hệ thống các hiện tượng tiêu cực.
Phương pháp so sánh: đề tài nghiên cứu, so sánh các hiện tượng tiêu cực trong
bộ máy dưới triều Nguyễn với các triều đại quân chủ trước đây cho thấy sự giống và
khác nhau, làm rõ mối liên hệ, tác động lẫn nhau, qua đó làm rõ cái riêng, cái chung để
thấy được tính đặc thù, phổ biến, hệ thống của hiện tượng tiêu cực trong suốt chiều dài
lịch sử.
Ngồi ra đề tài cịn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp hệ thống
hóa, phương pháp tập hợp tư liệu, phương pháp khái quát hóa,.... Để nghiên cứu và trình
bày các nội dung đưa ra trong đề tài.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần phục dựng lại bức tranh tổng thể về tiêu cực trong bộ máy quan
lại ở thời Nguyễn, đồng thời chỉ ra nguyên nhân, hệ quả của những hiện tượng tiêu cực
đó cử đối với xã hội, đất nước, cũng như các biện pháp chống tiêu cực trong bộ máy của
triều Nguyễn.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là góp thêm cơ sở tham khảo cho các cơ quan
quản lý, nhà nước, rút kinh nghiệm trong việc xây dựng, ban hành những chính sách hợp
lí trong cơng tác bồi dưỡng đạo đức và làm trong sạch đội ngũ cán bộ trong bộ máy chính
quyền ở các cấp.
Mặt khác, kết quả của đề tài cịn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
giảng dạy và cho những ai quan tâm về lĩnh vực hành chính, quan chế dưới thời Nguyễn.
11
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục và nội dung chính của
đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về triều Nguyễn và tiêu cực trong bộ máy quan lại trước
thời Nguyễn
Chương 2: Tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn
Chương 3: Những giải pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều
Nguyễn
12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN
VÀ TIÊU CỰC TRONG BỘ MÁY QUAN LẠI
TRƯỚC THỜI NGUYỄN
1.1. Tổng quan về triều Nguyễn
1.1.1. Tình hình chính trị
Năm 1802, sau khi đánh bại được triều Tây Sơn, làm chủ đất nước, Nguyễn Ánh lên
ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn. Vua Gia Long bắt
đầu tổ chức lại bộ máy nhà nước, ban hành các chính sách, củng cố quân đội nhằm ổn định
xã hội, ổn định quyền thống trị của giai cấp quân chủ và đối phó từ những tác động từ bên
ngồi.
Chính quyền trung ương được tổ chức như các triều đại trước. Đứng đầu là vua,
nắm mọi quyền hành. Để tập trung hơn nữa quyền lực vào tay mình, các vua Nguyễn đặt
ra lệ “tứ bất” (khơng đặt hồng hậu, khơng đặt tể tướng, khơng lấy trạng ngun, khơng
phong vương cho người ngồi họ). Nhà Nguyễn tiếp tục tái độc tôn Nho giáo nhằm củng
cố và bảo vệ địa vị, quyền lợi của triều đại quân chủ thống trị. Thực chất của đường lối,
chủ trương chính trị triều Nguyễn là loại bỏ các âm mưu bạo loạn và trừng trị các cuộc
khởi nghĩa chống phá triều đình của nhân dân và các thế lực cát cứ, phản loạn khác.
Thời Gia Long, nước ta chia làm 3 vùng: Bắc Thành (từ Ninh Bình trở ra Bắc),
Gia Định Thành (từ Bình Thuận trở vào Nam) và các Trực Doanh (Trung Bộ) do triều
đình trực tiếp cai quản. Chính quyền Trung ương quản lý trực tiếp từ Thanh Hóa đến
Bình Thuận. Cịn lại hai khu tự trị là Bắc thành và Gia Định thành do Tổng trấn tồn
quyền. Đó là giải pháp tình thế của vua Gia Long trong bối cảnh thời gian đầu lên ngôi.
Trong năm 1831 - 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính, chia cả
nước thành 30 tỉnh và một Phủ Thừa Thiên. Đứng đầu là Tổng đốc, Tuần phủ hoạt động
theo sự điều hành của triều đình. Sự phân chia hành chính này của Minh Mạng được xem
là dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp về mặt địa lý, dân cư, phong tục tập quán địa phương
phù hợp với phạm vi quản lý của một tỉnh; đồng thời là cơ sở để phân chia các tỉnh như
ngày nay. Vì vậy, cải cách hành chính của Minh Mạng được các nhà nghiên cứu đánh
giá rất cao.
Triều Nguyễn xác định rất rõ đường lối trị nước kết hợp giữa giáo hóa và hình pháp,
tuy nhiên hình pháp chỉ là giải pháp nhất thời, trong một giai đoạn và bối cảnh lịch sử nhất
định, cịn giáo hóa được coi là phương tiện tư tưởng căn bản để thu phục nhân tâm, cai trị
13
đất nước.Với mục đích tập trung tất cả quyền lực vào tay, các vua Nguyễn đã dần dần xây
dựng một hệ thống chính quyền phục vụ cho quyền lợi tập đồn qn chủ của mình. Trên
tinh thần trị nước kết hợp Nho và Pháp, triều Nguyễn đã tổ chức triều đình gồm 6 Bộ (Lại,
Hộ, Lễ, Binh, Hình, Cơng) chịu trách nhiệm chỉ đạo công việc chung của Nhà nước. Ngồi
ra có Đơ sát viện (Ngự sử đài cũ) phụ trách thanh tra quan lại; Hàn lâm Viện phụ trách sắc
dụ, công văn; Tôn nhân phủ là cơ quan quản lý cơng việc của Hồng tộc, Quốc tử giám phụ
trách giáo dục, Nội vụ phủ phụ trách kho tàng,... Giúp vua cịn có Văn thư phịng, đến thời
Minh Mạng đặt thêm Nội các, chuyên lo việc công văn giấy tờ và đi theo vua. Sang đời
Minh Mạng, tính chất chuyên chế chính trị phát triển cao độ song song với việc hạn chế
quyền hành của các cấp địa phương. Vua Minh Mạng cũng đặt thêm Viện cơ mật gồm 4
viên đại thần chuyên bàn với vua các việc “quân quốc trọng sự”.
Có thể thấy rằng bộ máy nhà nước quân chủ được nhà Nguyễn tổ chức theo thiết
chế quân chủ chuyên chế, tập trung mọi quyền hành vào tay nhà vua. Đây là sự tiếp tục
thiết chế quân chủ thời Lê, nhưng được nâng lên mức tập trung cao hơn. Đường lối vương
đạo Nho gia mà các vua triều Nguyễn sử dụng làm tư tưởng trị nước vừa là phương tiện
giáo hóa dân chúng, vừa là mục đích xây dựng thái hòa trên cơ sở đạo đức, phân biệt với
đường lôi bá đạo lấy sức mạnh, pháp luật để cai trị, chinh phục như Gia Long đã từng
nói “Đạo trị dân, giáo hóa vẫn nên làm trước” [36, tr.518].
Với việc tiếp tục sử dụng Nho giáo như một công cụ thống trị về tư tưởng trong
nhân dân nhưng đẩy mạnh mang tính tập trung, chuyên chế của triều Nguyễn đã gây ra
một hệ quả tiêu cực đó là làm cho giai cấp thống trị ngày càng chuyên quyền. Cũng như
ở thế kỷ XVIII, quan lại thời Nguyễn ln tìm cách hạch sách nhân dân, chiếm đoạt tiền
của. Nạn quan lại tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính của phong trào
nơng dân rầm rộ. Trước tình trạng xã tắc đầy rẫy những rối ren như vậy, năm 1815, nhà
Nguyễn ban hành bộ luật “Hoàng triều luật lệ”. Bộ luật hầu như sao chép lại bộ luật nhà
Thanh đương thời, gồm tất cả 398 điều chia thành 7 chương và 30 điều “tạp tụng”. Đây
là một bộ luật hà khắc, phản ánh rõ nét tư tưởng chuyên chế của giai cấp thống trị trên
bước đường suy vong. Mọi tội phạm liên quan đến việc chống đối triều đình đều bị trừng
trị tàn bạo.
Trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, sau khi đánh bại được triều
Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã sai người sang hỏi Tổng đốc Lưỡng Quảng về cách bang giao.
Tiếp đó vua cử sứ đồn Lê Quang Định dẫn đầu sang nhà Thanh xin cầu phong quốc ấn
và niên hiệu. Từ đó cứ 4 năm một lần, triều Nguyễn cử sứ bộ sang nộp 2 lần lễ cống.
14
Thái độ của nhà Nguyễn trong quan hệ với nhà Thanh là thần phục một cách mù quáng.
Trong lúc đó nhà Nguyễn lại dùng lực lượng quân sự khống chế Cao Miên, đặt thành
Trấn Tây, bắt Lào thần phục. Quan hệ với Xiêm cũng thất thường, lúc thân thiện, hịa
hỗn, lúc tranh chấp.
Chính sách hạn chế giao thương trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn là một phần
nhỏ trong toàn bộ chính sách “trọng nơng ức thương”. Rõ ràng về mặt thực tế chính sách
này đã kìm hãm nền cơng thương nghiệp của nhà Nguyễn và hệ quả là Việt Nam trở
thành một nước qn chủ cơ lập, khép kín về thương mại, ngoại giao và trở nên lạc hậu.
Về đối nội, điều này đã làm cho đất nước thâm hụt nguồn lợi nhuận thông qua việc trao
đổi, mua bán hàng hóa với các nước láng giềng, nguồn thu nhập của nhà nước và của
những tư nhân sản xuất đều sút giảm, mâu thuẫn giữa triều đình và nhân dân ngày càng
tăng cao, gây ra sự chia rẽ dân tộc. Chính sách “trọng nơng ức thương” cũng chi phối
mối quan hệ của nhà Nguyễn với các nước phương Tây. Từ thế kỷ XVIII, chủ nghĩa thực
dân phương Tây ngày càng phát triển, các nước Anh, Pháp, Hà Lan đua nhau, tranh chấp
nhau xâm chiếm các nước nhỏ yêu ở châu Phi, châu Á làm thuộc địa. Việc “Đóng cửa”
cự tuyệt với các nước phương Tây trở thành quốc sách của triều Nguyễn. Điều này càng
thúc đẩy Pháp xâm lược nước ta, làm đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ,
lạc hậu đến nỗi suy kiệt khả năng tự vệ.
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Bức tranh kinh tế - xã hội dưới triều Nguyễn mang rất nhiều những sắc thái khác
nhau. Nhắc đến kinh tế triều Nguyễn, bên cạnh màu sắc ảm đạm của một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu, phân tán, hạn chế thương nghiệp và kìm kẹp thủ cơng nghiệp, ruộng
đất phần lớn tập trung trong tay địa chủ thì dưới triều Nguyễn kinh tế cũng có những
bước tiến nhất định trong nơng nghiệp, thương nghiệp và sự tinh xảo trong thủ công
nghiệp, mở mang khai hoang nhiều vùng đất, xúc tiến nội thương trên cơ sở thống nhất
đất nước. Trước tình hình kinh tế có những biến đổi nhất định, tình hình xã hội dưới triều
Nguyễn cũng khá phức tạp, vẫn với sự mâu thuẫn chính yếu giữa địa chủ phong kiến
(giai cấp thống trị) và nông dân (giai cấp bị trị), trong thời gian này dưới những tác động
của những yếu tố khác nhau về lịch sử, tự nhiên, các tác nhân chủ quan đã đẩy những
mâu thuẫn xã hội dần lên đến đỉnh cao đến mức khó có thể dung hòa được, thổi bùng lên
một loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân.
Thứ nhất là trong nông nghiệp. Bước sang đầu thế kỉ XIX, tình hình ruộng đất đặt ra
cho triều Nguyễn những bất cập cần có phương án giải quyết thích hợp. Những khó khăn đó
15
xuất phát từ diện tích ruộng đất cơng cịn rất ít. Theo thống kê của bộ Hộ năm 1840, tổng
diện tích đất thực canh là 6.063.893 mẫu, trong đó tổng diện tích ruộng là 3.396.584 mẫu
cơng tư, trong số này có 2.816.221 mẫu ruộng tư và 580.363 mẫu ruộng cơng (tức 17%) [57,
tr.443]. Qua những con số biết nói này, tình hình ruộng đất đã được phản ánh một cách rõ
nét, đó là sự tập trung phần lớn ruộng đất vào tay địa chủ, sự suy sụp của chế độ chiếm hữu
ruộng đất công và sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất, nông dân phiêu
tán, trơng chờ mịn mỏi vào số ruộng cơng ít ỏi. Tình hình này thể hiện qua lời nhận xét của
Phan Huy Chú: “Nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là rất nhiều ruộng đất và bãi công, phép
quân cấp chỉ nên làm ở chỗ ấy là phải, còn các xứ khác thì hạng ruộng cơng khơng có mấy,
dù xứ nào đi nữa thì cũng chỉ đủ cung cấp binh lương và ngụ lộc không thể san chia cho các
hạng” [8, tr.70].
Để giải quyết tình trạng này, năm 1804, Gia Long ban hành phép quân điền, theo
đó tất cả mọi người đều được chia ruộng đất công ở xã, trừ các quý tộc vương tôn được
cấp 18 phần, quan lại nhất phầm được cấp 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo
được 3 phần. Chính sách quân điền vẫn tiếp tục được tiến hành đến cuối thời Minh Mạng,
không những ở miền Bắc mà miền Nam cũng được áp dụng, tuy nhiên, chính sách qn
điền nhìn chung là khơng có tác dụng đáng kể.
Khơng những vậy, dưới tác động của thiên tai như lũ lụt hạn hán đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. Năm 1803, trận lụt lớn làm vỡ đê ở
Bắc Thành, liên tiếp sau đó từ 1802 - 1858 cả nước đã phải gánh chịu 38 lần mưa bão,
lụt lội lớn kéo theo đó là mất mùa, đói kém, 16 lần vỡ đê [57, tr.446].
Chính những tác động trên đã khiến cho hàng loạt nông dân phiêu tán, hàng trăm
ngàn mẫu ruộng đất bị bỏ hoang, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và làm
thất thu ngân quỹ nhà nước. Những khó khăn phẫn uất trước cuộc sống khó khăn, khơng
có kế sinh nhai là cội nguồn phát sinh các cuộc khởi nghĩa nông dân, tăng thêm mâu
thuẫn xã hội. Nền kinh tế nông nghiệp bị khủng hoảng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, triều Nguyễn cũng đã có những nỗ lực và giải pháp để giải quyết
những khó khăn trong nông nghiệp. Triều Nguyễn rất quan tâm đến nông nghiệp, chú
trọng mở rộng diện tích đất canh tác, quan tâm đến hệ thống thủy lợi, đê điều được xây
dựng và củng cố. Vì vậy, so với những triều đại qn chủ trước đó, nơng nghiệp cũng có
những bước tiến nhất định. Để mở mang diện tích đất canh tác, triều Nguyễn đã khuyến
khích khai hoang bằng hình thức doanh điền, bên cạnh đó là khai hoang bằng hình thức
đồn điền và khai hoang tự do. Hình thức doanh điền là một việc làm đúng đắn của triều
16
Nguyễn trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất, ở đây sẽ có sự kết hợp giữa nhà nước và
nhân dân, nhà nước sẽ hỗ trợ các phương tiện cộng với sức dân để khai hoang. Và nhân
vật có cơng lớn trong việc đề xướng “vỡ ruộng khai hoang cho dân nghèo” năm 1828 đó
là Nguyễn Cơng Trứ (Doanh điền sứ), và một nhân vật cũng có cơng lớn trong việc tổ
chức doanh điền ở miền Nam đó chính là Nguyễn Tri Phương. Bằng hình thức doanh
điền, một diện tích ruộng đất lớn đã được khai hoang, thành lập nên những làng, xã, và
huyện mới, tiêu biểu là huyện Kim Sơn và huyện Tiền Hải. Hình thức đồn điền cũng
được đẩy mạnh, nhất là ở Nam kì, nhiều đồn điền sau khi khai phá xong thì được chuyển
thành ruộng đất làng xã do xã quản và nộp thuế.
Bên cạnh việc đẩy mạnh khai hoang, nhà Nguyễn cũng rất quan tâm đến việc
củng cố hệ thống thủy lợi bao gồm việc đào sông, nạo vét kênh mương, củng cố và xây
dựng đê điều. Đã có 60 lần các vua triều Nguyễn ban chỉ dụ về việc đào sơng, nạo vét
sơng ngịi, kênh rạch ở 15 tỉnh trong cả nước. Năm 1809, Gia Long cho đặt các chức
Tổng lí và Tham lí đê chính lo việc đê điều ở Bắc Thành, hơn 47 km đê được tu sửa. Đến
năm 1828, vua Minh Mạng cho bỏ Nha đê sứ, giao việc cho tỉnh với bản Điều lệ chống
lụt 4 điểm. Nhà nước cũng chia thành hai loại đê đó là đê cơng ở các sơng lớn do nhà
nước kiểm sốt và đê tư ở các sơng nhánh do địa phương quản lí cùng với sự hình thành
của các chức vụ phụ trách thủy lợi giống nhau. Năm 1809, hệ thống đê điều ở Bắc Thành
tổng cộng là 239.933 trượng tương đương 960 km. Sau 21 năm dưới thời nhà Nguyễn,
chiều dài các con đê ở Bắc Kỳ đã tăng lên 303.616 trượng, tương đương 1.215 km. Tới
cuối thế kỷ XIX, hệ thống đê này đã dài tới 2.400 km [1, tr.122].
Nhìn chung, nơng nghiệp nước ta dưới triều Nguyễn bên cạnh những bất cập nội
tại của một nền nông nghiệp lạc hậu theo phương thức sản xuất phong kiến thì cũng có
những bước tiến và phát triển nhất định nhất là trong việc khai hoang và củng cố thủy
lợi nhằm đối phó với những đợt thiên tai dữ dội.
Thứ hai là về thủ công nghiệp và công nghiệp. Đối với thủ công nghiệp thì các
vua Nguyễn tổ chức các quan xưởng. Đây chính là các xưởng sản xuất thủ công do nhà
nước trưng tập những thợ giỏi trên khắp cả nước về kinh đô để sản xuất ra các vật phẩm
đáp ứng nhu cầu của triều đình cũng như mọi thứ cần dùng cho bộ máy vua quan, đóng
thuyền, đúc tiền, đúc súng… Thợ làm việc trong các công xưởng phải là những người
thợ giỏi ở các tỉnh, được tổ chức theo chế độ công tượng, hưởng lương theo công việc
nặng, nhẹ gồm gạo và tiền. Chính việc bắt ép thợ thủ cơng vào làm việc ở các công xưởng
đã tạo nên sự kìm kẹp và từ đó là kìm hãm sự sáng tạo trong tay nghề của họ.
17
Dưới triều Nguyễn, nhà nước đã trưng tập và phiên chế thợ thủ công theo từng
nghề gọi là tượng cục và nhiều tượng cục gần gũi nhau về chuyên môn được tập trung
lại trong các ty, cục để quản lí, điều phối đến các xưởng, các công trường sản xuất. Tượng
cục có hai chức trách chính là sản xuất các vật dụng thuộc nghề tại các công sở và thỉnh
thoảng được điều động đến các tỉnh với tư cách là cố vấn. Cịn đối với các tổ chức ty thì
có Ty chế tạo (cơ quan quản lí thủ cơng các loại, gồm 57 tượng cục với quy mô lớn và
được chia làm 3 nhóm nhóm thợ gắn liền với nguồn ngun liệu kim khí, nhóm thợ gắn
với các cơng trình xây dựng, nhóm thợ trực tiếp phục vụ cung đình), Ty Tiết thận (trang
phục của vua và cung đình), Ty Doanh thiện (quản lí thợ mộc, thợ đóng thuyền, tính giá
nhân công, nguyên vật liệu), Ty tu tạo (chuyên việc sửa chữa, tu sửa các cơng trình), Ty
Thương bác hỏa dược (chuyên về súng, thuốc súng), Ty thuyền (đóng các loại thuyền
chiến, thuyền công)… Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc tiền “Bắc Thành tiền
cục” ở Thăng Long. Có thể thấy rằng tổ chức quan xưởng của nhà Nguyễn như thế là
chặt chẽ và hoàn thiện, rất đa dạng, phong phú và phân loại các quan xưởng theo chủng
loại sản phẩm.
Thủ cơng nghiệp dưới triều Nguyễn có những chuyển biến mới thông qua việc
tiếp xúc với kĩ thuật phương Tây. Năm 1834, Nguyễn Viết Túy đã chế tạo thành cơng xe
“Thủy hỏa kí tế” dùng sức nước nghiền thuốc súng, thợ thủ công đã làm được máy cưa
văn gỗ, máy xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng trong những năm 1837-1838,
Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh cùng thợ cơng xưởng đóng xong chiếc thuyền máy chạy
bằng hơi nước.
Ngồi thủ cơng nghiệp nhà nước, thủ cơng nghiệp ở nông thôn và thành thị tiếp
tục phát triển, số người làm nghề thủ công tăng lên. Các nghề làm đồ gốm, sành sứ, dệt
vải, lụa, làm đồ vàng bạc, làm đường cũng phát triển ở khắp nơi như làng Bát Tràng,
làng Yên Thái, làng Đồng Kị, làng Bình Đà…. Tuy nhiên, chính sách của nhà nước thiếu
tính chất khuyến khích, nhà nước giữ độc quyền mua một số sản phẩm như sa, lượt, lụa,
người thợ thủ công vừa phải đóng thuế thân vừa phải nộp thuế sản phẩm.
Dưới triều Nguyễn, cơng nghiệp manh nha được hình thành, đặc biệt là ngành
đóng tàu và khai mỏ. Các xưởng đóng tàu phát triển với quy mô lớn, sản xuất các loại
tàu chiến, tàu hơi nước, nếu so với các triều đại qn chủ trước đó thì đó là những bước
tiến lớn. Một bộ phận quan trọng do nhà nước quản lí là khai mỏ. Trải qua nửa thế kỉ
đầu, nhà nước Nguyễn đã quản lí 139 mỏ, trong đó có 39 mỏ vàng, 32 mỏ sắt, 15 mỏ
bạc, 9 mỏ đồng… [57, tr.448]. Việc khai thác mỏ được phân thành 4 lực lượng, việc khai
18
thác mỏ được tổ chức theo cơng đoạn, mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Như vậy, dưới
triều Nguyễn, công nghiệp theo đường hướng chủ nghĩa tư bản đã manh nha hình thành
từ trong lịng của xã hội qn chủ thời Nguyễn.
Thứ ba là về thương nghiệp. Thương nghiệp dưới triều Nguyễn bao gồm những
hoạt động ngoại thương và nội thương. Nhìn chung, thương nghiệp triều Nguyễn có chiều
hướng giảm sút, sự lưu thơng hàng hóa, tiền tệ và thơng thương với bên ngồi có sự hạn
chế và bị thu hẹp.
Đối với nội thương, trong hoàn cảnh đất nước thống nhất, yên bình đã tạo điều kiện
thuận lợi cho nội thương phát triển. Theo đó cùng với hệ thống giao thông được củng cố,
việc buôn bán vượt qua ranh giới của làng xã, mở rộng buôn bán đến chợ huyện, chợ tỉnh.
Buôn bán bằng nhiều phương tiện, nhất là buôn bán bằng thuyền, các mặt hàng buôn bán
cũng rất phong phú, đa dạng. Tiền trong thời kỳ này được đúc bằng đồng, kẽm, chì, vàng,
bạc dưới hình dạng là đồng xu hay nén. Tuy nhiên, chính sách ức thương của nhà nước đã
hạn chế sự phát triển của thương nghiệp. Nhà nước đặt lệ trưng dụng thuyền buôn tư nhân,
theo quy định năm 1807: “Phàm thuyền vận tải, cứ một năm chở của cơng thì một năm đi
bn” [55, tr.450]. Năm 1816, quy định lại: “thuyền đi bn thì phải chịu thuế” [57,
tr.450], chở cho nhà nước thì được miễn. Đến năm 1834, để hạn chế phong trào nông dân,
triều Nguyễn đã ra lệnh cấm nhân dân họp chợ. Bên cạnh đó do xuất phát từ nguồn gốc là
một nước nông nghiệp nên nội thương nước ta rất nhỏ lẻ, tổ chức thương mại sơ sài và chủ
yếu là trong phạm vi gia đình, họ bn bán lẻ hàng hóa của người Hoa để kiếm lời. Các tổ
chức buôn bán lớn ở nước ta chủ yếu là người Hoa Kiều và có khi độc quyền cung cấp các
mặt hàng khác cho triều đình.
Đối với ngoại thương, triều Nguyễn do tiếp xúc với các nước phương Tây từ rất
sớm nên phần nào đó hiểu được sự nguy hiểm của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Do
đó, triều Nguyễn đã chủ trương hạn chế giao thương khiến cho ngoại thương có chiều
hướng giảm sút và suy giảm. Đối với các nước phương Tây, triều Nguyễn có một thái
độ rất cẩn trọng, tàu thuyền Anh, Mỹ mấy lần đến xin thông thương nhưng đều bị khước
từ, đến thời Minh Mạng, việc buôn bán với Pháp cũng chấm dứt. Nước ta dưới thời nhà
Nguyễn tiến hành buôn bán với các nước trong khu vực như Xiêm, Mã Lai và đặc biệt
là với Trung Quốc thông qua cửa biển Đà Nẵng. Nhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại
thương, tổ chức các chuyến buôn và công cán nước ngồi như ở Quảng Đơng, Lữ Tống,
Hạ Châu…
19
Tình hình kinh tế đã có những tác động rất lớn đối với tình hình xã hội. Những
tác động từ kinh tế cùng với hàng loạt các yếu tố khác đã làm cho tình hình xã hội nước
ta dưới thời Nguyễn không đạt được sự ổn định. Nhà Nguyễn được hình thành trên sự
sụp đổ cùa nhà Tây Sơn mà nịng cốt là phong trào nơng dân, và hình thành sau một q
trình chia cắt đất nước lâu dài, đó chính là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn.
Cũng giống như các triều đại quân chủ trước đó, trong xã hội cũng có hai giai cấp đó
là giai cấp thống trị (vua, quan, giai cấp địa chủ) và giai cấp bị trị (tồn bộ nơng dân, thợ thủ
cơng, thương nhân, một số dân nghèo thành thị, lớp người bị lưu đày, nơ tì). Đời sống của
nhân dân dưới sự áp bức của giai cấp địa chủ phong kiến, vừa phải chịu những hậu quả của
thiên tai, cộng với chế độ binh dịch, thuế khóa và cơng tượng của nhà nước rất nặng nề. Theo
đó, người dân phải nộp thuế ruộng và cả thuế nhân đinh, nhưng nhà nước cũng giảm thuế
khi gặp mất mùa, mỗi năm một dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch và công việc khá nặng.
Triều Nguyễn cũng thi hành nhiều chính sách để cứu đói cho nhân dân như tổ chức khai
hoang, lập đồn điền… Thông qua công cuộc khai hoang nhiều người đã có một cuộc sống
mới sung túc hơn, có ruộng đất để cày cấy, nhưng vẫn cịn một bộ phận nơng dân ngày càng
bị đẩy vào đường cùng. Chính sách cai trị của triều Nguyễn cộng với những sự khác biệt về
tư tưởng đã làm bùng nổ rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nơng dân. Theo tính tốn dưới thời
Nguyễn có khoảng 500 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ các loại, riêng thời Gia Long có khoảng 90
cuộc, con số này tăng lên đến 250 cuộc vào thời Ming Mạng, và 50 cuộc thời Thiệu Trị [57,
tr.454].
Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội nước ta dưới triều Nguyễn đã có những điểm
sáng và tiến bộ rõ rệt, đặc biệt là trong thời vua Gia Long và Minh Mạng, góp phần ổn
định xã hội, củng cố và phát triển kinh tế. Chính sự ổn định xã hội và những bước tiến
nhất định về kinh tế đã tạo điều kiện để nhà nước tổ chức thi cử nhằm đào tạo và tuyển
chọn nhân tài, xây dựng những luật lệ nghiêm minh trong việc phòng chống những tiêu
cực trong thi cử. Tuy nhiên, càng về sau dưới sự tác động của những chính sách sai lầm
trong kinh tế, xã hội và những mầm mống mâu thuẫn ngầm trong xã hội đang ngày càng
gay gắt đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của các khoa thi, làm phân tán sự
quan tâm của triều Nguyễn đối với vấn đề thi cử, làm nảy sinh những tiêu cực trong bộ
máy quan lại cũng từ đó mà hình thành.
1.1.3. Tình hình văn hóa - tư tưởng
Sang đến đầu thế kỉ XIX, Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại rất nhiều hệ tư tưởng
với những trường phái khác nhau, trong đó phải kể đến bốn hệ tư tưởng lớn đó là Nho
20
giáo, Đạo giáo, Phật giáo và một hệ tư tưởng mới được truyền vào là Thiên Chúa giáo.
Cũng giống như các triều đình trước đây, triều Nguyễn vẫn sử dụng Nho giáo làm hệ tư
tưởng chính nhưng vẫn tạo điều kiện cho các tôn giáo khác phát triển.
Sau khi đất nước rơi vào tình cảnh bị chia cắt ở giai đoạn thế kỷ XVI - XVIII,
nhân dân rơi vào cảnh lầm than do chiến tranh diễn ra liên miên. Trong hoàn cảnh như
vậy, Nho giáo suy dần mất dần vị trí độc tơn, Phật giáo và Đạo giáo phát triển. Trước
tình hình đó, nhà Nguyễn tiến hành phục hồi Nho giáo mà trước tiên là độc tôn Nho giáo,
điều này được thể hiện rõ nết nhất qua cách nhìn và ý thức của các vị vua thời nhà Nguyễn
mà cụ thể là vua Gia Long hay Minh Mạng. Lấy minh chứng, với vua Gia Long thì trong
những năm trị vì của mình, ơng đã đề cao Nho giáo, ơng lấy Nho giáo để sửa đổi phong
tục, thống nhất văn hoá đất nước. Mặc dù không thông báo về hệ độc tơn Nho giáo nhưng
ơng ln tn thủ đường lối chính trị và các phép tắc lễ nghi của học thuyết Khổng Tử.
Tiếp đó, vua Minh Mạng trong thời gian trị vì đã vận dụng tư tưởng chính trị của Nho
giáo, trước hết, là sự vận dụng tư tưởng thiên Mạng, trong Đại Nam thực lục chính biên,
có ghi lời vua Minh Mạng rằng: “Trời đối với nhà vua, cũng như vua đối với bầy tơi.
Vua có đức xấu, trời sẽ giáng tai hoạ để răn dạy; nếu vua biết sợ hãi sửa mình thì lại
ban cho điềm tốt. Bầy tơi có lỗi, vua phải giáng phạt để trừng trị; nếu bầy tơi biết hổ
thẹn, cố gắng đổi lỗi, thì lại liệu cất nhắc hơn lên. Việc dẫu có khác, lẽ cũng là một” [40,
tr.846], tức người làm vua phải luôn tâm niệm sửa mình, làm những điều tốt đẹp cho
dân. Đây cũng chính là ngun nhân khiến Nho giáo ln chiếm vị trí hàng đầu trong
đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, mà sự độc tôn Nho giáo chính là điều tất yếu trong
lịch sử thời nhà Nguyễn.
Bên cạnh sự độc tơn về Nho giáo thì triều Nguyễn cũng đã ban hành các chính
sách về Phật giáo để tạo điều kiện cho việc xuất gia và tu hành. Lấy cụ thể, đó là chính
sách Phật giáo ở thời Minh Mạng, vua Minh Mạng quan điểm “Nhà Phật dùng thần đạo
để dạy đời, đạo Khổng tử chỉ dạy luân thường là món dùng hằng ngày, song tóm lại,
chung quy đều dạy người ta làm điều thiện mà thôi. Kể ra người ta sinh ở trong vòng
trời đất, nên làm điều thiện, nên tránh điều ác. Đối với đạo Phật dạy người bằng thuyết
hoạ Phước, báo ứng, ta không nên nhất khái cho là dị đoan. Một việc khuyên người làm
thiện của nhà Phật, dẫu thánh nhân sống lại, cũng không thể đổi bỏ đi được” [40, tr.834].
Như vậy, dưới góc nhìn về Phật giáo, triều Nguyễn ln đặt sự quan tâm đến việc xây
dựng các chùa chiền mới, tu bổ và sửa sang lại các ngôi chùa đã cũ, bởi Minh Mạng từng
nói “Những danh lam thắng tích ta khơng có quyền để chúng tàn rụi, mất hết dấu tích
21
khơng lưu lại cho thế hệ mai sau” [64]. Vì vậy, triều đình đã cho tu bổ lại các chùa,
chẳng hạn như chùa Thiên Tôn (Quảng Trị), Tam Thai (Quảng Nam), các chùa trên núi
Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), dựng chùa Long Phước (Quảng Trị), chùa Thánh Duyên
(Huế), chùa Giác Hoàng (Huế), chùa Vĩnh An (Quảng Nam), chùa Khải Tường (Gia
Định),… Không những tu bổ lại các chùa mà triều đình cịn cho xây dựng thêm các ngơi
chùa mới. Có thể thấy, thời nhà Nguyễn việc xây dựng và trùng tu lại chùa đã góp phần
tạo được lịng tin trong nhân dân, sự ủng hộ của nhân dân trong việc ổn định lại đất nước.
Đối với Đạo giáo, triều đình nhà Nguyễn cũng ban hành những quy định về phép
tu hành, cụ thể :“Về độ tuổi, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt được các bậc chân tu
xác nhận, còn nói chung thì người muốn xuất gia tu hành (nhất là nam), phải từ năm
mươi tuổi trở lên; Về ý nguyện, phải thực sự xuất phát từ lòng mộ đạo; Về tư cách, phải
đảm bảo là người có thể giữ được đạo hạnh lâu bền trong suốt cả đời tu hành; Về hiểu
biết, phải được trang bị các tri thức nhất định về giáo lí” [40, tr.991]. Qua đó, chúng ta
nhận thấy đội ngũ tu hành được triều đình nhà Nguyễn thanh lọc, để tránh trường hợp
những kẻ lợi dụng đền miếu và Đạo quán lẫn trốn sự truy đuổi của xã hội, hoặc từ bỏ
trách nhiệm và bổn phận của mình đều lần lượt bị buộc phải hồn tục. Sự khác biệt về
khơng gian và khơng khí tơn nghiêm ở đền miếu và Đạo quán cùng dần được khôi phục,
nhiều giá trị được truyền tải đến tầng lớp trong xã hội. Mặt khác, vị trí của các chân tu
cũng được đề cao và khẳng định vai trị của mình. Bên cạnh, triều đình nhà Nguyễn đặt
biệt quan tâm đến Đạo giáo, triều đình cho trùng tu lại các đền miếu và cung cấp chi phí
để tiến hành việc trùng tu.
Trên lĩnh vực giáo dục, trong suốt thời kỳ quân chủ Việt Nam, giáo dục, khoa cử
chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của Nho giáo. Thời Nguyễn, khi mà bộ máy chính quyền
nhà nước quân chủ được tổ chức theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tính chất chuyên
chế chính trị phát triển cao độ thì việc các vị vua triều Nguyễn chú trọng rất nhiều vào
giáo dục thi cử, góp phần tạo nên một bộ máy quan liêu hành chính phục vụ một cách
trung thành, tận tụy cho giai cấp thống trị là một điều tất yếu. Thông qua chế độ tuyển
lựa người tài bằng thi cử, triều đại nhà Nguyễn đã tìm kiếm được nhiều nhân tài, các nhà
khoa bảng, danh nhân văn hóa mà rất nhiều người trong số họ đã để lại nhiều thành tựu
có giá trị cho đến ngày nay. Tuy vậy, chính điều này lại dẫn đến một hệ lụy tiêu cực
khác. Chế độ quân chủ Việt Nam nói chung hay triều Nguyễn nói riêng, công tác giáo
dục tập trung chủ yếu đào tạo ra làm quan nhằm củng cố bộ máy chính quyền mà xem
nhẹ việc đào tạo con người sản xuất vật chất cho xã hội. Nội dung giáo dục không khác
22
gì so với các triều đại trước, chương trình học vẫn các sách Tứ thư, Ngũ kinh,... mang
nặng tính chất giáo điều, dạy đạo làm người, thói quen tầm thường. Phương pháp giáo
dục thì tạo ra lối học từ văn chương, sáo rỗng, rập khuôn, giảng dạy theo phương pháp
kinh viện, hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy của thánh hiền, hồn tồn khơng có
tri thức về khoa học tự nhiên và sản xuất. Vì thế, người học trở nên bảo thủ, thụ động,
quan liêu, tham danh vọng, thiếu sáng tạo, xa rời thực tế, tỏ ra tự mãn, ln cho rằng
mình biết hết việc đời xưa, thơng tỏ trời đất, nhưng thực chất lại lạc hậu trước thời cuộc,
trước những biến cố đang từng ngày đe dọa đến vận Mạng đất nước.
Về tổ chức thi cử dưới triều Nguyễn cũng khơng khác gì nhiều so với các triều
đại trước, thi cử theo lối Nho giáo vẫn là chủ yếu, mục đích nhằm tuyển chọn người tài
vào bộ máy quan lại của triều đình, giúp vua trong việc cai trị đất nước. Theo thống kê
từ thời Gia Long (1807) đến Khải Định (1919), nhà Nguyễn tổ chức được 47 khoa thi
Hương, 39 kỳ đại khoa lấy đỗ 2 bảng nhãn, 9 thám hoa, 547 tiến sĩ và hàng ngàn cử nhân,
hàng vạn tú tài đóng góp cho nền giáo dục Việt Nam thời kỳ đó nhiều nhân vật xuất sắc
[66]. Các sĩ tử thời Nguyễn tham gia khoa thi tiến sĩ cũng phải trải qua 3 kỳ thi chính:
thi Hương, thi Hội, thi Đình.
Văn học thời nhà Nguyễn với những cái tên nổi bật như là Phạm Quy Thích, Trịnh
Hồi Đức, Lê Quang Định, và đại thi hào Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều. Nội dung
bao trùm là tâm lí hồi Lê, văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam. Thời nhà
Nguyễn, các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu
Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm,
ba nàng công chúa tạo nên “Tam khanh” của nhà Nguyễn. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn
Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền,Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú
Thứ. Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập
của nho sĩ. Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương
thời tác động rất lớn vào văn chương, thể hiện sự căm phẫn trước hành vi xâm lăng của Pháp
và tố cáo tội ác, tâm trạng bất lực trước thời cuộc. Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn
Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền.
Văn học nhà Nguyễn phát triển ở cả Hán văn lẫn chữ Nôm. Hai thể lục bát và lục
bát gián cách được sử dụng phổ biến với nghệ thuật ngôn từ đặc sắc. Về nội dung, ngoài
các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con
người và phụ nữ cũng được đề cập đến. Nổi bật sự xuất hiện của hai nhà thi sĩ nữa vào
thế kỉ XIX đó là Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan.
23
Về mặt nghệ thuật, xuất hiện nhiều cơng trình kiến trúc đặc sắc, đặc biệt là khu
hoàng thành ở kinh đơ Huế bao gồm hàng loạt cung điện có kiến trúc độc đáo, trang trí
phong phú, các lăng tẩm của nhà Nguyễn… Ngồi nghệ thuật kiến trúc cịn xuất hiện
nhiều tranh vẽ sơn màu trên gỗ ở các đền, chùa, một số tranh vẽ chân dung. Phải kể đến
các họa sĩ đã có đóng góp rất lớn trong ngành mỹ thuật dưới thời nhà Nguyễn như Tôn
Thất Đào, Lê Yên, Mai Trung Thứ, Mai Lan Phương, Thiềm Quốc Hùng cộng thêm sự
thu hút các họa sĩ ưu tú tốt nghiệp ở Huế và Sài Gòn Gia Định và ở nước ngồi như Đinh
Cường, Vĩnh Phối, Tơn Thất Văn, Đỗ Kỳ Hồng, Lê Hữu Ngun, Mai Chứng, Trịnh
Cung, Trương Đình Quế, Lê Thành Nhơn, Văn Đen, Hiếu Đệ, Hồ Hoàng Đài đã để lại
những kinh nghiệm trong sáng tác cho những thế hệ sau này.
Mặt khác, cịn có các nghệ thuật về ca, hát, xây dựng một số nhà hát có sàn diễn,
có chỗ ngồi cho khán giả. Trong đó, nghệ thuật tuồng cung đình Huế là một hiện tượng
phát triển rực rở trong truyền thống kịch hát dân tộc. Dưới triều Vua Minh Mạng đã cho
xây dựng nhà hát Duyệt Thị Đường (nhà hát đầu tiên được xây dựng trong cung) chủ
yếu để diễn các vở tuồng phục vụ cho Vua, quan và Hồng thân quốc thích. Đến thời vua
Tự Đức, nghệ thuật tuồng phát triển tột đỉnh. Vua xây dựng nhà hát Minh Khiêm Đường,
quy tụ các đào, kép giỏi về đây để tập luyện và biểu diễn tuồng. Thành lập ban hiệu thư,
tập hợp các tài năng đương thời để chỉnh lý các “Phường bản” (Tuồng dân gian) soạn
các vở tuồng và hoạ văn thơ. Vì vậy, các tuồng bản xuất hiện rất nhiều. Nhiều loại tuồng
chính thống cũng đã xuất hiện dưới triều đại này.
Nhìn chung, thời nhà Nguyễn đã có những bước chuyển biến mới trên mọi lĩnh
vực: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Những thay đổi đó đã có tác động ít nhiều đến
giáo dục, thi cử làm cho bộ mặt giáo dục, thi cử thời Nguyễn biến đổi.
1.2. Tiêu cực trong bộ máy quan lại trước thời Nguyễn
1.2.1. Thời Lý - Trần - Hồ - Lê sơ - Mạc
Dưới thời Lý, bộ máy quan chế nhà nước có quy củ, chặt chẽ hơn so với các triều
đại trước đó (Ngơ - Đinh - Tiền Lê). Về cơ bản quan chế nhà Lý được phỏng theo kiểu
quan chế nhà Tống ở Trung Hoa, dưới vua có 3 chức đứng đầu các quan lai trong triều,
đó là thái sư, thái phó, thái bảo (tam thái). Dưới đó là chức thái úy giữ việc chính trị,
quân sự trong nước, về sau chức này là tể tướng. Tiếp đến là các chức tư khơng, thiếu
phó, thiếu bảo, thiếu úy (phụ trách cấm quân), nội điện đô trị sự, ngoại điện đơ tri sự,
kiểm hiệu bình chương sự. Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước cịn có các cơ quan
chun trách như trung thư sảnh, khu mật sứ, ngự sử đài, hành khiển, thượng thư sảnh,
24
khu mật sứ, ngự sử đài, hành khiển, thượng thư sảnh, nội thị sảnh, đình úy, hàn lâm học
sĩ. Năm 1097, nhà Lý cho biên soạn và ban hành Hội Điển, quy định các phép tắc chính
trị, tổ chức bộ máy quan lại. Từ đó, quy chế tổ chức hành chính và quan lại được xác lập
một bước, thể hiện bước tiến rõ rệt của giai cấp thống trị trong việc quản lý xã hội, đất
nước. Các quan lại cao cấp có nhiều cơng lao được phong thực phong, thực ấp. Nhiều
người có quan tước, con cháu mới được tập ấm làm quan.
Về mặt tiêu cực, mặc dù nguồn tài liệu ghi chép về giai đoạn này cịn có nhiều
hạn chế, nhưng một số hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại cũng được ghi chép
lại. Có 3 hiện tượng tiêu cực được ghi nhạn, xuất phát từ các hiện tượng quan lại coi
thường phép nước, âm mưu lại phản như: “Khai Quốc vương Bồ ở phủ Trường Yên, cậy
đó là nơi hiểm trở kiên cố, chiêu nạp như kẻ vong mạng, di cướp bóc dân; người xung
quanh khơng ai dám nói gì cả. Kịp khi Vũ Đức vương đã bị giết. Bồ có ý bất bình, mới
đem qn trong phủ mình nổi dậy làm phản” [50, tr.286] và sự kiện “Tháng 6, mùa hạ.
Điền tiền chỉ huy sứ là bọn Đinh Lộc và Phùng Luật mưu làm phản, đều bị giết” [51,
tr.302]. Cả sự kiện Phụ quốc Thái úy Đỗ Anh Vũ nhân việc khi vua Lý Anh Tơng cịn
nhỏ, Đỗ Anh Vũ chun quyền, tỏ ý kiêu ngạo trước triều đình và vào cung tư thơng với
Linh Chiếu thái hậu cũng được ghi chép khá rõ ràng: “Khi nhà vua mới lên ngôi, không
cứ việc lớn hay nhỏ, đều do Anh Vũ quyết định cả. Hắn ra vào nơi cung cấm, tư thông
với Lê hậu. Nhân thế, Anh Vũ ngày càng kiêu rơng: Ở triều đình hắn vén tay, quát tháo,
chỉ huy mọi người bằng cách hất hàm, sai bảo mọi người bằng khó sắc. Mọi người đều
hé mặt sợ sệt, khơng ai dám nói gì” [52, tr.384].
Sang thời Trần, tổ chức bộ máy quan lại trung ương có bước hồn thiện hơn thời
Lý. Chế độ thái thượng hồng thời Trần có tác dụng ngăn chặn tình trạng các đại thần
chuyên quyền, cướp ngôi vua khi vua cịn ít tuổi. Trong triều đình, đứng đầu các quan
vẫn là ba chức thái (sư, phó, bảo), chỉ có điểm khác ở thời Lý là ở chỗ nhà Trần đặt thêm
hàm thống quốc, tá thanh, phụ quốc để gia phong thêm (như thống quốc thái sư, tá thanh
thái sư, phụ quốc thái bảo). Chức thái úy thời Lý (tướng quốc) đổi thành tả hữu tướng
quốc bình chương sự. Giúp việc cho tể tướng (tướng quốc), thời Trần đặt thêm các chức
hành khiển nằm trong cơ quan mật viện. Các hành khiển thường kiêm cả chức thượng
thư. Bên văn có các bộ, đứng đầu mỗi bộ là các viên thượng thư. Ban đầu mới có thượng
thư hành khiển, thượng thư hữu bật (2 bộ), từ cuối thế kỷ XIV (1388 - 1398), đời Quang
Thái mới có thêm thượng thư các bộ binh, hình… Dưới thượng thư có thị lang, lang trung
giúp việc. Bên võ có các chức vụ phiêu kị tướng quân, đại tướng, đô tướng, tướng quân,
25