Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Kinh tế biển đảo nam trung bộ dưới triều nguyễn (1802 1884)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.06 MB, 111 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

KINH TẾ BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1884)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LỊCH SỬ VIỆT NAM

Đà Nẵng - Năm 2019


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

KINH TẾ BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1884)

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN DUY PHƯƠNG


Đà Nẵng - Năm 2019


i

LỜI CAM ĐOAN

Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kì cơng trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hương Giang


D� Tai: KINH TE BIEN D.AO NAM TRUNG BQ DUCH TRIEU NGUYEN (18021884)
Nghanh: Lich su Vi�t Nam
HQ ten h9c vien: NguySn Thi Huo-ng Giang
Nguo·i hu6·ng d§n khoa h9c: T.S. NguySn Duy Plmung
Co- so· dao t�o: Tmo·ng B�i H9c Su Ph�m Ba Ning.
Khai thac tiSm nang biSn dao la v:ln dS quan tr9ng mang tinh chiSn luqc o· h§u hSt cac qu6c
gia tren tbs giai, kS ca cac qu<'>c gia co biSn va khong co biSn. Trong diSu ki�n cac ngu6n tai nguyen
tren d:lt liSn ngay cang c�n ki�t, cac nu6·c ngay cang quan tam t6i biSn. Vi�c phat triSn kinh ts biSn tr&
thanh XU thS t:it ySu tren con duo11g tiln kiSm va dam bao cac nhu du vs nguyen, nhien li�u, nang
luqng, th\l'c phftm cilng nlm khong gian sinh t6n cho loai nguo"i trong tum1g lai. Nhin l�i bt'.rc tranh
kinh ts biSn Vi�t Nam, tuy c6 nhU-ng thanh ti.m dang kS nhung v§n An chua nhiSu nguy CO', thach tht'.rc.
Vi�c phat triSn kinh ts biSn CY mQt s6 110-i, m9t s6 khu V\l'C da c6 nhfrng vi�c anh lmo·ng nh:lt djnh dSn
moi tmong, kinh ts - xa Mi o· cac dia plm011g va vung miSn. Vi v�y, yeu ciu vs vi�c phat triSn kinh ts
biSn m9t each hai boa, bSn vfrng da va dang duqc d�t ra mQt each c:lp ha.ch.

Lu�n van Kinh tS biSn dao Nam Trung B9 du6i triSu NguySn (1802-1884), hoan thanh la kSt
qua cua 1119t qua trinh nghien ct'.ru c6 tinh h� th6ng, du9·c hoan thi�n va b6 sung b�ng 1119t s6 tu li�u
m6i g6p ph§n lam ro hon vs tinh hinh biSn dao Nam Trung B9 tren cac IInh V\l'C khai thac danh bit
thuy hai san, khai thac ySn sao, lam mu6i, V�ll tai va tlmoug m�i biSn tu d6 khilng djnh triSu NguySn
tu s6m da c6 nhiSu bi�n phap tich q.rc dS khai tha .c, bao v� vung biSn dao Vi�t Nam. B6ng tho·i khilng
djnh vai tro Clia kinh tS biSn dao v6i vi�c bao v� an ninh- qu6c phong, g6p ph§n danh gia l�i vai tro
cua cac vi vua NguySn d6i v6i ljch si'.r dan t9c. Rut ra nhU-ng bai h9c kinh nghi�m quan tr9ng trong
qua trinh khai thac biSn dao cua cha Ong, la co- so· cho vi�c dS ra chinh sach giao d\}C, tuyen truySn
chu quySn biSn dao trong giai do�n hi�n nay. DS tai se la tai li�u tham khao dn thiSt cho cac ca quan
quan ly, khai thac, bao v� biSn dao va plwc V\J h9c t�p, nghien cuu, giang d�y ljch si'.r Vi�t Nam giai
do�n thS ky XIX.
Th:lu hiSu truySn th6ng, danh gia khach quan nhU-ng Iwn chS, uu thS, vi thS biSn trong lich si'.r
dan te>c se giup chung ta co them niSm tin, kinh nghi�m, tri tht'.rc
tlwc hi�n thanh cong ChiSn lu9·c
biSn Vi�t Nam d6ng tho"i g6p them cu sa cho cu9c d:lu tranh bao v� chii quySn biSn dao, bao v� an
ninh, kinh ts biSn, ciing c6 m6i quan h� h9p tac, hilu nghi v6i cac qu6c gia khu V\}·c.
Vi nhfrng Ii do tren, vi�c nghien CU'U dS tai "Kinh ti bidn
Nam Trung b9 du6'i triiu Nguyln
(1802-1884) "c6 nhiSu y nghTa khoa h9c va th1.-rc tiSn trong giai do�n hi�n nay.

as

aao

Tu· kh6a: Kinh tS biSn dao; Nam Trung B9; TriSu NguySn; v�n tai biSn; khai thac thiiy hai san, tlmong
m�i biSn, khai thac t6 ySn, nghS lam mu6i.
Xac nh�n ciia ngm'ri lnr6·ng dfin

TS. Nguy�n Duy Ph1fO'ng


Ban chii nhi�m Khoa

Ngm'ri th1.1·c hi�n d� tai

Nguy�n Thi Huo-ng Giang



iv

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................................................i
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ .......................................................... ii
MỤC LỤC .....................................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..........................................................................vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.......................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................5
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................................6
6. Đóng góp của luận văn .......................................................................................6
7. Bố cục của luận văn ............................................................................................ 7
Chương 1. KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT NAM TRUNG BỘ VÀ KINH TẾ BIỂN
ĐẢO TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN ................................................................................8
1.1. Tổng quan vùng Nam Trung Bộ ...............................................................................8
1.1.1. Vị trí địa lý ....................................................................................................8
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và dân cư ........................................................................9
1.1.3. Biển đảo vùng Nam Trung Bộ ....................................................................12
1.1.4. Khái quát lịch sử hình thành vùng đất Nam Trung Bộ ............................... 15

1.2. Một số khái niệm về kinh tế biển đảo.....................................................................17
1.3 Kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ trước triều Nguyễn ..............................................20
Tiểu Kết chương 1 .........................................................................................................27
Chương 2. HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ DƯỚI
TRIỀU NGUYỄN (1802-1884) ...................................................................................28
2.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước giai đoạn (1802-1884) .........................................28
2.1.1 Tình hình thế giới......................................................................................... 28
2.1.2 Tình hình trong nước ...................................................................................29
2.2. Hoạt động khai thác biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn ......................... 32
2.2.1. Hoạt động khai thác, chế biến hải sản ........................................................ 32
2.2.2 Khai thác tổ yến và làm muối ......................................................................41
2.2.3 Hoạt động vận tải biển .................................................................................48
2.2.4 Hoạt động thương mại biển .........................................................................53
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................................58
Chương 3. VAI TRÒ CỦA KINH TẾ BIỂN ĐẢO NAM TRUNG BỘ DƯỚI
TRIỀU NGUYỄN (1802-1884) ...................................................................................59


v

3.1. Vai trò của kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn (1802-1884) .......59
3.2. Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm từ hoạt động khai thác kinh tế vùng biển
đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn ..........................................................................69
3.2.1 Đánh giá chung ............................................................................................ 69
3.2.2. Bài học kinh nghiệm ...................................................................................72
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................80
KẾT LUẬN ..................................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 83
PHỤ LỤC .................................................................................................................. PL1



vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHĐN
ĐHSP
ĐHQG
G.S
HN
KHXH
NXB
Tp.HCM
Tr.
T.S

: Đại học Đà Nẵng
: Đại học Sư phạm
: Đại học Quốc gia
: Giáo sư
: Hà Nội
: Khoa học Xã hội
: Nhà xuất bản
: Thành phố Hồ Chí Minh
: Trang
: Tiến sĩ


vii


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bàng

Trang

2.1.

Thuế thuyền đánh cá theo kích thước

39

2.2.

Lệ định mức về tội khai thác tổ yến trái phép.

46


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam có bờ biển dài, thềm lục địa rộng và hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ với
nguồn tài nguyên biển phong phú, trữ lượng dồi dào. Đây là một lợi thế để phát triển
kinh tế biển. Trong bối cảnh tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vùng biển
nước ta đã, đang trở thành không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ buổi sơ khai của dân tộc, biển đã là môi trường làm ăn, sinh sống của các bộ

lạc người Việt cổ, tiếp đó sự phát triển mạnh mẽ của vương quốc biển Chămpa ở miền
Trung và đế chế biển Phù Nam ở miền Nam trong lịch sử là minh chứng tiêu biểu cho
sự hướng biển và sức mạnh khai thác biển của cư dân Việt từ ngàn xưa. Đến khi các
nhà nước phong kiếnViệt Nam độc lập được hình thành thì những chính sách đối với
biển cũng từng bước được định hình và phát triển.
Triều Nguyễn, triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam sở hữu một
lãnh thổ thống nhất và rộng lớn. Trong suốt quá trình tồn tại, các vua triều Nguyễn đều
nhận thức được vai trò của biển đảo đối với sự tồn tại của triều đại và an ninh quốc gia
trước sự dòm ngó từ bên ngồi. Đây là một trong những yếu tố tác động đến ý thức
hướng biển và chủ trương tăng cường phòng thủ biển, đảo của triều Nguyễn. Từ những
kinh nghiệm trong quá khứ, chính sách của triều Nguyễn trong việc khai thác, phát
triển kinh tế biển đảo đã trở thành bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế mai sau.
Do đặc điểm tự nhiên vùng Nam Trung Bộ là khu vực có lợi thế nhất về kinh tế
biển đảo cả về vị trí địa lý, lẫn sự giàu có, phong phú về tài ngun. Vì thế trong diễn
trình “quy dân lập ấp” tiến về phương Nam, các làng xã của người Việt sinh sống chủ
yếu ở các cửa sông, cửa biển để phát triển kinh tế hướng biển. Tiếp nối con đường
phát triển vùng đất Nam Trung Bộ trong các TK XVI-XVIII của chúa Nguyễn, các vua
Nguyễn kế tục cũng đã nhận thức đúng đắn vai trò của biển đảo, nhờ đó trong suốt thế
kỉ XIX, kinh tế biển đảo khu vực Nam Trung Bộ tiếp tục phát triển với nhiều hoạt
động phong phú, đa dạng. Sự liên tục trong khai thác biển đảo của cha ông thế kỉ XIX
không chỉ thể hiện sự hiện diện thường xun của Việt Nam trên vùng biển Đơng mà
cịn góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia.
Bước sang TK XXI “thế kỉ của biển và đại dương”, việc vươn ra biển, làm giàu
từ biển là định hướng đúng đắn, phù hợp. Vì vậy Đảng, Nhà nước ta ln xác định
biển đảo là nghành kinh tế mũi nhọn đem lại nhiều nguồn lợi góp phần phát triển đất
nước, đó là một lợi thế lớn, chúng ta cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt
được, tăng cường hơn nữa kinh tế biển với chiến lược tồn diện, có trọng tâm, trọng
điểm, sớm đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn



2
với bảo đảm quốc phòng – an ninh và hợp tác quốc tế.
Như vậy, nghiên cứu kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn (18021884) sẽ giúp chúng ta tìm hiểu một cách đầy đủ và tồn diện hơn về tiềm năng, cách
thức và tình hình khai thác biển đảo, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc phát
triển các nghành kinh tế biển hiện nay, phục vụ cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước cũng như trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của
Tổ Quốc. Vì những lí do trên, việc nghiên cứu đề tài “Kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ
dưới triều Nguyễn (1802-1884) ” có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong giai
đoạn hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài “kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn (18021884)” đã có một số cơng trình đề cập tới ở những khía cạnh và mức độ khác nhau
như: Tác phẩm Ngư nghiệp Việt Nam nửa đầu TK XX của Nguyễn Quang Trung
Tiến NXB Thuận Hóa (1995) đã đề cập đến hoạt động kinh tế biển trong đó tác giả
chú trọng đến hoạt động khai thác và đánh bắt của ngư dân, hoạt động ngư nghiệp ở
từng địa phương nhưng vùng Nam Trung Bộ chỉ mới được điểm qua khơng phải là đối
tượng nghiên cứu chính của đề tài và tác phẩm mới chỉ đề cập tới giai đoạn nửa đầu
TK XX mà chưa khái quát được giai đoạn trước đó.
Năm 2002 tác phẩm “Tư liệu về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam” do Nguyễn Quang Ngọc chủ biên đã cung cấp nhiều tư liệu về bản đồ, thư tịch cổ
trong nước và phương Tây. Cũng trong mảng đề tài biển đảo này tác giả Nguyễn Quang
Ngọc cho ra mắt cuốn “Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự
thật lịch sử” (2017). Từ đề tài về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và
Trường Sa đến các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên nghành, các hội thảo trong
nước và quốc tế tác giả đã đi sâu khảo sát nhiều nguồn tư liệu khác nhau về chủ quyền
Việt Nam trên biển Đông để đưa ra những bằng chứng lịch sử trung thực và khách quan,
bên cạnh đó tác giả cịn có nhiều bài viết về việc bảo vệ chủ quyền trên biển của các
triều đại phong kiến Việt Nam như: Bảo vệ chủ quyền trên biển Đông- một hoạt động
quân sự nổi bật của triều Tây Sơn, hay bài Vua Lý Anh Tông chiến lược biển và hành
dinh tại Yên Hưng (2011).… Nhìn chung đây là những cơng trình nghiên cứu rất q
vừa cung cấp tư liệu, vừa phân tích tính pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên hai

quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa, từ đó giúp chúng ta hiểu hơn cách thức mà các triều đại
phong kiến trước triều Nguyễn khai thác và thực thi chủ quyền biển đảo.
Liên quan đến kinh tế biển, Nguyễn Duy Thiệu có tác phẩm Cộng đồng ngư dân
Việt Nam (2002), Nxb Khoa Học- Xã Hội, sách viết về cộng đồng ngư dân Việt Nam
trong bối cảnh xã hội cổ truyền, nhưng chỉ tập trung đi sâu vào mảng văn hóa, xã hội, cơ
cấu tổ chức của làng ngư nghiệp mà chưa khai thác một cách toàn diện về nền kinh tế


3
biển trong đó có kinh tế ngư nghiệp.
Cũng trong thời gian gần đây, nhiều cuộc hội thảo khoa học lớn về vương triều
Nguyễn, về các vấn đề biển đảo được tổ chức nhằm đưa ra cái nhìn khách quan, khoa
học và công bằng hơn đối với vương triều này. Những cuộc hội thảo đó đã có nhiều sách
được xuất bản, nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí có uy tín. Trong đó đáng chú ý
có bài viết “Góp phần tìm hiểu về một số hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo Miền
nam Việt Nam dưới triều Nguyễn nửa đầu TK XIX ” của TS. Nguyễn Tất Thắng.
Cuốn Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo Tổ quốc thế kỷ XIX do PGS.
TS Đỗ Bang làm chủ biên, Nxb Đà Nẵng 2014. Cuốn sách đã tổng hợp 12 bài viết của
các tác giả được Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế công bố trong hội thảo
khoa học vào tháng 12. 2013. Cuốn sách cung cấp cho người đọc cái nhìn khách quan
về triều Nguyễn – với tư cách là triều đại quản lý lãnh thổ, lãnh hải rộng lớn. Trong đó
đáng chú ý có một số bài viết là tư liệu tham khảo cho đề tài như: Tổng quan về biển
đảo Việt Nam và biển đảo Việt Nam thời Nguyễn; chính sách của triều Nguyễn về biển
đảo của TS. Phan Hải hay Vị trí chiến lược của biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn
của PGS.TS Lưu Trang. Các bài viết đã bước đầu khái quát về biển đảo Việt Nam nói
chung và biển đảo dưới triều Nguyễn nói riêng, vị trí chiến lược về kinh tế - qn sựgiao thơng vận tải, chính sách về kinh tế biển đảo.
Cũng trong năm 2014 những tác phẩm nghiên cứu của Trần Đức Anh Sơn được
công bố như: Tàu thuyền và nghành đóng thuyền ở Việt Nam thời Nguyễn; Tư liệu về
chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; Hoàng Sa- Trường Sa, tư liệu và
quan điểm của học giả quốc tế. Những cơng trình trên có những đóng góp đáng kể khi

nghiên cứu về biển đảo Việt Nam đặc biệt ở mảng tư liệu và bản đồ cổ và một số
nghành nghề hỗ trợ cho kinh tế biển.
Cuốn Tổ chức và hoạt động bảo vệ biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn thời kì
1802-1885, do PGS.TS Đỗ Bang chủ biên xuất bản năm 2016. Cuốn sách đã tập trung
nghiên cứu trong khoảng thời gian nhà Nguyễn nắm chủ quyền đất nước và phát huy
sức mạnh chiến đấu bảo vệ vùng biển đảo với nhiều chính sách, tổ chức trang bị chiến
pháp, các cơng sự chiến đấu, quá trình khai thác và thực thi chủ quyền tại hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó vùng biển đảo miền Trung đã được đề cập ít nhiều
dưới nhiều góc độ khác nhau.
Bảo vệ biển đảo khơng chỉ là đấu tranh địi lại những gì thuộc chủ quyền Việt
Nam đã bị cưỡng chiếm mà phải giữ gìn những gì mà biển đảo đã mang lại cho dân
tộc Việt Nam từ bao đời nay. Đây là nội dung được nhấn mạnh trong cuốn sách “Biển
đảo Việt Nam: Lịch sử - Chủ quyền - Kinh tế - Văn hóa” Nxb Văn hóa - Văn nghệ TP
HCM cho ra mắt độc giả cả nước (2016), cuốn sách đã tập hợp, tuyển chọn những bài
nghiên cứu trên Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng (Viện Nghiên cứu Phát


4
triển - Kinh tế Xã hội Đà Nẵng). Đáng chú ý cuốn sách đã dành một phần để trình bày
về sự phát triển của tàu thuyền và thủy quân từ thời các chúa Nguyễn đến thời nhà
Nguyễn, vị trí, vai trò của Việt Nam trong sự phát triển của hệ thống thương mại Biển
Đông thời trung đại. Tuy nhiên kinh tế biển đảo thì chưa được đi sâu nghiên cứu.
Bảo vệ chủ quyền và quản lý - khai thác biển đảo Việt Nam (1975 - 2014) của TS.
Phạm Ngọc Trâm, Nxb tổng hợp TP HCM, ( 2016) là một cuốn sách chuyên khảo được
tác giả nghiên cứu biên soạn công phu, góp phần dựng lại bức tranh về lịch sử bảo vệ
chủ quyền và quản lý - khai thác biển đảo của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế đa dạng
và phức tạp. Mặc dù cơng trình chưa đề cập đến việc khai thác biển đảo dưới thời nhà
Nguyễn và vùng biển Nam Trung Bộ. Nhưng trên cơ sở đó, tác giả đã rút ra ý nghĩa,
đánh giá những ưu điểm và hạn chế qua từng chặng đường lịch sử bảo vệ chủ quyền và
quản lý - khai thác biển đảo cùng những kinh nghiệm lịch sử rút ra từ thực tế đó.

Lê Tiến Cơng với tác phẩm Tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển các tỉnh
miền Trung dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802-1858, Nxb Khoa học Xã hội (2017). Đây
là cơng trình nghiên cứu khá tồn diện về vấn đề bảo vệ vùng biển miền Trung dưới
triều Nguyễn nhưng do nội dung nghiên cứu khá rộng, gồm nhiều vấn đề nên khi viết
về kinh tế biển đảo tác giả chỉ mới dừng lại ở việc khái quát mà chưa chun sâu.
Ngồi ra tác giả Lê Tiến Cơng cịn có một số bài viết liên quan đến biển đảo như:
Cơng tác tuần tiễu, kiểm sốt vùng biển miền Trung qua một số tư liệu châu bản triều
Nguyễn; hay bài Đảm bảo an ninh trên vùng biển dưới triều Nguyễn in trong cuốn Chủ
quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử, Nxb Văn Hóa-Văn Nghệ
Trên các tạp chí khoa học chun nghành cũng có nhiều bài viết ít nhiều liên
quan đến kinh tế biển đảo. Trong đó đáng chú ý với những bài viết như: Chính sách
thương nghiệp đường biển của triều Nguyễn giai đoạn 1802-1858 của tác giả Đinh Thị
Hải Đường, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 8(484) 2016 ; Tác giả Trần Văn
An với bài Kết hợp khai thác kinh tế với bảo vệ chủ quyền biển đảo – nhìn từ các tư
liệu Hán Nôm về nghề yến Thanh Châu ở Hội An, nghiên cứu lịch sử số
5(504)2018….Tuy nhiên những bài viết này chủ yếu được cơng bố dưới dạng một bài
viết phân tích tư liệu, hoặc mang tính nghiên cứu tổng quan trên dưới mười trang giấy
nên chỉ mới đề cập dến những khía cạnh nhỏ của kinh tế biển đảo.
Vùng biển Nam Trung Bộ Việt Nam còn được đề cập đến trong các ghi chép,
nghiên cứu rời rạc của những người nước ngồi qua lại trên vùng Biển Đơng hoặc
những người tới buôn bán tại Việt Nam như: Xứ Đàng Trong của C.Borri; Hải ngoại
kỷ sự của Thích Đại Sán ; Một chuyến du hành đến sứ Nam Hà (1792-1793) của John
Barrow. Nhìn chung các tài liệu trên đã đề cập tới vùng biển miền Trung dưới những
góc độ về địa lý – địa hình, kinh tế chính trị, xã hội, qn sự, ngoại giao …


5
Hướng nghiên cứu này, cũng đã có một số cơng trình nghiên cứu của sinh viên,
giảng viên trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng thực hiện như: Kinh tế biển đảo Đàng
Trong thời chúa Nguyễn (1588- 1777), của sinh viên Huỳnh Thị Thúy “Ngư nghiệp

miền Trung dưới thời Nguyễn (1802-1884)”, của sinh viên Nguyễn Thị Thúy ; Hoạt
động của cướp biển ở biển đảo Trung Bộ Việt Nam và biện pháp đối phó của triều
Nguyễn, của tác giả Nguyễn Duy Phương, đề tài cấp ĐHĐN năm 2018.
Những cơng trình trên cho thấy việc nghiên cứu về hoạt động biển đảo Việt Nam
dưới triều Nguyễn đã được tiến hành ở nhiều mức độ khác nhau, đạt được những thành
tựu to lớn. Đó là những kết quả mà tác giả luận văn có thể kế thừa khi thực hiện đề tài
này. Tuy nhiên các nghiên cứu trên tập trung nhiều về việc xác lập và thực thi chủ
quyền của Việt Nam trên Biển Đơng, chính sách của nhà Nguyễn trong việc bảo vệ an
ninh biển đảo, cịn tình hình kinh tế biển đảo nước ta nhất là kinh tế biển đảo vùng
Nam Trung Bộ thì chưa được nghiên cứu nhiều, có nhiều vấn đề chưa được làm rõ.
Như vậy có thể khẳng định, đến nay chưa có cơng trình nào chọn vấn đề này làm đối
tượng nghiên cứu chính.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nhằm làm rõ các hoạt động kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ thế kỉ XIX,
từ đó cung cấp thêm cơ sở lịch sử khách quan cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo ngày nay, đồng thời, giúp đúc rút
những bài học kinh nghiệm lịch sử cho công cuộc phát triển kinh tế biển đảo và bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ trong bối cảnh hiện tại.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Khái quát về vùng đất Nam Trung Bộ, nêu rõ một số cơ sở lí luận về kinh tế biển
đảo và tổng quan kinh tế biển đảo trước triều Nguyễn (1802-1884).
Trình bày kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn (1802-1884). Cụ
thể là nêu rõ các hoạt động: khai thác, chế biến hải sản; khai thác tổ yến; hoạt động
vận tải biển; hoạt động thương mại biển. Qua đó góp phần làm sáng tỏ hơn nữa chính
sách của triều Nguyễn về kinh tế biển đảo.
Phân tích đặc điểm, vai trò của kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều
Nguyễn và rút ra được bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc bảo vệ, tuyên truyền chủ
quyền biển đảo hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn
(1802-1884).
Về không gian nghiên cứu, đề tài giới hạn tại vùng biển Nam Trung Bộ dưới


6
triều Nguyễn, bao gồm các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Qng Ngãi, Bình Định, Phú
n, Khánh Hịa, Ninh Thuận và Bình Thuận hiện nay, gồm tất cả vùng biển, bờ biển,
cửa biển, hải đảo.
Về thời gian đề tài nghiên cứu từ năm 1802 đến năm 1884 là khoảng thời gian từ
khi triều Nguyễn được thành lập đến khi nước ta mất quyền độc lập tự chủ.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài tác giả sử dụng các nguồn tư liệu sau:
Các tư liệu thành văn do triều Nguyễn biên soạn như: Đại Nam thực lục; Đại
Nam nhất thống trí ; Châu bản triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh
Mạng chính yếu….Đặc biệt nguồn tư liệu quan trọng nhất là Châu bản triều Nguyễn,
đây là những tư liệu gốc có giá trị trong nghiên cứu.
Bên cạnh đó, tơi cũng tham khảo một số cơng trình nghiên cứu của các tác giả đi
trước, gồm các nhóm tài liệu như: báo cáo kết quả cơng trình nghiên cứu khoa học,
sách chun khảo, các luận án, luận văn, các bài báo cáo khoa học được cơng bố trên
các tạp chí chun nghành, các tham luận hội thảo trong nước và quốc tế.
Nguồn tư liệu từ các trang web chính thức của các hội khoa học, trung ương,
tỉnh, thành phố.
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp
lịch sử và phương pháp logic để khai thác và sử dụng các nguồn tư liệu. Ngoài ra luận
văn cịn sử dụng phương pháp liên nghành trong q trình thống kê so sánh tài liệu, xử
lý số liệu, sau đó đánh giá các kết quả đạt được để làm sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu
một cách khoa học nhất..
Trong xử lý, trích dẫn tư liệu, tác giả sử dụng tư liệu gốc do triều Nguyễn biên

soạn và được cơ quan chun mơn có uy tín dịch thuật, nên độ tin cậy cao. Vì nhiều lý
do khách quan tác giả không thể tiếp cận tư liệu gốc mà phải trích dẫn, với những
trường hợp đó, tác giả đều ghi rõ nguồn trích dẫn.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn là kết quả của một q trình nghiên cứu có tính hệ thống, được hồn
thiện và bổ sung bằng một số tư liệu mới góp phần làm rõ vị thế và tiềm năng của biển
đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn.
Luận văn làm sáng tỏ hơn về tình hình khai thác kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ
cũng như các hoạt động khai thác, chế biến, vận tải và thương mại biển, nghề hỗ trợ
cho kinh tế biển đảo.
Khẳng định vai trò của kinh tế biển đảo với việc bảo vệ an ninh- quốc phòng ở
vùng biển Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn, qua đó góp phần đánh giá lại chính sách
của triều Nguyễn trong việc khai thác biển đảo cũng như vai trò của các vua Nguyễn
đối với lịch sử dân tộc.


7
Rút ra được những bài học kinh nghiệm quan trọng trong q trình khai thác
biển đảo của cha ơng, là cơ sở cho việc đề ra chính sách giáo dục, tuyên truyền chủ
quyền biển đảo trong giai đoạn hiện nay. Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết cho
các cơ quan quản lý, khai thác, bảo vệ biển đảo và trong học tập, nghiên cứu, giảng
dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn TK XIX.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
dự kiến gồm ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát vùng đất Nam Trung Bộ và kinh tế biển đảo trước triều
Nguyễn.
Chương 2: Hoạt động khai thác biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn
(1802-1884)
Chương 3: Vai trò của kinh tế biển đảo Nam Trung Bộ dưới triều Nguyễn (18021884)



8
Chương 1
KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT NAM TRUNG BỘ VÀ KINH TẾ
BIỂN ĐẢO TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN
1.1. Tổng quan vùng Nam Trung Bộ
1.1.1. Vị trí địa lý
Nam Trung Bộ là một dải đất hẹp ngang, hình cong, hướng ra biển, trải dài gần 10
vĩ độ, từ 10035’ Bắc đến 16012’ Bắc và 107012’ Đơng đến 1090 20’Đơng. Trên dải đất
hình chữ S đây là phần đất “nhô ra nhiều đầu nối”, “vươn ra biển”, tạo tiền đề cho
vùng đất này tiếp thu các nền văn hóa, văn minh từ các nước theo đường biển, cũng là
nơi có điều kiện giao thương và buôn bán với các nước.
Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh thành theo thứ tự Bắc – Nam: Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú n, Khánh Hịa, Ninh Thuận, Bình Thuận,
có diện tích tự nhiên khoảng 4,5 triệu ha. Vùng này rất đặc biệt ở chỗ có lãnh thổ kéo
dài và hẹp ngang, tiếp giáp với Bắc Trung Bộ ở phía Bắc, Đơng Nam Bộ ở phía Nam,
phía Tây là Tây Ngun, Lào và phía Đơng là biển rộng, có nhiều cửa biển, đảo, quần
đảo lớn. Đây là vùng có ý nghĩa vơ cùng to lớn trong việc phát triển kinh tế biển, qn
sự vì đây chính là cầu nối Bắc -Nam và Tây Nguyên với biển. Vị trí, ranh giới các tỉnh
Duyên hải Nam Trung Bộ đã được sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại như sau:
Tỉnh Quảng Nam phía đơng có biển bao vịng, phía tây có núi che chở, phía nam
liền tỉnh Quảng Ngãi, rừng bình trì giới hạn bờ cõi, phía bắc hướng về Kinh đô, cửa
Hải Vân chẹn chỗ xung yếu…. Cửa biển Đại Chiêm thuyền bè sum họp, chợ phố Hội
An hàng hóa nhóm đầy, thực là nơi đơ hội mà là một tỉnh lớn trong khu vực Nam Trực
vậy. [51; tr 393]
Tỉnh Quảng Ngãi: Phía Đơng tỉnh có đảo Hồng Sa, liền cát và biển làm trì, phía
Tây Nam miền Sơn Nam có lũy dài vững vàng, phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có
đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới
hạn [51; tr.71-72].

Tỉnh Bình Định: Phía Đơng giáp biển, phía Tây giáp các sơn động, phía Bắc có
đèo Bến Đá ngăn cản, phía Nam có đèo Cù Mơng dốc hiểm [52; tr.13].
Tỉnh Phú n: Phía Đơng giáp biển, phía Tây dựa núi, phía Bắc giáp tỉnh Bình
Định, có đèo Cù Mơng hiểm trở, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hịa, có đèo Đại Lĩnh cao
dốc [52; tr.75]
Tỉnh Khánh Hịa phía đơng giáp biển cả, phía tây nắm sơn man, phía nam liền
Bình Thuận, phía bắc giáp Phú n. Ba mặt núi bọc, một mặt sát biển, núi Đại An
chắn ngang phía bắc, vụng Nha Trang quanh phía đơng, phía tây nam núi gò trùng
điệp. [52; tr 105-106]


9
Tỉnh Bình Thuận: phía đơng giáp tỉnh Khánh Hịa, phía tây giáp tỉnh Biên Hòa,
dăng dài hơn 400 dặm, bắc ven núi, nam giáp biển, địa thế chật hẹp [52; tr149 ].Ngày
nay Bình Thuận là tỉnh có dãy đất bắt đầu chuyển hướng từ Nam sang Tây của phần
còn lại của Việt Nam trên bản đồ hình chữ S, Phía Bắc của tỉnh Bình Thuận giáp với
tỉnh Lâm Đồng, phía Đơng bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, Phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai,
phía Tây Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu, ở phía Đông và nam giáp biển Đông với đường
bờ biển dài 192 km [83].
Nằm ở vị trí cận giáp biển, tất cả các tỉnh đều có đường bờ biển chạy dọc ở phía
Đơng. Địa hình ở đây chủ yếu là đồng bằng ven biển và núi thấp, chạy theo hướng
Đông Tây xen giữa là các đồng bằng nhỏ hẹp, bờ biển bị cắt xẻ khúc khuỷu, nhiều
đoạn cắt sâu vào đất liền tạo thành nhiều cảng nước sâu lớn. Xét về điều kiện tự nhiên,
khu vực này không nhiều tiềm năng về nông nghiệp nhưng lại sở hữu những điều kiện
tuyệt vời cho phát triển kinh tế biển và thương mại hàng hóa biển.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và dân cư
- Địa hình và đất đai
Về địa hình duyên hải Nam Trung Bộ khá phức tạp, có sự đan sen rõ ràng giữa 3
tài nguyên: rừng – núi và biển, bề mặt địa hình của các tỉnh Nam Trung Bộ bị chia cắt
nhiều bởi những sườn núi kéo dài từ dãy Trường Sơn ra đến biển, tạo nên những thung

lũng rộng hẹp khác nhau còn bờ biển lại khúc khủy nên hình thành nhiều đảo, bán đảo,
quần đảo. Địa giới từng tỉnh trong khu vực được xác định theo lưu vực sông, đèo và
núi. Mỗi một lưu vực gồm đồng bằng, biển và bờ biển tương ứng.
Diện tích đất đồi chiếm ¾ tổng diện tích tự nhiên ở đây, cịn đồng bằng Dun
hải chỉ chiếm ¼ tổng diện tích tự nhiên của vùng. Nhìn chung đất ở Duyên hải Nam
Trung Bộ có độ phì nhiêu thấp. Đất cấu tạo tại chỗ do được hình thành trên đất mẹ
nghèo chất dinh dưỡng, lại có địa hình dốc, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt nên dễ bị
rửa trôi.
Duyên hải Nam Trung Bộ có đặc điểm tự nhiên rất đặc sắc. Một dải lãnh thổ hẹp,
mà phía Tây là sườn Đơng của Trường Sơn Nam ơm lấy Tây Ngun rộng lớn, phía
Đơng là biển Đơng. Phía Bắc có dãy núi Bạch Mã là ranh giới tự nhiên với Bắc Trung
Bộ, cịn phía Nam là Đông Nam Bộ. Các nhánh núi ăn ra biển đã chia nhỏ phần duyên
hải thành các đồng bằng nhỏ hẹp. Chính vì sự hình thành địa hình như vậy nên đồi núi,
đồng bằng và bờ biển ở đây luôn xâm nhập lẫn nhau, tạo nên nhiều vũng, vịnh, đầm
phá, sông suối, ao hồ với mật độ tương đối dày đặc.
- Sơng ngịi và khí hậu
Ở các tỉnh Dun hải Nam Trung Bộ có hệ thống sơng ngịi dày đặc, thường
ngắn nhưng độ dốc tương đối cao, lớn dần về phía hạ lưu và đổ trực tiếp ra biển. Nước
sông đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, song do phân bố không đều về không


10
gian và thời gian nên có nơi có mùa thiếu nước, có nơi có mùa lại thừa nước. Hơn nữa
do sơng có đặc điểm là ngắn dốc, lưu lượng khơng điều hòa nên thường gây ra lũ lụt
trong mùa mưa và khô hạn trong mùa nắng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sản xuất.
Nhưng cũng mang lại lượng phù sa lớn và màu mỡ cho các vùng đồng bằng thuận lợi
phát triển kinh tế, chủ yếu là nông nghiệp. Do đặc điểm sơng ngịi như vậy nên địi hỏi
cơng tác đê điều, thủy lợi phải được chú trọng để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cũng như
ngăn chặn lũ lụt.
Nam Trung Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia làm 2

mùa rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 và kết thúc vào tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ
tháng 9 và kết thúc vào tháng 12. Sự khắc nghiệt của thời tiết thể hiện ở chỗ hằng năm
khu vực Nam Trung Bộ còn chịu ảnh hưởng từ các cơn bão trong tháng 9,10, 11 và 12,
gây thiệt hại nặng nề. Đồng thời do ảnh hưởng của địa hình và sơng ngịi thì khí hậu
vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cũng mang đặc tính riêng. Đó là khí hậu thuộc vùng
Đơng Trường Sơn, mang sắc thái của khí hậu Á xích đạo ( cận xích đạo) nằm trong
vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình. Khí hậu này cũng được sách
Ô châu cận lục viết như sau: “Thời tiết mùa xn, mùa hạ thì nắng, mùa thu, mùa
đơng thì mưa”. Do lượng mưa lớn trung bình khoảng 2000-2500 mm trên một năm, lại
tập trung trong khoảng thời gian ngắn, nên vào mùa mưa các con sông, suối trở nên
ngập tràn và gây ra lũ lụt lớn, sạt lở ở nhiều nơi. Trong khi đó vào mùa nắng lại khơ
hạn thiếu nước sinh hoạt, tưới tiêu.
Ở các tỉnh Nam Trung Bộ mùa mưa chung với mùa bão, các cơn bão hình thành
ở vùng biển Đơng hướng về phía Tây, bão lại tạo thêm mưa, thường gặp gió mùa
Đơng Bắc tạo nên triều cường cùng nước lũ của các con sông nên hàng năm trên vùng
đất này luôn phải chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai gây ra, lũ lụt, hạn hán, thủy triều.
Đồng thời do trải dài trên 10 vĩ độ nên với các đèo chắn ngăn cách và hướng bờ biển
thay đổi khác nhau nên khí hậu có sự phân hóa, chia thành các tiểu vùng khác nhau.
Qua đó ta có thể thấy được các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ vừa mang kiểu khí
hậu chung của nền nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam kết hợp với kiểu khí hậu Á xích
đạo (cận xích đạo) của vùng, đã tạo ra khí hậu ấm áp, ơn hịa phù hợp cho sự sinh
trưởng và phát triển của nhiều loài động thực vật nơi đây, trong đó là nguồn thủy sản
dồi dào từ biển.
- Tài nguyên thiên nhiên
Vùng Nam Trung Bộ có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, đa dạng
như thạch anh, than, thiếc, vàng, chì, kẽm,...nhưng trữ lượng ít, phân tán, khó khăn cho
việc khai thác, ven biển cịn có trữ lượng titan lớn.
Bờ biển Nam Trung Bộ nước ta có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác và
chế biến muối biển, đó là có nhiều ngày nắng trong năm. Sản xuất muối hầu hết có tất



11
cả ở các tỉnh miền Trung. Muối là một loại tài nguyên quan trọng không thể thiếu
trong đời sống con người, gắn liền với sự phát triển của các nghề chế biến thủy hải sản
khác. Lúc sắp lâm chung, chúa Tiên có dặn dị chúa Sãi rằng “Đất Thuận Quảng này
phía Bắc có Hồnh Sơn và Linh Giang hiểm trở, phía Nam có Hải Vân sơn và Thạch
Bi sơn bền vững. Núi sẵn vàng sắt, biển nhiều có muối, thật là nơi trời để cho người
anh hùng dụng võ” [24; tr.55-56]. Trong lời di huấn trên, nhìn nhận theo địa thế thì
hiểm trở là để bảo vệ lãnh thổ, bền vững là để xây dựng quốc gia, xét về tài ngun
thiên nhiên thì vàng, sắt trong lịng đất cần thiết cho công cuộc kiến thiết, phát triển, cá
muối nơi biển khơi đáp ứng nhu cầu nuôi sống muôn dân.
Tài nguyên lớn nhất của vùng đó là thủy hải sản, nơi đây thuận lợi vì có nhiều
bãi tơm, bãi cá. Đặc biệt ở vùng cực Nam Trung Bộ có ngư trường lớn ở Hoàng Sa
(TP Đà Nẵng) và Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa). Bờ biển Nam Trung Bộ dồi dào các
thứ trai, sị, ngao. Thói quen của cư dân ở đây thích dùng lồi nhuyễn thể hai mảnh vỏ
có thịt nhiều và lớn. Trai có ở những địa điểm như cù lao Ráy thuộc tỉnh Quảng Ngãi,
mũi Nạy thuộc tỉnh Phú Yên. Tôm sú dồi dào ở các địa điểm như Phú Yên, Khánh
Hòa trong khi các nơi khác rất hiếm. Các đặc sản khác của biển như mực hoặc các loại
rùa biển cũng mang lại giá trị kinh tế cao. Các dải đá san hơ có nhiều nơi, bọt biển ở
vùng nước sâu và trong tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú n
nhưng số lượng rất ít. Về hải yến, phân bố chủ yếu: trong nhóm cù lao Chàm thuộc
Quảng Nam, cù lao Ráy thuộc Quảng Ngãi, các đảo vùng biển Quy Nhơn thuộc Bình
Định, hịn Ro ở Nha Trang thuộc Khánh Hịa [68; tr. 54-55].
Ngồi ra, phải kể đến nguồn tài nguyên phong phú trên hai quần đảo lớn của khu
vực Nam Trung Bộ đó là quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo
Hồng Sa và Trường Sa là nơi có nhiều cây bàng biển, thân cao đến 7 mét, lá to, trái
có nhân cứng, có dầu, trái chín ăn được, cây mù u có hạt để làm dầu thắp, cây nam
sâm để làm dược liệu, dưới nước có rong biển có thể chế biến làm thức ăn.
Nhìn chung, các tỉnh Nam Trung Bộ với đặc điểm đường bờ biển dài, phần lớn
các tỉnh đều giáp biển, có hệ thống sơng ngịi dày đặc, các đảo và quần đảo giàu tài

nguyên thiên nhiên cùng với các yếu tố như khí hậu, địa hình đã mang lại tiềm năng
lớn cho sự phát triển của khu vực, đặc biệt là ngành khai thác và đánh bắt thủy hải sản.
Biển Nam Trung Bộ còn là cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á lục địa, trong lịch sử
Việt Nam đây ln là vùng đất có nhiều ẩn số hứa hẹn lời giải đáp thú vị. Trên cái
nhìn địa - văn hóa, đây cũng chính là nơi bao chứa nhiều yếu tố đặc thù: biển - đầm
phá - đồng bằng - gò đồi trước núi và núi rừng, những yếu tố văn hóa này có thể phân
định một cách khá rạch rịi trên chiều đơng - tây bằng sự giới hạn của đặc trưng địa lý.
- Đặc điểm dân cư
Phần lớn dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, sinh sống ở vùng đồng bằng


12
ven biển. Cịn vùng miền núi phía Tây là nơi sinh sống của các tộc người thiểu số, với
mật độ dân cư thưa thớt hơn. Có một vài dân tộc thiểu số, trong đó đáng chú ý là dân
tộc người Chăm họ sống chủ yếu ở xung quanh thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
(Ninh Thuận), phía Bắc tỉnh Bình Thuận và rải rác ở một số nơi. Những dân tộc thiểu
số khác sống ở phần đồi núi phía tây của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, vùng sinh
sống của đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn một nửa diện tích của tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi.
1.1.3. Biển đảo vùng Nam Trung Bộ
Vùng biển Nam Trung Bộ có hệ thống các đảo, quần đảo đóng vai trị quan trọng
về kinh tế và quốc phòng. Quanh các đảo, quần đảo nghề cá phát triển mạnh ở đây có
những ngư trường tốt, thuận lợi cho việc đánh bắt của ngư dân. Các triều đại phong
kiến trong lịch sử Việt Nam và nhân dân đã khai thác, bảo vệ vùng biển đảo này từ
hàng ngàn năm nay. Tiêu biểu có một số đảo, quần đảo lớn sau :
- Đảo Cù Lao Chàm
Cù Lao Chàm hay còn gọi là Đảo Đại chiêm, cách huyện Diên Phước 68 dặm về
phía đơng, ngất ngưỡng giữa biển gọi là đảo Ngọa Long,cũng gọi là hòn Cù Lao, có
tên nữa là núi Tiêm Bút, tên cổ là Chiêm Bất La, làm trấn sơn cho cửa biển Đại
Chiêm. Dân phường Tân Hợp ở phía nam núi, ruộng đất trên núi có thể cày cấy,

thuyền biển nước ta và nước ngồi thường trơng núi này làm chừng đi về đều đỗ ở đấy
để lấy củi, nước….Về phía tây chừng ba dặm,có hịn Lồi, về phía nam 7 dặm có hịn
Tai, về phía bắc chừng 10 dặm cịn có hịn La, về phía Tây bắc chừng 17 dặm có hịn
Khơ lớn, hịn Khơ nhỏ, hịn Dài, hịn Mậu…[ 51;tr 418-419] Quần đảo này nằm trên
biển Đông với tọa độ là 15015’20” - 15015’15” vĩ Bắc, 108023’10” kinh Đông, cách
cửa Đại 15km, cách trung tâm khu phố cổ Hội An khoảng 19km về hướng Đơng –
Đơng Bắc. Cù Lao Chàm có tổng diện tích khoảng 15.5 km2, trong đó rừng chiếm
90%, các hịn đảo phân bố theo hình bán nguyệt, chạy dài theo hướng Bắc Nam, với
chiều dài 15 km, nơi rộng nhất khoảng 5 km. Tại Cù Lao Chàm, hòn Lao là hịn có
quy mơ lớn nhất, với độ cao 517 m và là hịn chính trong các hịn đảo ở đây. Với hệ
thống núi phát triển theo hình cánh cung, ở sườn núi phía Đơng của Hịn Lao có vách
núi cao dựng đứng vơ cùng hiểm trở, cịn sườn núi phía Tây có nhiều bãi cát bằng
phẳng và vụng biển sâu, lại được hòn Dài và hòn Mồ che chắn, nên bãi cát dưới chân
hòn Lao là điểm thuận lợi cho tàu thuyền cập bến tránh gió bão và trao đổi hàng hóa,
đồng thời là nơi trú ngụ của cư dân. Tài nguyên trên quần đảo này khá phong phú, đặc
biệt là nguồn nước ngọt cung cấp cho các tàu thuyền của người dân khi đi buôn bán
hoặc đi đánh cá ngang qua. Người dân trên Cù Lao Chàm phần lớn làm nghề khai thác
thủy, hải sản.


13
- Đảo Lý Sơn
Trong lịch sử, đảo Lý Sơn còn có tên gọi là cù lao Ré. Chữ “cù lao” được Việt
hóa từ chữ “pulau” có nghĩa là đảo. “Ré” là tên của một loại cây, mà theo tương truyền
trước đây mọc hoang thành rừng trên đảo này. Từ xa xưa, cư dân Việt đã đến sinh cơ,
lập nghiệp trên đảo Lý Sơn, họ cùng với người Chăm sinh sống và làm ăn. Đại Nam
nhất thống chí chép: “Cù Lao Ré ( Lý) ở giữa biển, cách huyện Bình sơn 65 dặm về
phía đơng, xung quanh đồi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục mẫu nhân dân hai
phường Vĩnh An và An Hải ở tại đấy. Phía đơng đảo có động, trên độngcó chùa mấy
gian…quanh năm cây cối tốt tươi, khi có giặc biển dân phường ẩn núp ở đấy” [51; tr

491]. Huyện đảo Lý Sơn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách bờ biển khoảng
18 hải lý, gồm 1 đảo lớn (cù lao Ré) và đảo bé (cù lao Bờ Bãi) cách nhau 1.67 hải lý.
Ngoài ra, ở phía Đơng cù lao Ré có hịn Mù Cu vốn là bãi đá nhô cao lên trên mặt
biển. Tọa độ địa lý của đảo Lý Sơn trong khoảng 1500 32’14” đến 1500 38’14” vĩ độ
Bắc và 1090 05’04” đến 109014’12” kinh độ Đơng, với tổng diện tích là 10.325 km2.
- Quần đảo Hồng Sa
Đảo Hồng Sa ở phía đơng Cù Lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển huyện Sa Kì
đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba, bốn ngày đêm đến nơi. Có đến hơn 130 đảo nhỏ cách
nhau hoặc một ngày đường, hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng liên tiếp
kéo dài khơng biết hàng mấy ngàn dặm, bằng phẳng rộng rãi, tục gọi “vạn lý Trường
Sa” [51; tr 492]
Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm giữa biển Đông, trong kinh độ
0
111 đến 1130 Đông, vĩ độ 15045’ đến 17015’, ngang với vĩ độ Huế và Đà Nẵng.
Hoàng Sa nằm ở phía Bắc Biển Đơng, trên đường biển quốc tế từ Châu Âu đến các
nước phía Đơng và Đơng Bắc Á và giữa các nước Châu Á với nhau. Từ lâu Hoàng Sa
đã thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam với tên Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa...Quần đảo
Hoàng Sa gồm trên 30 đảo trong vùng biển rộng khoảng 15.000 km2 chia làm hai
nhóm: Nhóm phía Đơng có tên là An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo nhỏ và một số đảo san
hơ, trong đó 2 đảo lớn là Phú Lâm và Linh Cơn, mỗi đảo rộng 1,5 km2, nhóm phía Tây
gồm nhiều đảo xếp vịng cung nên gọi là nhóm lưỡi liềm, trong đó có các đảo Hồng
Sa, Quang Ánh, Hữu Nhật, Quang Hịa, Duy Mộng, Chim Yến, Tri Tơn... [4; tr.23].
Quần đảo Hồng Sa có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có
sương mù và nhiều giơng bão, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm. Trên một số
đảo có nguồn nước ngọt, cây cối um tùm, vơ số chim và đặc biệt là có nhiều rùa biển
sinh sống. Vùng biển này có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản, thuận lợi
trong việc phát triển kinh tế, quan trọng hơn đây là vị trí qn sự chiến lược, khống
chế đường giao thơng trên biển và trên khơng trong khu vực phía Bắc biển Đông [73;
tr. 12-13].



14
- Quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đơng Nam của Việt Nam, cách quần đảo
Hồng Sa khoảng 350 hải lý. Đảo Trường Sa (tên gọi và tọa độ tiêu điểm chung cho cả
quần đảo Hoàng Sa) cách Vũng Tàu 305 hải lý, cách Cam Ranh (tình Khánh Hịa) 248
hải lý, cách đảo Phú Q (tỉnh Bình Thuận) 210 hải lý. Quần đảo Trường Sa trải dài từ
6050’- 120 vĩ Bắc, tương ứng khoảng 500 hải lý kể từ bãi Tư Chính ở phía Nam – Tây
Nam đến bãi Cỏ Rong phía Bắc- Đơng Bắc [7 ; tr.7, 8]. Quần đảo Trường Sa được
chia làm 10 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám
Hiểm, Bãi Vũng Mây, Bãi Hải Sâm, Bãi Lim, Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4 đến
6 mét lúc triều xuống); Ba Đình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo. Điều kiện
tự nhiên và khí hậu vùng này rất khắc nghiệt, nắng gió, giơng bão thường xun, thiếu
nước ngọt, nhiều đảo khơng có cây. Quần đảo Trường Sa khơng chỉ là vị trí qn sự
chiến lược án ngữ phía Đơng Nam nước ta, bảo vệ vùng biển và hải đảo ven bờ mà
cịn có nhiều loại động thực vật [4; tr.24]. Quần đảo Trường Sa có vị trí rất quan trọng,
nằm án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Đại
Tây Dương, một tuyến đường huyết mạch được coi là tấp nập vào hàng thứ hai trên
thế giới; chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa
dạng, kể cả nguồn tài nguyên dầu khí mà các kết quả khảo sát đánh giá là có triển vọng
to lớn. Nằm trải trên một khu vực biển rộng lớn dọc theo bờ biển Việt Nam, quần đảo
Trường Sa kết hợp với quần đảo Hoàng Sa tạo nên một lá chắn bao quanh vùng biển
và dải bờ biển của Việt Nam bảo vệ sườn phía Đơng đất nước. Ngồi ra, Trường Sa
cịn được coi là vị trí lý tưởng để thiết lập các căn cứ chiến lược nhằm kiểm sốt các
tuyến đường biển qua Biển Đơng.
Ngồi ra cịn có các đảo Cù lao Xanh (đảo Nhơn Châu) còn gọi là đảo Vân Phi là
một hải đảo nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định. Cù lao Xanh nguyên là đất của tỉnh Phú Yên được sáp nhập về Quy Nhơn
sau năm 1975. Đảo Hòn Tre là đảo lớn nhất nằm trong vịnh Nha Trang. Đảo có diện
tích trên 32.5 km², cách thành phố Nha Trang 5 km về phía Đơng, cư dân chủ yếu là

ngư dân. Theo ước tính dân số thường trú trên đảo khoảng trên 1500 người tập trung ở
2 thơn lớn là Bích Đầm và Vũng Áng. Đảo có những bãi biển nhỏ, hoang sơ,
thảm thực vật gồm rừng cây nhỏ. Bán đảo Sơn Trà nằm cách trung tâm thành phố Ðà
Nẵng chừng 10 km về hướng Ðông Bắc. Bán đảo Sơn Trà cùng với đèo Hải Vân bao
bọc thành phố Đà Nẵng và vịnh Đà Nẵng. Thời xa xưa, Sơn Trà là một hòn đảo gồm 3
ngọn núi nhơ cao. Ngọn phía đơng nam trơng như hình con nghê chồm ra biển, nên gọi
là hịn Nghê. Ngọn phía tây hình dạng như cái mỏ con diều hâu, nên gọi là ngọn Mỏ
Diều. Và ngọn phía bắc vươn về phía ngọn Ngự Hải bên kia cửa biển dài như cổ ngựa,
nên gọi là ngọn Cổ Ngựa. Qua thời gian dài, dòng nước biển chảy ven bờ đã tải phù sa


15
đến bồi đắp dần lên tạo thành doi đất chạy từ đất liền ra đảo. Bán đảo Sơn Trà hình
thành từ đó.
Trên đây là những đảo và quần đảo ở vùng biển Nam Trung Bộ có tiềm năng
khai thác thủy, hải sản rất lớn, nơi dừng chân trong mỗi chuyến đi biển của ngư dân từ
xa xưa đến nay. Các quần đảo này còn là vùng biển, ngư trường được các triều đại
phong kiến Việt Nam xác lập và bảo vệ, nó có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ an
ninh quốc phòng, tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để
nước ta tiến ra biển và đại dương, là cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta đối
với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo.
1.1.4. Khái quát lịch sử hình thành vùng đất Nam Trung Bộ
Dưới các triều đại Trần, Hồ, Lê các tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đến Bình Định
lần lượt được sáp nhập vào nước ta. Đến thời Lê Thánh Tơng, ranh giới nước ta về
phía Nam đã kéo dài đến núi Thạch Bi (phía Nam Phú Yên) nhưng trên thực tế, dân
Việt chỉ mới sinh sống ở phía Bắc đèo Cù Mơng, thuộc tỉnh Bình Định ngày nay.
Kế thừa thành quả của các triều đại đi trước các chúa Nguyễn tiếp tục công cuộc
mở đất về phía Nam. Q trình này diễn ra trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, đặc biệt
là sự suy yếu của Champa vào đầu thế kỷ XVII. Với cuộc tấn công của vua Lê Thánh
Tông vào Champa năm 1471, Champa đã mất đi vị thế vốn có của mình trong lịch sử.

Vương quốc Champa một phần lãnh thổ bị sáp nhập vào Đại Việt, phần còn lại được
chia thành ba tiểu quốc là Nam Bàn, Hoa Anh và Champa. Thực chất chỉ có Champa
là tồn tại như một tiểu quốc tương đối độc lập nhưng cũng đang trong quá trình suy
yếu và hầu như khơng có tiếng nói gì trong lịch sử, hàng năm vẫn làm nhiệm vụ cống
nạp cho Đại Việt [6 ; tr. 23-24].
Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, các vị vua dưới thời nhà Lê đã mở
rộng lãnh thổ trên vùng biển, đặc biệt là các đảo. Căn cứ vào danh xưng Bãi Cát Vàng
trong tập Hồng Đức bản đồ được thực hiện dưới triều vua Lê Thánh Tông (14601497). Tôn Thất Dương Kỵ cho rằng: “Muộn nhất là vào đầu thập niên 90 của thế kỷ
XV, người Việt đã tìm được quần đảo ấy đang vô chủ” và cho rằng cái tên Bãi Cát
Vàng bằng tiếng Việt Nam nói rõ chính nhân dân lao động Việt Nam đã tìm ra đất mới
ấy, dùng tiếng nói của mình đặt tên cho nó: “Trong đảo có bãi cát vàng liên tiếp kéo
dài khơng biết hàng mấy ngàn dặm,bằng phẳng rộng rãi, tục gọi “vạn lý Trường Sa” [
51; tr 492] Đến khi Nhà nước Việt Nam chủ quyền hóa lãnh thổ, mới Hán Việt hóa
Bãi Cát Vàng thành Hoàng Sa”. Bãi Cát Vàng là tên Nôm, ngôn ngữ thông dụng của
ngư dân miền Trung Việt Nam do lao động, đánh bắt, khai thác ở quần đảo này sớm
nên đã đặt tên và được ghi chép chính thức trong Hồng Đức bản đồ là bản đồ quốc gia
được thực hiện bằng chủ trương của triều đình thời Lê Thánh Tông [7; tr.4].


16
Đến năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ơng ra sức xây dựng
và mở rộng vùng đất Đàng Trong về phía Nam. Đặc biệt, khi mới vào đây, chúa
Nguyễn Hoàng đã kế thừa người Champa trong việc khai thác và thực thi chủ quyền
tại quần đảo Hoàng Sa: “Năm 1558, chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận
Hóa, Vũ Thì An, Vũ Thì Trung và con cháu người Champa giúp ơng chiếm lĩnh Hồng
Sa” [6;tr. 20-21]. Năm 1611, Nguyễn Hoàng mở đất, lập phủ Phú Yên, khẳng định lại
núi Đá Bia là địa giới cực Nam, rồi tiếp tục đưa dân vào ở. Năm 1653 chúa Nguyễn
Phúc Tần vào Nam lập ra phủ Thái Khang (Khánh Hòa ngày nay) và cháu thế hệ thứ
tư của chúa Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Chu đã mở đất lập phủ Bình Thuận năm
1697. Tốc độ di dân vào phủ Bình Thuận ngày càng được đẩy mạnh hơn vào thế kỷ

XVIII. Quá trình mở mang lãnh thổ Nam Trung Bộ của các chúa Nguyễn diễn ra 115
năm, tính từ thời điểm bắt đầu mở đất Phú Yên cho đến khi có được phủ Bình Thuận,
đã mang về cho Đàng Trong một vùng lãnh thổ rộng lớn về phía Nam.Vương quốc
Champa dần dần bị thu hẹp lãnh thổ từng phần và cuối cùng bị sáp nhập vào Đàng
Trong [6 ; tr.38]. Cùng với việc xác lập các địa danh và địa giới hành chính các tỉnh
Nam Trung Bộ, các chúa Nguyễn cũng đồng thời mở rộng và xác lập chủ quyền tại các
đảo, quần đảo của khu vực này trong đó có đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1802 triều Nguyễn được thành lập, đơn vị hành chính của các tỉnh có sự
thay đổi, trong đó có các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. Thời kì đầu, vua Gia Long
chia lãnh thổ từ Bắc vào Nam làm 23 trấn và 4 doanh. Vì vậy, các tỉnh duyên hải Nam
Trung Bộ thời kì này được gọi là trấn. Dưới trấn là phủ, huyện, xã. Sau đó, Minh
Mạng lên kế vị và thực hiện cuộc cải cách hành chính. Đồng thời năm 1832, vua Minh
Mạng xóa bỏ cơ chế tự trị của người Chăm và lập thành tỉnh Bình Thuận. Năm Minh
Mạng thứ 12 (1831), triều đình chia đất từ Quảng Trị ra Bắc thành 18 tỉnh, qua năm
sau, tiếp tục chia đất từ Quảng Nam vào Nam thành 12 tỉnh. Cả nước bây giờ có 30
tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Như vậy theo cách chia của Minh Mạng thì các trấn ở
duyên hải Nam Trung Bộ được đổi thành tỉnh. Đến năm 1834, vua Minh Mạng phân
chia đất nước ra các khu vực quản lý. Trong đó Nam Trung Bộ được chia thành: Tả
Trực gồm hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi; Tả Kỳ gồm 4 tỉnh là Bình Định, Phú
n, Khánh Hịa và Bình Thuận.
Như vậy, từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX các tỉnh Nam Trung Bộ lần lượt được
thành lập. Trên các vùng biển và hải đảo cũng đã được các triều đại phong kiến Việt
Nam đặt chủ quyền và liên tục khai thác từ xưa đến nay. Địa giới, tên gọi các tỉnh, các
địa danh cũng được thay đổi qua các thời kỳ lịch sử. Đến thời Minh Mạng, các địa
danh và địa giới hành chính cấp tỉnh cơ bản đã được xác lập và duy trì cho đến ngày
nay. Điều đó có ý nghĩa rất lớn khơng những về văn hóa chính trị, phát triển kinh tế
mà cả trong ý thức xây dựng và bảo vệ đất nước đối với các tỉnh Nam Trung Bộ qua



×