ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
KHỐI THI ĐUA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TỈNH
NỀN KINH TẾ SỐ
VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG
NĂM 2022
Trưởng Ban tổ chức: TS. Đoàn Hoài Sơn
Trưởng Ban biên soạn: TS. Hồ Thị Nga
Phó Trưởng Ban biên soạn: TS. Trần Thu Thủy, TS. Trần Chiến Thắng
Thư ký biên soạn: ThS. Nguyễn Thị Hồng Trang
Thành viên:
ThS. Nguyễn Đình Đại
ThS. Nguyễn Hải Diên
CN. Bùi Quang Huế
TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền
TS. Nguyễn Văn Tịnh
TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn
TS. Lâm Xuân Thái
TS. Nguyễn Sỹ Minh
TS. Lê Văn An
TS. Nguyễn Văn Thanh
ThS. Nguyễn Văn Thành
TS. Nguyễn Thị Lệ Hằng
ii
MỤC LỤC
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC
NỀN KINH TẾ SỐ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG .............................................1
CHỦ ĐỀ 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
TRONG NỀN KINH TẾ
NHỮNG TÁC ĐỘNG TỪ EVFTA VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỐI VỚI KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ........................................................................5
TS. Phạm Minh Đạt
NCS. ThS. Dương Thanh Thủy
Trường Đại học Thương mại
TS. Trần Thu Thủy
Trường Đại học Hà Tĩnh
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU CỦA NỀN KINH TẾ SỐ ................................................................................17
TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Trường Đại học Hà Tĩnh
HOẠT ĐỘNG THANH TỐN KHƠNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SỐ NGÀNH NGÂN HÀNG ..............................23
ThS. Lê Thị Quyên
ThS. Lê Thị Thu
Trường Đại học Hà Tĩnh
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG SỐ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY .........................................................................31
ThS. Lê Thị Tịnh
ThS. Trương Thị Phương Thảo
Trường Đại học Hà Tĩnh
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ VÀ BÀI HỌC CHO
VIỆT NAM ........................................................................................................................40
ThS. Nguyễn Thị Hồng Trang
Trường Đại học Hà Tĩnh
CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO HÀ TĨNH TRONG VIỆC TRIỂN KHAI CHUYỂN ĐỔI SỐ HIỆU QUẢ ............50
ThS. Phan Thị Phương Thảo
Trường Đại học Hà Tĩnh
CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG DOANH NGHIỆP HÀ TĨNH: THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP ....................................................................................................................... 61
ThS. Phạm Xuân Cường
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh
ThS. Nguyễn Thị Hồng Trang
Trường Đại học Hà Tĩnh
MARKETING ONLINE VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HÀ TĨNH ........................................................................................................................... 70
ThS. Nguyễn Thị Kim Dung
ThS. Phan Thị Phương Thảo
Trường Đại học Hà Tĩnh
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG PHÁT TRIỂN SẢN
PHẨM OCOP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH ........................................................... 80
ThS. Cao Thị Lệ Quyên
Trường Đại học Hà Tĩnh
CHỦ ĐỀ 2
CÁC VẤN ĐỀ VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG
TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ......................................................................... 91
GS. TS. Nguyễn Văn Đính
Chủ tịch Hội đồng khoa học & đào tạo, Hiệp hội Du lịch Việt Nam
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGÀNH DU LỊCH VÀ NHỮNG
YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ...................................................................................................... 103
PGS. TS. Bùi Xuân Nhàn
Trường Đại học Thương mại
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ............... 119
ThS. Nguyễn Thị Dung
ThS. Lê Thị Thu Hoài
Trường Đại học Hà Tĩnh
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN
LỰC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ .................................... 127
TS. Trần Thu Thủy
TS. Hồ Thị Nga
Trường Đại học Hà Tĩnh
iv
MỘT SỐ MƠ HÌNH DẠY HỌC HIỆN ĐẠI GĨP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC
NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ KINH TẾ SỐ .................138
ThS. Nguyễn Đức Sử
ThS. Võ Thị Diệu Hồng
ThS. Nguyễn Quốc Dũng
Trường Đại học Hà Tĩnh
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM .........148
TS. Trần Viết Cường
Trường Đại học Hà Tĩnh
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Ở HÀ TĨNH TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ ..................................................157
TS. Nguyễn Xuân Ninh
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt - Đức Hà Tĩnh
GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH .........................164
TS. Trần Mạnh Hùng
Sở Ngoại vụ tỉnh Hà Tĩnh
ThS. Đường Thế Anh
ThS. Trương Thuận Yến
Trường Đại học Hà Tĩnh
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH TRONG
CHUYỂN ĐỔI SỐ GIÁO DỤC ......................................................................................172
ThS. Bùi Minh Quỳnh
Trường Đại học Hà Tĩnh
CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT VIỆT - ĐỨC HÀ TĨNH ...182
TS. Cao Thành Lê
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt - Đức Hà Tĩnh
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN
LỰC DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGUYỄN DU TRONG BỐI CẢNH
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19......................................................................191
ThS. Lê Thị Cần
Trường Cao đẳng Nguyễn Du
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC SỐ NGÀNH Y TẾ TỈNH HÀ TĨNH THÍCH ỨNG
NỀN KINH TẾ SỐ HIỆN NAY ......................................................................................205
ThS. Biện Thị Hương Giang
Trường Cao đẳng Y tế Hà Tĩnh
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC TRONG BỐI
CẢNH NỀN KINH TẾ SỐ ............................................................................................. 211
ThS. Phan Thị An Phú
Trường Chính trị Trần Phú
CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT
RA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC NGÀNH KẾ TOÁN TẠI CÁC
CƠ SỞ GIÁO DỤC ......................................................................................................... 218
ThS. Đặng Thị Thanh Bình
ThS. Phan Thị Ái
Trường Đại học Hà Tĩnh
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ KỸ NĂNG TỰ HỌC TRONG BỐI CẢNH
NỀN KINH TẾ SỐ .......................................................................................................... 227
ThS. Nguyễn Thị Cẩm
ThS. Nguyễn Hồng Quang
Trường Đại học Hà Tĩnh
HỆ THỐNG MÁY WATER ATM KẾT HỢP THU GOM RÁC THẢI NHỰA ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ IOT VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ................................................ 236
Kỹ sư Cao Minh Đức
Trường Cao đẳng công nghệ Hà Tĩnh
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DỊCH VỤ LOGISTICS HÀ TĨNH TRONG
BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ...... 244
NCS. ThS. Nguyễn Thị Thương
ThS. Trần Quốc Hưng
Trường Đại học Hà Tĩnh
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO CHO LĨNH VỰC ÂM NHẠC Ở HÀ TĨNH TRONG BỐI CẢNH
NỀN KINH TẾ SỐ .......................................................................................................... 252
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trường Cao đẳng Nguyễn Du
ONLINE PROFESSIONAL DEVELOPMENT IN ELT DURING COVID-19
PANDEMIC .................................................................................................................... 259
MA. Le Thi Hoa
Ha Tinh University
vi
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC
NỀN KINH TẾ SỐ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG
Kính thưa quý vị đại biểu!
Kính thưa các nhà khoa học!
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, kinh tế
số là xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Cơng
nghệ số ngày càng được ứng dụng nhiều trong tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh
tế. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế số sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh, tốc độ tăng trưởng của mỗi tổ chức, doanh nghiệp, mỗi địa phương và cả nền kinh
tế quốc gia trong tương lai.
Trước bối cảnh nền kinh tế số có sự tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực, các cơ sở
đào tạo, các trường, các cơ quan, đơn vị liên quan cần phải có những thay đổi thích nghi
với bối cảnh mới, có những giải pháp phù hợp để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
xã hội.
Hội thảo “Nền kinh tế số và sự tác động đến đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội địa phương” nhằm nghiên cứu, thảo luận và đề xuất giải pháp
giúp các tổ chức, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực nói chung, Trường Đại học Hà Tĩnh và
các Trường Cao đẳng: Kỹ thuật Việt - Đức Hà Tĩnh, Công nghệ Hà Tĩnh, Nguyễn Du, Y tế
Hà Tĩnh bắt nhịp với xu hướng phát triển trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, Hội thảo
cũng kỳ vọng tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia, các nhà khoa
học giúp các Trường luận bàn về định hướng, các giải pháp nhằm thực hiện thành cơng vai
trị đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế địa phương
và cả nước.
Để đạt được những giá trị khoa học cả về lý luận và thực tiễn, Hội thảo tập trung vào
một số vấn đề cơ bản sau đây:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nền kinh tế số;
- Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nguồn nhân lực địa phương hiện nay và dự báo
tương lai;
- Cơ hội và thách thức của chuyển đổi số đối với phát triển nền kinh tế Việt Nam và
địa phương;
- Tác động của chuyển đổi số trong các lĩnh vực cụ thể: marketing, du lịch, tài chính,
ngân hàng, giáo dục – đào tạo, công nghệ thông tin… trong bối cảnh nền kinh tế số và
những yêu cầu đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực địa phương;
- Phát triển nền kinh tế số trong một số lĩnh vực chủ yếu của Việt Nam và địa phương;
1
- Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành/lĩnh vực tại địa phương trong bối
cảnh nền kinh tế số;
- Giải pháp đẩy mạnh phát triển nền kinh tế số trong giai đoạn tới cho từng lĩnh vực
cụ thể;
- Giải pháp nâng cao hiệu quả trên các khía cạnh khác nhau về đào tạo nguồn nhân
lực cho các ngành/lĩnh vực tại địa phương trong bối cảnh nền kinh tế số…
Hội thảo khoa học đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà nghiên
cứu, các nhà quản lý đến từ các trường đại học, cao đẳng, các cơ quan, ban ngành trong và
ngoài tỉnh với hơn 30 bài viết đa dạng về chủ đề, tập trung vào các vấn đề lý luận và các
giải pháp để thực hiện chuyển đổi số tại các trường, cơ sở đào tạo và các ngành, nghề đào
tạo trong bối cảnh nền kinh tế số.
Thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo “Nền kinh tế số và sự tác động đến đào tạo nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương”, tôi xin trân trọng cảm ơn
các quý vị đại biểu, các nhà khoa học đã đến tham dự, đóng góp vào sự thành cơng của Hội
thảo. Chúng tơi hy vọng sẽ đón nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý vị để Hội thảo
có chất lượng cả về lý luận và thực tiễn. Ban Tổ chức Hội thảo xin lắng nghe mọi ý kiến
thảo luận và trân trọng với từng đóng góp của các đại biểu và các nhà khoa học, cán bộ,
giảng viên tham dự Hội thảo hơm nay.
Kính chúc q vị đại biểu, các nhà khoa học, các thầy, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh
phúc và nhiều thành công. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.
Xin trân trọng cám ơn!
BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
2
CHỦ ĐỀ 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
TRONG NỀN KINH TẾ
3
4
NHỮNG TÁC ĐỘNG TỪ EVFTA VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
ĐỐI VỚI KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TS. Phạm Minh Đạt, NCS. ThS. Dương Thanh Thủy
Trường Đại học Thương mại
TS. Trần Thu Thủy
Trường Đại học Hà Tĩnh
Tóm tắt
Chuyển đổi số đang trở thành một xu thế thực hiện khách quan trong nền kinh tế Việt
Nam. Chính điều này địi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh cần phải chuẩn bị cho mình
những điều kiện chắc chắn để sẵn sàng tham gia chuyển đổi số phục vụ kinh doanh. Đặc
biệt với thị trường EU, một thị trường giàu tiềm năng để phát triển thì việc các doanh
nghiệp cần chủ động nắm bắt những quy định về chuyển đối số tại thị trường này lại càng
trở nên cần thiết, nhất là khi chúng ta đã chính thức thực hiện Hiệp định EVFTA. Bài viết
này nhằm chỉ ra những tác động từ EVFTA đối với việc chuyển đổi số trong kinh doanh
của các doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: EVFTA, chuyển đổi số, hoạt động kinh doanh, Việt Nam
1. Giới thiệu
Trong vài năm gần đây, thuật ngữ “Chuyển đổi số” (CĐS) được nhắc đến với tần suất
lớn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và chủ doanh nghiệp. Theo nghĩa chung
nhất, chuyển đổi số có thể được hiểu là sự điều chỉnh, thích ứng của các mơ hình kinh
doanh, do sự thay đổi năng động của tiến bộ và đổi mới công nghệ, từ đó tạo ra những thay
đổi trong hành vi của người tiêu dùng và xã hội (Nicolai J. Foss & Tina Saebi, 2016).
Chuyển đổi số vừa là kết quả của một quá trình; vừa là phương thức tổ chức lại các
nguồn lực trong điều kiện kinh doanh mới thông qua các mơ hình kinh doanh sáng tạo, ở
đó dữ liệu và thơng tin là phần tài sản có giá trị ngày càng lớn trong nguồn lực của doanh
nghiệp. Ngày nay, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, được thực hiện là nhờ sự phát triển
nhanh chóng của cách mạng công nghiệp 4.0. Bắt đầu từ sự thay đổi cơng nghệ, theo sau
đó là những chuyển dịch gắn với chiến lược, văn hóa của tổ chức, phương thức triển khai
các mối quan hệ với khách hàng và mang lại những kết quả đáng kể về doanh thu, năng
lực cạnh tranh, sự đổi mới sáng tạo và giảm chi phí.
Những mơ hình kinh doanh mới thành cơng trong thời đại cách mạng cơng nghệ có
thể kể đến như: mơ hình kinh doanh chia sẻ (AirB&B; Agoda), mơ hình thương mại điện
tử với việc thiết lập các sàn giao dịch điện tử (amazon.com; lazada; shopee; tiki…); gọi xe
công nghệ (Uber; Grab, Be, Gojek…), kinh doanh từ xa (tư vấn từ xa, y tế, chữa bệnh từ
xa, đào tạo giáo dục từ xa…). Sự phát triển của các mơ hình kinh doanh mới cần đến sự
tích hợp và đồng bộ các mối liên kết với các đối tác, các mối quan hệ với khách hàng, các
5
kênh tương tác, các hoạt động hỗ trợ nền tảng kinh doanh để các nhà quản lý có thể tính
tốn dịng tài chính cho các hoạt động đầu tư và khả năng sinh lời. Trong đà phát triển
công nghệ điện toán đám mây, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, sản xuất thơng minh… địi hỏi
các tổ chức doanh nghiệp làm thế nào để có thể điều chỉnh mơ hình kinh doanh, theo đuổi
và phát triển mơ hình kinh doanh mới phù hợp với những thay đổi trong hành vi và trải
nghiệm của khách hàng để có thể duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh.
2. Cơ sở lý thuyết về mơ hình kinh doanh và q trình chuyển đổi số
2.1. Khái qt về mơ hình kinh doanh và khung lý thuyết về mơ hình kinh doanh
Hiện đang tồn tại nhiều cách định nghĩa về Mơ hình kinh doanh, từ những quan niệm
rất giản đơn đến những quan niệm có tầm nhìn học thuật cao (Ovans, 2015). Theo nghiên
cứu của Nicolai J. Foss & Tina Saebi (2017) các nghiên cứu về mơ hình kinh doanh
(MHKD) có thể phân nhóm theo các quan niệm chính như sau:
MHKD như một cách phân loại có tính khái qt [Amit and Zott (2012), Johnson et
al. (2008), Koen et al. (2011)]. Những quan niệm này ít nhấn vào định nghĩa, các yếu tố
cấu thành MHKD mà doanh nghiệp cần cải tiến, mà chỉ coi đó là một thuật ngữ được dùng
để phát triển sơ đồ phân loại.
MHKD như một q trình (Berglund and Sandstrưm (2013), Cavalcante (2014)). Do
việc đổi mới là một thách thức lớn trong các qui trình hoạt động của tổ chức, do đó, những
nghiên cứu theo hướng này tập trung vào sự thay đổi các yếu tố cần thiết cho sự thành cơng
của MHKD như qui trình, năng lực, sự lãnh đạo, cơ chế học hỏi. Trong đó xác lập sự khác
nhau trong các giai đoạn của triển khai MHKD; xác lập những năng lực khác nhau của tổ
chức và các qui trình cần thiết để hỗ trợ cho quá trình thay đổi; nhấn mạnh vào tầm quan
trọng của trải nghiệm và học hỏi; đưa ra những cơng cụ có định hướng ứng dụng đối với
việc quản lý quá trình.
MHKD như một kết quả của quá trình thay đổi tổ chức (Abdelkafi et al. (2013),
Anderson and Kupp (2008)), các MHKD mới và sáng tạo thường được xem xét trong bối
cảnh kinh doanh cụ thể như du lịch (Souto, 2015), báo chí (Holm, Gunzel và Ulhoi, 2013;
Karimi & Zhiping 2016). Một số nghiên cứu về MHKD cũng xem xét trong thị trường
thu nhập thấp (Anderson & Kupp, 2008; Sánchez & Ricart; 2010; Yunus, Moingeon, &
Lehmann-Ortega, 2010). Những nghiên cứu này đặt trọng tâm vào việc mô tả những
thay đổi cụ thể của MHKD nhưng khơng chỉ ra các tiêu chí cụ thể có sự thay đổi trong
MHKD mới.
MHKD như sự triển khai thực hiện và thành tựu của tổ chức (Zott and Amit (2007),
Giesen et al. (2007), Aspara et al. (2010), Bock et al. (2012), Denicolai et al. (2014), Huang
et al. (2012, 2013), Pohle and Chapman (2006), Cucculelli and Bettinelli (2015), Wei et al.
(2014), Velu and Jacob (2014), Kim and Min (2015)).
MHKD, theo góc độ tiếp cận chiến lược, là (a) cân bằng với chiến lược, (b) được coi là
một tập hợp con của chiến lược, (c) cả hai khái niệm trùng lặp với nhau, với các cấp độ khác
nhau của khu vực chia sẻ phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau của họ (Burkhardt, et al., 2011).
6
Sự đa dạng của các định nghĩa về MHKD cung cấp một cái nhìn đa chiều, thú vị.
Trên thực tế, điều quan trọng là phải xác định được rõ nét các thành tố cơ bản cấu trúc nên
MHKD, từ đó khi có sự thay đổi về các điều kiện, mơi trường kinh doanh, các cơng ty có
thể nhanh chóng nhận ra việc điều chỉnh, thay thế MHKD mới nhằm không ngừng tạo ra
các giá trị mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
Bảng 2.1. Một số định nghĩa về mơ hình kinh doanh/mơ hình kinh doanh mới
(Các) Tác giả
Định nghĩa về mơ hinh kinh doanh/ mơ hình kinh doanh mới
Mitchell and Coles MHKD mới là việc thay thế mơ hình kinh doanh bằng việc cung
(2004a: 17)
cấp các sản phẩm/dịch vụ, chào bán tới khách hàng - người tiêu
Markides (2006: 20) dùng cuối cùng mà trước đó chưa từng được cung cấp. Quá trình
triển khai sự thay thế này, là sự đổi mới mơ hình kinh doanh.
MHKD cải tiến là sự phát hiện ra những khác biệt căn bản của
MHKD hiện đang áp dụng.
Santos et al (2009:
14); Gambardella
&McGahan
(2010: 263)
Cải tiến MHKD là sự tái định hình các hoạt động của MHKD
hiện có của cơng ty nhằm làm mới các sản phẩm dịch vụ khi tung
ra thị trường để cạnh tranh. Đổi mới MHKD diễn ra khi một công
ty thay đổi cách tiếp cận mới để thương mại hóa các tài sản chủ
chốt của mình.
Aspara et al.
(2010: 47)
Sáng kiến tạo ra những giá trị mới bằng cách tạo thách thức với
sự hiện diện của MHKD trong từng ngành công nghiệp đặc thù,
với vai trò và các mối quan hệ trong khu vực không gian thị
trường nhất định.
Yunus et al. (2010:
312) Bucherer et al.
(2012: 184)
MHKD cải tiến là việc tạo ra các nguồn sinh lời mới bằng cách
tìm ra các tổ hợp giá trị mới. Đổi mới MHKD là quá trình tạo ra
những thay đổi đáng kể những thành tố cốt lõi của cơng ty và
logic kinh doanh của nó.
Sorescu et al.
(2011: S7)
Là sự thay đổi khác với thông lệ hiện có, trong một hoặc nhiều
yếu tố của MHKD bán lẻ (ví dụ như: hình thức bán lẻ, hoạt động
và quản trị) và sự phụ thuộc qua lại, từ đó điều chỉnh logic kinh
doanh của nhà bán lẻ để sáng tạo và giành được giá trị.
Amit and Zott
(2012); Berglund
and Sandström
(2013: 276)
MHKD đổi mới bằng cách tái định nghĩa (a) nội dung (bổ sung
thêm các hoạt động mới); (b). Cấu trúc (liên kết các hoạt động
theo cách hoàn toàn khác); (c) quản trị thay đổi các bộ phận đang
hoạt động.
Abdelkafi et al.
Một MHKD mới có thể được nghĩ như là sự giới thiệu một hình
(2013: 13) Aspara et thức kinh doanh mới nhằm tạo ra giá trị thương mại. MHKD cải
al. (2013: 460)
tiến diễn ra khi cơng ty điều chỉnh hoặc hồn thiện ít nhất một
trong những thành phần giá trị của mình. Chuyển đổi MHKD của
cơng ty được coi là sự thay đổi trong logic nhận thức về cách công
7
Định nghĩa về mơ hinh kinh doanh/ mơ hình kinh doanh mới
ty tạo ra giá trị, khi liên kết giữa các danh mục đầu tư tạo ra giá
trị cho công ty, từ thời điểm này sang thời điểm khác.
(Các) Tác giả
Casadesus-Masanell Đổi mới MHKD là đề cập đến việc tìm kiếm các logic mới của
and Zhu (2013: 464) công ty, các cách thức mới để tạo ra và giành được giá trị cho các
bên liên quan. MHKD tập trung chủ yếu vào việc tìm ra các cách
mới để tạo ra doanh thu, xác định các đề xuất giá trị cho khách
hàng, nhà cung cấp và đối tác.
Đổi mới MHKD bao gồm từ việc thay đổi gia tăng các thành phần
riêng lẻ của MHKD, mở rộng MHKD hiện có, giới thiệu các
MHKD song song, cho đến việc phá vỡ MHKD để thay thế mơ
hình hiện tại bằng mơ hình mới có sự khác biệt về cơ bản.
Khanagha et al.
(2014: 324)
Các thành tố tạo nên khuôn khổ của MHKD được sử dụng phổ biến nhất hiện nay do
Osterwalder và Pigneur đề xuất (Osterwalder, 2010) dưới dạng “khung mơ hình kinh
doanh” (Business Model Canvas - BMC). Khung lý thuyết của MHKD chứa các thành
phần chủ yếu sau: đối tác chính, hoạt động chính, nguồn lực chính, tỉ trọng giá trị cung
ứng, mối quan hệ khách hàng, các kênh tương tác; các phân đoạn khách hàng, cấu trúc chi
phí và doanh thu (hình 2.1).
Hình 2.1. Các thành tố của mơ hình kinh doanh
Khách hàng
Tổ chức
Hoạt động
chính
Mối quan
hệ với KH
Tỉ trọng
giá trị cung
ứng
Đối tác chính
Nguồn lực
chính
Các kênh
tương tác
Các phân
đoạn thị
trường
(TT)
khách
hàng
Bán hàng
Cơ cấu chi phí
Các dịng doanh thu
Tài chính
(Nguồn: www.strategyzer.com dựa trên Ostermalder, 2010)
8
Theo đó, MHKD là logic cơ bản của tổ chức - doanh nghiệp, mô tả những giá trị cung
cấp cho khách hàng và đối tác, thơng qua đó doanh nghiệp có được lợi ích tài chính dưới
dạng doanh thu. Những giá trị mà doanh nghiệp cung cấp tạo ra sự khác biệt so với đối
thủ cạnh tranh, củng cố mối quan hệ với khách hàng và đạt được lợi thế cạnh tranh.
Trong mỗi MHKD bao gồm những thành phần sau:
- Khách hàng: gồm các phân khúc khách hàng, các kênh tương tác với khách hàng
và mối quan hệ với khách hàng.
- Tỷ trọng giá trị cung cấp cho khách hàng và đối tác gồm các lợi ích và giá trị gia tăng.
- Lợi ích/giá trị: gồm sản phẩm, dịch vụ và các yếu tố cấu thành giá trị khác.
- Giá trị gia tăng: gồm các nguồn lực, kĩ năng và qui trình.
- Đối tác: các đối tác nhà cung cấp, các trung gian marketing, các kênh đối tác và các
quan hệ đối tác.
- Tài chính: gồm doanh thu và chi phí.
Các yếu tố của MHKD được kết hợp và củng cố lẫn nhau, đảm bảo sự tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp và làm cho các đối thủ cạnh tranh khó bắt chước, sao chép.
2.2. Chuyển đổi số
Dưới giác độ của tổ chức kinh doanh, chuyển đổi số (digital transformation) được
định nghĩa như sự chuyển đổi trong mơ hình kinh doanh, trong sản phẩm, dịch vụ, hoặc
trong cấu trúc tổ chức nhờ những thay đổi do công nghệ số mang lại cho công ty (Hess và
cộng sự, 2016, p.124)
Bảng 2.2. Đặc điểm khái quát các giai đoạn phát triển của chuyển đổi số
Tin học hóa
(Digitization)
Số hóa
(Digitalization)
Chuyển đổi số (Digital
Transformation)
Quản trị hệ Mã hóa và chuyển Thay đổi q trình Sử dụng công nghệ số để
thống
thông tin/ nhiệm vụ từ nhờ hỗ trợ của công tạo thuận lợi cho sự thay
thông tin
đổi.
công nghệ analog nghệ.
sang công nghệ số.
Thay đổi vai trị giữa
cơng ty, khách hàng và
đối thủ cạnh tranh.
Sáng tạo giá trị mới.
Quản
trị Triển khai công nghệ
marketing thông tin (IT) đối với
nhiệm vụ theo công
nghệ lưu trữ tương tự
(analog) để tạo ra
thông tin.
Kết nối khách hàng
(KH) với công ty.
Kết nối máy móc với
từng đối tác (IoTInternet vạn vật).
Tái định hình sở thích của
khách hàng, sáng tạo giá
trị mới cho khách hàng,
thay đổi mối quan hệ của
công ty, phát triển các
công việc có giá trị mới.
9
Tin học hóa
(Digitization)
Số hóa
(Digitalization)
Chuyển đổi số (Digital
Transformation)
Quản
trị Mã hóa/ chuyển thông Tạo ra tri thức và cơ
chiến lược tin từ công nghệ hội kinh doanh mới.
analog sang công
nghệ số.
Giảm chi phí.
Có thể phát triển các
sản phẩm mới.
Tái cấu trúc doanh nghiệp
theo công nghệ số nhằm
đạt lợi thế cạnh tranh.
Tạo ra cơ hội kinh doanh
mới và mơ hình kinh
doanh mới.
Quản
trị Chuyển thông tin từ Kết nối hoặc tái cấu
đổi mới
công nghệ analog trúc các quy trình để
sang cơng nghệ số.
tạo ra cơ hội.
Giảm chi phí.
Có cơ hội mới cho
cơng ty để tạo ra sự
đổi mới.
Thay đổi mạng lưới giá
trị của công ty, thay đổi
khách hàng và các đối thủ
cạnh tranh.
Chuyển đổi số là quá trình tái tạo lại doanh nghiệp để số hóa các hoạt động và hình
thành các mối quan hệ với chuỗi cung ứng mở rộng (Bowerox và cộng sự, 2005).
Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi để triển khai các hoạt động trên nền tảng số
(không giấy tờ) đến các ứng dụng của công nghệ kỹ thuật số trong xã hội loài người.
Chuyển đổi số (CĐS) trong kinh doanh là sự thay đổi tổ chức (bao gồm: cơ cấu tổ
chức, chức năng của các bộ phận) thông qua việc sử dụng các công nghệ số và mô hình
kinh doanh để cải thiện hiệu quả kinh doanh một cách nhanh chóng, đáng kể dựa trên qui
mơ của từng bộ phận hoặc tồn bộ doanh nghiệp.
3. Chính sách chuyển đổi số của EU theo Hiệp định EVFTA
3.1. Chính sách hướng tới chuyển đổi số của Liên minh Châu Âu (EU)
Trong chiến lược số của mình, Liên minh Châu Âu tuyên bố rằng các công nghệ số
sẽ giúp EU đạt được sự dung hịa về khí hậu, mục tiêu trong Thỏa thuận Xanh Châu Âu. Ở
cấp độ toàn cầu, EU đặt mục tiêu trở thành hình mẫu cho nền kinh tế số bằng cách phát
triển các tiêu chuẩn kỹ thuật số và thúc đẩy chúng trên toàn thế giới và thông qua hỗ trợ
các nền kinh tế đang thực hiện chuyển đổi số. Các vấn đề số là yếu tố chính trong chính
sách thương mại của EU. Tất cả các hiệp định thương mại song phương lớn, bao gồm cả
EVFTA với Việt Nam, đều đề cập đến các vấn đề số hóa và chuyển đổi số từ các khía cạnh
khác nhau. EU cũng làm việc với các quốc gia và đối tác trên thế giới, bao gồm cả Việt
Nam để đảm bảo rằng công nghệ giúp cải thiện cuộc sống.
Liên minh Châu Âu đóng một vai trị tích cực trong việc định hình nền kinh tế số, với
các sáng kiến chính sách chéo bao gồm từ thúc đẩy đầu tư đến cải cách luật và các hành
10
động phi lập pháp. Nhiệm kỳ Nghị viện 2014-2019 đã chứng kiến một số sáng kiến trong
các lĩnh vực số hóa ngành công nghiệp và dịch vụ công, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch
vụ kỹ thuật số, chương trình nghiên cứu, an ninh mạng, thương mại điện tử, bản quyền và
luật bảo vệ dữ liệu. Ngày càng có nhiều công dân EU nhận thức rằng công nghệ số đóng
một vai trị quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Liên minh Châu Âu sẽ tăng cường hỗ trợ chuyển đổi số trong những năm tới, như đề
xuất gần đây cho Chương trình châu Âu số (cho giai đoạn 2021-2027) - đây sẽ là chương
trình tài trợ đầu tiên chỉ dành riêng cho việc hỗ trợ chuyển đổi số ở EU.
3.2. Khung pháp lý của EU đối với chuyển đổi số
Theo quy định trong Hiệp ước về hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU), thì EU
sẽ điều chỉnh để có những thay đổi về cơ cấu, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các doanh nghiệp (chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ - SMEs). Thúc
đẩy khai thác mạnh hơn những tiềm năng cơng nghiệp được khai thác từ các chính sách
đổi mới để từ đó nghiên cứu và phát triển cơng nghệ.
EU cũng đang rất tích cực để tận dụng những phát triển trong quản trị internet, quyền
sở hữu trí tuệ và các tiêu chuẩn chung cho những công nghệ mới và tìm kiếm những thỏa
thuận hướng tới hội tụ hài hòa quản lý phổ tần nhắm hướng tới mục tiêu tăng cường an
ninh mạng.
3.3. Các chính sách số trong nhiều lĩnh vực khác nhau do EU ban hành
- Số hóa cơng nghiệp Châu Âu: các mối quan hệ đối tác công tư, các nguồn lực để
phát triển công nghệ số và nền tảng công nghiệp số đang được các thành viên của Liên
minh Châu Âu rất quan tâm và nỗ lực phối hợp thực hiện các sáng kiến của các thành viên,
của khu vực trong vấn đề số hóa cơng nghiệp.
- Số hóa khu vực cơng: việc áp dụng chính phủ điện tử trong giai đoạn vừa qua (2016
– 2020) được coi như là sáng kiến nhằm mục tiêu hiện đại hóa các dịch vụ cơng điện tử.
Việc này tạo điều kiện để giúp người dân và các doanh nghiệp có thể tìm hiểu thơng tin về
quốc gia, luật và các yêu cầu cũng như thủ tục hành chính từ một điểm truy cập trực tuyến
duy nhất. Các nước trong Liên minh Châu Âu cũng đã áp dụng nhận dạng xuyên biên giới
theo quy định eIDAS.
- Kiểm tra mã viễn thông điện tử Châu Âu: các quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân như: chuyển đổi nhà cung cấp, quyền nhận thông báo công khai trên thiết bị di động
thông minh… cũng được cải thiện nhiều theo những gói cải tổ được các nhà đồng lập pháp
thơng qua từ năm 2018.
- Quỹ băng thông rộng mới: Quỹ kết nối băng thông rộng Châu Âu sẽ giúp các nhà
đầu tư tư nhân hỗ trợ hạ tầng mạng số trong những lĩnh vực được cung cấp với số vốn thêm
vào lên tới 1,7 tỷ Euro năm 2021. Bên cạnh đó, việc thực hiện sáng kiến WiFi4EU sẽ miễn
phí kết nối internet cho người sử dụng trong cộng đồng dân cư địa phương.
11
- Với những quy định mới trong internet như xóa bỏ phí chuyển vùng và internet mở
giúp cho người dân đảm bảo quyền tự do của họ mà không lo bị phân biệt đối xử khi lựa
chọn nội dung và dịch vụ tùy ý. Người dân cũng dễ dàng sử dụng dịch vụ internet ở bất cứ
đâu mà không phải thanh tốn thêm các khoản phụ phí.
- An ninh mạng: với việc thơng qua các quy định chung có tính bắt buộc như chỉ thị
NIS vào năm 2016 thì vấn đề an ninh mạng của các quốc gia thành viên Liên minh Châu
Âu đang được nâng lên một tầm mới. Nhất là khi các biện pháp mạnh mẽ để nhằm cải thiện
khả năng phục hồi, răn đe và phòng thủ không gian mạng được Ủy ban của EU thông qua
năm 2017.
- Theo những quy định về dữ liệu được áp dụng từ năm 2018 thì mọi cơng dân EU
đầu có quyền truy cập vào các kho dữ liệu theo đăng ký tại nước họ như: phim, chương
trình truyền hình, chương trình thể thao… trong khi họ di chuyển qua các nước khác trong
EU. Điều này cho thấy các dịch vụ ngày càng tốt hơn và cạnh tranh hơn.
- Tái sử dụng thông tin của khu vực công (PSI): Việc xem xét lại quy định này gần
đây đã được chấp thuận sẽ làm dữ liệu khu vực công PSI được tái sử dụng nhiều hơn để
thúc đẩy tính minh bạch, đổi mới dựa trên dữ liệu và cạnh tranh công bằng.
- Hiện đại hóa các quy tắc về bản quyền của EU: Luật Bản quyền của EU đã và đang
được sửa đổi để đảm bảo người dân có thể truy cập rộng rãi hơn tới các nội dung sáng tạo
và bảo vệ tốt hơn quyền của tác giả và các nghệ sỹ liên quan tới việc khai thác kỹ thuật số
đối với các tác phẩm của họ.
* Chiến lược số của Liên minh Châu Âu
Các tiếp cận của EU tới chuyển đổi số là trao quyền và tác động tới mọi người dân,
thúc đẩy tiềm năng của các doanh nghiệp và đáp ứng được các thách thức toàn cầu với các
giá trị cốt lõi của EU.
Chiến lượng số của EU gồm bốn khía cạnh:
- Công nghệ phù hợp với mọi người
- Một nền kinh tế số công bằng và cạnh tranh
- Một xã hội số mở, dân chủ và bền vững
- EU là một “tay chơi” số toàn cầu
3.4. EVFTA và các cam kết liên quan tới chuyển đổi số trong kinh doanh ở Việt Nam
Theo các quy định trong chương 8 của Hiệp định EVFTA và trong mục F thì sẽ
không phải chịu bất kỳ khoản thuế hải quan nào cho các giao dịch điện tử giữa các bên
trong điều kiện những biến đổi, tăng trưởng trong thương mại điện tử giữa các bên ngày
càng phát triển.
Cũng theo những quy định trong Hiệp định, Việt Nam và EU sẽ duy trì đối thoại về
những quy định và vấn đề pháp lý phát sinh do hoạt động thương mại điện tử tạo nên để
cùng giải quyết. Cụ thể như: chữ ký số, truyền dẫn dữ liệu, những ứng xử trong thương
12
mại điện tử tự nguyện, bảo vệ người tiêu dùng, các vấn đề liên quan phát triển thương mại
điện tử.
Các Ủy ban chuyên trách được thành lập theo quy định của Hiệp định (điều 17.2) sẽ
là những đơn vị đầu mối để thực hiện trách nhiệm thực thi các cam kết này.
4. Những tác động của EVFTA đến chuyển đổi số trong kinh doanh tại Việt Nam
Việt Nam đã trải qua bốn thập kỷ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Trong
một Việt Nam mới, khoa học, công nghệ và đổi mới đóng vai trị quan trọng thúc đẩy sự
phát triển của đất nước. Chuyển đổi số được thực hiện ở nhiều lĩnh vực ngành nghề, từ
công nghệ chế biến chế tạo tới nông nghiệp, thương mại, thanh tốn, vận tải, tài chính và
giáo dục (Cameron A. và cộng sự, 2019). Việt Nam là một trong những nền kinh tế có nền
kinh tế số tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á với tốc độ 38% một năm. Theo
đó, khu vực số được kỳ vọng sẽ đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2030. Kinh tế số
Việt Nam năm 2019 đạt giá trị 12 tỷ đô la Mỹ, đến năm 2021, nền kinh tế số của Việt Nam
ước đạt 21 tỷ đô la Mỹ với tốc độ tăng trưởng 31%. Có được điều này là do tốc độ tăng
trưởng thương mại đạt tới 53%, theo báo cáo “e-Conomy SEA 2021”.
Kinh tế Việt Nam đang thay đổi nhanh thông qua việc áp dụng công nghệ số. Một số
ngành công nghiệp tại Việt Nam đang được số hóa nhanh chóng, bao gồm thương mại điện
tử, du lịch, nội dung số và fin-tech. Đây là những ngành tiềm năng cho nền kinh tế số Việt
Nam trong thời gian tới. Kết quả từ các nghiên cứu điển hình trong báo cáo có tên “Tương
lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới đến năm 2030 và 2045” cho thấy mức độ sẵn sàng
trung bình cho chuyển đổi số. Mặc dù các doanh nghiệp trong các lĩnh vực này nhận thức
rõ tầm quan trọng của công nghệ số trong sản xuất, nhưng họ gặp khó khăn khi áp dụng
công nghệ mới do các vấn đề tài chính và kỹ thuật. Tuy nhiên, với bối cảnh và vị thế của
Việt Nam trong 2 năm vừa qua mặc dù chịu tác động mạnh mẽ của đại dịch COVID 9,
nhưng tốc độ phát triển của kinh tế số vẫn tương đối mạnh tập trung chủ yếu ở các ngành
như: thương mại điện tử, tài chính, ngân hàng số và kể cả tài chính, y tế, du lịch, giáo dục
cũng có mức độ chuyển đối số ấn tượng. Kết quả khảo sát người tiêu dùng cho thấy rằng,
khi các ngành công nghiệp chuyển đổi, người tiêu dùng Việt Nam đang thích ứng nhanh
chóng và chấp nhận các sản phẩm và dịch vụ mới của nền kinh tế số. Điều này có lợi cho
việc thu hút đầu tư và phát triển nền kinh tế số của Việt Nam (Cameron A và cộng sự, 2019).
Với những cam kết trong Hiệp định EVFTA của Việt Nam và EU thì hàng loạt các
vấn đề liên quan đến thương mại điện tử và số hóa như: chuẩn mực, chính sách, khn khổ
pháp lý… sẽ dần được cải thiện và nâng cấp tại Việt Nam. Việc này góp phần thúc đẩy sự
phát triển thương mại điện tử giữa Việt Nam và EU, đồng thời cũng là những điều kiện
thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển mạnh hơn nữa quá trình chuyển đổi số của Việt Nam.
Các quy định liên quan tới thương mại và đầu tư tại Việt Nam đã và đang được cải
cách nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam và EU hưởng lợi từ EVFTA. Ví dụ, các
quy định liên quan tới chứng nhận xuất xứ hoặc truy xuất nguồn gốc điện tử có thể được
ban hành, tạo ra con đường dẫn tới chuyển đổi số của các cơ quan nhà nước và doanh
nghiệp tại Việt Nam.
13
EVFTA được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường đầu tư của châu Âu vào Việt Nam,
đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao tạo thuận lợi cho chuyển đổi số. Thực tế cho thấy
thương mại thường đi sau đầu tư. EVFTA và EVIPA dự kiến sẽ tăng đáng kể đầu tư của
châu Âu vào Việt Nam. Tính đến hết năm 2019, EU có 2.375 dự án đầu tư từ 27 quốc gia
châu Âu vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 25,49 tỷ USD, chiếm 7,03% tổng vốn đầu tư
đăng ký. Xu hướng đầu tư của EU chủ yếu tập trung vào các ngành công nghệ cao, tuy
nhiên đã có xu hướng tập trung nhiều hơn vào các ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông,
tài chính, văn phịng cho thuê và bán lẻ).
Hơn nữa, doanh nghiệp đầu tư nước ngồi tới từ châu Âu có tỷ lệ nội địa hóa cao hơn
hoặc liên quan đến các DNVVN trong nước trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Các công ty
hàng đầu châu Âu như Ericsson, ABB, Bosch, Zuellig Pharma, BNP Paribas... đang đóng
góp đáng kể vào việc chuyển giao kiến thức, đổi mới, phát triển công nghệ và số hóa tại
Việt Nam. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), EVFTA sẽ thúc đẩy đầu tư chất lượng cao
vào một số ngành mà EU có tiềm năng, ví dụ: sản xuất công nghệ cao, chăm sóc sức khỏe,
năng lượng sạch và tái tạo, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ tài chính. Với
các chính sách ưu đãi, Việt Nam có thể trở thành điểm đến cho các trung tâm R&D hoặc
thuê ngoài cho các giải pháp số hóa và chuyển đổi số. Việt Nam có thể được hưởng lợi từ
kiến thức, công nghệ, bí quyết mà các nhà đầu tư châu Âu mang lại như cách nó đã làm
trong vài thập kỷ qua. Ví dụ, Ericsson và Nokia với công nghệ 5G đã và đang hợp tác với
một số công ty lớn tại Việt Nam như Viettel và VNPT để phát triển công nghệ truyền thông.
Hơn nữa, trong quá trình làm việc với các công ty FDI Châu Âu, các công ty Việt Nam sẽ
có cơ hội học hỏi các kỹ năng quản lý, đặc biệt là hệ thống quản lý chất lượng. Đầu tư FDI
từ Châu Âu sẽ tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến chuyển đổi số ở Việt Nam.
Được thúc đẩy bởi các cơ hội thị trường do EVFTA mang lại, các công ty Việt Nam
sẽ nâng cấp và chuyển đổi kỹ thuật để đạt được các tiêu chuẩn, quy chuẩn của thị trường
châu Âu. Để đạt được các yêu cầu tiêu chuẩn Châu Âu, các nhà sản xuất Việt Nam cần áp
dụng công nghệ tiên tiến để kiểm soát chất lượng sản phẩm tốt hơn. Các doanh nghiệp Việt
Nam sẽ phải tối ưu hóa quy trình hiện tại và nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Một
trong những thách thức chính mà EVFTA mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam là
chứng minh xuất xứ đối với các sản phẩm có xuất xứ tại Việt Nam xuất khẩu sang EU.
Theo yêu cầu của EVFTA, các nhà xuất khẩu Việt Nam phải nộp đơn xin cấp giấy chứng
nhận theo phương thức điện tử (giấy chứng nhận EUR.1), và cung cấp tất cả các tài liệu
bắt buộc có liên quan. Gần đây, một số doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam bắt đầu ứng
dụng công nghệ thông tin như blockchain trong việc truy xuất nguồn gốc hàng nông sản
xuất khẩu. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trong truy xuất nguồn gốc hàng
hóa xuất khẩu cần được lan tỏa, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu nông, thủy sản.
Gần đây, các trang trại và công ty chế biến nông sản của Việt Nam ở các vùng Duyên hải,
Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc đã áp dụng công nghệ số
trong truy xuất nguồn gốc và kiểm sốt tồn bộ q trình sản xuất và chế biến. Họ đã thành
công trong việc đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu vào thị trường EU. Ngày càng có nhiều ví
dụ như thế này ở nhiều địa phương khác của Việt Nam và trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
14
EVFTA do đó khuyến khích và cũng là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp trong
nước tăng tốc chuyển đổi số. Các nhà nhập khẩu và người mua châu Âu đang đẩy mạnh
hơn các yêu cầu liên quan đến tiêu chuẩn lao động, môi trường sinh thái, tiêu chuẩn kỹ
thuật. Để tận dụng tối đa lợi ích mà EVFTA mang lại, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải
ngày càng trở nên hiệu quả hơn trong giao nhận, giao dịch điện tử liền mạch (chẳng hạn
như trên nền tảng thương mại điện tử), hợp đồng điện tử và các hoạt động hậu mãi số, v.v.
Người bán Việt Nam cần tuân theo phong tục và văn hóa kỹ thuật số của người mua ở EU.
Việc triển khai giao dịch điện tử vẫn là một thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu
Việt Nam. Việc thực hiện các quy định về giao dịch điện tử cần được đẩy mạnh hơn nữa.
Như là kết quả của Hiệp định Thương mại EVFTA, Chuyển đổi số sẽ diễn ra không
chỉ trong khu vực doanh nghiệp mà còn cả khu vực công. EVFTA thúc đẩy quản trị hiện
đại ở Việt Nam. Một chính phủ hiệu quả phụ thuộc vào cách lãnh đạo xây dựng một hệ
thống mạnh mẽ và phát huy vai trò của công nghệ thông qua chuyển đổi số và các dịch vụ
chính phủ điện tử. Người ta có thể mong đợi những biện pháp quyết liệt và mạnh mẽ của
Chính phủ Việt Nam trong những năm tới để tăng cường nỗ lực số hóa các dịch vụ công,
đặc biệt là dịch vụ cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và trong các lĩnh vực liên quan đến thương
mại, đầu tư, hải quan, thuế, giao nhận và các lĩnh vực khác
Hiệp định thương mại tự do sẽ có tác động đến sự đổi mới và sáng tạo của cộng đồng
doanh nghiệp Việt Nam, thông qua việc mang lại cơ hội mới tại thị trường châu Âu và cũng
như việc thực thi mạnh mẽ hơn các yêu cầu về quyền sở hữu trí tuệ. Một mặt, các doanh
nghiệp Việt Nam cần đổi mới hơn nữa để đáp ứng thị hiếu đa dạng và phức tạp của người
tiêu dùng EU, các ý tưởng kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ của họ sẽ được bảo vệ tốt hơn.
Sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong nền kinh tế kỹ thuật số và
EVFTA đang thúc đẩy điều đó. Trên thực tế, EVFTA đưa ra các tiêu chuẩn mới về thực
thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Nó sẽ đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên thực thi
quyền SHTT hiệu quả hơn. Các quy định cung cấp tài sản trí tuệ cũng sẽ được sửa đổi. Ví
dụ: EVFTA quy định trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) trong bối
cảnh vi phạm bản quyền. Nói chung, hiệp ước tập trung vào các giới hạn hoặc ngoại lệ đối
với các trách nhiệm pháp lý, về cơ bản khác với cấu trúc của luật trong nước hiện hành, đặt
ra các tình huống mà ISP phải chịu trách nhiệm (nói cách khác, ISP không chịu bất kỳ trách
nhiệm trong các tình huống khác với các tình huống được đề cập trong luật). Các quy định
hiện hành ở Việt Nam sẽ cần được sửa đổi để phản ánh yêu cầu này trong hiệp định.
EVFTA, ngay từ khi được đàm phán, đã thúc đẩy nhiều cải cách pháp lý, thúc đẩy
hiện đại hóa pháp luật ở Việt Nam và tăng cường hiệu lực thực thi. Một bộ máy lập pháp
và hành pháp hiện đại và hiệu quả hơn như vậy, cùng với các yếu tố khác nữa, sẽ góp phần
thúc đẩy q trình chuyển đổi số ở Việt Nam trong những năm và thập kỷ tới.
5. Kết luận
Việc nắm bắt được những quy định trong EVFTA về chuyển đổi số sẽ thúc đẩy việc
phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt trong quá trình hội nhập
quốc tế và tham gia vào các Hiệp đối tác song phương và đa phương như hiện nay. Hơn
nữa thị trường EU là một thị trường nhiều sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Việt Nam,
15
khi chúng ta vận dụng tốt những điều kiện và áp dụng tốt việc chuyển đổi số thì hiệu quả
kinh doanh và năng lực cạnh tranh của chúng ta sẽ được phát triển rất nhiều.
Tài liệu tham khảo
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16
Bộ Công Thương. Cục TMĐT và Kinh tế số. Báo cáo Thương mại điện tử 2021.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2021). Quyết định số 12/QĐ-BKHĐT phê duyệt chương
trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025.
Bộ Kế hoạch & Đầu tư; Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID). (2021). Tài
liệu Hướng dẫn chuyển đổi số cho doanh nghiệp tại Việt Nam.
By Google, Temasek and Bain. (October 2019). available at: https://www.b
log.google/documents/47/SEA_Internet_Economy_Report_2019.pdf
European Commission ( />an-digital- strategy)
European Commission. (2020). ho
mepage/85434/strengthening-eu-asean-partnership-urgent-necessity_en
IMF. (2018). Measuring the Digital Economy.
Investvietnam. New pacts augur high quality eu investment in Vietnam. Truy cập tại
/>Marcin Kotarba (Warsaw University of Technology, POLAND). (2018). Digital
transformation of business models, Foundation of Management, Vol. 10 ISSN20907279, p 123-146).
Ministry of Industry and Trade. (2020). />m%20and%20EU%20- %202100%20words%20-%20MOIT%20reviewed.pdf
Nicolai J. Foss (Bocconi University) & Tina Saebi (Norwegian School of
Economics). (2017). Fifteen Years of Research on Business Model Innovation: How
Far Have We Come, and Where Should We Go? (Journal of Management Vol. 43
No. 1, January 2017. p 200–227).
Swen Nadkarni · Reinhard Prüg. (2021). Digital transformation: a review, synthesis
and opportunities for future research.
Uỷ ban Châu Âu. (2019). dialogue-instrument-e-readi_bg
Vial, Gregory. (2019). Understanding digital transformation: A review and a
research agenda. The Journal of Strategic Information Systems. 28. 10.1016/ j.jsis.2
019.01.003.
Website:
/>netwo rks-content-and-technology_en.
/>(2019) 633171_EN.pdf
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NỀN KINH TẾ SỐ
TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Trường Đại học Hà Tĩnh
Tóm tắt
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số khá nhanh trong
khu vực ASEAN. Một trong những lực đẩy cho tốc độ phát triển cao đó là sự đầu tư cải
thiện mạnh mẽ cơ sở hạ tầng viễn thơng - cơng nghệ thơng tin, từ đó góp phần vào định
hình và phát triển nền kinh tế số trong nước nói riêng và trong khu vực nói chung. Trên
thực tế, kinh tế số có những đóng góp đáng kể trong sự hội nhập của các doanh nghiệp
vào chuỗi công nghệ toàn cầu. Tuy vậy, để đảm bảo cho sự phát triển an toàn, bền vững
của nền kinh tế số, địi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hồn thiện, không những phản
ánh đúng quy luật phát triển kinh tế của quốc gia, điều chỉnh hiệu quả các quan hệ kinh tế
- xã hội phát sinh mà còn phải phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế. Trong phạm vi
bài viết này, tác giả đề xuất một số định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật trong
lĩnh vực kinh doanh thương mại đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số.
Từ khoá: Kinh tế số, pháp luật kinh doanh thương mại
1. Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã và đang mang lại nhiều sự thay đổi cơ bản
về kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu. Kinh tế số mang lại nhiều cơ hội kinh doanh, giúp
cho doanh nghiệp không chỉ trong nước mà cả trên thế giới xích lại gần nhau hơn để hợp
tác trong sản xuất, kinh doanh. Sự thành cơng của các doanh nghiệp lớn trên tồn cầu như
Google, Apple, Amazon, Microsoft hay Alibaba đều có liên quan tới những nền tảng số,
kinh tế số. So với kinh tế truyền thống, kinh tế số có những ưu điểm nổi bật như: tăng
trưởng thương mại điện tử, thúc đẩy người dùng sử dụng internet và phát triển hệ thống
hàng hóa, dịch vụ kinh tế số. Ngồi ra, phát triển kinh tế theo định hướng kinh tế số còn
bảo đảm tính minh bạch - điều mà được nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm.
Nhờ đó, gián tiếp làm giảm lượng tiền tham nhũng thông qua các hoạt động trực tuyến
minh bạch, giúp kiểm soát nền kinh tế tốt hơn.
Tuy vậy, kinh tế số cũng luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro nếu mỗi quốc gia không
thiết lập được một cơ chế pháp lý phù hợp, hiệu quả. Để đảm bảo phát triển nền kinh tế
số, hệ thống pháp luật của các quốc gia trong đó có Việt Nam phải khơng ngừng được
sửa đổi, bổ sung hồn thiện để đảm bảo hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động kinh
doanh, thương mại.
Trong những năm vừa qua, cùng với sự gia nhập các Hiệp định thương mại quốc tế,
nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hòa nhập gần gũi với nền kinh tế thế giới. Hội nhập
17
đem lại cho chúng ta cơ hội tăng trưởng, phát triển trên nhiều mặt nhưng cùng với đó, sự
đa dạng trong xu hướng phát triển, vận động của nền kinh tế thế giới cũng đặt ra nhiều
thách thức đối với Việt Nam. Một trong số những vấn đề cấp thiết hiện nay đó là phải xây
dựng, hồn thiện hệ thống pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho thương nhân khi tham
gia đầu tư trên thị trường, trong bối cảnh kinh tế số với các phương thức giao dịch thương
mại điện tử đang ngày càng chiếm ưu thế.
Để đảm bảo cho sự phát triển nền kinh tế số Việt Nam, vấn đề cốt lõi là phải quán
triệt và thực hiện tốt quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc chủ động
tham gia, tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghệ 4.0, thúc đẩy phát triển
doanh nghiệp thông minh, phát triển nền kinh tế số trong tồn hệ thống chính trị và doanh
nghiệp, cần phải thể chế hố các chủ trương, đường lối đó thành hệ thống pháp luật hoàn
thiện, tiến bộ, phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế.
2. Nội dung
2.1. Sự phát triển kinh tế số ở Việt Nam và yêu cầu tất yếu hoàn thiện hệ thống
pháp luật kinh doanh - thương mại điều chỉnh nền kinh tế số
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nền kinh tế
số là bước phát triển tất yếu, phù hợp với xu thế khi nền kinh tế truyền thống đang dần
bão hoà. Trong nền kinh tế số, sức mạnh của một quốc gia được đo bằng sự phát triển
của cơng nghệ cao, thơng tin và trí tuệ con người. Vị trí, vai trị và tầm quan trọng của
nền kinh tế số đối với quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập đã được Đảng
và Nhà nước nhận thức một cách nhất quán, từ đó, nhiều chủ trương, giải pháp có liên
quan đến quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số đã được ban hành để định hướng sự
vận hành của thị trường.
Ngày 01/7/2014 Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy
mạnh phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc
tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản về vấn đề này như: Nghị quyết
số 41/NQ-CP ngày 26/5/2016 về chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy việc phát triển và ứng
dụng công nghệ thông tin; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 về tăng cường năng lực
tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Tháng 8/2018, Ủy ban Quốc gia về Chính
phủ điện tử được thành lập do Thủ tướng trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban.
Trước những đòi hỏi cấp thiết của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, phát triển kinh
tế số, nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước tiếp tục được ban hành để tạo cơ sở lý luận và
cơ sở pháp lý ngày càng vững chắc cho sự phát triển kinh tế số. Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 về định hướng xây
dựng chính sách phát triển cơng nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đặc biệt ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52/NQ-TW về một số
chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng cơng nghiệp 4.0. Tiếp đó, ngày
03/6/2020 Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình
Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".
18
Trên tinh thần đó, chúng ta đã nỗ lực xây dựng khung pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho
việc xây dựng và phát triển nền kinh tế số. Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật đã
được ban hành trước đó như Luật Giao dịch điện tử (2005), Luật Công nghệ thông tin
(2006), Luật Tần số vô tuyến điện (2009), Luật Các tổ chức tín dụng (2010)…, nhiều văn
bản quy phạm pháp luật quan trọng đã được xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung để cụ thể
hóa nội dung Nghị quyết số 36-NQ/TW, bao gồm: Luật Quản lý thuế (2016), Bộ luật Dân
sự (2015), Bộ luật Hình sự (năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật An ninh mạng
(2018), Luật Thương mại (2019), Luật Doanh nghiệp (2020), Luật Đầu tư (2020)… Đặc
biệt thời gian gần đây, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, hàng loạt văn bản quy
phạm pháp luật dưới luật đã được ban hành nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
luật trong một số lĩnh vực giao dịch điện tử nói chung và kinh tế số nói riêng.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số, hệ
thống pháp luật của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế cần phải khắc phục để bắt kịp
với đòi hỏi phải điều chỉnh một cách sát sao hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế số. Có
thể chỉ ra đây một vài bất cập sau:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo mật dữ liệu, bảo mật thông
tin khách hàng cịn nhiều điểm thiếu sót dẫn đến tình trạng chưa xử lý một cách kịp thời,
nghiêm minh đối với những chủ thể có hành vi đánh cắp thơng tin cá nhân nhằm chiếm
đoạt tài sản.
Thứ hai, hiện nay Việt Nam chưa xây dựng chiến lược toàn diện về phát triển kinh tế
số, chưa có những chính sách ưu đãi đồng bộ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp công nghệ số, công nghệ cao.
Thứ ba, các quy định của Luật Đầu tư hiện hành vẫn còn nhiều cứng nhắc, chưa phù
hợp với tình hình đầu tư của nhà đầu tư trong nền kinh tế số. Chẳng hạn như các quy định
mới về điều kiện kinh doanh trong Luật Đầu tư năm 2020 đã tạo ra những khó khăn nhất
định cho doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh, nhưng chưa được hướng dẫn thi hành cụ
thể. Những quy định của Luật Đầu tư công về điều chỉnh kế hoạch vốn hàng năm, về thẩm
quyền báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư còn nhiều bất cập. Một số quy định của Luật
Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cũng đang gây ra nhiều cách hiểu chưa
thống nhất về xác định các loại vốn, tài sản, sở hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài
sản của doanh nghiệp…
Thứ tư, các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ cịn thiếu sót, đặc biệt là quy định liên
quan đến việc bảo hộ dữ liệu; hiệu quả thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ còn hạn chế.
Thứ năm, các quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu rõ ràng,
trong khi đó Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết thi hành Luật
này cũng chưa có các quy định cụ thể về tiêu chí để xác định “danh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo có khả năng tăng trưởng nhanh”, vì vậy khơng có cơ sở để áp dụng thực hiện các
chính sách hỗ trợ đối với loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ khởi nghiệp sáng tạo.
Thứ sáu, cơ chế quản lý hành chính nhà nước hiện nay chưa hoàn toàn phù hợp với
nền kinh tế số, nhiều quy định pháp luật còn chồng chéo lên nhau, như Luật Đấu thầu, Luật
Nhà ở, Luật Đất đai… làm ảnh hưởng lớn đến việc triển khai các dự án đầu tư.
19