TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
TS. NGUYỄN VĂN THỤY (CHỦ BIÊN)
TS. NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG
Sách chuyên khảo
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG ĐIỀU KIỆN CUỘC
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
- NĂM 2019 -
1
ii
Lời mở đầu
Tồn cầu hố và tự do hố thương mại nhanh chóng trong những năm vừa qua
đã tạo ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường kinh tế quốc tế. Các công ty đa quốc gia
và xuyên quốc gia đã mở rộng lãnh thổ hoạt động của mình và ngày càng có nhiều
ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới. Năng lực cạnh tranh đóng vai trị vô cùng
quan trọng đối sự tồn tại của các ngân hàng. Nó giúp ngân hàng thương mại xác định
và khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Một ngân hàng thương mại năng lực
cạnh tranh mạnh và bền vững khơng những có được bản sắc riêng, khác biệt trong
lịng khách hàng mà đó cịn là rào cản để các đối thủ khó lịng bắt chước, từ đó gia
tăng hơn lợi thế cạnh tranh, giúp ngân hàng đứng vững trên thị trường hiện đang cạnh
tranh vô cùng gay gắt. Cuốn sách này sẽ giới thiệu và phân tích các vấn đề có liên
quan trong quản lý chiến lược và năng lực cạnh tranh. Các yếu tố cấu thành năng lực
cạnh tranh theo quan điểm dựa trên năng lực và tác động của nó đến kết quả kinh
doanh nhằm phác hoạ nên bức tranh về năng lực cạnh tranh dựa trên năng lực của
ngân hàng thương mại trong bối cảnh bùng nổ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Đối với hoạt động của các ngân hàng Việt Nam, cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 sẽ mang lại cơ hội cho việc ứng dụng cơng nghệ quản trị thơng minh bằng trí tuệ
nhân tạo và tự động hóa trong quy trình nghiệp vụ; đẩy nhanh tiến trình hướng tới mơ
hình chuẩn trong tương lai. Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng
Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, đầu tư mạnh mẽ vào một số công nghệ thành tựu
của CMCN 4.0 trong sản phẩm, dịch vụ, hoạt động và quản trị của mình nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động, gia tăng trải nghiệm khách hàng.
Hồn thành cuốn sách này, nhóm tác giả chân thành cảm ơn sự hỗ trợ giúp đỡ
của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Khoa học và
Công nghệ Ngân hàng, các nhà khoa học, lãnh đạo các chi nhánh ngân hàng thương
mại tại TP. Hồ Chí Minh trong q trình nghiên cứu và hồn thành tài liệu này. Cuốn
sách cũng khơng tránh khỏi những tranh luận và quan điểm, góc nhìn khác nhau của
các nhà nghiên cứu bởi trong lĩnh vực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh vẫn còn
nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn. Rất mong nhận được những ý
kiến góp ý đến nhóm tác giả để có thể hồn thiện hơn trong kho tàng tri thức đặc biệt
trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Trân trọng!
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
3
Danh mục Hình, Bảng và Biểu đồ
4.2.2.
4.1.
Phát triển thang đo và mơ hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
ngân
4.1.5.
5.1.6. Giải pháp nâng cao năng lực công nghệ của NHTM trong CMCN 4.0....149
1.1....................................................................................Các giải pháp vĩ mô
................................................................................................................ 152
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACBE
AIM
BP
CAMEL
CAR
CMCN
CBV
CFA
CFI
CIEM
COMPE
CTTC
CUSRE
EFA
FC
GFI
IO
IPSC
LEC
MAC
MC
MO
NHNN
NHTM
NHTMCP
NHTMQD
NHTMVN
OECD
OHRC
OSC
pc
Pvc
RBV
RMC
RMSEA
RQ
SEM
TLI
VRIN
VAMC
WTO
a
Adapt to changes of business enviroment
Australian Instituted of Management
Bank Peformance
Capital Adequacy, Asset quality, Management
competence, Earnings strength, Liquidity risk
Capital Adequacy Ratio
Cách mạng công nghiệp
Competence-based View
Confirmatory Factor Analysis
Comparative Fit Index
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
Competitor responsiveness
Cơng ty tài chính
Customer resposiveness
Exploratory Factor Analysis
Finacial capability
Goodness of Fit Index
Industrial Organization economic
Innovation Products-Services capability
Leadership capabilities
Marketing capabilities
Management capabilities
Market orientation
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại quốc doanh
Ngân hàng thương mại Việt Nam
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Organisational Human Rasource capabilities
Organizational service capability
Độ tin cậy tổng hợp
Tổng phương sai trích
Resources-based View
Risk management capability
Root Mean Square Error Approximation
Relationship quality
Structural equation modeling
Tucker & Lewis Index
Value, Rare, Inimitable, Non-substitutable
Vietnam Asset Management Company
Tổ chức thương mại thế giới
Cronbach’s Alpha
DANH MỤC HÌNH, BẢNG
5
6
CHƯƠNG 1
CẠNH TRANH TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG
CÔNG NGHIỆP 4.0
1.1.
Cách mạng công nghiệp 4.0 và những ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh
1.1.1.
Cách mạng công nghiệp 4.0
Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 (The Fourth Industrial Revolution)
đang được hình thành với đặc trưng là sự kết hợp các công nghệ giúp xóa nhịa ranh
giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học. GS Klaus Schwab (người Đức), Chủ
tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos, người đã đưa ra khái niệm cuộc CMCN 4.0 và
đó cũng là chủ đề chính của diễn đàn kinh tế lớn nhất thế giới năm 2016, khẳng định:
“Chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng công nghệ, công nghiệp làm thay đổi cơ
bản lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp. Xét về phạm vi, mức độ và
tính phức tạp, sự dịch chuyển này không giống với bất kỳ điều gì mà con người từng
trải qua". Nội dung của CMCN 4.0 là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và
ảo trên cơ sở vạn vật kết nối Internet và các hệ thống kết nối internet. Đặc trưng nổi
bật của cuộc CMCN 4.0 chính là khả năng kết nối.
Theo ông Klaus Schwab, tốc độ đột phá của Cách mạng Cơng nghiệp 4.0 hiện
“khơng có tiền lệ lịch sử”. Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước
đây, 4.0 đang tiến triển theo một hàm số mũ chứ khơng phải là tốc độ tuyến tính. Hơn
nữa, nó đang phá vỡ hầu hết ngành cơng nghiệp ở mọi quốc gia. Và chiều rộng và
chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản
xuất, quản lý và quản trị.
Chia sẻ tại hội thảo quốc gia “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn
đề đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiêng hệ thống pháp luật Việt Nam” được tổ chức
ngày 24.6.2019 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng cuộc cách mạng
Cơng nghiệp 4.0 có sức ảnh hưởng sâu rộng đến cấu trúc và các mối quan hệ trong
nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam cũng khơng phải là ngoại lệ. Đó là việc thay lao động
7
bằng tự động hóa, thay vốn bằng trí thức, dữ liệu, thay đổi tồn bộ mối quan hệ giữa
chính quyền với người dân, chủ thể trong nền kinh tế thông qua việc xóa bỏ cơ chế
trung gian, kết nối trực tiếp..., đặc biệt là thay đổi thói quen tiêu dùng, hành vi ứng xử
của tồn xã hội.
Cách mạng cơng nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ
giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất
hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và cơng nghệ thơng tin để tự động
hóa sản xuất. Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc
cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật
lý, kỹ thuật số và sinh học. Nó tạo điều kiện cho các “nhà máy thông minh” hay “nhà
máy số” và tiến tới “thành phố thông minh”. Tại đây, các hệ thống vật lý không gin ảo
sẽ giám sát các hoạt động và vận hành. Với Internet kết nối vạn vật, các hệ thống vật
lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực, và qua
Internet kết nối dịch vụ thì người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua
việc sử dụng các dịch vụ này.
1.1.2.
Những xu hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Tất cả các cuộc cách mạng đều được dẫn dắt bởi khoa học công nghệ. Các
cuộc cách mạng trước đây đều là hệ quả của tiến bộ khoa học công nghệ. Biểu tượng
của Cách mạng Cơng nghiệp 4.0 sẽ là robot có thể có trí tuệ tồn cầu, lấy kiến thức
của tất cả các robot để ứng xử với con người, vượt xa năng lực con người. Thực ra, về
bản chất đây là cụm từ đề cập đến những công nghệ đang phát triển hiện nay như: IOT
(Internet of things - Vạn vật kết nối), AI (Artifical Intelligence - Trí tuệ nhân tạo),
cloud computing (Điện toán đám mây), AR/VR (Thực tế ảo), Big Data (Dữ liệu lớn),.
và nhiều cơng nghệ khác, chưa có tiêu chuẩn xếp loại, được gán ghép vào nội dung
của Cách mạng Công nghiệp 4.0.
Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ diễn ra trên ba lĩnh vực chính gồm Cơng nghệ
Sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Cả ba lĩnh vực đều liên quan chặt chẽ với nhau và với
công nghệ khách để đem lại lợi ích cho nhau dựa vào những khám phá và tiến bộ của
từng nhóm.
-
về cơng nghệ sinh học: Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu
8
để tạo ra những bước nhảy vọt trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến
thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. Những
đổi mới trong lĩnh vực sinh học và di truyền thật sự vượt bậc. Hiện nay, các nhà
khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã đưa ra 5 xu hướng công nghệ
sinh học được quan tâm nhất: điện sinh học - giúp tế bào có thêm phản ứng
miễn dịch bẩm sinh, chống lại nhiễm trùng và thương tích; y học tái tạo - sử
dụng các liệu pháp tế bào gốc, kỹ thuật mô và các cơ quan nhân tạo để hồi
phục, sửa chữa hoặc thay thế các cơ quan hoặc mô bị hỏng; miễn dịch điều trị
ung thư - giúp hệ thống miễn dịch của con người nhận diện và tiêu diệt tế bào
ung thư; chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 - bắt chước cách mà vi khuẩn tự bảo vệ
chúng khỏi virus; sắp xếp trình tự RNA đơn bào để tìm ra nhiều loại tế bào
mới, chưa từng được biết đến trước đây.
-
về kỹ thuật số với những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số sẽ là: Trí tuệ nhân tạo,
Vạn vật kết nối, Dữ liệu lớn, điện tốn dam mây,...
+ Trí tuệ nhân tạo (AI): AI đang thay đổi thế giới và sự thay đổi này diễn ra
với tốc độ rất nhanh. Thế giới đang lo ngại về viễn cảnh máy tính trở nên thơng minh
đến mức có thể làm tất cả mọi việc tốt hơn và rẻ hơn con người. Các chuyên gia dự
đoán, chỉ mất khoảng 1 thập kỷ tới, AI sẽ làm tốt hơn con người trong một số việc như
dịch ngôn ngữ (đến năm 2024), viết các bài tập làm văn (đến năm 2026) và lái xe (đến
năm 2027). Một số công việc khác AI sẽ còn mất rất nhiều thời gian để cạnh tranh với
con người như trong lĩnh vực bán lẻ (đến năm 2031), viết ra một quyển sách bán chạy
nhất (đến năm 2049) và bác sĩ phẫu thuật (đến năm 2053). Những dự đốn này có thể
khơng tuyệt đối chính xác về mốc thời gian nhưng cũng không phải không có cơ sở.
+ Dữ liệu lớn: Cơng nghệ dữ liệu lớn liên quan tới việc xử lý khối lượng thông
tin khổng lồ để từ đó trích xuất ra được dữ liệu phù hợp nhằm tăng cường khả năng
đưa ra quyết dịnh. Phần lớn dữ liệu mới xuất hiện từ bây giờ cho tới năm 2020 sẽ
được tạo bởi máy tính chứ khơng phải con người trong q trình chúng tương tác với
nhau. Một trong những thách thức lớn nhất của dữ liệu là dung lượng của nó. Theo
ước tính, trong năm 2016 và 2017, lượng dữ liệu được tạo ra đã vượt quá lượng dữ
liệu được con người tạo ra trong hơn 5.000 năm trước đó. Thực tế cho thấy là với
dung lượng dữ liệu, tri thức được sản sinh với tốc độ và qui mơ chóng mặt như hiện
9
nay, kho tri thức, thông tin của nhân loại được tăng gấp đơi sau khoảng 1.5 - 2 năm.
Do đó, nhu cầu phân tích dữ liệu một cách hiệu quả là rất lớn. Trong 1-2 năm trở lại
đây, công việc phân tích dữ liệu (data analyst) là ngành nóng hổi nhất và có mức
lương đãi ngộ cao nhất tại Mỹ. Một số doanh nghiệp lớn trong ngành CNTT chỉ tập
trung vào cung cấp các dịch vụ liên quan tới việc xử lý và truyền tải dữ liệu. Đến
tháng 4/2019, các công ty công nghệ đứng đầu trong danh sách những cơng ty có có
vốn hóa lớn nhất thế giới như Microsoft (904,86 tỷ USD), Apple (895,67 tỷ USD),
Amazon (874,71 tỷ USD), Google (818,16 tỉ USD) và Facebook (475,73 tỷ USD) đều
nắm trong tay bộ dữ liệu về thông tin cá nhân và hành vi người dùng trên khắp thế
giới thông qua các dịch vụ “miễn phí” của họ như email, mạng xã hội, clip trực
tuyến... Những dữ liệu này vô cùng hữu ích cho Google và Facebook khi họ sử dụng
các phần mềm phân tích dữ liệu lớn, phát hiện hành vi và sở thích của người dùng để
từ đó định hướng các quảng cáo liên quan trực tiếp tới mỗi người. Khơng phải ngẫu
nhiên mà 2 tập đồn cơng nghệ này thay đổi toàn bộ thị trường quảng cáo trên thế
giới, chi phối tồn bộ ngành cơng nghiệp nội dung số hiện nay gây khó khăn cực lớn
cho những tập đồn truyền thơng, báo chí, xuất bản cũng như các kênh truyền hình nói
chung, truyền hình cáp nói riêng.
+ Điện tốn đám mây: Các ngành cơng nghiệp hiện nay đang chuyển dịch sang
giải pháp dựa trên các đám mây và xu thế này vẫn tiếp tục. Đây là công nghệ nền tảng
hỗ trợ các loại dịch vụ từ xa, đánh giá hiệu năng và nhiều lĩnh vực kinh doanh khác.
Công nghệ này tiếp tục phát triển mạnh trong giai đoạn tới do ngày càng nhiều dữ liệu
lưu trữ và chức năng tính tốn trên máy sẽ chọn giải pháp đám mây thay vì các hệ
thống tính tốn riêng lẻ. Tính đến tháng 3/2019, giám đốc điều hành và là nhà sáng lập
của Amazon, Jeff Bezos, trở thành người đầu tiên trên thế giới có số tài sản vượt
ngưỡng 13 tỉ USD, qua đó vượt Bill Gates của Microsoft (96,5), Mark Zuckerberg của
Facebook (62,3 tỉ USD) trở thành người giàu nhất thế giới. Điều đáng nói, cơng ty
Amazon khởi đầu với việc buôn bán sách online nhưng hiện tại công ty này chiếm tới
gần 30% thị phần cung cấp dịch vụ điện tốn đám mây tồn cầu (theo sau là Microsoft
với khoảng 10% thị phần);
+ Internet vạn vật: Đây là công nghệ quan trọng nhất trong các giải pháp thúc
đẩy CMCN 4.0. IoT là hệ thống các thiết bị tính tốn, máy cơ khí và số hóa, đối tượng
1
0
và con người có quan hệ liên kết với nhau. Mỗi thực thể sẽ được cấp một định danh
(ID - identifier) duy nhất và có năng lực truyền tải dữ liệu trên mạng mà không cần
tương tác với con người. Ví dụ, loại đồng hồ thơng minh (iWatch của Apple) mới xuất
hiện trên thị trường đã biến cổ tay của chúng ta thành nơi treo giữ điện thoại thông
minh với khả năng nhắn tin, nhận cuộc gọi... Các thiết bị này cũng tạo ra cuộc cách
mạng trong lĩnh vực sức khỏe.
Theo báo cáo của BI Intelligence, Internet of Things sẽ là thị trường thiết bị
lớn nhất trên thế giới và ước tính đến năm 2019, thị trường này sẽ gấp đôi quy mô thị
trường smartphone, PC, tablet, xe hơi kết nối và thị trường các thiết bị đeo bên người
cộng lại. loT sẽ mang lại 1,7 nghìn tỷ USD giá trị gia tăng cho nền kinh tế toàn cầu
vào năm 2019, bao gồm phần cứng, phần mềm, chi phí lắp đặt, dịch vụ quản lý, và giá
trị kinh tế tạo ra từ hiệu quả của loT. Thị trường thiết bị loT được ước tính và dự đốn
có khoảng 15,4 tỉ thiết bị vào năm 2015 và sẽ đạt 30,7 và 75,4 tỉ thiết bị lần lượt vào
các năm 2020 và 2025. Tổng giá trị thị trường này sẽ đạt khoảng 267 tỉ USD vào năm
2020. Lý do đầu tiên dẫn đến sự tăng trưởng ấn tượng về số lượng và quy mô thị
trường loT là sự xuất hiện của giao thức truyền thông trên mạng Internet mới thế hệ kế
tiếp với định dạng địa chỉ IPv6 cho phép một số lượng khơng giới hạn các thiết bị có
thể kết nối với mạng Internet. Theo lý thuyết, với dung lượng địa chỉ có được từ IPv6
chia trung bình cho tồn diện tích địa cầu, mỗi cm2 trên trái đất có thể được dùng để
chứa hàng trăm tỉ địa chỉ khác nhau cho thiết bị kết nối Internet. Trong khi với IPv4,
mạng Internet hiện nay chỉ hỗ trợ tối đa 4 tỉ thiết bị trên toàn thế giới. Lý do thứ hai
được khởi nguồn từ việc bốn nhà cung cấp dịch vụ và thiết bị mạng lớn nhất là Cisco,
IBM, GE và Amazon đều quyết định ủng hộ công nghệ IoT bằng cách thay đổi cấu
trúc mạng phù hợp, đơn giản hóa việc nối mạng một cách mạnh mẽ và giảm giá thành
thiết bị hạ tầng mạng. Lý do cuối cùng nằm ở tiềm năng mà “Cơng nghiệp Internet”
có thể đem lại cho tổng GDP tồn cầu được dự đốn ở mức 10 tới 15 nghìn tỉ USD.
Cisco cũng đưa ra dự đốn giá trị kinh tế tồn cầu được gia tăng do nền tảng “Internet
kết nối vạn vật” lên tới 19 nghìn tỉ USD và là sự gia tăng giá trị lớn nhất do một công
nghệ đem lại trong lịch sử loài người;
+ An ninh mạng trở thành một yêu cầu tối quan trọng khi con người chuyển từ
các hệ thống đóng sang các hệ thống dựa trên cơng nghệ kết nối như loT và điện toán
1
1
đám mây. An tồn bảo mật thơng tin và độ tin cậy của hệ thống đảm bảo sự thành
công của một qui trình sản xuất hiện đại được số hóa, tận dụng tất cả tính ưu việt của
mơi trường kết nối.
- về vật lý phát triển với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới
(graphene, skyrmions,...) và công nghệ nano.
+ Robot tự hành được dùng trong việc tự động hóa sản xuất trên nhiều lĩnh vực
khác nhau và dựa trên tính kết nối do IoT mang lại. IoT cho phép các thiết bị công
nghiệp và máy tính nói chuyện được với nhau. Vật liệu có thể được vận chuyển trên
tồn bộ mặt sàn nhà máy bởi các robot tự hành khi chúng tự tránh vật cản, phối hợp
theo từng tổ vận chuyển và xác định vị trí bốc dỡ hàng hóa theo thời gian thực. Thơng
qua máy chủ trung tâm, các robot có thể được điều phối một cách thơng minh và tự
động hóa cơng việc với cấp độ chưa từng có trong lịch sử. Một trong những ví dụ về
robot tự hành là máy bay không người lái (Unmanned Aerial Vehicle - UAV). UAV là
loại máy bay có thể được vận hành mà không cần đến phi công ngồi trong khoang lái.
UAV được sử dụng trong các nhiệm vụ có khả năng gây nguy hiểm lớn cho con
người. Gần đây UAV đã được khai thác cho các ứng dụng trong lĩnh vực thương mại,
khoa học, giải trí, nơng nghiệp. UAV được phát triển và dùng nhiều cho các mục đích
dân sự. Dự án về xe hơi tự hành của công ty Tesla gần đây cũng có những tiến bộ
đáng kể. Xe tự hành Tesla được phát triển có tám chiếc camera đặt quanh thân xe cho
phép quan sát được 360 độ với tầm nhìn khoảng 250m. Ngồi ra, Tesla cịn trang bị
một cảm biến sóng radar, 12 cảm biến siêu âm và bộ xử lý đồ họa Titan của hãng
Nvidia cho hệ thống tính tốn của xe nhằm tăng cường khả năng xử lý thơng tin.
Nước Nga cũng khơng nằm ngồi cuộc đua về công nghệ robot tự hành với việc triển
khai các dự án nghiên cứu và phát triển chiến binh robot. Mục đích tạo ra chiến binh
robot là nhằm thay thế quân đội trên chiến trường hay triển khai trong các tình huống
khẩn cấp có nguy cơ gây nổ, chất phóng xạ hay các điều kiện mà quân đội khó tác
chiến. Trong cuộc chạy đua vũ trang về chiến binh robot, ngồi Nga cịn có thể kể đến
hai siêu cường nữa là Trung Quốc và Mỹ;
+ Mô phỏng: Công nghệ mô phỏng các hệ thống cho phép đánh giá nhiều kịch
bản khác nhau. Qua đó các giải pháp với chi phí hợp lý được phát triển, kiểm tra và
thực thi một cách nhanh chóng để giảm chi phí và thời gian đưa sản phẩm vào thị
1
2
trường. CMCN 4.0 đặt ra bài toán phát triển và vận hành các hệ thống thông minh.
Trong các hệ thống này, các cấu phần sẽ được cải tiến và tối ưu hóa bởi các cấu phần
và dịch vụ sẵn có. Việc phát triển các sản phẩm này được thực hiện bằng các chuỗi
cung ứng ảo cùng với kỹ thuật kết nối mạng và hệ thống sản xuất. Khả năng thúc đẩy
hệ thống, để có được sự tích hợp số hóa một cách thuận lợi, chính là chìa khóa cho
việc thiết kế, sản xuất và vận hành sản phẩm thông minh. Do đó, sử dụng các kỹ thuật
mơ phỏng rất cần thiết để hỗ trợ tăng vòng đời của hệ thống. Nhiều khả năng trong
tương lai gần, phần lớn các hệ thống mô phỏng sẽ được thực hiện và vận hành ngay
trên mạng Internet. Một trong những ứng dụng của mô phỏng có thể kể đến Hệ thống
mơ phỏng trái đất ES (Earth Simulator) được chính phủ Nhật Bản tiến hành phát triển
và sử dụng. Hệ thống này được vận hành dựa trên một hệ thống các siêu máy tính
cùng chạy song song để mơ phỏng các mơ hình khí hậu tồn cầu nhằm đánh giá tác
động của biến đổi khí hậu và các vấn đề khác trong lĩnh vự vật lý địa cầu. Hệ thống
máy tính sử dụng cho ES từng là siêu máy tính có tốc độ nhanh nhất thế giới trong
khoảng thời gian 2002 - 2004. Gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc đại học Zurich đã
xây dựng và phát triển một chương trình mơ phỏng về vũ trụ lớn nhất từ trước tới nay
để tìm ra lời giải cho các vấn đề liên quan tới vật chất tối (là loại vật chất cơ bản tạo
nên mọi vật chất khác trong vũ trụ). Vũ trụ được mô phỏng chứa tới 25 tỉ thiên hà ảo.
Chương trình mơ phỏng được bắt đầu với 2 nghìn tỉ hạt vật chất tối và cách thức
chúng kết hợp với nhau trong vũ trụ giả lập. Mơ hình vũ trụ giả lập này sẽ được sử
dụng cho tàu vũ trụ Euclid, sẽ được phóng vào năm 2020 để chụp ảnh hàng tỉ thiên hà
và đo độ lệch của ánh sáng gây ra bởi lực hấp dẫn của chất tối. Chương trình mơ
phỏng giúp phác thảo nên các thơng tin có thể được Euclid thu thập được, giúp các
nhà khoa học có hình dung và chuẩn bị trước cho các sự kiện sẽ diễn ra;
+ Thực tại tăng cường: Đây là công nghệ cho phép con người tích hợp và
tương tác với các hệ thống một cách hiệu quả thông qua thông tin thời gian thực. Ví
dụ, cơng nhân trong nhà máy có thể được đào tạo với công nghệ mô phỏng và cận
cảnh 3D về trang thiết bị, cơ sở vật chất của nhà máy. Tháng 4 năm 2013, Google đã
trình làng một sản phẩm trơng giống như kính mắt nhưng có khả năng hiển thị thông
tin như một chiếc điện thoại di động. Người dùng khơng cần dùng tay mà có thể giao
tiếp, đưa ra lệnh điều khiển tới thiết bị được gọi là Google Glass này bằng giọng nói.
Google Glass được tích hợp chức năng chụp ảnh và quay video có độ phân giải cao.
1
3
Một sản phẩm thực tại tăng cường khác được Microsoft phát triển là kính thực tế ảo
HoloLens. HoloLens cho phép người dùng nhìn thấy, đặt các hình ảnh ảo lên không
gian và tương tác trực tiếp với chúng nhằm tăng cường trải nghiệm sử dụng. Thiết bị
này còn cho phép trình chiếu các vật thể ba chiều lên bức tường hay đồ đạc. Tính năng
này đang được phát triển để có thể áp dụng cho điện thoại thơng minh hay máy tính.
HoloLens hoạt động dựa trên những cơ chế đặc biệt nhằm định hình mơi trường xung
quanh và chuyển động của cơ thể. Kính thực tế ảo này có một loạt các cảm biến để
nhận dạng cử chỉ ngón tay và sử dụng thông tin này để tạo ra những hình ảnh mà
người dùng quan sát được. Camera cũng đóng vai trị xác định vị trí của vật thể để vi
xử lý thực hiện chức năng “ghi đè” hình ảnh ảo lên thế giới thực và hiển thị lên màn
hình của kính. Chức năng này cho phép người dùng tương tác trực tiếp với hình ảnh
quan sát được;
+ Tích hợp hệ thống: Hầu hết các hệ thống hiện nay đang tự động hóa một
cách riêng biệt và gặp khó khăn trong tương tác với nhau. Các tiêu chuẩn kỹ thuật và
kiến trúc mở hỗ trợ sự thuận lợi trong trao đổi thông tin tới cả tổ chức và cá nhân. Các
ngơn ngữ tiêu chuẩn chung phục vụ q trình tương tác, trao đổi dữ liệu... cần được
xây dựng hỗ trợ q trình tích hợp hệ thống;
+ Cơng nghệ in 3D: tiếp tục có vai trị quan trọng cho những ứng dụng lơ nhỏ
hoặc sản phẩm tùy biến theo sở thích từng cá nhân. Kỹ thuật này được dùng trực tiếp
với khách hàng và nhà cung cấp để cải tiến thiết kế, tăng hiệu quả, độ linh hoạt và giá
thành.
Có thể nói rằng CMCN 4.0 là sự hội tụ của các cơng nghệ số mang tính đột
phá, làm thay đổi lĩnh vực sản xuất ngoài sức tưởng tượng, thúc đẩy bởi dung lượng
dữ liệu khổng lồ, sự tích hợp và tính kết nối giữa các hệ thống, sự xuất hiện của những
kỹ thuật phân tích dữ liệu và năng lực xử lý bí quyết/tình báo doanh nghiệp tiên tiến,
các phương pháp học máy, sự cải tiến truyền tải mệnh lệnh dưới dạng số vào thế giới
thực.
1.1.3.
Những thách thức và cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối
với doanh nghiệp Việt Nam
ì.1.3.1. Những thách thức của cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0
1
4
Theo nhận định của Công ty ReedTradex (Thái Lan), việc áp dụng thành tựu
của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ giúp doanh nghiệp (DN) sản xuất công nghiệp
của Việt Nam giảm 3,6% chi phí hoạt động và tăng hiệu suất 4,1% trong một năm.
Quan trọng hơn, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hướng phát triển dựa trên nền
tảng số hóa và kết nối, có quy mơ tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống kinh tế
- xã hội, làm thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất trong tương lai, có thể giúp
Việt Nam đẩy nhanh sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, Việt Nam
hiện cũng đang phải đối mặt với khơng ít rào cản, cụ thể:
Một là, rào cản trong xây dựng chính sách. Hoạch định chính sách trước những
tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là thách thức phổ biến với hầu hết các
quốc gia, không chỉ riêng Việt Nam. Hai yếu tố quan trọng trong cuộc cách mạng
công nghiệp lần này là internet và công nghệ số cho phép tạo ra những giá trị số hóa,
phương thức giao dịch chưa từng có trong lịch sử (chẳng hạn như quản lý như thế nào
đối với tiền điện tử Bitcoin, dịch vụ vận chuyển Grap, Uber, ...).
Thực tế này cho thấy, chính sách và pháp luật đã khơng theo kịp với sự phát
triển của công nghệ. Những tài sản “mới” xuất hiện giờ đây không thể được quản lý
theo phương thức truyền thống mà cần có những chính sách và hành lang pháp lý mới.
Nếu các khuôn khổ pháp lý khơng hồn thiện và khơng thể bắt kịp với sự phát triển
nhanh của cơng nghệ số nói riêng và cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 nói chung, thì
sẽ ảnh hưởng đến sự sáng tạo và phát triển của cộng đồng DN.
Hai là, nhận thức và sự quan tâm của cộng đồng DN về cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 còn hạn chế. Một khảo sát mới đây được thực hiện với 2.000 DN thuộc
Hiệp hội DNVVV Hà Nội cho thấy, có đến 79% DN trong số này trả lời chưa chuẩn bị
cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; 55% DN cho biết đang tìm hiểu, nghiên cứu,
19% DN đã xây dựng kế hoạch, và chỉ có 12% DN đang triển khai các biện pháp ứng
phó. Đối với các DN không quan tâm đến cuộc cách mạng 4.0, 67% DN cho biết, họ
không thấy liên quan và ảnh hưởng nhiều đến DN; 56% cho rằng lĩn h vực hoạt động
của DN không bị tác động nhiều; 76% DN cho rằng chưa hiểu rõ bản chất cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0.
rCh CMC CORPORATION Thực trạng qua khảo sát nhanh các tổ chức DN
Nội dung khảo sát
Tác động cùa cuộc
CMCN 4.0 tới DN
Chi tiết
1 Tỷ trọng DN đánh giá
Lớn
Bình thường
55%
23%
1
5
Chiến lược triền khai
Nguyên nhân DN không
quan tám tới CMCN 4.0
ít
11%
Khơng tác động
Khơng biết
10%
6%
Chưa làm gi
79%
Đang tìm hiểu
55%
Đã cỏ kế hoạch
19%
Đang triển khai
12%
DN cảm thấy không liên quan và ảnh hưởng
67%
Lĩnh vực hiện tại không bị tác động
Chưa hiểu rõ bản chất CMCN 4.0
56%
76%
Chưa có nhu cằu quan tâm
54%
Hình 1.1. Nhận thức của doanh nghiệp về CMCN 4.0
Trong khi đó, có đến 54% khẳng định “chưa có nhu cầu quan tâm”. Kết quả
này phần nào khẳng định, nhận thức và sự quan tâm của cộng đồng DN vẫn còn hạn
chế. Thực tế khảo sát, thăm dò của tác giả cũng cho thấy, nhiều DN vẫn chưa hiểu
cuộc cách mạng này sẽ tác động như thế nào đến họ.
Ba là, rào cản về đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin. Trong những
năm qua, dù cộng đồng DN đã nỗ lực đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin
vào hoạt động sản xuất kinh doanh, song thực tế vẫn chưa được như kỳ vọng. Khảo
sát năm 2016 của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin tại các DN xuất
nhập khẩu cho thấy, mới chỉ có 32% DN đã thiết lập quan hệ kinh doanh với đối tác
nước ngoài qua kênh trực tuyến, 11% tham gia các sàn thương mại điện tử và 49% có
website (Báo cáo chỉ số thương mại điện tử 2017, Bộ Công Thương).
về mặt hạ tầng công nghệ, hiện chỉ có các ngân hàng có tiềm lực tài chính và
tiên phong trong đầu tư cơ sở hạ tầng và ứng dụng mạnh mẽ cơng nghệ tin. Trong khi
đó, phần lớn các DN có quy mơ vừa và nhỏ nên chưa thực sự quan tâm.
ì.1.3.2. Cơ hội của doanh nghiệp trong thời đại CMCN 4.0
Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để thực hiện khát vọng xây dựng
quốc gia thịnh vượng, hùng cường nếu có thể ứng dụng một cách hiệu quả công nghệ
lõi của CMCN 4.0 như Internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, cơng
nghệ chuỗi khối, điện tốn đám mây... nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã
hội. Những công nghệ tiên tiến cùng với chất lượng nguồn nhân lực, năng lực thể chế
sẽ quyết định tăng trưởng trong dài hạn, là chìa khóa để giúp Việt Nam phát triển đột
phá, vượt qua được bẫy thu nhập trung bình. Đứng trước cơ hội này, thời gian qua
Việt Nam đã có một số thành cơng đáng khích lệ. Theo đó, chỉ số đổi mới sáng tạo
toàn cầu của Việt Nam liên tục tăng, dẫn đầu nhóm quốc gia tăng trưởng trung bình.
1
6
Việt Nam cịn nằm trong top 10 quốc gia có tỷ lệ dân số dùng Internet cao trên thế
giới. Tỷ lệ người dân dùng Internet tại Việt Nam là 66%, trong khi đó ở Châu Á, tỷ lệ
này mới chỉ đạt 48%. Việt Nam cũng đứng thứ 4 ASEAN về tốc độ Internet, chỉ sau
Thái Lan, Singapore và Malaysia, đứng thứ 3 ASEAN về tỷ lệ người dùng điện thoại
thông minh, đứng thứ 2 ASEAN về tốc độ tăng trưởng về thanh toán qua điện thoại di
động. Những cơ hội này đem lại lợi thế cho các doanh nghiệp khi chuẩn bị đón nhận
xu hướng của thời đại và sẽ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tham gia vào
chuỗi cung ứng toàn cầu thuận tiện hơn, đồng thời giảm thiểu chi phí hậu cần và giao
dịch.
- Đối với ngành bán lẻ. Những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp
(CMCN) 4.0 mở ra muôn vàn cơ hội cho các nhà bán lẻ Việt Nam trong việc mở rộng
quy mơ thị trường, giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh với các nhà bán lẻ
nước ngoài. Chia sẻ tại Hội thảo “Nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt trong sản
xuất và lưu thơng hàng hóa trước tác động cuộc CMCN 4.0” ngày 29/11/2018 tại Hà
Nội, ông Trần Duy Đông, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Cơng Thương)
cho biết, ngành bán lẻ đóng vai trị quan trọng trong chuỗi lưu thơng hàng hóa và dịch
vụ tiêu dùng của xã hội. Trước sự phát triển của CMCN 4.0 đã mang lại nhiều cơ hội
cho ngành bán lẻ của Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp bán lẻ nói riêng thơng
qua áp dụng những cơng nghệ mới, tích hợp kênh bán lẻ trực tuyến và cửa hàng, mang
lại trải nghiệm mua sắm thú vị và độc đáo cho người tiêu dùng. Một trong những
thành tựu nổi bật của CMCN 4.0 là sự phát triển của thương mại điện tử, hứa hẹn triển
vọng tích cực mở ra cơ hội cho ngành bán lẻ Việt Nam. Bởi thương mại điện tử là yếu
tố quan trọng để hình thành mơ hình bán hàng đa kênh - một mơ hình kết hợp giữa
bán hàng trực tuyến và trực tiếp tại cửa hàng để thu hút khách hàng và tăng khả năng
cạnh tranh.
-
Đối với lĩnh vực thương mại, cuộc CMCN 4.0 này trước hết giúp giảm đáng kể
chi phí giao dịch, vận chuyển. Đối với lĩnh vực đầu tư, với bản chất của cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ là mảng đầu tư trở nên hấp dẫn
và đầy tiềm năng nhất của các nhà đầu tư trong thời gian tới, đặc biệt là công
nghệ số và Internet. Song cuộc cách mạng này cũng có thể tạo ra sự bất công
lớn hơn, đặc biệt là gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa
1
7
thay thế con người trong toàn bộ nền kinh tế, người lao động sẽ bị dư thừa và
điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi nhuận so với đồng vốn và lợi
nhuận so với sức lao động. Trong khi sự đổi mới công nghệ thường dẫn đến
năng suất cao hơn và thịnh vượng hơn thì tốc độ thay đổi cũng sẽ tạo ra một áp
lực lớn do sự dịch chuyển của nguồn lực lao động. Người lao động tại các nhà
máy trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ có những việc làm
mới với các yêu cầu khác và trong một môi trường làm việc hay cách tổ chức
khơng cịn giống như hiện nay.
-
Đối với thị trường tài chính, CMCN 4.0 có thể tạo ra lợi thế và cơ hội tiếp thu
và ứng dụng kết quả công nghệ vào vận hành, quản lý và phát triển thị trường
tài chính. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), CMCN 4.0
hiện nay mới chỉ trong giai đoạn sơ khai và nếu biết tận dụng, nắm bắt cơ hội,
Việt Nam không “bị hẫng” trong quá trình tiếp cận và nhập cuộc với xu thế
mới này. Nó cũng góp phần lành mạnh hóa thị trường tài chính. Theo đó, một
khi các nội dung cơng việc không cần đến sự tham gia của con người mà thay
vào đó được thực hiện nhờ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các kỹ thuật phân
tích mới sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, quy chuẩn hóa và tự động hóa việc
cung cấp các báo cáo chuyên sâu về tài chính và phi tài chính (EY, 2017).
1.2.
Xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại trong cuộc
cách mạng 4.0
Sự phát triển mạnh mẽ của CMCN 4.0, các ngân hàng có nhiều cơ hội tiếp cận
và mở rộng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phù hợp đến những người dân
hiện chưa có tài khoản ở vùng sâu, vùng xa với chi phí hợp lý... Trước bối cảnh
CMCN 4.0, các ngân hàng Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, đầu tư mạnh mẽ vào
một số công nghệ thành tựu của CMCN 4.0 trong sản phẩm, dịch vụ, hoạt động và
quản trị của mình. Nổi bật nhất là việc triển khai thực tế các công nghệ số nền tảng
như: Điện tốn đám mây, Phân tích dữ liệu lớn, Trí tuệ nhân tạo, các ứng dụng, giải
pháp như xác thực sinh trắc học, trao đổi dữ liệu mở qua giao diện chương trình ứng
dụng (open API)... nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng trải nghiệm khách
hàng. Đặc biệt tác động trên hai góc độ chính đó là mơ hình tổ chức, quản trị tại các
1
8
ngân hàng thơng qua sự xuất hiện của trí thơng minh nhân tạo và tác động kênh phân
phối, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống.
Thứ nhất, mơ hình ngân hàng số hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ thông
qua các thiết bị số kết nối với các phần mềm máy tính qua mơi trường mạng Internet
trên thực tế đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống của ngân hàng.
CMCN 4.0 cũng sẽ tạo ra những bước tiến mới trong thay đổi cách giao tiếp và xử lý
nghiệp vụ thông qua tương tác và giao tiếp điện tử.
Trí thơng minh nhân tạo đang là trọng tâm phát triển của rất nhiều công ty cơng
nghệ lớn trên thế giới, trong đó có Google. Trong tương lai gần, AI sẽ dần trở nên
hoàn thiện; thậm chí về một số mặt nào đó có thể thơng minh và chính xác hơn con
người. Các ngân hàng có thể ứng dụng AI trong việc quản lý danh mục rủi ro, quản lý
khách hàng, quản lý cơ sở dữ liệu. Với khả năng tự học hỏi và thích nghi, tiềm năng
của AI là không giới hạn trong các ứng dụng, vì vậy, yêu cầu đặt ra với ngành Ngân
hàng trong tương lai là nắm bắt được xu hướng, ứng dụng cách làm việc và kiểm soát
AI để đảm bảo hoạt động ngân hàng diễn ra an toàn, hiệu quả.
Với hạ tầng viễn thông ngày càng phát triển, các cuộc đàm thoại đang có xu
hướng thành các cuộc gọi hình ảnh (video-call) với mức độ ổn định và chất lượng
ngày càng tăng. Do đó, cơng việc chăm sóc khách hàng tại các ngân hàng cũng có thể
sẽ địi hỏi thêm những kỹ năng làm việc từ xa qua video-call. Trong tương lai xa, cơng
nghệ thực tế ảo (virtual-reality) và hình ảnh 3 chiều (holography) sẽ có thể thay thế
hồn tồn cách giao tiếp của con người. Các cuộc gọi 3D như trong các bộ phim viễn
tưởng có thể sẽ khơng cịn xa vời nữa.
Thứ hai, CMCN 4.0 có thể sẽ làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống. Hiện nay, điện thoại thông minh đã thay
đổi cách con người giao tiếp và tương tác, kéo theo sự thay đổi trong kênh phân phối,
mạng lưới bán hàng và cách thiết kế sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng. Các dịch vụ
ngân hàng qua Internet, Mobile, mạng xã hội, phát triển ngân hàng số và giao dịch
không giấy tờ sẽ là xu thế phát triển mạnh. Trải nghiệm khách hàng sẽ là xu hướng
vượt trội, ở một số nước phát triển, kể cả các nước đang phát triển đã xuất hiện ngày
càng nhiều “ngân hàng khơng giấy”. Trước kia, q trình thẩm định khách hàng được
thực hiện một cách thủ công, qua nhiều bước và tốn kém thời gian. Các hồ sơ vay vốn
1
9
hoặc khoản thanh tốn từ khi đệ trình tới khi được phê duyệt có thể phải trải qua nhiều
cuộc họp kéo dài trong nhiều ngày. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của cơng nghệ lưu trữ và
phân tích dữ liệu, ngân hàng có thể nhanh chóng so sánh, đánh giá tín dụng đối với
khách hàng. Việc áp dụng cơng nghệ Big Data và AI giúp một số ngân hàng giảm thời
gian thẩm định khách hàng từ nhiều ngày xuống chỉ cịn vài phút. Mạng lưới dữ liệu
liên kết và cơng nghệ nhận diện danh tích khách hàng thơng qua các trang mạng xã
hội thậm chí cịn có thể giúp ngân hàng xác định được khách hàng đang ở đâu, làm gì
và có các mối quan hệ nào. Điều này giúp quá trình quản lý sau giải ngân trở nên hiệu
quả hơn. Các ngân hàng cũng áp dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn để lựa chọn vị
trí thuận lợi nhất khi mở chi nhánh mới.
Nhờ ứng dụng chuyển đổi kỹ thuật số, các sản phẩm của ngân hàng có thể tích
hợp được với nhiều sản phẩm dịch vụ phụ trợ để làm hài lòng khách hàng. Việc áp
dụng các nguyên tắc của CMCN 4.0, các vấn đề như giao diện lập trình ứng dụng
(API), phân phối liền mạch hay phân tích thơng minh sẽ là xu hướng ứng dụng phổ
biến trong hoạt động phát triển sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm có hàm lượng cơng
nghệ cao của các ngân hàng. Ngồi ra, dữ liệu lớn và phân tích hành vi khách hàng
cũng đang trở thành xu hướng tương lai trong thời đại công nghệ số, nhờ vào việc
công nghệ hỗ trợ có thể thu thập dữ liệu bên trong và bên ngồi thơng qua tổ chức
phân tích hành vi khách hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại giá trị gia
tăng, góp phần tiết giảm chi phí và hỗ trợ cho các q trình ra quyết định.
Ngân hàng hợp kênh mang lại sự đồng bộ và liền mạch trên tất cả các kênh
giao dịch, dẫn đến hành trình giao dịch của khách hàng ln được xun suốt và đồng
nhất. Ví dụ cho điều này là khi bạn đang thực hiện một giao dịch trên điện thoại
nhưng bị gián đoạn, bạn vẫn có thể thực hiện tiếp tục giao dịch đó trên máy tính hoặc
trực tiếp tại quầy giao dịch mà không cần phải làm lại từ đầu. Ví dụ như Ngân hàng
thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank) với ngân hàng tự động LiveBank, Ngân
hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) với ứng dụng ngân hàng số Timo, Ngân hàng
Phương Đông Việt Nam (OCB) với chiến lược chuyển đổi ngân hàng số Omnichannel, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) với
không gian ngân hàng số Digital Lab, Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương
Việt Nam (Vietinbank) với corebank thế hệ mới và kho dữ liệu doanh nghiệp (EDW)
2
0
hiện đại, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB) với ứng dụng trở lý ảo
ChatBot phục vụ 24x7 trên mạng xã hội... Nhờ sự đồng bộ hóa, khách hàng có thể sử
dụng sản phẩm, thực hiện giao dịch bất kỳ thời điểm nào, trên bất kỳ kênh nào mà họ
cảm thấy phù hợp nhất. Hệ thống “siêu” kết nối trên các kênh kỹ thuật số, mạng xã
hội giúp các ngân hàng có được các số liệu quý giá về sở thích, nhu cầu qua tương tác
đa kênh của khách hàng. Từ đó, dễ dàng có được bức tranh tổng quan về những điều
mà họ quan tâm để cung cấp sản phẩm và dịch vụ đúng như mong đợi từ khách hàng.
Công nghệ phát triển kéo theo những vấn đề liên quan đến bảo mật cho nên ứng dụng
nào càng bảo mật sẽ càng được khách hàng tin dùng. Chính vì vậy, nền tảng hợp kênh
hay Omni-Channel đã trở thành nền tảng phát triển chiến lược của ngân hàng trên thế
giới và được khách hàng tin dùng vì nó thấu hiểu được nhu cầu của khách hàng và đáp
ứng được những kì vọng mà họ mong muốn.
Hiện nay, các ngân hàng tại Việt Nam vẫn đang cố tìm kiếm sự khác biệt từ các
sản phẩm đa kênh cũng như các gói sản phẩm dịch vụ khác nhau. Việc tạo hướng đi
riêng cũng như tiếp thu xu hướng thế giới là điều cần thiết đồng thời nhu cầu của
khách hàng đang ngày càng đòi hỏi nhiều hơn về cái “ngân hàng chưa có”, tức là họ
muốn trải nghiệm đồng nhất và liền mạch các giao dịch, muốn vấn đề bảo mật tốt hơn
và đặc biệt muốn được cung cấp những sản phẩm liên quan đến nhu cầu cá nhân thông
qua hành vi thường ngày. Cho nên, bắt buộc các ngân hàng cần phải chuyển mình để
phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.
Thứ ba là sự tiến hóa của tiền tệ, Bitcoin là cú shock làm thay đổi hoàn toàn
khái niệm về tiền tệ và đe dọa sự tồn tại của các ngân hàng trung ương. Mặc dù hiện
tại giá Bitcoin cũng như các loại tiền mật mã khác đang sụt giảm mạnh so với mức
đỉnh tạo lập được hồi đầu năm 2018, nhưng ý tưởng về Bitcoin đã giúp hiện thực hóa
lý thuyết về một hệ thống tiền tệ phi tập trung mà nhà kinh tế học nổi tiếng Hayek
từng đề xuất trong thế kỷ trước. Tuy nhiên, với ý tưởng về Bitcoin, chúng ta đang ở
một bước ngoặt lịch sử phát triển tiền tệ. Các đồng tiền phi tập trung được kiểm sốt
bởi chính những người tham gia giao dịch mà không thông qua trung gian. Quy mô
nguồn cung tiền cũng tự động tăng lên theo quy mô các giao dịch trong nền kinh tế.
Khi đó, các ngân hàng trung ương, thậm chí là các ngân hàng thương mại với vai trị
trung gian thanh tốn bù trừ sẽ khơng cịn cần thiết. Đó là quan ngại của bà Christine
Lagarde, Giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, trong Hội nghị về Fintech tổ
2
1
chức tại Singapore hồi giữa tháng 11/2018.
Thư tư là xu hướng ứng dụng Blockchain trong giao dịch ngân hàng.
Blockchain là một công nghệ cho phép truyền tải dữ liệu một cách an tồn dựa vào hệ
thống mã hố vơ cùng phức tạp, tương tự cuốn sổ cái kế toán của một công ty, nơi mà
tiền mặt được giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp này, blockchain là một cuốn sổ cái
kế toán hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật số. Blockchain sở hữu tính năng đặc biệt đó
là việc truyền tải dữ liệu khơng địi hỏi một trung gian để xác nhận thông tin.
Blockchain sẽ giúp tăng tốc độ, giảm tính phức tạp và hạ chi phí cho khâu thanh toán.
Hệ thống blockchain tồn tại rất nhiều nút độc lập có khả năng xác thực thơng
tin mà khơng địi hỏi “dấu hiệu của niềm tin”. Thông tin trong blockchain không thể
bị thay đổi và chỉ được bổ sung thêm khi có sự đồng thuận của tất cả các nút trong hệ
thống. Đây là một hệ thống bảo mật an toàn cao trước khả năng bị đánh cắp dữ liệu.
Ngay cả khi một phần của hệ thống blockchain sụp đổ, những máy tính và các nút
khác sẽ tiếp tục bảo vệ thông tin và giữ cho mạng lưới tiếp tục hoạt động. Các nhà
phân tích cũng nhấn mạnh rằng, các ngân hàng trên toàn thế giới sẽ tiết kiệm được 20
tỷ USD vào năm 2022 nhờ áp dụng công nghệ blockchain. Một số nhà phân tích tài
chính tin rằng, trong tương lai không xa, blockchain sẽ thay thế các hệ thống chuyển
khoản ngân hàng hiện tại.
Một ứng dụng nữa mà blockchain mang đến cho các ngân hàng đó là hệ thống
nhận diện khách hàng dựa trên sổ cái phân tán. Điều này thực sự hiệu quả vì tất cả các
ngân hàng, tổ chức tín dụng đều phải có quy trình xác thực KYC (Know Your
Customer). Blockchain cho phép người dùng xác minh danh tính chỉ bằng một bước
đơn giản và thơng tin này được lưu trữ và được cấp quyền cho các ngân hàng khác
trong hệ thống. Các hoạt động tài chính và ngân hàng có liên quan trực tiếp đến việc
bảo đảm tiền gửi và cho vay. Nhưng tại một số ngân hàng lớn hiện nay trên thế giới,
việc đảm bảo vẫn chưa chắc chắn.
Như vậy, tốc độ phát triển của khoa học công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc
ngành tài chính nói chung cũng như các ngân hàng thương mại nói riêng. Trước yêu
cầu cấp bách, một số ngân hàng đã chấp nhận thay đổi và tìm kiếm cách thức phù hợp
để theo kịp xu hướng. Những ngân hàng tin rằng các bản chất cổ điển của ngân hàng
vẫn chưa bị tác động rất có thể phải chịu hậu quả chưa thể lường trước được trong
2
2
tương lai gần.
Tài liệu tham khảo
Bùi Quang Tiên, (2017). Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với
ngành Ngân hàng Việt Nam và cơ hội, thách thức đối với lĩnh vực thanh toán.
www.sbv.gov.vn
Đặng Xuân Tâm, (2017). Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
đến nền kinh tế thế giới, cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập quốc tế của
Việt Nam. Phó trưởng phịng đám phán, Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập
kinh tế quốc tế.
CMC Corporation, (2017). Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Đề xuất hợp tác
với Viện/Trường đại học. www.cmc.com.vn
Cấn Văn Lực, (2019). Cơ hội, thách thức và giải pháp đối với hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam, (2019). Banking Việt Nam 2019 - Tài chính
tồn diện trong xu thế phát triển của nền kinh tế không dùng tiền mặt.
Nghiêm Xuân Thành, (2019). Ngân hàng với những thách thức CMCN 4.0.
Tạp chí ngân hàng. Số 2-3/2019.
Nghiêm Xuân Thành, (2017). Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và sự chuẩn bị
của ngành Ngân hàng Việt Nam. Tạp chí tài chính. Số 2.2017.
Nguyễn Trường Thắng, Hà Thị Hồng Vân, Nguyễn Thế Hồng Anh, Trần
Mạnh Đơng, (2017). Các cơng nghệ nền tảng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ 4 và đối sách của các nước trên thế giới. Viện công nghệ thông tin. Viện hàn lâm
Khoa học và công nghệ Việt Nam
Nguyễn Trường Thắng, Trần Mạnh Đông, Nguyễn Thế Hồng Anh, (2017).
Cách mạng cơng nghiệp lần thứ 4: Cơ hội và thách thức trong lĩnh vực tự động hóa.
Viện công nghệ thông tin. Viện hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam.
Viện nghiên cứu kinh tế trung ương, Trung tâm thông tin-Tư liệu (2018), Tác
động cách mạng công nghiệp 4.0 đến phát triển nguồn nhân lực Việt Nam. Chuyên đề
số 10/2018
Trần Minh Tâm, (2017). Tìm hiểu về cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0. Tạp chí
Khoa học đại học Văn Lang. (6). 34-40.
2
3
CHƯƠNG 2
NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ XU HƯỚNG TIẾP CẬN
2.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
2.1.1.
Cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có
nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh
nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia . . . điều
này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra theo quy mô doanh nghiệp hay quốc gia mà
thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi
nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là
nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân. . .
Theo Từ điển Tiếng Việt (1997, tr.108) cạnh tranh được định nghĩa “Cố gắng
giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động
nhằm những lợi ích như nhau".
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2014): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là
hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các
nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành
các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”.
Theo Porter (1985, 1998), cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh
tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà
doanh nghiệp đang có. Kết quả q trình cạnh tranh là sự bình qn hóa lợi nhuận
trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi.
Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp trong
ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách
hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các
quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản
2
4
phẩm hay dịch vụ.
2.1.2.
Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để
“nắm bắt cơ hội” và kinh doanh có lãi. Nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế mà
một doanh nghiệp, một quốc gia đang có so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế
cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mơ (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mơ
(ở cấp quốc gia). Lợi thế cạnh tranh bền vững là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp
cho thị trường một giá trị đặc biệt mà khơng có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp
được.
Quan điểm của Porter (1980, 1998), cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự
thành công hay thất bại của doanh nghiệp... Chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm vị
thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành, đấu trường chính của cạnh tranh, nhằm mục đích
tạo lập một vị thế cạnh tranh thuận lợi và bền vững trước những sức ép quyết định sự
cạnh tranh trong ngành.
Có hai vấn đề trọng tâm làm nền tảng cho việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh.
Thứ nhất là mức độ hấp dẫn của ngành để có thể mang lại lợi nhuận lâu dài và các yếu
tố quyết định điều này ... Thứ hai là vị thế tương đối của doanh nghiệp trong ngành.
Định vị doanh nghiệp sẽ xác định khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp cao hơn
hay thấp hơn mức trung bình của ngành. Một doanh nghiệp có khả năng định vị tốt sẽ
có thể thu lợi nhuận nhiều hơn ngay cả khi cấu trúc ngành bất lợi và do đó khả năng
sinh lợi của ngành cũng khá khiêm tốn (Porter,1980, 1998).
Nền tảng cơ bản để doanh nghiệp hoạt động đạt được mức lợi nhuận trên trung
bình trong dài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững. Cho dù doanh nghiệp có nhiều điểm
mạnh và điểm yếu trước các đối thủ khác, nhưng tựu chung lại có hai loại lợi thế cạnh
tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Điều quan
trọng của bất cứ thế mạnh hay nhược điểm nào của doanh nghiệp cuối cùng vẫn là
việc ảnh hưởng từ những ưu/ khuyết điểm đó đến chi phí và sự khác biệt hóa. Hai loại
lợi thế cạnh tranh cơ bản này kết hợp với phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp
đang theo đuổi sẽ cho phép tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát để đạt được hiệu
2
5