QUAN HỆ GIỮA NĂNG Lực CẠNH TRANH VÀ ÕN ĐỊNH
CÁC NGÂN HĂNG THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH COVID-19
NGUYỄN THỊ MINH NGỌC, TẠ THỊ KIM THOA
Trong bối cảnh tồn cẩu hóa, khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thếgiới và trong khu vực, các ngân
hàng thương mại Việt Nam không ngừng nâng cao nàng lực cạnh tranh đểhội nhập. Tuy nhiên, trước
những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, từcuối năm 2019 cho đến nay, sự ổn định của hệ thống
ngán hàng đã bị ảnh hưởng lớn. Nghiên cứu này làm rõ mối quan hệ giữa nàng lực cạnh tranh và ổn định
tài chính trong bối cảnh đại dịch COVID-19 ở một sốngán hàng thương mại Việt Nam thơng qua việcsử
dụng hệ phương trình đồng thời vớiphương pháp ước lượng GIS, trên bộ dữliệu từquýlV/2019đến quý
11/2021 của 25 ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quà cho thấy, có mối quan hệ giữa năng lực cạnh
tranh và ổn định tài chính của ngán hàng thương mại trong giai đoạn đại dịch COVID-19.
Từkhóa: Nâng lực cạnh tranh, ổn định tài chính, đại dịch COVID-19
Ngày nhận bài: 6/5/2022
vực và thế giói, trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều
biến động, đặc biệt là đại dịch COVID-19 đang diễn
ra ngày càng phức tạp, mọi hoạt động kinh tế - xã
hội nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đều
bị ảnh hưởng.
Hệ thống ngân hàng có vai trị quan trọng trong
sự phát triển của quốc gia, trước những biến động
bất ổn từ nền kinh tế như đại dịch COVID-19 và
nhiều yếu tố cạnh tranh khác thì hệ thống ngân hàng
phải có những chiến lược hợp lý, để nâng cao năng
lực cạnh tranh và ổn định được tài chính, nhằm tránh
những tổn thất xảy ra. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh
tranh và ổn định tài chính cho hệ thống ngân hàng
để chống đỡ trước các cú sốc của thị trường là vấn
đề cấp thiết. Nghiên cứu này trả lời 2 câu hỏi: Giữa
năng lực cạnh tranh và ổn định tài chính của ngân
hàng có mối quan hệ vói nhau hay khơng? Và chiều
hướng tác động giữa năng lực cạnh tranh và ổn định
tài chính của ngân hàng là như thế nào?
Từ kết quả nghiên cứu đạt được, nhóm tác giả đề
xuất một SỐ hàm ý chính sách nhằm giúp các cơ quan
quản lý nhà nước cũng như các nhà quản trị ngân hàng
có những biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và
ổn định tài chính trong hệ thống thống ngân hàng.
Ngày hoàn thiện biên tập: 20/5/2022
Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiêm
THE RELATIONSHIP BETWEEN COMPETITIVENESS
AND FINANCIAL STABILITY OF COMMERCIAL BANKS
IN THE CONTEXT OF COVID-19
Nguyen Thi Minh Ngoe, Ta Thi Kim Thoa
In the context of intensive globalization and
regionalization, Vietnamese commercial banks are
constantly improving their competitiveness for
integration. However, before the complicated progress
of the CO VID-19 pandemic, from the end of 2019
until now, the stability of the banking system has been
seriously affected. This study clarifies the relationship
between competitiveness and financial stability in
the context of the COVID-19 pandemic in some
Vietnamese commercial banks through using a system
of equations and the method of GLS estimation based
on data from the fourth quarter of 2019 to the second
quarter of 2021 of 2.’.5 Vietnamese commercial banks,
The research results show that there is a relationship
between competitiveness and financial stability of
commercial banks during the COVID-19 pandemic.
Keywords: Competitiveness, financial stability, COVID-19 pandemic
Ngày duyệt đăng: 21/5/2022
Đặt vấn đề
Đại dịch COVID-19 đã gây ra tổn thất rất lớn cho
nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt
Nam nói riêng. Dưới sức ép của hội nhập trong khu
Michael E. Porter (1980) định nghĩa, năng lực cạnh
tranh là khả năng gia tăng thị phần, duy trì thị phần
và đạt được một mức lợi nhuận cao, doanh nghiệp
tạo được một mức chi phí sản xuất thấp hơn hoặc tạo
ra được sự khác biệt trong sản phẩm của mình, để
đạt được mức giá cao hơn trung bình. Như vậy, khi
97
BÀNG 1: DANH SÁCH CÁC BIÉN KIẾM SOAT
dựa vào các nghiên cứu của Allen và cộng sự (2004),
De Nicolo và cộng sự (2004), Xiaoqing (Maggie) Fu
và cộng sự (2011), Võ Xuân Vinh và Đặng Bửu Kiếm
(2016) với hệ phương trình hồi quy như sau:
________________ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG MƠ HÌNH
Biến kiểm sốt
Cơng thức
RO,t
Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản
CARi,t
Vốn chù sở hữu/Tổng tài sản
SIZEi,t
Log(Tổng tài sản)
L«Qi,t
Tài sản có tính thanh khoản/Tổng tài sản
LOANi,t
(Dư nợ cho vay năm sau - Dự nợ cho vay
Efficiency!,t
Tổng chi phí hoạt động/Tổng Thu nhập
ZSCoreit =P0 +p,.Lemerit +p2.NIMit+ỵpm.Control, t+£it(l)
m=3
k
năm trước)/Dư nợ cho vay năm trước
Lerner t = a0+cựSCore, t + a2.NIMj ị+Y am .Control, t + (0ịt (2)
m=3
Nguón: Tác giả tổng hợp nghiên cứu
Trong đó: i = 1... n (số ngân hàng ), t = l...t (thời
có cạnh tranh sẽ xác định được sự thất bại hoặc thành
gian), aũ ’ 00 là hệ số chặn và am \ /3m là hệ số ước
công của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Jahn và Kick (2011) cho rằng: "Sự lượng, thể hiện mức độ tác động của các biến độc lập
ổn định tài chính của ngân hàng là tình trạng ổn định đến biến phụ thuộc.
mà khi đó các ngân hàng thực hiện các chức năng của
- Biến ổn định tài chính (ZSCorei,t): Được hệ số
mình đạt được hiệu quả, bao gồm phân phối nguồn
eit '■> a^it là phần dư của mơ hình, cho phép các tác
lực, phân tán rủi ro và phân phối thu nhập". Như động cố định giữa các ngân hàng. Sử dụng rộng rãi
vậy, sự ôn định tài chính của các ngân hàng đạt được trong nhiều nghiên cứu hiện nay như Leaven và
khi các ngân hàng hoạt động một cách ổn định, trơn Levine (2009, Berger và cộng sự (2009), các nghiên
tru, không bị tác động bởi những tác nhân không cứu này đều cho rằng chỉ số Zscore càng lớn thì hoạt
mong muốn ở hiện tại và trong tương lai, đứng vững động Ổn định hơn, chỉ số này được ước lượng bằng
trước những cú sốc kinh tế. Sự ổn định tài chính của cơng thức sau:
các ngân hàng có thê’ bị gián đoạn bởi sự vận hành
các yếu tố tài chính bên trong và những cú sốc mạnh
.Vốn chủ hữu.
bên ngoài dẫn đến xuất hiện các lỗ hổng. Trong thời
R0A-‘
'
Tông tài sản
gian đại dịch COVID-19, các nhân tố gây bất ổn cho
ĩscorẽị ( =------------------------- —-------------------ơROAiJ
nền kinh tế như lạm phát, chi phí sản xuất tăng, GDP
giảm, xuất nhập khẩu giảm mạnh... cũng được coi
Vói ơROA,, là độ lệch chuẩn của ROA
- Biến Cạnh tranh thị trường (Lerneri,t): Theo
là cú sốc mạnh bên ngoài tác động tới sự ổn định tài
chính của ngân hàng.
Fungacova và cộng sự (2014), chỉ số này thường được
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối sử dụng để đánh giá sự cạnh tranh của ngân hàng và
quan hệ giữa năng lực cạnh tranh với ổn định tài được đo lường bằng chỉ số, Lemer, chi số này được
chính đã cho các kết quả khác nhau. Có nhiều nghiên tính bởi chênh lệch giữa tỷ số giá dầu ra và chi phí
cứu như của Allen và cộng sự (2004), Xiaoqing biên. Chi Lemer càng cao thì sự chi phối giá của ngân
(Maggie) Fu và cộng sự (2011) cho rằng, năng lực hàng càng cao, khi đó mức cạnh tranh trên thị trường
cạnh tranh tác động tích cực đêh sự ổn định tài chính càng giảm và ngược lại, cơng thức tính như sau:
của các ngân hàng nhưng nghiên cứu của
BẢNG 2: THÕNG KÊ Mỏ TẢ CÁC BIÊN TRONG MƠ HÌNH
De Nicolo và cộng sự (2004) có quan điểm
Số quan
Độ lệch
rằng, ổn định tài chính tác động tiêu cực
Nhỏ nhất Cao nhất
Biến
Trung bình
chuẩn
sát
đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng.
-1.25E-07
41.08558
-55.5589
131.7313
175
ZSCorei,t
Đồng thời, cũng có quan điểm trung hịa
5212.729
175
7.59E-06
2360.53
-6165.26
Lerneri.t
giữa những ý kiến trên. Cụ thê) quan điểm
cho rằng cạnh tranh và tập trung có thể
-9.7E-05
0.0025655
0.015671
175
0.0033525
ROAi,t
cùng tồn tại và đồng thời có thể tạo ra sự ổn
0.0576999
0.0235748
0.024487
0.151662
175
CARi,t
định hoặc mong manh về tài chính (Berger
0.930041
0.4644248
-0.97779
175
-9.53E-10
SIZEi,t
và cộng sự (2009)).
Mơ hình và phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá mối quan hệ giữa năng lực
cạnh tranh với ổn định tài chính, bài báo
98
LIQi,t
175
0.1566404
0.0560875
0.035718
0.303448
LOANi,t
175
0.0363318
0.036701
-0.04906
0.202886
Efficiency!,t
175
0.2427793
0.0615839
0.095203
0.422832
Ngn: Tác giả tính tốn từphán mém stata.
BẢNG 3: MA TRẬN TƯƠNG QUAN CÙA CÁC BIÉN TRONG MỊ HÌNH
P.-MỢ,
ZSCore
Lernerit = -33—
Trong đó, p~i,t là tổng
doanh thu trên tổng tài sản
cụa ngân hàng i tại thời
điểm t, MCi,t là chi phí
bĩên của ngân hàng i tại
thời điểm t.
Sử dụng chênh lệch sự
c:ạnh tranh thị trường của
từng ngân hàng so với sự
cạnh tranh thị trường của
têít cả các ngân hàng, với
qơng thức như sau:
Lerner
ROA,,
CAR,.
SIZE,..
LIQ,.
LOANit
ZSCorei,t
1
Lerneri,t
-0.295
1
ROAĨ,t
-0.349
0.768
1
CARi,t
0.442
0.025
0.043
1
SIZEĨ,t
-0.460
0.405
0.291
-0.639
1
LIQi,t
0.009
-0.204
-0.188
0.275
-0.441
1
LOANĨ,t
-0.257
0.274
0.281
-0.167
0.149
-0.119
1
Efficiency. t
-0.105
0.125
0.199
0.257
0.079
-0.063
0.195
Eficiencyit
a...,,..
1
Ngn: Tác già tinh tốn tửphán mém s tata.
- Biến Control i,t: là tập hợp các biến kiểm sốt
trong mơ hình theo đặc điểm riêng có của từng ngân
hàng, bao gồm các biến như Bảng 1.
Cạnh tranh thị trường it = Lemerit Nt
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1
Chi phí biên được ước lượng dựa trên một hàm
chi phí Translog với giá đầu ra (tổng tài sản) và 3 giá
I ỉầu vào (chi phí lao động, chi phí vốn và chi phí tài
rợ quỹ), hàm chi phí như sau:
Thống kê mơ tà và phân tích tương quan
Bảng 2 cho thấy số liệu thống kê mô tả của các
biến có giá trị cao nhất, nhỏ nhất, trung bình và độ
lệch chuẩn trong mơ hình.
Ngân hàng TMCP Quốc dân có chỉ số ZSCore
1
J3 3
3
nTC=a0+a1lny+42(lny)2+ỵ/?lnwj+ỵỵẬlnwj.lnwk+ỵ?'jlny.lnwj+í
cao nhất là 131.7313 thể hiện sự ổn định tài chính
1
cao nhất, Ngân hàng TMCP Á Châu có chỉ số
Trong đó: TC là tổng chi phí, Y là tổng tài sản, W1
ZSCore thấp nhất là -55.5589 thể hiện sự bất ổn
là chi phí lao động (tính bằng tỷ số chi tiêu cho người định tài chính cao nhất. Ngân hàng TMCP Kỹ
lao động trên tổng tài sản), w2 là chi phí vốn (tính thương có chỉ số Lerner cao nhất 5,212.729 thể hiện
oằng tỷ SỐ chi phí ngồi lãi khác trên tổng tài sản cố ngân hàng này có năng lực cạnh tranh thấp nhất,
định), W3 là chi phí tài trợ quỹ (tính bằng tỷ Số chi Ngân hàng TMCP Kiên Long có chỉ số Lerner thấp
phí lãi trên tổng tiền gửi). Sau khi các hệ số đã được nhất -6,165.26 thê hiện ngân hàng này có năng lực
ước lượng từ hàm chi tri phí trên, sẽ được sử dụng để cạnh tranh cao nhất.
tính chi phí biên (MC).
Để xây dựng được một mơ hình phù hợp và
3
có ý nghĩa phải xem xét đến mối quan hệ tuyến
MC = ^(«1-t-«2lny + £/jlnWj)
tính giữa các biến trong mơ hình, vấn đề này có
thê’ được thê’ hiện thông qua ma trận tương quan
như Bảng 3.
BẢNG 4: PHÂN TỬ PHÓNG ĐẠI PHƯƠNG SAI
Từ Bảng 3 cho thấy, năng lực cạnh tranh và
Mơ hình 1
MƠ hình 2
ổn định tài chính có mối tương quan âm, mức
VIF
1/VIF
ZSCoreit
Lerneri,t
VIF
1/VIF
độ tương quan giữa các biến trong mơ hình thì
0.3254
3.07
ZSCorei,t
1.72
0.5806
tương đối thấp và các giá trị đều nhỏ hơn 0.8.
Lernerit
Do đó, mối tương quan giữa các biến khơng
ROAi,t
2.54
0.3937
1.5
0.6669
ROA,.
nghiêm trọng.
CARi,t
2.64
0.3791
2.64
0.3785
CAR,.
SIZE,
3.03
0.3305
SIZEi,t
2.52
0.3971
LIQ,.
1.25
0.7993
LIQi.t
1.38
0.7271
LOANit
1.24
0.8060
LOANi,t
1.21
0.8278
Efficiency),t
1.33
0.7491
Efficiency. t
1.31
0.7634
VIFtb
2.16
VIFtb
1.75
Nguỗn: Tác giá tính tốn từph ân mém Stata.
Kiểm định mơ hình
- Kiếm định hiện tượng đa cộng tuyến
Dựa vào hệ số phóng đại phương sai để
xác định mơ hình có bị hiện tượng đa cộng
tuyến nghiêm trọng hay không, kết quả đạt
được như Bảng 4.
99
MNBaBHRMBBMMnnK:
Z-score càng cao thì càng ổn định tài
chính hơn, chỉ số Lerner càng cao thì
MƠ hình 1
MƠ hình 2
năng lực cạnh tranh càng thấp. Do
p>|2|
ZSCoreit
Hệ số
Lerner,,
Hệ số
P>|Z|
đó, khi năng lực cạnh tranh của ngân
-0.001**
0.045
-7.258**
0.034
Lernert
ZSCore.,
hàng tăng thì các ngân hàng tăng sự
420.336
0.156
588784.800***
0.000
ROA,.t
ROA„
ổn định tài chính hơn và ngược lại.
764.152***
0.000
32067.420***
0.000
Chính vì vậy, năng lực cạnh tranh có
CARi,
tác động tích cực đến sự ổn định tài
-12.802***
0.000
2422.396***
0.000
SIZEit
SIZE,
chính của các NHTM Việt Nam.
-24.204**
0.023
4861.435***
0.001
LIQW
LIQit
Nghiên cứu này cung cấp bằng
2161.359
5.056
0.482
0.170
LOAN.,
LOAN.,
chứng thực nghiệm cho các nhà quản
-27.423***
-9309.605***
0.004
0.000
Efficiency.
Efficiency. t
trị ngân hàng nói riêng và các nhà
-2322.353***
0.000
0.000
-34.763
Hằng số
Hằng số
hoạch định chính sách nói chung về
Ngn: ĩác giả tinh tốn từphân mềm Stata.
vấn đề củng cố năng lực cạnh tranh và
***; ** Thể hiện mức ỷ nghĩa 1%; 5%
tính ổn định của hệ thống NHTM, trong
thời kỳ bất ổn do đại dịch COVID-19
Từ bảng phân tử phóng đại phương sai của tất gây nên. Để cân bằng giữa 2 mục tiêu tăng năng lực
cả các biến trong mơ hình đều nằm trong khoảng cạnh tranh và tạo tính ổn định tài chính cho hệ thống
(l
đa cộng tuyến nhưng khơng nghiêm trọng.
như: Gia tăng thị phần và hướng tới thị phần nước
- Kiểm định White: Để phát hiện mơ hình ngồi, áp dụng cơng nghệ cao vào hoạt động quản
nghiên cứu có hiện phương sai thay đơi hay lý như trí tuệ nhân tạo, xây dựng sẵn những kịch
khơng, nhóm tác giả sử dụng kiểm định White bản đê’ có thể chủ động ứng phó trước những bất
cho cả 2 mơ hình với giả thiết Ho: Khơng có hiện ổn trong kinh tế vĩ mô, cần tiến tới chuẩn mực Basel
III, chuâh hóa năng lực quản lý điều hành và nguồn
tượng phương sai thay đổi, cho kết quả như sau:
£
p_value = 0.000 với mức ý nghĩa Alpha bằng 1% nhân lực.
BẢNG 5: KÊT QUẢ HÕI QUY HẺ PHƯƠNG TRÌNH THEO PHƯƠNG PHÁP GLS
nên bác bỏ Ho. Vì vậy, cả 2 mơ hình đều bị hiện
tượng phương sai thay đổi.
- Kiểm định Wooldrigde: Để phát hiện mơ hình
nghiên cứu có tự tương quan hay khơng, nhóm tác
giả sử dụng kiểm định Wooldrigde với giả thiết Ho:
Khơng có tự tương quan bậc nhất, cho kết quả p_
value của 2 mơ hình đều vói mức ý nghĩa Alpha bằng
1% nên bác bỏ Ho. Vì vậy, cả 2 mơ hình có tự tương
quan bậc nhất.
Kết quả các kiểm định ở trên cho thấy, cả 2 mơ
hình đều bị hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương
quan bậc nhất, để khắc phục các hiện tượng này thì
bài nghiên cứu sử dụng phương pháp GLS. Kết quả
hồi quy được trình bày trong Bảng 5.
Bảng 5 cho thấy, cả hai mơ hình cùng vói mức
ý nghĩa 5% chỉ số Z-score và Lerner có mối quan
hệ vói nhau và mối quan hệ này là ngược chiều.
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Allen
và cộng sự (2004), Xiaoqing (Maggie) Fu và cộng
sự (2011).
Kết luận và hàm ý chính sách
Qua phân tích kết quả thu được từ thực nghiệm
trong bối cảnh đại dịch COVID-19 cho thấy, có
mối quan hệ giữa chỉ số Z-score và Lerner và
mối quan hệ này ngược chiều với nhau, vì chỉ số
100
Tài liệu tham khảo:
1.
kõ Xuân
Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016), Năng lực cạnh tranh, lợi nhuận
và sự ổn định của các ngân hàng Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế,
27(12), 24-45;
2. Allen, Franklin & Douglas G. (2004), Competition and financial stability.
Journal ofMoney, Credit and Banking, 36:453-480;
3. Berger, A. N., Klapper, L.F.& Turk-Ariss, R. (2009), Bank competition and
financial stability. Journal ofFinancial Services Research, 35:99-118;
4. De Nicolo, Gianni, Philip Bartholomew, Jahanara Zaman, and Mary ZephIrin
(2004), Bank consolidation, internalization, and conglomerization, Working
Paper 03/158, IMF;
5. Fu, Xiaoqing (Maggie), Lin, Yongjia (Rebecca) & Philip Molyneux, (2014),
Bank competition and financial stability in Asia Pacific, Journal ofBanking &
Finance, vol. 38, issue c, 64-77;
6. Fungácová,Z.&Poghosyan, T. (2009), Determinants ofbank interest margins
in Russia: Does bank ownership matter?, Economic Systems, 35(4), 481-495;
7. Laeven, L. & Levine, R., (2007), Is there a diversification discount in financial
conglomerates?. Journal ofFinancial Economics, 85:331-367;
8. Jahn, N. & Kick, T., (2012), Determinants ofbanking system stability: A macro
prudential analysis. Finance Center Munster. University ofMunster.
Thông tin tác giả:
ThS. Nguyễn Thị Minh Ngọc, ThS. Tạ Thị Kim Thoa
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Email: ;tathikimthoa@iulì.edu.vn