Tải bản đầy đủ (.docx) (94 trang)

Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (709.45 KB, 94 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRỊNH QUỐC TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 1999


Chương I: Cơ sở lý luận của cạnh tranh và
kinh doanh ngân hàng

MỤC LỤC
PHẦN DẪN NHẬP:
CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CẠNH TRANH VÀ KINH
DOANH NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1

Cạnh tranh - qui luật khách quan của nền kinh tế thị
trường
Trang

1.1.1 Tổng quan về kinh tế thị trường hiện đại

01


1.1.2 Một số đặc trưng của nền kinh tế thị trường tại Việt nam
hiện nay
03
1.1.3 Tính tất yếu phải cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 04
1.1.4 Các loại hình cạnh tranh và mối quan hệ
1.2

05

Những tác động của cạnh tranh và độc quyền tới
kinh tế và vai trò của NN

1.2.1 Tác động của cạnh tranh tới phát triển và tăng trưởng
kinh tế
05
1.2.2 Tác động của độc quyền tới phát triển và tăng trưởng
kinh tế
06
1.2.3 Vai trò của chính phủ trong việc kiểm soát cạnh tranh và
độc quyền
06
1.3

Khái quát về NHTM và kinh doanh ngân hàng hiện
đại

1.3.1 Bản chất của ngân hàng thương mại

07


1.3.2 Vai trò và chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị
trường
07
1.3.3 Một số nghiệp vụ chính của NHTM hiện đại

08

Trang
2


1.4

Chương I: Cơ sở lý luận của cạnh tranh và
kinh
doanh
ngân
hàng
Cạnh
tranh
trong
kinh
doanh ngân hàng

1.4.1 Qui định hiện hành về cạnh tranh trong lónh vực ngân hàng
10
1.4.2 Phạm vi cạnh tranh trong lónh vực cung cấp dịch vụ tài chính
ngân hàng
10
1.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá cạnh tranh của ngân hàng


11

1.4.4 Một số xu hướng tác động đến kinh doanh ngân hàng11
CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
2.1

Quá trình phát triển và hoạt động của hệ thống
ngân hàng VN từ 1975

2.1.1 Giai đoạn từ 1975 đến trước ngày có hiệu lực của Pháp
lệnh
13
2.1.2 Giai đoạn từ khi có Pháp lệnh và Luật các tổ chức tín
dụng
13
2.2

Thực trạng cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng tại
Việt Nam

2.2.1 Theo tiêu chí “tiện nghi trong giao dịch”

18

2.2.2 Theo tiêu chí giá cả cung cấp dịch vụ và tiện ích ngân

hàng
23
2.2.3 Theo tiêu chí đảm bảo sự tin cậy của công chúng
2.3

24

Đánh giá chung về cạnh tranh và khả năng cạnh
tranh của các ngân hàng

2.3.1 Một số mặt mạnh và yếu

28

2.3.2 Nhận xét về thực trạng cạnh tranh ngân hàng hiện nay 29

Trang
3


Chương I: Cơ sở lý luận của cạnh tranh và
CHƯƠNG 3kinh doanh ngân hàng

BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA NHTM VIỆT NAM
3.1 Xây dựng chiến lược cạnh tranh trong kinh doanh ngân
hàng
3.1.1 Khái quát về chiến lược cạnh tranh

32


3.1.2 Lựa chọn chiến lược cạnh tranh

36

3.1.3 Xây dựng chiến lược

37

3.1.4 Xây dựng vị thế cạnh tranh

38

3.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh:
3.2.1 Nghiệp vụ huy động vốn

39

Trang
4


3.2.2 Nghiệp vụ cho vay và đầu tư

41

3.2.3 Xây dựng bộ máy quản lý rủi ro

46


3.2.4 Hoạt động marketing

47

3.2.5 Quản lý nguồn nhân lực

52

3.2.6 Thu thập và xử lý thông tin tài chính

58

3.3 Tác động của của nhà nước để nâng cao khả
năng cạnh tranh của ngân hàng
3.3.1 Xây dựng luật qui định về cạnh tranh trong kinh doanh dịch
vụ tài chính
59
3.3.2 Cổ phần hoá các ngân hàng quốc doanh

59

3.3.3 Thành lập ngân hàng chính sách

59

3.3.4 Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần 59
3.3.5 Chính sách công khai hoá thông tin

60


3.3.6 Chính sách lãi suất

61

3.3.7 Chính sách thuế

61
KẾT LUẬN


PHẦN DẪN
NHẬP
1-Tính cấp thiết của đề tài và mục tiêu của nghiên
cứu:
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại Ngân hàng thương mại
là một nhà trung gian quan trọng nhất trong việc kết nối nhu
cầu về tài chính trong xã hội và điều này được minh chứng
bằng sự tăng trưởng nhanh chóng của hệ thống các ngân
hàng thương mại trên thế giới về số lượng, qui mô và chất
lượng dịch vụ theo khuynh hướng đáp ứng được ngày càng
cao nhu cầu về vốn cũng như các dịch vụ khác cho cá
nhân doanh nghiệp và chính phủ.
Trong những năm đổi mới kinh tế vừa qua hệ thống ngân
hàng Việt nam đã được đổi mới và phát triển theo hướng
lập ra hệ thống ngân hàng hai cấp nhằm tách biệt chức
năng kinh doanh dịch vụ ngân hàng thương mại ra khỏi chức
năng quản lýù lónh vực tiền tệ của ngân hàng trung ương
đã có những tác dụng đáng kể trong việc góp phần thúc
đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đang trên đà gia tăng cũng như đóng vai

trò quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát, duy trì tương đối
tính ổn định của đồng tiền việt nam và được điều chỉnh kịp
thời cho sát với thực tế góp phần hạn chế bớt những tác
động xấu của khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á đến
nền kinh tế Việt nam cũng như góp phần nâng cao một
bước đời sống nhân dân. Điều này chứng tỏ những cải
cách ngành ngân hàng của nước ta kể từ những năm
1988 đã có những bước tiến triển phù hợp với chủ trương
xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường
với định hướng xã hội chủ nghóa và có sự quản lý của
nhà nước. Kể từ năm 1990 chuyên môn hóa bắt buộc theo
ngành đối với ngân hàng thương mại nhà nước được loại bỏ,
việc tham gia hệ thống ngân hàng được tự do hoá.
Cho đến cuối năm 1999 qua 10 năm thực hiện quá trình cải
cách hệ thống ngân hàng nước ta đã có một hệ thống
các tổ chức tín dụng phát triển nhanh về số lượng. Trong đó
6 ngân hàng thương mại quốc doanh với hàng ngàn chi
nhánh, đơn vị trực thuộc từ trung ương đến địa phương. Ngoài
ra còn có 52 NHTM cổ phần, 1000 q tín dụng nhân dân, 27
chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính … Các
NHTM, các tổ chức tín dụng đã huy động hàng ngàn tỉ
đồng để cho các thành phần kinh tế sử dụng vào quá trình


kinh doanh đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế tiếp tục
phát triển và đặc biệt là bước đầu tạo được không khí
cạnh tranh trong cơ chế thị trường của ngành ngân hàng.
Tuy nhiên nếu đứng trên góc độ vó mô của nền kinh tế khi
xem xét ngành ngân hàng chúng ta có thể thấy rằng hệ
thống ngân hàng Việt nam chưa có độ vững chắc, lành

mạnh và an toàn một phần do tính lịch sử phát triển của
ngành ngân hàng nước ta còn rất non trẻ so với ngành
ngân hàng thế giới và cụ thể hơn chính là những yếu tố
chưa đảm bảo được tính lành mạnh, minh bạch, vững chắc,
an toàn của kinh doanh ngân


hàng đặc biệt là khả năng cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại còn yếu kém.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là trong nền kinh tế nước ta một
khi đã thực hiện chủ trương mở cửa với thế giới, hội nhập
với nền kinh tế khu vực và toàn cầu thì tính cạnh tranh của
hệ thống ngân hàng thương mại việt nam ngày càng trở
nên một vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết phù
hợp nhưng hiện nay các ngân hàng thương mại Việt nam vẫn
còn đang hoạt động với hiệu quả chưa cao, chưa có tầm nhìn
xa và đặc biệt là từ kinh nghiệm đổ vỡ ngành ngân hàng
của các quốc gia khác nhau trên thế giới thời gian gần
đây làm cho yêu cần phải tăng cường độ vững mạnh, rõ
ràng và nâng cao tính cạnh tranh trong lónh vực ngân hàng
việt nam là cần thiết. Thiết nghó ngoài những vấn đề
mang tính chiến lược và chính sách điều tiết của nhà nước
đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam thì về vó
mô các ngân hàng thương mại Việt nam phải tăng khả
năng cạnh tranh của mình để không phải chỉ cạnh tranh lẫn
nhau giữa các ngân hàng Việt nam mà còn phải hợp tác
với nhau trong cạnh tranh với các ngân hàng liên doanh và
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Nhưng rõ ràng rằng cho
đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể và chi tiết nào
về việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng

thương mại Việt nam. Dù rằng đây là lónh vực mới và
không tránh khỏi những tranh cãi nhưng qua quá trình học
tập tại Trường Đại học Kinh tế cũng như kinh nghiệm làm
việc trong lónh vực tài chính ngân hàng và qua nghiên cứu
tôi cũng mạnh dạn đóng góp một số ý tưởng về vấn
đề cạnh tranh của ngân hàng Việt nam thông qua đề tài
“BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
NƯỚC TA HIỆN NAY” làm luận án tốt nghiệp chương trình
Thạc sỹ kinh tế chuyên ngành Tài Chính – Lưu Thông Tiền tệ
và Tín dụng.
2-

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường với nguyên tắc tối trọng để
đánh giá hoạt động của một tổ chức, một ngành kinh tế
là lợi nhuận nên một đặc điểm không thể không thừa
nhận như một đặc trưng của kinh tế thị trường góp phần
tạo nên những ưu điểm của nền kinh tế thị trường là tính
cạnh tranh của giữa các doanh nghiệp nhằm thoả mãn nhu
cầu của khách hàng với mức chi phí thấp nhất và lợi nhuận
cao nhất.
Luận án sẽ đi sâu vào việc nghiên cứu những nội dung chính
sau:


• Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động và cạnh tranh
của các ngân hàng kinh doanh đến 30/06/1999;
• Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân

hàng thương mại qua các nghiên cứu chính về hoạt động:
(1) xây dựng chiến lược và (2) quản lý quá trình kinh
doanh với các hoạt động chính như cho vay, quản lý nhân
sự và hoạt động marketing;
• Một số vấn đề có tính vó mô do Ngân hàng Nhà nước
thực hiện nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho các
ngân hàng thương mại;
Với mục đích giúp các NHTM VN có cơ sở áp dụng những
nghiên cứu này nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình không phải chỉ với các ngân hàng trong nước mà


chuẩn bị cho việc hội nhập với khu vực và toàn cầu về kinh
tế.
3-

Phương pháp nghiên cứu:

Luận án sử dụng nhiều biện pháp nghiên cứu như phương
pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích kinh tế,
phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp qui nạp và
diễn dịch, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp
chuyên gia để kết hợp giữa lý luận và thực tiễn kinh doanh
ngân hàng nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài.
4-

Một số đóng góp của luận án:

Do nghiên cứu của đề tài hầu như mới với kinh doanh ngân
hàng tại Việt nam, Luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ

những nét cơ bản trong quá trình xác định chiến lược cạnh
tranh của các ngân hàng thương mại trong nước hoặc trong
tương quan với các định chế tài chính nước ngoài có những
ưu điểm về trình độ quản lý, kinh doanh, tiềm lực về vốn,
công nghệ, tính đa dạng về dịch vụ, chất lượng dịch vụ …
hiện đang có khả năng cạnh tranh rất cao so với các ngân
hàng thương mại Việt nam.
Thông qua đề tài này tôi mong muốn góp phần giúp các
nhà ngân hàng:
1. Có được những nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan
trọng của việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong lónh
vực ngân hàng không chỉ với các ngân hàng trong mà
cả ngoài nước;
2. Hệ thống hoá các vấn đề có liên quan đến việc nâng
cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng;
3. Đưa ra một số tiêu chuẩn để đánh giá cạnh tranh trong
lónh vực kinh doanh ngân hàng và dịch vụ tài chính;
4. Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh
của từng ngân hàng thương mại thông qua các nghiên cứu
liên quan đến việc:
• Xây dựng chiến lược cạnh tranh;
• Quản lý quá trình kinh doanh qua các chức năng chính;
• Tác động qua điều tiết vó mô của NHNN bằng các
luật lệ, chủ trương, chính sách.
5-

Bố cục của luận án:

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận án có khối lượng 62 trang bao gồm các chương sau:


Chương 1:
Cơ sở lý luận của cạnh tranh và kinh doanh
ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.


Chương 2:

Thực trạng hoạt động và cạnh tranh của NHTM VN.

Chương 3:
NHTM VN.

Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cuûa


Chương 1: Cơ sở lý luận của cạnh
tranh và kinh doanh ngân
hàng trong nền kinh tế thị
trường.
1.1

Cạnh tranh - qui luật khách quan của nền kinh tế thị
trường
1.1.1
1 Tổng quan về kinh tế thị trường hiện đại
1.1.1.1
Nền kinh tế của qui luật cung cầu:
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường được hiểu với nghóa
là một cơ cấu hình thành từ các hệ thống cung và cầu.

Sự tác động giữa cung và cầu hàng hoá dịch vụ sẽ tạo
nên giá cả và quyết định cả khối lượng của hàng hoá,
dịch vụ được trao đổi, cung cấp, mua bán.
Cung được tạo ra bởi các nhà sản xuất, cung ứng hoạt
động một cách độc lập và có tính cạnh tranh lẫn nhau.
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì các quyết định trên
của người cung ứng sẽ không có tính tập trung nhưng có tính
tự do và phụ thuộc vào cá nhân nhà cung ứng.
Cầu xuất phát từ những cá nhân, tổ chức có mục đích
thoả mãn nhu cầu của mình, khác hàng có quyền liên hệ
với nhiều người cung cấp khác nhau nhằm tìm ra người có
hàng hoá dịch vụ đáp ứng được một cách tối ưu những yêu
cầu của khách hàng về tính chất, chất lượng, giá cả. Và
đây chính là nguồn gốc tạo nên sự cạnh tranh không chỉ
trong nội bộ người cung ứng mà cả trong nội bộ người mua
hàng.
1.1.1.2

Thể chế tự do kinh doanh:

Về mặt luật pháp các cá nhân tổ chức được tự do kinh
doanh theo luật định, chỉ chịu những giới hạn nhất định về
luật pháp trong những ngành kinh doanh đặc biệt có quan hệ
tới lónh vực an ninh quốc phòng và các chất độc hại.
1.1.1.3

Cơ chế tự do cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường hiện tại các chủ thể được tự do
cạnh tranh nhằm cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng

với chất lượng ngày càng cao và giá hạ.
1.1.1.4

Nền kinh tế giá cả-lợi nhuận:

Giá cả hàng hoá cơ bản được hình thành theo qui luật cung
cầu về hàng hoá, chính cung cầu và hàng hoá trên thị
trường sẽ quyết định đến cân bằng cung cầu.


1.1.1.5
Nền kinh tế năng động:
Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch nhanh chóng trên mọi
phương diện từ thành phần kinh tế, lónh vưc kinh doanh, quan
hệ đầu tư, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư trong và ngoài
nước.
1.1.1.6
Tích tụ và tập trung tư bản cao:
Xu hướng sát nhập và mua lại các công ty, tổ chức kinh
doanh ngày càng tăng trên thế giới hiện nay đã và đang
hình thành nên những công ty, tập đoàn đa và xuyên quốc
gia khống chế những ngành kinh doanh nhất định làm các
doanh nghiệp nhỏ hơn, đặc biệt ở các quốc gia đang phát
triển gặp nhiều khó khăn do sự vượt trội về vốn,


kinh nghiệm kinh doanh, sự đa dạng hoá rủi ro v.v.v của các
tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới
1.1.1.7
Chuyên môn hoá nền kinh tế thị trường:

Nền kinh tế thị trường hiện đại có khuynh hướng ngày
càng chia nhỏ các lónh vực kinh doanh thành những phân
ngành nhỏ hơn như thị trường về sản phẩm hữu hình, sản
phẩm vô hình, thị trường bất động sản, thị trường lao động,
thị trường công nghệ – khoa học, thị trường tài chính v.v.v
trong đó thị trường tài chính ngày càng phát triển và có
tính tách khỏi nền kinh tế thực với sự hình thành và phát
triển của các thị trường sản phẩm tài chính phái sinh như
thị trường mua bán quyền chọn mua, chọn bán hoặc mua bán
dựa trên các chỉ số v.v.v
1.1.1.8
Nền kinh tế không có ranh giới điạ lý:
Do phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu tìm kiếm lợi
nhuận, ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại đang hướng
tới mục tiêu khu vực hoá và quốc tế hoá nhằm khai thác
tối đa các lợi thế của các nền kinh tế nhằm đạt được lợi
nhuận tối đa. Đặc biệt trong lónh vực đầu tư, do sự phát
triển ngày càng cao của đầu tư gián tiếp qua thị trường
vốn như thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu chính
phủ v.v.v các tập đoàn kinh tế trên thế giới đã “đặt
chân” của mình vào kiểm soát nhiều công ty ở nhiều
quốc gia, nhiều lónh vực khác nhau một cách dễ dàng hơn.
1.1.1.9
Nền kinh tế có tính phụ thuộc lẫn nhau:
Hiện nay do quá trình phân công hoá lao động trên thế giới
ngày càng cao, để có thể đạt được hiệu quả kinh tế, các
quốc gia có xu hướng tận dụng những lợi thế cạnh tranh của
mình nhằm đạt được tính hiệu quả trong kinh doanh. Do mỗi
quốc gia chỉ có những lợi thế nhất định mà nhu cầu tiêu
dùng của từng quốc gia là vô hạn do đó các nền kinh tế

ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Ví dụ như khủng hoảng tài
chính tiền tệ châu Á đã ảnh hưởng tới nền kinh tế châu
u, Mỹ và làm giảm tốc độ tăng trưởng chung của thế
giới vì tính liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế
ngày càng cao.
1.1.1.10
Tiền tệ hoá nền sản xuất hàng hoá:
Mục đích của nhà sản xuất kinh doanh là sản xuất giá trị
dưới hình thái tiền. Với sự tham gia của đồng tiền thực hiện
chức năng lưu thông tư bản tạo nên 2 mảng kinh tế song
hành: nền kinh tế ảo là nền kinh tế tài chính-ngân hàng có
tính chất bôi trơn, bao trùm nền kinh tế hàng hoá và dịch vụ
- nền kinh tế thực là khu vực sản xuất.
1.1.1.11
Nền kinh tế tiền tín dụng:
Ngày nay sau các cuộc khủng hoảng tài chính tại các quốc
gia châu Á như Thái Lan, Hàn quốc, Nhật v.vv. và một số
quốc gia khác đã là minh chứng cho sự tách rời giữa nền


kinh tế thực và nền kinh tế ảo do khả năng mở rộng tiền
tín dụng nhanh hơn nhu cầu thực của nền kinh tế thực dẫn
đến tình trạng nền kinh tế rơi vào trạng thái “bong bóng xà
phòng” và sẽ bùng nổ thành khủng hoảng khi đạt mức giới
hạn.
1.1.1.12
Nền kinh tế ở thì tương lai:
Tính giả tạo của nền kinh tế thể hiện qua khối lượng tư bản
giả hay cổ phiếu trên thị trường thứ cấp cao hơn số tư bản
lưu thông thực sự trong hoạt động kinh tế nhiều lần với tốc

độ cao. Những hợp đồng mua bán lựa chọn, hợp đồng tiền
tệ, hàng hoá tương lai có bảo chứng để thực hiện chức
năng chuyên môn hoá, phân công lao động, khai


thác và tận dụng nguồn lực, phân tán rủi ro được bổ sung
và thay thế bằng hình thức kinh doanh các chỉ số giá cả
không được bảo chứng nên khi có sự lệch nhau giữa nền
kinh tế thực và dự báo thì có thể khủng hoảng sẽ xảy ra.
1.1.1.13
Thông tin hoá đời sống kinh tế:
Cùng với sự phát triển của lónh vực truyền thông, khoảng
cách giữa các quốc gia ngày càng được rút ngắn thông qua
hệ thống máy tính, viễn thông cung cấp những thông tin cập
nhật, đa loại cho mọi người ngày càng tăng cao như luồng
chảy bất tận làm tính phổ biến của thông tin ngày càng
tăng.
1.1.1.14
Pháp luật hoá cơ chế thị trường:
Các chính phủ ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc
hợp tác đưa ra những qui tắc chung cho kinh doanh toàn cầu khi
các tập đoàn kinh tế, tài chính đã đạt mức phức tạp chưa
hề có trong lịch sử cả về phạm vi kinh doanh, mức vốn v.v.v.
1.1.2
Một số đặc trưng của nền kinh tế thị trường
tại Việt nam hiện nay
1.1.2.1

Tính tự chủ kinh doanh


Các doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh trên thị trường. Dưới điều kiện của kinh tế thị
trường hoạt động của doanh nghiệp phải lấy thị trường làm
trung tâm, không tuân theo kế hoạch mệnh lệnh của cơ quan
hành chính cấp trên mà dựa vào sự chấp nhận của thị
trường, tự chịu lỗ lãi, tự phát triển, điều chỉnh cho phù
hợp với sự vận động của thị trường.
1.1.2.2

Tính cạnh tranh

Tính cạnh tranh là thuộc tính bản chất của kinh tế thị trường
và sẽ không có kinh tế thị trường khi không có cạnh tranh.
Cạnh tranh là quá trình chiếm lónh không gian mua, không
gian bán, tranh thủ điều kiện sản xuất và tiêu thụ để
thúc đẩy việc mua bán hàng hoá, dịch vụ xoay quanh giá
trị và chất lượng hàng hoá để xác định người kinh doanh
thành công. Trong nền kinh tế thị trường, nhờ cạnh tranh mà
việc phân phối các nguồn lực từ nơi có hiệu quả thấp đến
đến nơi có hiệu quả cao hơn. Đây cũng chính là áp lực và
động lực thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế khi nó
buộc người tham gia cạnh tranh cần phải tốn nhiều thời gian,
công sức để nghiên cứu tình hình thị trường, nâng cao chất
lượng hàng hoá, hạ thấp giá thành, tăng giá trị cho khách
hàng cũng như tăng tính tiện nghi, tiện dụng cho khách hàng
nhằm đạt mục tiêu kinh tế của mình mà thường là nhằm
chiếm lónh thị trường, giành khách hàng để đạt được mục
tiêu cuối cùng là lợi nhuận cao.
1.1.2.3


Tính tự phaùt


Tính tự phát cố hữu của kinh tế thị trường trong việc hướng
các nguồn lực vào những khu vực mang lại lợi nhuận cao.
1.1.2.4

Tính mở rộng

Tính mở rộng của thị trường trong đó thị trường làm cho sản
xuất xã hội và hoạt động kinh tế không ngừng biến động,
thay đổi, chia nhỏ, sát nhập và thanh toán lẫn nhau. Hiên
nay tính mở rộng của thị trường đã thể hiện ngày càng rõ
nét qua xu hướng khu


vực hoá và toàn cầu hoá của phát triển kinh tế trên toàn
thế giới.
Nước ta đang trong quá trình chuyển từ một nền kinh tế tập
trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận động theo cớ chế thị trường theo định hướng XHCN có
sự quản lý của nhà nước chúng ta cần phải khuyến khích
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh
nhằm phát huy tối đa nội lực của nền kinh tế hiện nay. Tuy
nhiên do trong một thời gian dài các doanh nghiệp Việt Nam
hoạt động trong môi trường kinh tế tập trung bao cấp, hoạt
động theo các chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước mà
không tính toán đến hiệu quả kinh tế nay khi chuyển sang
môi trường phát triển mới đặc biệt là tính mở rộng của
thị trường ngày càng cao khi việc thâm nhập của các

doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt nam thì những
yếu kém của các doanh nghiệp Việt nam trong quá trình kinh
doanh, cạnh tranh ngày càng bộc lộ rõ như khả năng phản
ứng năng động, nhạy bén với thị trường đặc biệt là khả
năng thích nghi với cạnh tranh. Thời gian qua đã có hàng loạt
các doanh nghiệp không đủ khả năng cạnh tranh có nguy cơ
phải thu hẹp kinh doanh và thậm chí phá sản.
Tóm lại hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm tạo ra hàng hoá
và dịch vụ để thoả mãn các nhu cầu của con người là
hoạt động sản xuất và việc làm như thế nào để hàng
hoá, dịch vụ có thể tới tay người tiêu dùng chính là quá
trình phân phối. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
bao cấp trước đây của Việt nam quá trình sản xuất và
phân phối được kế hoạch hoá bởi các qui định mang tính
pháp lệnh hành chính của nhà nước. Nhưng khi xác định
chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường
định hướng XHCN có sự điều tiết, quản lý của nhà nước thì
quá trình sản xuât và phân phối chủ yếu do cơ chế thị
trường quyết định trong sự tác động tích cực của nhà nước
nhằm điều chỉnh nền kinh tế.
1.1.3
Tính tất yếu phải cạnh tranh trong nền kinh tế
thị trường
Về phương diện lý thuyết để xem xét cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thuần tuý thì một
doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại trong quá trình cạnh tranh
khi cung cấp được các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng
với chi phí bỏ ra thấp hơn thu nhập được thanh toán. Điều
này có nghóa là để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp
phải nỗ lực đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng qua

nhiều biện pháp khác nhau như nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu
của khách hàng, cải tiến công nghệ nâng cao chất lượng,
Trang
10


cải tiến phương thức bán hàng, phương thức tiếp thị, quản
trị vốn, nhân lực
v.v.v. một cách có hiệu quả nhằm giảm tối đa các chi phí
có thể tiết giảm để giảm giá thành và tăng lợi nhuận.
Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên các doanh nghiệp phải
cạnh tranh với nhau nhằm cung cấp được nhiều hàng hoá hơn
cho người tiêu dùng từ chất lượng hàng hoá, dịch vụ đến
tính tiện nghi, tiện ích cho khách hàng khi tiêu thụ hàng hoá,
dịch vụ và thậm chí vì danh vọng của khách hàng khi sử
dụng sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh giữa
các nhà doanh nghiệp là một cuộc đua không dứt, không
bị gián đoạn về thời gian cũng như không có đích cuối cùng
cho đến khi nền kinh tế thị trường trở nên không cần thiết
cho xã hội nữa thì khi đó cạnh tranh vẫn tồn tại nhưng có
thể không phải chính yếu và cơ bản là vì mục tiêu tối đa
hoá lợi nhuận mà có thể là một mục đích nào đó phù hợp
với điều kiện kinh tế xã hội lúc đó.

Trang
10


Tóm lại ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó tất yếu
có cạnh tranh vì cạnh tranh sẽ làm cho thị trường hoạt động

có hiệu quả thông qua việc phân bố hợp lý các nguồn lực
có hạn trên thị trường làm cho thị trường sôi động, nhạy
bén và có hiệu quả.
1.1.4
1.1.4.1

Các loại hình cạnh tranh và mối quan hệ:
Cạnh tranh hoàn hảo:

Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế như David Berg hay
Paul A.Samuelson cạnh tranh hoàn hảo hay thuần túy chỉ có
thể tồn tại trong các điều kiện sau:
 Trong một ngành có nhiều nhà kinh doanh với thị phần nhỏ
bé.
 Sản phẩm, dịch vụ kinh doanh có tính đồng nhất.
 Người tiêu dùng có được những thông tin hoàn hảo để
biết rằng những sản phẩm cùng loại của những nhà sản
xuất khác nhau là giống nhau
 Các doanh nghiệp tự do tham dự và rút lui khỏi ngành kinh
doanh.
1.1.4.2

Cạnh tranh không hoàn hảo:

Xảy ra khi trong thị trường tồn tại một công ty có khả năng
tác động đến giá cả trên thị trường dù rằng không phải
là tuyệt đối vì vẫn có những đối thủ cạnh tranh khác tham
gia vào thị trường. Có các loại cạnh tranh không hoàn hảo
sau:
 Cạnh tranh độc quyền:

 Độc quyền nhóm:
 Độc quyền đơn là hình thái đặc biệt của thị trường độc
quyền nhóm. Trong độc quyền đơn được phân thành hai loại
độc quyền:
 Độc quyền có tính tự nhiên: do bí quyết công nghệ, do
tích tụ và tập trung tư bản mà thành.
 Độc quyền pháp định là do nhà nước tạo ra các công ty
độc quyền.
1.2

Tác động của cạnh tranh - độc quyền tới kinh tế
và vai trò của nhà nước:

1.2.1
1.2.1.1

Tác động của cạnh tranh tới hoạt động kinh tế
Những ưu điểm của cạnh tranh tới phát triển và
tăng trưởng kinh tế
Trang
20


Về lý thuyết, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có các
ưu điểm sau:
 Đáp ứng nhu cầu xã hội với mức giá cả và chi phí thấp
nhất.
 Khuyến khích cải tiến công nghệ, phát minh khoa học và
ứng dụng vào sản xuất tạo ra những sản phẩm, dịch vụ
mới đáp ứng nhu cầu đa dạng và khác biệt của khách

hàng.
 Góp phần vào hình thành cơ cấu kinh tế và phân bổ các
nguồn lực trong xã hội một cách hợp lý và hiệu quả.
1.2.1.2

Nhược điểm của cạnh tranh tới phát triển và tăng
trưởng kinh tế:

Trang
21


 Cạnh tranh thị trường do thiếu kiểm soát hay không thể
kiểm soát vì luật lệ bao giờ cũng đi sau những gì thực tế
trên thị trường làm cho cơ cấu của nền kinh tế hình
thành một cách tự phát không có lợi cho nền kinh tế.
 Cạnh tranh thị trường không có kiểm soát của chính phủ
dẫn đến tình trạnh phát triển tự do được thị trường tự
điều tiết có thể hình thành nên môi trường cạnh tranh
không bình đẳng giữa các thành viên của thị trường dẫn
đến tình trạnh cá lớn nuốt cá bé.
1.2.2
Tác động của độc quyền đến hoạt động kinh
tế:
1.2.2.1

Ưu điểm của độc quyền đối với tăng trưởng và
phát triển nền kinh tế:

Độc quyền tự nhiên là kết quả của quá trình tích tụ và

tập trung tư bản được sàng lọc qua quá trình cạnh tranh về
công nghệ, chất lượng, giá thành tạo nên những ngành
kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế có khả năng trở thành
những lợi thế của cả quốc gia trong điều kiện cạnh tranh
đang có xu hướng mở rộng đến giai đoạn khu vực hoá và
toàn cầu hoá.
Độc quyền pháp định: đây là đặc thù của nhà nước trong
thời đại ngày nay cần phải khống chế một số ngành quan
trọng như dịch vụ công cộng, công nghiệp quốc phòng
v.v.v để bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, của mọi thành
viên trong xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia, ổn định về
chính trị xã hội của đất nước.
1.2.2.2

Nhược điểm của độc quyền đến nền kinh tế:

Theo lịch sử phát triển kinh tế thế giới và Việt Nam độc
quyền có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp khống chế
sản lượng để bán giá cao, hạn chế tiêu dùng, tạo sốt giá
trong nền kinh tế. Ví dụ Sốt phân bón, xi măng của Việt Nam,
sốt dầu của thế giới.
Độc quyền không gây ra đòi hỏi phải cắt giảm chi phí, sử
dụng các nguồn lực hiệu quả làm tổn thất cho xã hội về
tổng thể.
Độc quyền sẽ thủ tiêu cạnh tranh làm cho sản xuất và
kinh doanh trở nên trì trệ vì không có động cơ nội lực buộc
các doanh nghiệp phải cải tiến sản xuất, dịch vụ và thậm
chí ngăn cản khoa học phát triển và ứng dụng vào thực tế.
Độc quyền có thể dẫn tới tự định giá làm thiệt hại đến
lợi ích của người tiêu dùng. Ví dụ Ngành điện lực VN chỉ vì

lợi ích cục bộ ngành nên đã báo lỗ giả để sử dụng sai
mục đích tiền lời hàng trăm tỉ đồng.


1.2.3
Vai trò của chính phủ trong việc kiểm soát cạnh
tranh và độc quyền:
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và độc quyền có tính
khách quan và tất yếu. Để duy trì ưu điểm của cạnh tranh và
độc quyền trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cần phải
tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và giới
hạn cạnh tranh và độc quyền ở mức không cho tồn tại cạnh
tranh vô chính phủ và độc quyền tuyệt đối.
Cụ thể các chính phủ ngày nay đã có những luật lệ qui
định về đảm bảo cạnh tranh tự do và chống độc quyền
nhằm những mục tiêu cơ bản sau:


 Bảo vệ và nâng đỡ các doanh nghiệp mới thành lập trong
việc tham gia thị trường;
 Chống hình thành các độc quyền chi phối thị trường làm
thiệt hại đến lợi ích người tiêu dùng;
 Đảm bảo phân phối các nguồn lực trong nền kinh tế một
cách hiệu quả;
 Duy trì độc quyền ở một số ngành, lónh vực để bảo vệ
lợi ích công cộng, và tạo những ngành kinh tế có khả
năng cạnh tranh cao để cạnh tranh với các quốc gia khác
trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế hiện nay.
1.3


Khái quát về NHTM và kinh doanh ngân hàng hiện
đại:

1.3.1

Bản chất của ngân hàng thương mại

NHTM xét về bản chất chỉ là một doanh nghiệp đặc biệt
trên thị trường vì hoạt động giống như những doanh nghiệp
khác như phải có vốn độc lập, có mua, bán và cũng quan
tâm đến lợi nhuận v.v.v Nhưng là một doanh nghiệp đặc
biệt vì hàng hoá kinh doanh không phải là hàng hoá thông
thường mà là hàng hoá đặc biệt: tiền tệ, kim loại quý,
chứng khoán v.v.v
Kinh doanh ngân hàng có một số đặc trưng sau: (1) hàng
hoá kinh doanh là tiền tệ, loại hàng hoá có tính xã hội
hoá cao có thể chuyển sang hình thức hàng hoá khác một
cách dễ dàng; loại hàng hoá được cưỡng chế lưu hành và
số lượng có hạn; (2) khách hàng cùng lúc có thể vừa là
người cung cấp đầu vào cho ngân hàng và cũng là người
sử dụng sản phẩm (vay, thanh toán, bảo lãnh, mua bán vàng
bạc v.v.v) của ngân hàng;
(3) thị trường kinh doanh ngân hàng là thị trường cạnh tranh
không hoàn hảo; (4) kinh doanh ngân hàng ngày càng đòi
hỏi phải có sự hỗ trợ của kỹ thuật cao nhằm tăng tính
tiện nghi cho khách hàng; (5) kinh doanh ngân hàng bị nhà
nước kiểm soát chặt qua các chính sách của nhà nước như
qui định mức vốn tối thiểu, giới hạn lónh vực kinh doanh, ấn
định lãi suất, tỉ giá hối đoái, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hạn
mức tín dụng v.v.v vì sự tác động dây chuyền của hoạt động

ngân hàng đến nền kinh tế.
1.3.2
Vai trò và chức năng của NHTM trong nền kinh
tế thị trường
1.3.2.1

Vai trò của NHTM (Hình 1.1)

Trung gian tín dụng: là chức năng cơ bản nhất của NHTM
nhằm huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay


các nhu cầu trong xã hội góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
Trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
trong quá trình quản lý tiền cho thân chủ NHTM trong việc
thanh toán cho khách hàng đã tạo ra sự tiện lợi cho khách
hàng như giúp khách hàng đảm bảo sự an toàn, ít tốn thời
gian và tiết kiệm được cho khách hàng nhiều chi phí khi phải
tự mình tiến hành việc thanh toán.
Cung cấp bảo đảm thanh toán cho khách hàng: nhằm thanh
toán những khoản nợ của khách hàng khi đến hạn như
phát hành thư tín dụng (L/C), hoặc bảo lãnh thư (BG) v.v.v.
Cung cấp dịch vụ tài chính và thực hiện chính sách tiền tệ
của nhà nước: do có điều


×