TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
------
BÀI THẢO LUẬN NHỎ
MƠN: VĂN HĨA KINH DOANH
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VĂN HĨA KINH DOANH NHẬT BẢN
Giáo viên hướng dẫn:
Trịnh Đức Duy
Nhóm:
03
Lớp học phần:
2157BMGM1221
HÀ NỘI-2021
1
MỤC LỤC
PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN
................................................................................................................ 2
1.1. Khái niệm văn hóa kinh doanh là gì?........................................2
1.2. Sơ lược về văn hóa kinh doanh Nhật Bản:................................2
1.3. Lý giải nguồn gốc hình thành văn hóa kinh doanh đặc thù của
người Nhật:........................................................................................ 2
PHẦN 2: VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN.............................3
2.1. Các yếu tố hữu hình trong văn hóa kinh doanh của Nhật Bản:
............................................................................................................ 3
2.1.1. Chào hỏi:..............................................................................3
2.1.2. Giờ làm việc:.........................................................................4
2.1.3. Trao đổi danh thiếp:..............................................................5
2.1.4. Trang phục............................................................................6
2.1.5. Tặng quà:..............................................................................7
2.1.6. Đàm phán:.............................................................................8
2.2. Các yếu tố vơ hình trong văn hóa kinh doanh của Nhật Bản...9
2.2.1. Triết lý kinh doanh:...............................................................9
2.2.2. Đạo đức trong kinh doanh:.................................................12
2.2.3. Niềm tin:..............................................................................15
PHẦN 3: KẾT LUẬN.........................................................................16
PHẦN 4: BẢNG PHÂN CHIA NHIỆM VỤ NHÓM 3.....................17
LÝ DO CHỌN DOANH NGHIỆP ACECOOK:...............................18
2
PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN
1.1. Khái niệm văn hóa kinh doanh là gì?
Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và
hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách
ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay khu vực.
1.2. Sơ lược về văn hóa kinh doanh Nhật Bản:
Nhật Bản là một quốc gia có bề dày lịch sử lâu đời và đáng ngưỡng mộ, trải qua
thời kỳ lịch sử, biến cố và gặp phải những trắc trở như thiên tai, động đất, sóng thần,
Nhật Bản vẫn mạnh mẽ đứng lên. Chính những trắc trở và biến cố đó đã tơi luyện nên
một tinh thần dân tộc mạnh mẽ, kiên trì và bền bỉ. Đặc biệt, tinh thần trong làm việc, cách
ứng xử và những đức tính cao đẹp của người Nhật khiến cho người đời phải khâm phục.
Văn hóa Nhật Bản hàng ngàn năm đã hình thành nên những phong tục, tập quán,
lễ nghi trong văn hóa ứng xử, cách ăn mặc và lối sống sinh hoạt hằng ngày của người dân
Nhật Bản. Do vậy, trong kinh doanh, người Nhật cũng thể hiện văn hóa riêng. Văn hóa
ứng xử trong kinh doanh của người Nhật có nét giống như Phương Tây, đó là sự lịch
thiệp, nhạy bén và thơng minh, cũng có những đặc điểm như Châu Á, là sự tinh tế, linh
hoạt. Nhưng văn hóa kinh doanh Nhật Bản cũng có những nét rất riêng mà khi nhắc đến
Nhật Bản là người ta nghĩ ngay đến, đó là sự chăm chỉ, sự trung thực và trung thành.
1.3. Lý giải nguồn gốc hình thành văn hóa kinh doanh đặc thù của người Nhật:
Ảnh hưởng từ nền văn hóa chung của người Nhật
Đất nước Nhật Bản luôn được biết đến là một đất nước có nền văn hóa lâu đời,
đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp hài hòa cái mới và cái cũ tạo nên những nét văn hóa đặc
trưng của Nhật Bản. Văn hóa Nhật bản cũng được đánh giá là một yếu tố quan trọng tạo
nên sự thành công của xứ hoa anh đào như ngày hôm nay, là động lực thúc đẩy sự thay
đổi của đất nước. Chính vì vậy, văn hóa trong kinh doanh của người Nhật cũng cũng bị
ảnh hưởng từ nền văn hóa chung và tạo ra nét khác biệt trong kinh doanh của người Nhật
so với các nước khác trên thế giới.
Tính cách, con người quyết định đến văn hóa kinh doanh
Văn hóa trong kinh doanh ở Nhật Bản là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa hiện
đại đến truyền thống tạo nên nét đặc trưng riêng trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên để
tạo điểm nhấn trong nét đặc trưng này, con người và tính cách quyết định một phần lớn
đến văn hóa kinh doanh nói chung cũng như cách ứng xử, phong cách làm việc của họ
trong lĩnh vực này nói riêng. Những đức tính đặc trưng của con người Nhật Bản như là:
ngay thẳng, dũng cảm, lễ phép, nhân từ, chân thật, tự quản lý bản thân, trung thành, danh
dự là những yếu tố tác động trực tiếp đến sự hình thành văn hóa kinh doanh ở Nhật Bản.
3
PHẦN 2: VĂN HÓA KINH DOANH NHẬT BẢN
2.1. Các yếu tố hữu hình trong văn hóa kinh doanh của Nhật Bản:
2.1.1. Chào hỏi:
Văn hóa kinh doanh Nhật Bản khơng thể thiếu văn hóa chào hỏi. Đó chính là điều
đầu tiên lấy được thiện cảm của đối tác và giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên.
Những điều cần phải chú ý trong chào hỏi ở Nhật bản:
Nên gọi điện thoại trước một cuộc gặp mặt hay tốt nhất là nhờ một người trung
gian nếu cả hai bên chưa từng gặp mặt nhau. Người Nhật coi trọng việc đúng giờ do đó
nên đến đúng giờ hay sớm hơn giờ hẹn gặp nếu không, người Nhật Bản sẽ cảm thấy thô
lỗ hay vô lễ. Nếu đến muộn mà không xoay sở được, hãy gọi lại báo trước giờ hẹn gặp.
Cách chào của người Nhật có sự phân biệt theo thời gian sáng, trưa, chiều, tối và
khơng có đại từ nhân xưng kèm theo. Cúi chào là cả một nghệ thuật, khi cúi chào phải
duỗi hai tay đối với nam giới và chắp hai tay ra phía trước đối với nữ, đầu và thân cúi
thẳng xuống, mắt nhìn xuống sàn. Nếu chào một người có chức vị tương đương, có thể
cúi ngang mức ơng ta chào, nếu người đó lớn tuổi hơn, nên cúi sâu một chút.
Người Nhật thường hay mỉm cười. Há hốc miệng bị xem là thơ lỗ, vì vậy họ
thường che miệng khi cười, khi biểu hiện sự ngạc nhiên hay ngờ vực. Tư thế ngồi cũng là
một điều quan trọng trong việc gặp gỡ và tiếp xúc. Người trẻ tuổi nên ngồi với tay đặt
trên đùi, đầu và vai hơi nghiêng về phía trước để tơn trọng người lớn tuổi.
Đối tác người Nhật có thói quen ăn nói nhỏ nhẹ, thái độ chững chạc. Đây khơng
phải là biểu hiện của một cá tính yếu đuối mà là biểu thị của sự khôn ngoan, kinh nghiệm
4
và tuổi tác. Vì vậy, cần phải có thái độ ôn hòa mềm mỏng với người Nhật, tránh thái độ
bực dọc, nóng nảy.
2.1.2. Giờ làm việc:
Điều đặc trưng trong phong cách làm việc của người Nhật chính là sự tăng ca làm
việc. Ở Nhật Bản mọi người có xu hướng tăng ca, làm thêm mỗi ngày.
Các công chức ở Nhật Bản thường làm việc vất vả hơn, họ thường làm thêm 5-6
tiếng so với giờ làm việc quy định. Họ thường ra ngồi ăn tối và uống chút gì đó với họ
hàng và bạn bè buổi tối. Đây là một phần quan trọng của một ngày làm việc, vì người
Nhật vừa ăn vừa nói chuyện làm ăn vào bữa trưa hoặc tối là chuyện bình thường.
Các nhân viên trẻ thì thường trở về văn phòng sau buổi hoạt động giao tiếp để
hồn thành cơng việc của mình hay đơn giản chỉ để có mặt. Kiểu thể hiện này đem lại
cảm giác là người đó cần cù, nhanh nhẹn có trách nhiệm. Tuy nhiên, người Nhật khơng
địi hỏi người nước ngồi cũng ở lại muộn như vậy. Dù sao, họ cũng đánh giá cao những
người làm muộn như họ.
Người Nhật có quan niệm rằng tăng ca là cách thể hiện sự cống hiến cho doanh
nghiệp. Đồng thời, chính doanh nghiệp cũng thường dựa vào thời gian làm việc ngắn hay
dài để quyết định tăng chức hay bổ nhiệm. Do đó để thăng chức thì nhân viên thường
phải làm tăng ca để cho thấy sự nỗ lực cống hiến cho công ty để chứng minh với các
nhân viên cấp cao.
Ví dụ, Văn hóa Karoshi – “Làm việc đến chết” là một loại văn hóa làm việc có
thật ở Nhật Bản. Các cuộc điều tra của nhà chức trách Nhật Bản trước khiếu nại của
người lao động về tình trạng làm việc quá sức tại 24.042 nơi làm việc cho thấy 37% các
công ty này yêu cầu nhân viên làm việc trên 45h mỗi tháng hoặc hơn (theo báo cáo của
Bộ Y Tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản.
5
2.1.3. Trao đổi danh thiếp:
Văn hóa trao và nhận danh thiếp được người Nhật đánh giá rất cao. Chỉ là những
thao tác diễn ra trong vài phút đầu của cuộc gặp mặt, tuy nhiên việc trao đổi danh thiếp
cũng đòi hỏi những quy tắc nhất định.
Nguyên tắc chung trong cách trao đổi danh thiếp trong văn hóa giao tiếp của người Nhật:
Chú ý đến cấp bậc khi trao đổi danh thiếp
Văn hóa Nhật Bản nhìn chung rất coi trọng về vị trí cấp bậc, thứ tự cao thấp trong
giao tiếp để qua đó áp dụng các quy tắc lễ nghi, thái độ tơn kính phù hợp. Vì vậy trong
giao tiếp, hợp tác cùng người Nhật, bạn cần đặc biệt chú ý đến chức vụ cao nhất được in
trong danh thiếp của đối phương để xưng hơ cho phù hợp.
Ví dụ, người Nhật thơng thường có thói quen xưng hơ theo cấp bậc như Giám
đốc, hay Trưởng phịng chứ ít khi gọi trực tiếp là “ Ơng” hay “ Ngài”.
Hồn cảnh trao đổi danh thiếp
Người Nhật nói chung hay doanh nhân Nhật Bản nói riêng khơng có thói quen tùy
tiện trao đổi danh thiếp trừ trường hợp họ đã được giới thiệu, biết trước về đối tác giao
dịch. Bên cạnh đó, thứ tự cao thấp, cấp bậc trong giao tiếp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến
hoàn cảnh trao danh thiếp. Trong các cuộc đàm phán, thơng thường người có địa vị thấp
hơn sẽ không thể chủ động đề nghị trao đổi danh thiếp với cấp trên.
Gọi tên chính xác đối tác Nhật Bản được in trên danh thiếp
Xuất phát từ thực tế ở Nhật Bản có đến khoảng hơn 100.000 họ khác nhau nên
việc gọi chính xác tên của đối phương được in trong danh thiếp là khá phức tạp. Trong
trường hợp khi nhận được danh thiếp của đối phương mà bạn không nắm rõ được cách
6
đọc chính xác thì nên xác nhận lại tên họ, vị trí cơng tác, cơng ty của họ để thể hiện sự
quan tâm, tơn trọng từ phía mình.
u cầu chung về danh thiếp của người Nhật trao đổi danh thiếp
Không sử dụng danh thiếp đã bị rách, cũ nát, có vết bẩn, nếp gấp; tên và chức vụ
thường được in đậm, trong đó chỉ in chức vụ cao nhất tránh nhiễu loạn thông tin; ghi cụ
thể công ty công tác, địa chỉ email, số điện thoại liên lạc; danh thiếp nên để ở nơi dễ lấy,
để tránh bị mất hay rơi nên đặt danh thiếp vào ví đựng riêng, tránh rút danh thiếp trực tiếp
từ túi quần, túi áo.
2.1.4. Trang phục
Nhật Bản rất coi trọng hình thức. Trang phục phù hợp với hoàn cảnh, gọn gàng,
sạch sẽ ảnh hưởng quan trọng đến uy tín của cá nhân và của cơng ty. Trong việc giáo dục,
đào tạo nhân viên, có cơng ty cịn chú ý đến việc hướng dẫn chi tiết từ trang phục đến
cách để đầu tóc, móng tay. Phương châm của người Nhật là xuất phát từ hình thức, có
nghĩa là bắt đầu từ việc hồn thiện hình thức, sau đó tiếp tục cụ thể hóa dần nội dung. Họ
luôn luôn coi trọng việc mặc đồng phục tập thể bởi vì chính điều ấy đã thể hiện tác phong
làm việc chung, bỏ đi cái tôi cá nhân, xây dựng mục tiêu chung của tập thể. Vì những lí
do tốt đẹp ấy làn sóng sử dụng trang phục đồng phục tập thể được nhiều nước, nhiều
doanh nghiệp trên khắp thế giới học tập theo.
Ví dụ, Đối với trang phục nam, tờ Bows n Tie cũng như Venture Japan đều ghi
nhận rằng doanh nhân Nhật Bản đều mặc comple màu tối vì nó thể hiện sự chun
nghiệp. Ở Mỹ hay những nước khác, không cần thiết phải mặc comple đen, nhưng ở
Nhật, đó lại là điều quan trọng. Thơng thường, comple màu tối, áo sư mi và cà vạt cổ điển
luôn tạo nên phong cách doanh nhân thành đạt. Đối với trang phục nữ, nữ doanh nhân
đều khuyến khích mặc đồ màu tối nhưng phải sang trọng. Tờ Japanese Business resource
7
nghiên cứu, đối với qui định một số công ty, phụ nữ khơng nên mang nhiều trang sức,
giày cao gót hay váy quá ngắn.
2.1.5. Tặng quà:
Tặng quà là một phần trung tâm trong văn hoá kinh doanh của người Nhật. Ở Nhật
Bản, việc tặng quà giữa các đối tác là việc làm gần như không thể thiếu. Trong kinh
doanh họ rất coi trọng việc tặng quà vì tặng quà được xem như một cách thể hiện sự yêu
mến và kính trọng lẫn nhau và để xác định các mối quan hệ xã hội.
Khi tặng quà người Nhật cần lưu ý:
Người Nhật thường kỵ những món quà có số lượng 4 hoặc 9; Không tặng trà làm
liên tưởng đến sự đau buồn hoặc nó cũng biểu thị cho sự khơng trong sạch; Không tặng
đồ sắc bén (biểu thị sự cắt đứt mối quan hệ); Không nên tặng người Nhật chiếc lược chải
tóc vì từ chiếc lược trong tiếng Nhật là "kushi", "ku" là sự chịu đựng, sự đau khổ, "shi"
đồng âm với từ "chết"; Khơng tặng những món q có in hình con cáo, vì họ cho rằng
con cáo tượng trưng cho tình tham lam, giảo hoạt; Khơng nên tặng đồ vật làm bằng thủy
tinh, sành sứ và vật có hình dáng như bình hay hủ, vì điều đó thể hiện sự mau vỡ, không
bền; Nếu người nhận quà không phải là người thân hay người u của mình thì khơng
nên tặng cà vạt và dây đeo cổ vì người nhận sẽ nghĩ rằng mình muốn trói buộc họ;…
Khi đến Nhật, nên mang món q lưu niệm của đất nước mình làm quà. Quà tặng
không cần thiết dành riêng cho người được nhận quà mà có thể là người thân của họ. Một
8
doanh nhân Nhật cũng sẽ rất vui nếu người tặng q thể hiện lịng thành khi biết rõ gia
đình anh ta và mang quà cho bọn trẻ.
Người Nhật coi việc đóng gói và nghi thức trao quà là nghệ thuật văn hoá giao tiếp
tinh tế và nhiều ý nghĩa. Cách gói quà của họ cũng rất cầu kỳ, bên trong ba lớp, bên ngoài
ba lớp và cuối cùng thắt một sợi dây lụa, dây giấy xinh đẹp. Nên đựng quà trong túi kín
và tặng quà vào cuối buổi gặp gỡ, không tặng trước khi làm việc.
Cũng như ở Việt Nam, phong thái người tặng quà cũng rất được đề cao ở Nhật.
Không nên tặng quà riêng trước mặt những người khác và khi tặng nên đến tận nhà người
mình muốn tặng, trao quà một cách tự nhiên và khiêm tốn. Phải trao bằng hai tay kèm cúi
đầu và nói câu khiêm tốn “Đây là một món quà nhỏ xin vui lịng nhận nó” cho dù món
q đó rất đắt tiền. Việc này thể hiện sự tin tưởng vào tầm quan trọng của mối quan hệ so
với món quà. Và nếu bạn là người được tặng quà thì nên lịch sự nói đơi ba câu từ chối
trước khi nhận q và khơng mở q trước mặt người tặng.
Ví dụ, Bạn làm ở công ty Nhật, đồng nghiệp bạn là người Nhật mời bạn đến dự
tiệc cưới của cơ ấy thì khi tiền mừng cưới phải dùng loại phong bì có chữ "kotobuki", nếu
là q thì phải đóng gói cẩn thật có thắt dây giấy màu đỏ trắng theo hình chiếc kéo để
tương trưng cho may mắn đang đến. Còn khi bạn thăm đồng nghiệp người Nhật của bạn
bị ốm thì phong bì khơng trang trí hoa đỏ. Và đặc biệt khơng để số tiền có số 4 hoặc 9
cũng khơng nên để số chẵn.
2.1.6. Đàm phán:
Hiểu được văn hóa, phong cách đàm phán của cơng ty đối tác là chìa khóa quan
trọng để có thể dành được những hợp đồng chất lượng.
Những lưu ý trong đàm phán ở Nhật Bản:
Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện thị trường Nhật, xác định được sản phẩm của
mình định vị trên thị trường Nhật như thế nào? Phải chuẩn bị đầy đủ những thông tin cần
thiết về công ty và sản phẩm: giá cả, chất lượng, khả năng cung ứng hàng hóa ổn định,…
để giới thiệu cho khách hàng.
Người Nhật thích trực tiếp xem hàng cụ thể. Do vậy, để thuyết phục đối tác Nhật
Bản công ty cần chuẩn bị đầy đủ các mẫu sản phẩm, catalog; các tài liệu về cơng nghệ
của mình.
Q trình đàm phán được bắt đầu bằng việc giới thiệu sản phẩm mẫu sau đó tiến
tới các điều kiện giao dịch. Tiến trình ra quyết định theo nguyên tắc thống nhất của các
cơng ty Nhật Bản (một phịng ban muốn ký kết giao dịch thì phải chuyển một bản đề nghị
lần lượt đến các phịng ban cịn lại trong cơng ty), do đó bạn cần có sự kiên nhẫn chờ đợi.
9
Trước khi đàm phán, người Nhật sẽ tìm hiểu rất kỹ về đối tác nước ngồi của
mình, khơng chỉ về đối tác mà cả về bạn hàng của đối tác. Khi soạn thảo kí kết hợp đồng,
người Nhật ít dùng luật sư và họ khơng thích hợp đồng q tỉ mỉ, chi tiết, cứng nhắc, khó
thay đổi. Họ đàm phán chủ yếu dựa trên uy tín của bên đối tác.
Ví dụ, Tình huống: cuộc đàm phán lần thứ nhất giữa cơng ty Đại Nam Việt Nam
và tập đồn Yamoto của Nhật Bản bàn về vấn đề chuyển giao công nghệ. Được biết cuộc
đàm phán lần thứ nhất đó thất bại và chỉ thực hiện được hết giai đoạn mở đầu đàm phán.
Nguyên nhân thất bại là do:
Đối tác Nhật Bản – Ông Hirosima cúi đầu chào nhưng Ông Hưng bên đối tác Việt
Nam lại giơ tay ra bắt và tay chạm đầu ông Hirosima.
Các doanh nhân Nhật Bản rất coi trọng việc trao danh thiếp, cách nhận và trao
danh thiếp rất quan trọng thể hiện sự tôn trọng với đối tác. Tuy nhiên trong cuộc đàm
phán lần thứ nhất khi ông Hirosima trao danh thiếp, ông Hưng cầm rất nhanh và đút ngay
vào túi quần và khi trao lại danh thiếp ông Hưng trao một tay, không để chiều về hướng
đối tác. Việc này khiến ông Hirosima cảm thấy không được tơn trọng và khơng hài lịng
nên ơng đã hỗn cuộc đàm phán lần thứ nhất này.
Như vậy, thất bại ngay từ màn chào hỏi là do bên Việt Nam chưa có sự chuẩn bị
tìm hiểu về văn hóa kinh doanh cụ thể là văn hóa đàm phán của Nhật Bản.
2.2. Các yếu tố vơ hình trong văn hóa kinh doanh của Nhật Bản
2.2.1. Triết lý kinh doanh:
Triết lý kinh doanh là ý tưởng, là phương châm hành động, là hệ thống giá trị và là
mục tiêu chung của doanh nghiệp; chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
đạt hiệu quả cao. Triết ký kinh doanh cũng là cốt lõi của văn hóa kinh doanh, nó đề ra
mục tiêu và phương pháp hành động mà toàn thể nhân viên trong doanh nghiệp phải đạt
tới.
Ở Nhật Bản, họ xem triết lý kinh doanh là kim chỉ nam của doanh nghiệp, là hình
ảnh mà doanh nghiệp mong muốn tạo dựng trong xã hội. Triết lý kinh doanh hướng đến
mục tiêu vì sự phát triển của đất nước, giúp ích xã hội và vì hạnh phúc của nhân dân đã
và đang được nhiều doanh nghiệp Nhật Bản xem là sứ mệnh của doanh nghiệp mình.
Để hiểu rõ hơn, nhóm xin phân tích một số triết lý về kinh doanh của người Nhật:
Đề cao sự tử tế
10
Ở Nhật Bản, mỗi một cơng ty đều sẽ có những triết lý kinh doanh riêng. Tuy
nhiên, nhận thấy rằng, dù là triết lý gì đi chăng nữa, thì gần như đều sẽ quy về một mối,
đó là "lịng hiếu khách". Điều này là cực kì rõ ràng, chẳng hạn như với tập đồn Nichia
thì là: “Customer first”, tức: "Khách hàng là ưu tiên hàng đầu". Câu triết lý này được in
to và rõ ngay trong Nichia Museum. Tại doanh nghiệp này, những nhân viên của Nichia
nói riêng và người Nhật nói chung đều có một phong thái phục vụ khách hàng rất nồng
nhiệt và chu đáo. Nếu có vấn đề gì phát sinh, việc đầu tiên họ sẽ làm đó là nhận lỗi và sau
đó tìm hướng xử lý. Tất cả đều chỉ vì một lí do lớn nhất, đó là để khách hàng được thoải
mái hết sức có thể.
Doanh nghiệp giống như một đại gia đình
Hầu hết các doanh nghiệp Nhật Bản nổi tiếng đều áp dụng mơ hình quản ý kiểu
gia đình, mặc dù mỗi doanh nghiệp có đặc điểm độc đáo riêng trong cách quản lý nhưng
phân tích về mặt tổng thể thì những doanh nghiệp đó có rất nhiều đặc điểm chung.
Inamori Kazuo, nhà sáng lập hãng điện tử khổng lồ Kyocera, nhà cố vấn có quyền
hạn cao nhất của Hãng cung cấp dịch vụ mạng viễn thông KDDI và cũng là người "tái
sinh" Hãng hàng không Nhật Bản (Japan Airlines) là một trong những doanh nhân tiêu
biểu với triết lý kinh doanh. Theo ông, doanh nhân phải đặt mục tiêu kinh doanh lớn nhất
là mang lại hạnh phúc cả về vật chất và tinh thần cho nhân viên. Có một câu nói rất hay
của ơng chủ người Nhật giúp bạn hiểu vì sao ở đất nước này tồn tại những công ty tới
3.000 năm tuổi “Nếu muốn có trứng hãy chăm sóc cho những con gà mái. Một khi bạn
hành hạ hay giết nó thì điều đó sẽ chẳng thể thực hiện được. Hãy kinh doanh với chủ
nghĩa đại gia đình. Liệu bạn có thể hy sinh bản thân và cố gắng hết sức vì nhân viên
khơng? Nếu là những ơng bố, bà mẹ, chắc chắn bạn sẽ nghĩ cho con cái trước tiên đúng
không? Trường hợp này cũng giống như vậy!”.
Đào tạo và sử dụng người
Thực tế và hoàn cảnh của Nhật Bản khiến nguồn lực con người trở thành yếu tố
quyết định đến sự phát triển của các doanh nghiệp. Điều đó được xem là đương nhiên
trong Văn hóa Doanh nhân Nhật Bản. Các doanh nhân khi hoạch định chiến lược kinh
doanh luôn coi đào tạo nhân lực và sử dụng tốt con người là khâu trung tâm. Các doanh
nhân quan tâm đến điều này rất sớm và thường xuyên. Các doanh nhân thường có hiệp
hội và có quĩ học bổng dành cho sinh viên những ngành nghề mà họ quan tâm. Họ khơng
đẩy nhân viên vào tình trạng bị thách đố do không theo kịp sự cải cách quản lí hay tiến bộ
11
của khoa học cơng nghệ mà chủ động có kế hoạch ngay từ đầu tuyển dụng và thường kì
nâng cấp trình độ chun mơn nghiệp vụ cho nhân viên.
Các hình thức đào tạo rất đa dạng, nhưng chú trọng các hình thức đào tạo nội bộ
mang tính thực tiễn cao. Việc sử dụng người luân chuyển và đề bạt từ dưới lên cũng là
một hình thức giúp cho nhân viên hiểu rõ yêu cầu và đặc thù của từng vị trí để họ xác
định cách hiệp tác tốt với nhau, hiểu được qui trình chung và trách nhiệm về kết qua cuối
cùng, cũng như thuận lợi trong điều hành sau khi được đề bạt. Cách thức ấy cũng làm cho
các tầng lớp, thế hệ hiểu nhau, giúp đỡ nhau và cho mọi người cơ hội gắn mình vào một
lộ trình công danh rõ ràng trong doanh nghiệp.
Cống hiến cho xã hội
Nhật Bản là một đất nước nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, có nhiều thiên tai,
kinh tế chủ yếu là nông – ngư nghiệp cùng với việc bị ảnh hưởng bởi Tam Giáo Đồng
nguyên du nhập nên người Nhật Bản coi trọng: – Tinh thần tập thể – Hài hịa Thiên Nhân
Địa – Đề cao sự hợp lí – Sự ứng xử theo thứ tự coi trọng Lễ, Tín, Nghĩa, Trí, Nhân. Xã
hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình.
Hơn nữa, sau chiến tranh thế giới T2, Nhật Bản là nước thua trận, đất nước còn lại đống
tro tàn. Vì thế mà cả đất nước Nhật quyết tâm hàn gắn, xây dựng kinh tế nên xã hội Nhật
tôn vinh lao động xả thân vì doanh nhân vì xã hội.
Một minh chứng cụ thể cho tư tưởng này chính là triết lý kinh doanh của Cơng ty
Điện khí Matsushita: “Tinh thần xí nghiệp phục vụ đất nước” và ” kinh doanh là đáp ứng
như cầu của xã hội và người tiêu dùng”.
Thành công nhờ vào chất lượng
Các nhà sản xuất Nhật Bản quan niệm rằng, càng ngày con người sẽ dần dần chọn
cho mình những sản phẩm có chất lượng tốt để phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của
mình. Người Nhật có tính cầu tồn nên kĩ lưỡng ở tất cả các khâu từ chọn nguyên liệu
chất lượng cao, máy móc thiết bị phải tốt. Do đó có thể thấy các sản phẩm của Nhật Bản
từ đồ thực phẩm, mỹ phẩm, sữa, đến hàng tiêu dùng gia dụng, hàng điện tử, công nghệ,
xe cộ... đều đạt chất lượng cao.
Cái triết lý này được thể hiện rõ hơn thông qua 1 câu chuyện thực tế “Khi một chị
đi tham quan nhà máy sản xuất con chip của tập đoàn Nichia ở tỉnh Tokushima, đã từng
hỏi Giám đốc kỹ thuật của tập đồn rằng: “Vì sao khơng có logo Nichia in lên trên mỗi
12
chip Led?”. Thì câu trả lời được nhận lại là “những gì có gắn nhãn MAKE IN JAPAN
đều tốt hết, chính vì vậy việc in logo Nichia lên chip to là khơng cần thiết”
Đề cao uy tín, vì lợi ích của con người
Ở Nhật Bản, việc giữ chữ tín đã trở thành một nét văn hóa, đức tính này được
người Nhật coi trọng và giáo dục ngay từ khi cịn nhỏ. Bất cứ lý do gì khi sản phẩm của
họ có lỗi họ sẵn sàng nhận lỗi, thu hồi sản phẩm, khắc phục một cách thỏa đáng nhất để
đảm bảo uy tín. Với người Nhật, xin lỗi là một điều hồn tồn bình thường. Bởi xin lỗi
khơng phải là thất bại, không phải là bị cấp trên đánh giá thấp… mà đó chính là sự nhìn
nhận thẳng thắn vào sự thật để có sự cải tiến cho cơng việc tiếp theo, rút ra kinh nghiệm
cho mình. Do đó, người Nhật Bản quan niệm rằng, người nào biết xin lỗi là người có ý
chí cầu tiến, phát triển mình và sẽ được đánh giá cao.
Hơn nữa, văn hóa Nhật Bản luôn đề cao con người, xem con người là yếu tố quyết
định, cách sử dụng và khuyến khích con người là yếu tố số 1, giải quyết tốt các quan hệ
giữa con người là yếu tố xuyên suốt.
Ví dụ, triết lý kinh doanh của Công ty kỹ thuật Kyocera “mang laị lợi ích cho tồn
thể cán bộ, cơng nhân viên trên cả hai mặt vất chất và tinh thần, đồng thời cống hiện cho
sự tiến bộ của xã hội”.
2.2.2. Đạo đức trong kinh doanh:
Cũng như các quốc gia khác, Nhật Bản có những thói quen và văn hóa ứng xử nơi
văn phòng mang phẩm chất đạo đức trong kinh doanh tiêu biểu và nổi bật khiến nhiều
các doanh nghiệp trên thế giới đáng để học hỏi và nghiên cứu. Phong cách đạo đức kinh
doanh làm việc của người Nhật toát lên phẩm chất lịch thiệp và nghiêm túc rất đúng với
chất Nhật Bản.
Tôn trọng con người
Với những người cộng sự và dưới quyền: tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính
đáng, tơn trọng hạnh phúc, tơn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng
mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hợp pháp khác.
Đối nhân xử thế khéo léo
Người Nhật Bản có quy tắc bất thành văn trong khiển trách và phê bình như sau:
13
– Người khiển trách là người có uy tín, được mọi người kính trọng và chính danh.
– Khơng phê bình khiển trách tùy tiện, vụn vặt, chỉ áp dụng khi sai sót có tính hệ thống,
gây lây lan, có hậu quả rõ ràng.
– Phê bình khiển trách trong bầu khơng khí hịa hợp, khơng đối đầu.
Trong quan hệ, người Nhật Bản chấp nhận người khác có thể mắc sai lầm, nhưng
ln cho đối tác hiểu rằng điều đó khơng được phép lặp lại và tinh thần sửa chữa luôn thể
hiện ở kết quả cuối cùng. Mọi người đều có ý thức rất rõ rằng không được xúc phạm
người khác, cũng không cần buộc ai phải đưa ra những cam kết cụ thể. Những chuẩn mực
đạo đức xã hội, đạo đức doanh nghiệp đã tạo một sức ép vơ hình lên tất cả khiến mọi
người phải xác định được bổn phận của mình nếu muốn có chỗ đứng trong tổ chức.
Tơn trọng quyết định của nhóm
Người Nhật quan niệm thành cơng là nỗ lực của cả nhóm và khơng ai có thể tự
thành cơng. Họ nhấn mạnh giá trị của việc mọi người làm việc cùng nhau. Họ ưu tiên một
quy trình thảo luận mang tính hợp tác mà đơi khi có thể chậm một chút, nhưng cuối cùng,
vẫn đảm bảo được rằng tất cả mọi người đều có tiếng nói chung.
Tính trung thực
Người Nhật từ xưa đến nay ln giữ đức tính trung thực. Trung thực trong cơng
việc, gia đình, cuộc sống... Điều này dường như đã trở thành nét văn hóa của người Nhật.
Họ thường nói rằng :“Cơ quan cơng quyền của mỗi người và lịng tự trọng của họ chính
là hình thức xử phạt nặng và đau đớn nhất”.
Nghiêm túc trong công việc
Tại Nhật Bản, trong các cuộc họp, mỗi người luôn phát biểu một cách chậm rãi,
rành mạch, còn người nghe rất tập trung tinh thần. cốt lõi vấn đề là tạo ra không khí trang
nghiêm trong nơi làm việc, ngoại trừ giờ giải lao hoặc hoạt động ngồi khóa. Nhờ đó
cơng việc được hồn thành một cách hiệu quả nhất.
Tính trung thực của người Nhật được xây dựng một phần do đất nước Nhật Bản có
hệ thống pháp luật chặt chẽ và những quy định của doanh nghiệp nghiêm minh. Tính
trung thực cũng được thể hiện ở sự giáo dục con cái trong các gia đình Nhật. Với người
Nhật, trung thực và tử tế được ưu tiên hơn cả học giỏi và thông minh.
14
Ví dụ, Những gian hàng “khơng người bán”: Tại đây, người dân mang bày tại một
gian hàng và đính kèm giá vào mỗi loại mặt hàng. Nếu ai muốn mua chỉ cần tự chọn tự
cân và tự cho tiền vào thùng. Cuối ngày chủ cửa hàng sẽ đến thu dọn hàng và kiểm tiền.
Thông thường, mỗi đầu tuần, người ta bày hàng lên, ghim giá cả và để một thùng đựng
tiền ở đó, rồi đi làm việc khác. Khơng cần phải ngồi trơng. Người mua sẽ tự chọn, cân kí
và bỏ tiền vào thùng. Đến cuối tuần, người đó quay lại dọn hàng, lấy tiền trong thùng,
không thiếu một xu, mọi đồng tiền đều khớp với số hàng bày ra.
Trách nghiệm của doanh nghiệp Nhật Bản với xã hội
Trách nhiệm đối với xã hội của những doanh nghiệp Nhật Bản được thể hiện cả ở
triết lý và đạo đức kinh doanh của họ. Tư tưởng này đã ăn sâu vào tiềm thức của người
Nhật Bản. Như vào đầu tháng 9 này, Nhật Bản quyết định cung cấp thêm cho Việt Nam
440.000 liều Vacxin AstraZeneca, điều này thể hiện rõ tinh thần của Nhật Bản: “Ta khỏe
mạnh chỉ khi tất cả chúng ta khỏe mạnh”. Câu nói này khơng chỉ thể hiện tư tưởng của
Nhật Bản trong mùa dịch mà cịn ln hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày cũng như
kinh doanh.
Ví dụ, Hàng chục nghìn lãnh đạo doanh nghiệp lớn nhỏ tại Nhật Bản vẫn đang đều
đặn tham gia một lớp học được tổ chức hàng tuần, có tên gọi "Lớp học Đạo đức doanh
nghiệp".
Vào 6h sáng thứ Bảy, khi phần lớn mọi người vẫn cịn đang chìm trong giấc ngủ,
các chủ doanh nghiệp ở tỉnh Kanagawa đã mặc quần áo chỉnh tề để đến tham gia một lớp
học về đạo đức kinh doanh. Còn sớm nhưng ban tổ chức và các học viên đều đã rất tươi
tỉnh và tràn đầy năng lượng.
Mặc dù hình thức là một lớp học nhưng phần lớn thời gian được dùng cho học
viên trao đổi, kể lại các kinh nghiệm bản thân. Những câu chuyện xoay quanh lòng biết
ơn với cuộc sống, gia đình, khách hàng, hịa thuận với những người cùng nghề, quan tâm
đến cuộc sống nhân viên.
Tôn chỉ của lớp học là người chủ phải làm những cơng việc khó khăn nhất, vất vả
nhất, không đùn đẩy cho nhân viên. Một trong những cách rèn luyện tâm lý này là cọ nhà
vệ sinh. Ơng Ishi Shoji và ơng Mochizuki là những nhà doanh nghiệp có địa vị nhưng
ln tự mình cọ rửa nhà vệ sinh.
Trong lớp học, có những ơng bố, bà mẹ dắt cả con nhỏ đi. Cậu bé còn ngái ngủ và
chưa hiểu chuyện, nhưng có lẽ em sẽ cảm nhận được lịng tốt, sự nhiệt tình và biết ơn của
15
những người có mặt tại đây, để sau này trở thành một doanh nhân có đạo đức với một sự
nghiệp kinh doanh bền vững, lâu dài.
2.2.3. Niềm tin:
Nhật Bản là một xã hội theo đẳng cấp dọc, vì thế mà Nhật Bản khơng có quan
niệm về sự “bình đẳng”, các mối quan hệ của Nhật theo khuynh hướng người trên kẻ
dưới. Lòng trung thành trong một doanh nghiệp được coi như là một phẩm chất rất cao
quý, phải tuân theo kỷ luật trong công ty và tôn trọng cấp trên. Còn niềm tin là điều quan
trọng nhất giữa doanh nghiệp- doanh và niềm tin được hình thành qua hoạt động của
doanh nghiệp hay niềm tin thơng qua chính người đàm phán như sau:
Đặc điểm nổi bật là khi làm việc với các doanh nhân người Nhật là giữ chữ tín,
giữ lời hứa dù là những việc nhỏ nhất
Người Nhật rất nguyên tắc về thời gian và sự cam kết. Khi người Nhật hứa làm
xong việc vào đúng thời gian này, thì chắc chắn họ sẽ thực hiện đúng thời gian và đảm
bảo chất lượng và không rộng lượng bỏ qua lỗi lầm cho người khác khi sai hẹn. Vậy nên
nếu doanh nghiệp khơng thực hiện được lới hứa thì việc đầu tiên là phải xin lỗi, cho dù
bất cứ lý do gì. Sau đó tìm cơ hội thích hợp để giải thích.
Trao đổi thơng tin, đàm phán rất lâu và kỹ càng
Cho dù là công ty thương mại đơn thuần, trong đại đa số trường hợp, khách hàng
Nhật Bản vẫn yêu cầu đối tác làm ăn đưa tới tận nơi sản xuất để tận mắt chứng kiến tổ
chức, năng lực sản xuất của bạn hay các đối tác sản xuất hàng cho bạn. Nhưng khi bắt
đầu chính thức thì các cơng ty Nhật nổi tiếng là ổn định và trung thành với bạn hàng.
Người Nhật rất coi trọng việc gặp mặt trước khi hợp tác và rất chu đáo trong
việc chăm sóc khách hàng.
Làm quen: thời gian này khơng nên hấp tấp, vị trí ngồi cũng như cách giới thiệu
phụ thuộc vào cấp bậc từ cao đến thấp. Sau cuộc gặp này, họ thường mời bạn dùng cơm
tối với họ đây cũng là cách xây dựng mối quan hệ thân mật hơn.
Thu thập thông tin: thu thập thông tin từ đối tác và chuẩn bị thật chi tiết cho đề
nghị của mình, nên sẵn sàng trả lời những câu hỏi từ phía họ. Người Nhật khơng ra quyết
định cho lần gặp này vì vậy khơng nên nóng vội câu trả lời ngay từ đối tác.
16
Các thương nhân người Nhật rất thích chụp ảnh trong các buổi hội đàm, nhất là
dưới hình thức quốc huy, quốc kì. Và đối với việc mời ăn, đón, tiễn sân bay sẽ gây được
thiện cảm tốt, đặc biệt chú ý trong bữa ăn mời khách, ta nên chủ động rót đồ uống cho
khách, tránh trường hợp khách tự rót đồ uống cho mình.
Người Nhật rất coi trọng giờ hẹn
Khi đi làm việc với người Nhật ta phải chủ động lựa chọn phương tiện hợp lý và
thời gian đảm bảo để tránh trễ hẹn với bất kì lý do nào. Cách tốt nhất là chúng ta nên có
mặt ở nơi hẹn trước 5 phút, điều này cũng được xem là là sự tôn trọng và coi trọng cuộc
hẹn với họ.
Sự hịa thuận
Trong giao tiếp, người Nhật khơng muốn đối đầu, họ tin tưởng sự thỏa hiệp và hòa
giải tin tưởng tuyệt đối vào quyết định của tập thể. Tính bằng hữu trong kinh doanh thì
quan trọng hơn tính logic và người Nhật thường nói chuyện xã giao trước khi bàn bạc.
Doanh nghiệp Nhật khi đã có mối quan hệ đối tác thân thiết và niềm tin đã được tạo
dựng, họ có thể lập “Hợp đồng miệng” và hiệu lực của hợp đồng này ngang bằng với hợp
đồng bằng văn bản.
Người Nhật đánh gia cao sự đồng tâm hiệp lực, lãnh đạo là người quyết định sau
khi nghe ý kiến nhân viên. Quyết định sau cùng phải được mọi người nghiêm túc chấp
hành vì quyết định đó thể hiện sự đồng tâm hiệp lực của tất cả mọi người.
17
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Văn hóa kinh doanh của Nhật Bản ngày nay có thể coi là sự pha trộn giữa văn hóa
truyền thống dân tộc và pha trộn có chọn lọc những kinh nghiệm của các quốc gia châu
Âu, người Mỹ và một phần lớn nguyên nhân của những thành cơng là nhờ thích ứng và
cải tiến trong nước. Để đạt được thành cơng đó khơng thể khơng kể đến những mặt tích
cực trong văn hóa kinh doanh của Nhật Bản. Đầu tiên là việc tôn trọng thứ bậc và địa vị quan niệm về khoảng cách quyền lực, điều này kích thích sự cạnh tranh cùng phát triển
của người lao động Nhật, cũng như vấn đề huấn luyện đội ngũ bán hàng. Bên cạnh đó là
việc đánh giá cao lòng trung thành - quan niệm về bản chất của sự thật và chân lý. Lịng
trung thành đối với cơng ty và cấp trên được xem như một phẩm chất đạo đức cao q.
Vì vậy mà ln cố gắng tạo được một niềm tin cho nhân viên đối với một doanh nghiệp,
văn hóa doanh nghiệp kiểu Nhật đã tạo cho cơng ty một khơng khí làm việc như một gia
đình, các thành viên gắn bó với nhau chặt chẽ và được sự quan tâm của lãnh đạo. Hơn
nữa, phong cách làm việc của người Nhật còn gắn liền với tinh thần làm việc chăm chỉ,
hiệu quả, và tính nguyên tắc, kỷ luật cao được thể hiện mọi nơi, mọi lúc, đặc biệt là trong
cơng việc, chính điều này đã giúp Nhật Bản trở thành quốc gia có hiệu quả cơng việc cao
nhất thế giới.
Mặc dù vậy, văn hóa kinh doanh Nhật Bản còn tồn tại một số hạn chế như tư
tưởng trọng nam khinh nữ. Tỷ lệ phụ nữ nghỉ việc sau khi kết hơn là khá lớn, vai trị đi
làm đa số vẫn là nam giới. Và tư tưởng bài xích người lao động nước ngồi. Điều này
cũng ảnh hưởng đến một số mặt trong giao tiếp kinh doanh. Bên cạnh đó là khn mặt
nghiêm khắc, họ thường khơng diễn tả cảm xúc vui đùa trên khuôn mặt thay vào đó là
một khn mặt khiêm khắc. Đặc biệt trong các cuộc họp, họ nói nhỏ, giọng nói rất thận
trọng, và thường nhắm mắt khi chú ý gần tới người nói. Thói quen này với người nước
ngồi thể hiện dấu hiệu của sự khó chịu. Hơn nữa là văn hóa làm việc quá khắc nghiệt
khiến nhiều người rơi vào trầm cảm, tử tự.
Nhìn chung, văn hóa cũng như văn hóa kinh doanh của nước nào cũng có mặt tốt
và mặt xấu. Nhật Bản cũng còn chặng đường dài để thay đổi tư duy về công việc và giúp
cho người lao động Nhật hạnh phúc hơn. Bên cạnh đó, văn hóa kinh doanh của Nhật Bản
cũng có nhiều điều mà doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi như: tính trung thực, đề
cao phúc lợi xã hội, chú trọng chất lượng sản phẩm, con người cần cù, chăm chỉ, tư duy
vì tổ chức,….
18