Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Tieu luan moi truong va phat trien

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (92.78 KB, 13 trang )

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN

Đề tài:
1. Trình bày những hiểu biết về ơ nhiễm mơi trường
khơng khí
2. Phân tích những tác động mơi trường từ các hoạt động
nông nghiệp và giải pháp


1

I. Phần 1 (5 điểm). Trình bày những hiểu biết của anh / chị về
ơ nhiễm mơi trường khơng khí (khái niệm, nguồn gây ô
nhiễm, tác nhân gây ô nhiễm và hậu quả của ơ nhiễm khơng
khí).
Vấn đề ơ nhiễm mơi trường khơng khí ngày càng trở thành một vấn
đề nghiêm trọng, rất đáng lo ngại trên thế giới. Do sự phát triển
mạnh mẽ của nền công nghiệp hiện đại, hàng loạt khí thải xả vào
mơi trường mà khơng đảm bảo không gian xanh, các biện pháp hạn
chế và xử lý chất thải ở các đô thị và các trung tâm cơng nghiệp.
Điều đó đã dẫn đến việc ơ nhiễm khơng khí ngày càng trở nên tồi tệ,
gây suy giảm về chất lượng cuộc sống, các bệnh nghiêm trọng ở
người và động vật. Vấn đề ơ nhiễm khơng khí khơng chỉ là vấn đề ở
các khu công nghiệp hay các đô thị lớn, mà là vấn đề cần giải quyết
của cả quốc gia và toàn thế giới. Để làm rõ hơn về vấn đề ơ nhiễm
khơng khí và các vấn đề liên quan, bài tiểu luận này sẽ tập trung vào
khái niệm, nguồn, tác nhân gây ô nhiễm, hậu quả và các giải pháp
ngăn chặn và giảm thiểu vấn đề ơ nhiễm khơng khí.
Trước khi nói về ơ nhiễm khơng khí, cần hiểu tầm quan trọng và vai
trị của khơng khí và mơi trường khơng khí đối với hoạt động trên Trái


Đất nói chung và sự sống con người nói riêng. Khơng khí là một trong
các thành tố sinh thái quan trọng trong việc hình thành mơi trường,
tạo nên một hệ thống sinh thái đa dạng cho sự phát triển của con
người và các sinh vật khác. Môi trường không khí bao gồm các khí
như N2 (78%), O2 (21%), Ar (9340 ppmv), CO2 (410 ppmv) và hàng
loạt các chất khí khác (NASA, n.d). Khơng khí có mặt trong tất cả các
hoạt động trên Trái Đất như hô hấp của người và các lồi sinh vật,
duy trì sự cháy, điều hịa khí hậu, là mơi trường truyền âm thanh,
sóng, vơ tuyến điện. Ngồi ra, mơi trường khơng khí cịn là nơi chứa
đựng các khí thải cơng nghiệp của các nhà máy, xí nghiệp.


2

Với sự phát triển vượt bậc cùng với sự khai thác mơi trường q mức
nhưng lại khơng có biện pháp xử lý khí thải và bảo vệ mơi trường
khơng khí, nên cụm từ ơ nhiễm khơng khí khơng cịn xa lạ đối với con
người. Theo Lê Văn Khoa & các tác giả khác (2006), “Ơ nhiễm khơng
khí là sự có mặt của chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành
phần khơng khí, làm cho nó khơng sạch, bụi, có mùi khó chịu, làm
giảm tầm nhìn,…”, (tr. 186). Ơ nhiễm khơng khí ở mức độ nặng có
thể nhận biết được thông qua các giác quan của con người như khứu
giác và thị giác.
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang sống trong tình trạng
nghiêm trọng nhất của ô nhiễm không khí từ trước đến nay. Khoảng
91% dân số thế giới sống ở những nơi có mức chất lượng khơng khí
vượt q giới hạn cho phép, và các nước có thu nhập trung bình và
thấp bị ảnh hưởng nặng nề nhất (Tổ chức Y tế Thế giới [WHO]). Ở
Việt Nam, tình trạng này cũng đang ở mức báo động khi chất lượng
khơng khí ngày càng suy giảm, đặc biệt là ở 2 thành phố lớn là Hà

Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) khi chỉ số chất lượng khơng
khí và hàm lượng bụi và bụi mịn ln ở mức trung bình và kém
(IQAir, 2020).
Các chất gây ơ nhiễm khơng khí có thể được gọi là “tác nhân gây ơ
nhiễm khơng khí”. Thuật ngữ này được dùng để chỉ những những
phần tử bị thải vào khơng khí và gây hại đến con người cũng như các
hệ sinh thái. Các tác nhân này có thể ở dạng rắn hoạt giọt hay thể
khí (theo Lê Văn Khoa, tr.186). Các tác nhân gây ơ nhiễm có thể là
hạt bụi, chì, hay các khí CO, CO2, CH4 (metan), NOx (nitơ oxit), hoặc
các giọt H2SO4 và C6H6 (benzen).
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ơ nhiễm khơng khí hiện
nay. Các nguyên nhân ấy có thể được nhóm vào hai nguồn gây ô
nhiễm cơ bản sau: nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo. Đối với nguồn
tự nhiên có gió bụi, bão, lốc xoáy, tạo nên những cột hay đám mây


3

bụi lớn làm cho bụi và các chất khí độc hại bị khuếch tán đi xa, biến
ơ nhiễm khơng khí thành diện rộng. Cháy rừng làm ơ nhiễm khơng
khí khi chúng tạo ra những đám khói, khí và bụi rất lớn, tạo ra rất
nhiều khí CO2 và NOx mỗi lần xảy ra. Việc cháy rừng làm mất đi khả
năng lọc khí và bụi của Trái Đất nên tình trạng ơ nhiễm càng nặng
hơn sau khi cháy rừng xảy ra. Núi lửa phun trào thì lại tạo ra những
đám mây khói, khí có chứa CO2 và SO2 bao phủ một khu vực rộng lớn
sau đó bị gió khuếch tán lan ra diện rộng. Ngồi ra, q trình phân
hủy xác động, thực vật,… cũng là những nguyên nhân gây ô nhiễm
môi trường bởi chúng sẽ thải khí CH4 trong q trình phân hủy. Tuy
nhiên, theo Lê Văn Khoa và các tác giả khác cho rằng đây là các hiện
tượng tự nhiên và “ít khi tập trung một vùng và thực tế con người,

sinh vật cũng đã quen thích nghi với các tác nhân đó.” (tr.187)
Đối với nguồn ơ nhiễm nhân tạo bao gồm các hoạt động của con
người từ nông nghiệp, công nghiệp, cho đến sinh hoạt thường ngày
đều có thể gây ô nhiễm không khí. Đầu tiên là sự gia tăng của các
hoạt động công nghiệp và các phương tiện giao thông hoạt động liên
tục để phục vụ cho nhu cầu của con người. Đầu tiên là các hoạt động
của các nhà máy sản xuất công nghiệp, khai thác và sản xuất
khống sản, cơng nghiệp phục vụ qn sự, các hoạt động ấy đều cần
có sự đốt cháy của các nhiên liệu hóa thạch để vận hành được chuỗi
thiết bị máy móc trong q trình sản xuất và nghiên cứu. Tiếp theo
là các loại hình giao thơng và phương tiện giao thơng, mặc dù đã có
những nguồn năng lượng thay thế như điện, diesel sinh học… nhưng
những nguồn đó vẫn chưa phổ biến, đặc biệt ở Việt Nam, người dân
chủ yếu vẫn cịn sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch để vận hành
các phương tiện. Những hoạt động nói trên đều thải ra các khí có
chứa hàm lượng lớn CO2, CO, NOx… khi xả ra môi trường, nếu vượt
quá khả năng đệm của mơi trường thì tất yếu sẽ gây ra ơ nhiễm.
Những khí thải nói trên cũng là chất gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà
kính. Các hoạt động xây dựng, tháo dỡ các cơng trình nhà cửa, giao


4

thông, các nhà máy gạch, vôi cũng đưa vào môi trường lượng lớn bụi,
bụi mịn, khí CO và CO2. Đặc biệt ở các cơng trình giao thơng có các
phương tiện di chuyển qua lại làm bụi bị cuốn theo, khuếch tán rộng
và ảnh hưởng nặng đến khu vực xung quanh. Tiếp theo, hoạt động
nông nghiệp của con người cũng là một trong những ngun nhân
gây ra ơ nhiễm khơng khí. Chặt phá rừng để làm đất cho trồng trọt,
chăn nuôi, làm giảm đi đáng kể tốc độ lọc khí và bụi, bởi rừng có khả

năng hấp thụ lượng khí CO2 gấp nhiều lần so với các loại cây công
nghiệp hay nơng nghiệp. Sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ
thực vật cũng có ảnh hưởng bởi thành phần chính của chúng là các
khí gây hiệu ứng nhà kính, trong quá trình bảo quản hay sử dụng sẽ
bị biến đổi gây hại đến môi trường. Các hoạt động như đốt nương rẫy
và phân hủy các chất thải chăn nuôi cũng góp phần bởi trong q
trình đốt, lượng lớn bụi và CO2 bị thải vào mơi trường, cịn các chất
thải chăn ni khi phân hủy cũng thải ra lượng lớn khí CH 4. Sinh hoạt
hằng ngày của con người cũng làm tăng mức ơ nhiễm khơng khí bởi
các hoạt động đốt cháy cho nấu nướng, phân hủy rác thải sinh hoạt
và sử dụng lị sưởi.
Ơ nhiễm khơng khí gây ảnh hưởng xấu đến kinh tế, khí hậu, các mơi
trường khác và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Ở
những thành phố, đô thị công nghiệp lớn, người dân phải liên tục làm
việc và sinh sống trong môi trường không khí bị ơ nhiễm nên tỉ lệ
mắc bệnh về phổi, đặc biệt là ung thư phổi, và các bệnh về tim mạch
rất cao. Theo bác sĩ Phạm Hòa Lan “khoảng 30% trường hợp tử vong
do ung thư phổi liên quan đến ơ nhiễm khơng khí, tỷ lệ đột quỵ não,
tim mạch chiếm 25%” (được trích dẫn bởi Lê Nguyễn, 2020). Ngồi
ra ơ nhiễm khơng khí cịn gây ảnh hưởng trực tiếp đến da như gây
lão hóa da, mề đay, trứng cá và thậm chí cả ung thư da. Tệ hơn,
thống kê cho thấy có 7 triệu người chết mỗi năm vì ơ nhiễm khơng
khí (“Air Pollution”, n.d) và 600,000 trẻ em chết hàng năm vì các


5

bệnh liên quan đến ơ nhiễm khơng khí (theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp
Quốc [UNICEF], 2016).
Về mặt kinh tế, ô nhiễm khơng khí làm tốn kém chi phí chữa trị và

ngăn chặn khi đã làm hại đến sức khỏe con người. Nó gây hại đến
tính mạng hoặc làm mất khả năng lao động của con người, làm mất
đi lượng trợ cấp xã hội lớn và một lượng lớn nguồn lao động mỗi
năm. Nơng nghiệp bị ảnh hưởng khi bụi, khí hại trong khơng khí gây
hại đến q trình hơ hấp của thực vật và động vật. Ơ nhiễm khơng
khí tác động xấu đến hiện tượng nóng lên tồn cầu, gây ra mưa axit
nên làm mất khả năng chống chịu, thích ứng của động thực vật, tăng
khả năng xói mịn đất. Ngồi ra, mưa axit cịn gây rỉ sét, mài mịn,
làm giảm độ bền của các đồ vật, ăn mòn bê tông nên gây hại lớn về
mặt thẩm mỹ và độ bền của các cơng trình xây dựng.
Ơ nhiễm khơng khí tác động rất xấu lên kinh tế, con người và xã hội
nên cần có giải pháp để giảm thiểu những tác động ấy. Đây là vấn đề
lớn nên cần sự kết hợp của rất nhiều cá nhân và tập thể. Cần có sự
kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, kết
hợp môi trường xanh vào đơ thị, có những quy định chặt chẽ về việc
xả thải vào môi trường cùng với những mức phạt nặng đối với các
nhà máy xí nghiệp, cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, để làm giảm đi đáng
kể ô nhiễm khơng khí trong thời gian ngắn là điều khơng thể, nên
trước tiên con người cần tự bảo vệ bản thân bằng những biện pháp
thích hợp. Cần chủ động phịng ngừa các tác động xấu của ơ nhiễm
khơng khí bằng cách theo dõi chỉ số chất lượng khơng khí thường
xun để hạn chế việc ra ngồi khi khơng cần thiết. Đeo khẩu trang,
mũ, bao tay, áo khốc khi đi ra ngồi trong điều kiện chất lượng
khơng khí khơng ở mức an tồn.
Tóm lại, tình trạng ơ nhiễm mơi trường khơng khí ở thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng đang ở mức đáng báo động, gây ra những ảnh
hưởng nặng nề đến kinh tế xã hội và sức khỏe con người. Vì thế mỗi


6


cá nhân cần hiểu rõ ràng về vấn đề này để cùng nhau chung tay góp
phần hạn chế tình trạng ơ nhiễm khơng khí, để từ đó bảo vệ được
chính bản thân, những người thân yêu và toàn xã hội.

Phần 2: Anh/chị hãy phân tích những tác động mơi trường từ
các hoạt động nơng nghiệp, cho ví dụ minh hoạ cụ thể mỗi
tác động. Theo anh chị, cần có những giải pháp gì để hạn chế
các tác động này.
Để có thể theo kịp với tốc độ gia tăng dân số ở thời công nghiệp hiện
đại, sự ra đời của của các kỹ thuật, công nghệ và các sản phẩm hỗ
trợ cho việc trồng trọt, chăn nuôi đã tạo ra những chuyển biến rất
tích cực cho ngành nơng nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển
biến rất tích cực về mặt năng suất, mùa vụ và giá cả, sự tiến bộ của
nông nghiệp đã gây ra những tác động rất xấu đến môi trường. Tác
động xấu của nông nghiệp gây ảnh hưởng đến các mơi trường đất,
nước, khơng khí qua đa dạng các hoạt động như chăn thả gia súc gia
cầm, sử dụng phân bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tác động xấu của nơng nghiệp đến
mơi trường. Ngun nhân sâu xa nhất chính là dân số gia tăng quá
nhanh dẫn đến nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp tăng cao. Thế giới
đang phải giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm bằng cách sử
dụng các chất bảo vệ thực vật, mở rộng diện tích chăn ni để đẩy
nhanh mùa màng, hạn chế sâu bệnh ở cây trồng, và tăng sản lượng
thịt, trứng, sữa. Diện tích đất canh tác, trồng trọt bị thu hẹp buộc
nông dân phải tăng cường sử dụng các chất bảo vệ thực vật, phân
bón hóa học để tăng sản lượng. Mặt khác, nhu cầu về thịt, trứng sữa
tăng lại làm cho diện tích chăn ni phải mở rộng, làm tăng lượng
chất thải gây ô nhiễm đến môi trường nếu xử lý khơng hiệu quả. Về
phía người nơng dân, do chưa hiểu biết về cách xử lý và sử dụng thái

quá các sản phẩm hóa học, chưa hiểu rõ về mối liên hệ của nông


7

nghiệp đến môi trường, chạy theo số lượng mà không quan tâm đến
vấn đề môi trường nên đã dẫn đến tồn đọng các chất thải trong môi
trường. Về các cơ quan quản lý, quản lý chưa chặt chẽ, chưa tuyên
truyền đúng và đủ về tầm quan trọng của môi trường cũng như tác
hại của nông nghiệp khi canh tác không hợp lý.
Nông nghiệp đã tác động trực tiếp đến môi trường đất từ các nguồn
chất của vật nuôi, lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu dư thừa.
Việc sử dụng phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật quá mức làm thực
vật không thể hấp thụ hết dẫn tới việc các chất hóa có trong thành
phần như NO3- (nitrat), K (kali), P (photpho), tồn đọng trong đất gây ô
nhiễm đất. Lâu ngày, các chất hóa học ấy làm giảm độ pH, chua đất,
mất dưỡng chất và dễ xói mịn đất. (soil acidification). Điển hình như
ở Tây Nguyên, để đạt được năng suất cao trong điều kiện đất đai
kém phì nhiêu, người dân đã lạm dụng phân bón NPK, phân bón vi
lượng và các loại thuốc bảo vệ thực vật. Hậu quả là làm cho chất
lượng của đất càng thêm kém, làm hủy hoại cấu trúc đất gây mất
khả năng giữ nước và phân, ơng Trình Cơng Tư, Phó Giám đốc Trung
tâm Nghiên cứu Đất cho biết (Mai Phương, 2020). Trong chăn nuôi,
chất thải động vật thường được sử dụng làm phân bón hữu cơ, tuy
nhiên, nếu khơng có các bể xi măng hay bê tông chứa, khi lượng lớn
chất thải tập trung lại ở nơi ủ sẽ làm cho đất nơi đó bị mất cân bằng
chất dinh dưỡng hoặc thậm chí gây độc hại cho đất. Việc chặt rừng
để làm nơi chăn thả động vật cũng làm gia tăng tốc độ xói mịn đất
bởi vì mất rừng là mất đi lớp cây, rễ bảo vệ mặt đất khỏi gió và lũ lụt,
khi có những trận mưa hay lũ lớn sẽ làm đất bị cuốn trơi gây xói mịn

và sạt lở ở vùng cao.
Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay chất thải động vật
trong nông nghiệp cũng có tác động xấu đến ơ nhiễm khơng khí, góp
phần gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu.
Thuốc bảo vệ thực vật trong q trình bảo quản hay phân hủy sẽ bị


8

biến thành các khí gây ơ nhiễm như NOx, CH4 tỏa ra mùi khó chịu và
là những chất tác động xấu đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Năm
2015, những người dân ở tỉnh Nghệ An cho biết mùi thuốc bảo vệ
thực vật ở một kho chứa thuốc cũ đã gây ảnh hưởng nặng đến mơi
trường khơng khí ở đây, mùi hôi từ thuốc khiến người dân xung
quanh như bị tra tấn, đặc biệt là vào những ngày trái gió trở trời.
(Văn Đức, 2015).
Việc biến đổi đất rừng trở thành đất nông nghiệp cũng gây ra hiện
tượng hiệu ứng nhà kính và góp phần vào ơ nhiễm khơng khí bởi khả
năng hấp thụ CO2 và lọc bụi của cây nông nghiệp hay cơng nghiệp
hồn tồn khơng thể giống như cây rừng. Ngoài ra, sau khi xong vụ
mùa, đồng ruộng hay được đốt đi để nạp lại dinh dưỡng cho đất, q
trình này lại thải thêm nhiều khí CO2, và NOx vào khơng khí. Chăn
ni gây ơ nhiễm khơng khí qua q trình hơ hấp cũng như q trình
phân hủy chất thải của động vật. Trong các hoạt động của con người,
chăn ni thải ra đến 64% khí NH3 (ammoniac), 37% khí CH4, chủ
yếu từ q trình tiêu hóa của động vật, 65% khí NOx, đến từ chất thải
động vật (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc [FAO],
2006, tr. xxi). Những khí này đều gây hơi thối, ơ nhiễm mơi trường
khơng khí xung quanh và và góp phần vào việc gây mưa axit.
Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp trồng trọt hay chất thải

chăn nuôi cũng gây ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm.
Lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón khi sử dụng quá mức không
được hấp thu hết tồn đọng ở đất sau đó bị hịa tan sẽ bị cuốn trơi vào
các dịng dảy, trôi ra sông suối, hay thấm vào các mạch nước ngầm.
Việc có hóa chất trong nước với hàm lượng cao tất yếu sẽ gây ô
nhiễm môi trường nước và gây ra các mùi khó chịu trong nước, nên
nguồn nước xung quanh những chỗ trồng trọt sẽ không thể sử dụng
được. Tương tự như thế, khi các chất thải hay lượng thức ăn dư thừa
của vật nuôi tồn đọng và khơng được xử lý thích hợp, sẽ xả ra nguồn


9

nước thải độc hại, bị cuốn trôi ra sông suối hoặc thấm vào nước
ngầm. Trong chất thải của vật nuôi cịn có những vi khuẩn, mầm
bệnh, nếu đi vào dịng nước, ngồi việc gây ơ nhiễm, nó cịn tạo cơ
hội cho mầm bệnh lan rộng cho con người hay sinh vật sử dụng dịng
nước đó. Ở huyện Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu, trại nuôi heo Đông Á
với công suất thiết kế 3600 con, tuy nhiên lại khơng có hệ thống xử
lý thích hợp nên vào các năm 2013, 2014 và 2016, “nước thải từ trại
heo Đông Á xả ra môi trường đều vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về chăn ni” (Nguyễn Long, 2017). Điều đó đã gây ơ nhiễm nghiêm
trọng cho nguồn nước xung quanh khiến người dân không thể sử
dụng được nước ở đó mà phải đi mua nước để uống.
Hiện nay thế giới đang ở tình trạng báo động về ơ nhiễm mơi trường,
nên cần có biện pháp để khắc phục và xây dựng nền nông nghiệp
bền vững và an tồn với mơi trường hơn. Đầu tiên chính là sử dụng
phân hữu cơ thay vì phân bón hóa học trong trồng trọt. Sử dụng
phân hữu cơ có thể hạn chế được các chất hóa học vào đất, trong
phân hữu cơ cịn có các chất dinh dưỡng, chất mùn cần thiết cho đất

và vi sinh vật đất, vì vậy sẽ đảm bảo được dưỡng chất, kết cấu và
hạn chế được khả năng xói mịn đất. Sử dụng phân hữu cơ cịn là
cách hạn chế chất thải vật ni lãng phí, xả ra mơi trường làm ơ
nhiễm mơi trường. Thứ hai là sử dụng các bể xi măng hay bê tơng để
chứa chất thải động vật, hạn chế tình trạng các chất có hại, các
mầm bệnh thấm vào đất hoặc bị cuốn vào dòng nước khi phân ủ
chưa hoai mục. Thứ ba, sử dụng chất thải động vật để làm biogas
cung cấp cho hoạt động đốt cháy cũng giảm thiểu đáng kể lượng khí
CH4 và CO2 vào mơi trường. Sử dụng biogas có từ chất thải động vật
có thể làm giảm đến 50% lượng khí thải ở những vùng có khí hậu
lạnh và đến 75% ở những vùng có khí hậu ấm hơn (FAO, 2006). Cuối
cùng là tận dụng thiên địch để tiêu diệt các sinh vật gây hại, bảo vệ
mùa màng tự nhiên mà không cần sử dụng đến các loại thuốc bảo vệ
thực vật.


10

Tóm lại, việc sản xuất nơng nghiệp nếu khơng đảm bảo về liều lượng
các chất hóa học bảo vệ thực vật, không xử lý đúng cách các chất
thải động vật sẽ gây hại rất lớn đến môi trường. Mỗi môi trường đều
có mối liên hệ rất chặt chẽ với nơng nghiệp, nếu gây hại đến mơi
trường thì cũng sẽ gây hại cho nơng nghiệp và năng suất trong nơng
nghiệp. Vì thế cần phải hiểu biết để thực hiện đúng các biện pháp
trong trồng trọt chăn ni để đảm bảo tính bền vững trong nơng
nghiệp và góp phần bảo vệ mơi trường sinh sống của nhân loại.


11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN 1:
Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ. (2020). Earth Fact Sheet. Truy xuất
từ
/>IQAir. (2020). 2020 World Air Quality Report. Truy xuất từ
/>Lê Nguyễn. (16/9/2020). Khoảng 30% người tử vong bởi ung thư phổi do ơ
nhiễm khơng khí. Truy xuất từ />Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ, Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Xuân Cự, Lê Đức,
Lưu Đức Hải… Trịnh Thị Thanh (2006). Khoa học Môi Trường. Trịnh
Nguyên Giao (Biên tập). Địa điểm: Nhà xuất bản Giáo dục
Ngân hàng Thế giới. (2016) The Cost of Air Pollution. Truy xuất từ
/>5/pdf/108141-REVISED-Cost-of-PollutionWebCORRECTEDfile.pdf
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc. (2016). Clear the Air for Children. Truy xuất
từ
/>hildren_30_Oct_2016.pdf
Tổ chức Y tế Thế giới. Air Pollution. Truy xuất từ
/>Tổ chức Y tế Thế giới. Air Pollution. Truy xuất từ
/>PHẦN 2
Mai Phương. (20/11/2020). Phục hồi chất lượng đất Tây Nguyên. Truy xuất
từ />Văn Đức. (15/12/2015). Sống khổ nơi tồn dư thuốc BVTV. Truy xuất từ
/>Nguyễn Long (30/12/2017). Trại nuôi heo gây ô nhiễm môi trường. Truy
xuất từ />

12
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc. 2006. Livestock's
Long Shadow. Truy xuất từ />


×