Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Hoạt động truyền thông và dịch vụ của bảo tàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (72.8 KB, 11 trang )

Đề tài: Phân tích hoạt động truyền thơng và dịch vụ của bảo tàng. Liên hệ
thực tế hoạt động đó ở một bảo tàng cụ thể.
1. Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng
Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên
cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên,
con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên
cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của cơng chúng.
Bảo tàng có các nhiệm vụ như sau: sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng
bày các sưu tập hiện vật; nghiên cứu khoa học phục vụ việc bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hóa; tổ chức phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ xã hội; xây
dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của bảo tàng; quản lý cơ sở vật chất và
trang thiết bị kỹ thuật; thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật; tổ
chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan phù hợp với nhiệm vụ của bảo
tàng; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Hoạt động truyền thông của Bảo tàng
2.1. Vị trí trong hoạt động bảo tàng:
Ngày 31/12/2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thơng tư
18/2010/TT-BVHTTDL quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng. Theo
đó, hoạt động truyền thơng của bảo tàng là một trong những nội dung trọng tâm
và được quy định tại Điều 11, cụ thể như sau:
Hoạt động truyền thông của bảo tàng bao gồm:
- Giới thiệu nội dung và hoạt động của bảo tàng trên phương tiện thông
tin đại chúng;
- Tổ chức chương trình quảng bá, phát triển cơng chúng và xã hội hóa
hoạt động của bảo tàng;
- Tổ chức lấy ý kiến đánh giá của công chúng về hoạt động của bảo tàng;
- Xây dựng mạng lưới tổ chức, cá nhân có liên quan để phát triển hoạt
động của bảo tàng ở trong và ngoài nước..


Hoạt động truyền thông của bảo tàng phải phù hợp với phạm vi, đối


tượng, nội dung hoạt động của bảo tàng và tuân thủ các quy định của pháp luật
có liên quan.
Theo đó, truyền thơng là một trong các hoạt động chuyên môn của bảo
tàng, công tác truyền thông thường được thực hiện bởi một bộ phận chun mơn
hay Phịng Truyền thơng của bảo tàng. Có thể coi đây như người phát ngôn
thông tin của bảo tàng tới các đối tượng công chúng, bao gồm khách du lịch,
trường học, các gia đình, cá nhân và tổ chức, các cộng đồng, các ngành, báo chí,
chun gia...
2.2. Mục tiêu và vai trị của hoạt động truyền thông bảo tàng:
2.2.1. Mục tiêu truyền thông của bảo tàng:
- Nâng cao số lượng khách tham quan;
- Thu hút công chúng mới;
- Xây dựng thương hiệu bảo tàng (các giá trị mà bảo tàng muốn hướng
tới);
- Nâng cao nhận thức của công chúng về các dịch vụ và sự kiện của bảo
tàng;
- Tăng nguồn thu thông qua các cuộc trưng bày chuyên đề.
2.2.2. Vai trò của hoạt động truyền thông bảo tàng:
Truyền thông là cầu nối để trao đổi thông tin giữa bảo tàng với khách
tham quan, là cơng cụ để giới thiệu quảng bá hình ảnh của bảo tàng đến với
công chúng. Đồng thời, thu hút cơng chúng đến với các sự kiện văn hóa, trưng
bày thường xuyên cũng như các cuộc trưng bày chuyên đề của bảo tàng.
Truyền thơng bảo tàng có vai trị quan trọng trong việc phát triển các hoạt
động bảo tàng. Đây là quá trình nhận biết, nghiên cứu nhu cầu, xu hướng và thị
hiếu của khách tham quan. Qua đó, nhằm thiết kế và sáng tạo ra các sản phẩm
mang thương hiệu của bảo tàng phù hợp với hơi thở của thời đại. Thông qua
hoạt động truyền thông, bảo tàng nắm vững được đối tượng khách tham quan và
mang lại sự hài lịng cho du khách. Đồng thời, truyền thơng đưa ra các hoạt
động triển khai thúc đẩy các nhà quản lý bảo tàng vạch ra cho mình một kế



hoạch, tiến trình, phương pháp, cơng cụ quản lý dịch vụ, các sản phẩm và cung
cấp cho khách tham quan một cách tốt nhất. Từ đó, thúc đẩy nguồn thu cho bảo
tàng thông qua các hoạt động tài trợ, bán vé... Giúp bảo tàng thực hiện tốt công
tác xã hội hố, hỗ trợ tích cực cho các dự án hiện đại hoá của bảo tàng để bảo
tàng phát triển trong tương lai.
Truyền thơng là địn bẩy thúc đẩy tiến trình phát triển của bảo tàng cả về
số lượng khách tham quan và chất lượng chuyên môn của nhân viên bảo tàng,
giá trị của hiện vật, sự đa dạng của hiện vật trưng bày cũng như các cuộc triển
lãm.
Ngoài ra, hoạt động truyền thơng cịn có vai trị quan trọng và ảnh hưởng
tích cực đến việc việc chuyển dịch thơng tin khách tham quan thành các sản
phẩm, dịch vụ mới và sau đó định vị sản phẩm trên thị trường, đưa ra một sản
phẩm mới của bảo tàng, làm tốt công tác truyền thơng thì đồng nghĩa với việc
nâng cao được vị thế cạnh tranh cũng như tạo uy tín với khách tham quan.
2.3. Phát triển hoạt động truyền thông tại bảo tàng:
2.3.1. Xây dựng được “Thương hiệu bảo tàng”:
“Thương hiệu bảo tàng” rất quan trọng trong q trình truyền thơng, và
nên được ưu tiên hàng đầu. Việc đổi mới hình ảnh và tiếng nói của mình để tạo
ra một hình ảnh hay nhận dạng thương hiệu sẽ đánh thức những cảm xúc về
những giá trị mà bảo tàng đang hướng tới. Tất cả trải nghiệm của khách hàng
cũng là một hình thức của thương hiệu bảo tàng, nó đến từ các cuộc trưng bày
họ tham dự tới từng nhân viên bảo tàng họ gặp, và các dịch vụ họ trải qua. Phát
triển thương hiệu bảo tàng và quản lý thương hiệu là một quá trình lâu dài,
nhưng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất.
Muốn xây dựng tốt “thương hiệu bảo tàng” mang dấu ấn riêng, cần:
- Đa dạng hố và mở rộng khơng gian của các trưng bày chuyên đề. Xây
dựng các trưng bày hấp dẫn, ý tưởng của trưng bày dựa trên cơ sở nhu cầu, thị
hiếu của khánh tham quan, bối cảnh của xã hội, thể hiện được hơi thở của thời
đại nhằm thu hút hơn sự quan tâm của công chúng.



- Gắn kết và phối hợp giữa bảo tàng với những đơn vị làm du lịch rộng rãi
và chuyên sâu hơn nữa, để bảo tàng là điểm đến quen thuộc, yêu thích của du
khách mỗi khi đến một địa phương.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng hữu hiệu các trang mạng xã
hội. Ứng dụng thuyết minh đa phương tiện trên các nền tảng trực tuyến cung cấp
các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, tham quan, hưởng thụ văn hóa của
khách tham quan và cơng chúng.
2.3.2. Xây dựng chiến dịch truyền thông:
Thông qua các chiến lược chung và các chiến dịch truyền thông cụ thể
nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, mỗi chiến dịch truyền thơng có sản phẩm
truyền thơng khác nhau và nhằm vào các đối tượng truyền thông khác nhau.
Chiến dịch truyền thơng có thể là truyền thơng hoạt động trưng bày, truyền
thông tới cá nhân và tổ chức, truyền thông nước ngồi. Mỗi chiến dịch có một
chiến lược tiếp thị riêng và được phối hợp với chiến lược báo chí một cách thích
hợp.
Các chiến lược truyền thơng phải:
- Xác định được mục tiêu chiến lược truyền thông.
- Xác định đối tượng cơng chúng thích hợp với sản phẩm truyền thơng
của bảo tàng.
- Đảm bảo đúng nội dung, thông điệp, truyền đúng kênh và tới đúng đối
tượng khán giả.
- Xác định biện pháp tối ưu hóa bốn cơng cụ là sản phẩm, địa điểm, giá cả
và xúc tiến thương mại.
+ Sản phẩm: bao gồm các hệ thống trưng bày thường xuyên, trưng bày
chuyên đề, các sự kiện đặc biệt, các chương trình giáo dục dành cho nhà
trường... Ngồi ra, có các sản phẩm khác giúp tăng nguồn thu như cửa hàng quà
tặng, dịch vụ ăn uống, cho thuê hạ tầng.
+ Địa điểm: Dựa vào vị trí thuận lợi của bảo tàng hoặc địa điểm tổ chức

các cuộc trưng bày.


+ Giá cả: Vé vào tham quan cạnh tranh, hợp lý, hoặc có ưu tiên cho một
số đối tượng. Chất lượng hàng hóa (ví dụ cửa hàng lưu niệm), dịch vụ tốt, giá cả
cạnh tranh nhưng phải đảm bảo lợi nhuận ròng để tái đầu tư.
+ Xúc tiến thương mại: Là tất cả các hoạt động nhằm thu hút công chúng.
Phịng Truyền thơng sẽ quyết định lựa chọn các kênh thích hợp và hiệu quả nhất
để thu hút từng đối tượng cơng chúng trong khoản kinh phí được duyệt.
2.3.3. Các hình thức truyền thơng bảo tàng bao gồm:
- Quảng cáo trên các tờ báo, tạp chí, truyền hình, đài phát thanh, biển
bảng nơi công cộng.
- In ấn: xuất bản các ấn phẩm, sách giới thiệu trưng bày, catalogue, các tờ
rơi giới thiệu, các panơ, áp phích, quảng cáo...
- Gửi thư trực tiếp: Gửi tờ rơi hoặc thư giới thiệu tới các cá nhân, tổ chức.
- Hợp tác với các đối tác khác như các quán cafe, khách sạn để chia sẻ
quảng cáo: các đối tác có thể quảng cáo thương hiệu của mình theo các dịch vụ,
tiện ích của bảo tàng (trên cửa kính cửa hàng lưu niệm của bảo tàng hoặc quà
tặng...) và ngược lại.
- Quảng bá bằng website, thư điện tử, mạng xã hội...
2.3.4. Nghiên cứu thị trường, công chúng:
Nghiên cứu nhu cầu, phản hồi của khách tham quan phải được thực hiện
thường xuyên, liên tục. Các câu hỏi đặt ra là để tìm xem khách của bảo tàng
mình là ai, và tìm hiểu xem tại sao họ lại đến bảo tàng (thông qua kênh quảng
cáo nào, bài báo nào, website nào...). Tìm hiểu xem họ có được biết về các dịch
vụ khác nhau của bảo tàng hay khơng (ví dụ: thẻ thành viên, các cuộc tọa đàm,
nói chuyện tại bảo tàng hoặc dịch vụ tour nếu có...). Loại báo chí họ đọc và
những nơi họ đến, họ có hứng thú về chuyến đi hay khơng và liệu họ có giới
thiệu bảo tàng cho người khác khơng. Những dữ liệu đó giúp phịng Truyền
thơng đưa ra những chiến lược và mục tiêu phù hợp nhằm thu hút khách tham

quan và tăng hiệu quả truyền thông.
3. Hoạt động dịch vụ của Bảo tàng
3.1 Vị trí trong hoạt động bảo tàng:


Hoạt động dịch vụ của bảo tàng là một trong những nội dung trọng tâm và
được quy định tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư 18/2010/TT-BVHTTDL. Cụ thể
như sau:
- Tổ chức dịch vụ ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí và dịch vụ khác;
- Tổ chức phát triển sản phẩm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm của bảo tàng;
- Tổ chức các sự kiện văn hóa, giáo dục, thể thao và du lịch;
- Cung cấp thông tin, tư liệu; tư vấn kỹ thuật, nghiệp vụ bảo tàng;
- Giám định, thẩm định di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
- Bảo quản, phục hồi, làm bản sao tài liệu, hiện vật; hợp tác khai quật
khảo cổ;
- Hợp tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về bảo tàng.
Cũng theo quy định này, hoạt động dịch vụ của bảo tàng phải phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng và quy định của pháp luật có liên quan nhằm
đáp ứng nhu cầu học tập, tham quan, hưởng thụ văn hóa của cơng chúng hoặc
đơn đặt hàng của tổ chức, cá nhân.
3.2. Vai trò của hoạt động dich vụ trong bảo tàng:
- Thu hút công chúng, nâng cao số lượng khách tham quan;
- Quảng bá sản phẩm văn hóa của bảo tàng và địa phương.
- Đáp ứng nhu cầu học tập, tham quan, hưởng thụ văn hóa của cơng chúng
hoặc đơn đặt hàng của tổ chức, cá nhân.
- Tăng nguồn thu thông qua các hoạt động dịch vụ.
Hoạt động dịch vụ trong các bảo tàng nói chung đã đem lại những hiệu
quả thiết thực, góp phần khơng nhỏ trong việc phát huy tác dụng và duy trì hoạt
động đối với các bảo tàng, đồng thời tạo ra những nguồn thu chính đáng.
3.3. Phát triển hoạt động dịch vụ tại bảo tàng:

Từ sau năm 1986 cùng với chính sách mở cửa và nền kinh tế thị trường,
thì tư duy và nhận thức về hoạt động dịch vụ ở các bảo tàng đã có những thay
đổi và được sự quan tâm của những người làm công tác bảo tồn, bảo tàng. Sự
nhận thức về công tác phát huy tác dụng ở mỗi bảo tàng không chỉ bó hẹp trong
việc phát huy các giá trị lịch sử, văn hố lưu giữ trong các bảo tàng mà cịn được


thể hiện ở việc tạo điều kiện thuận lợi, và cung cấp dịch vụ cần thiết để đáp ứng
nhu cầu của khách tham quan bảo tàng như ( mua sắm quà lưu niệm, vui chơi
giải trí, thậm chí cả ăn uống …) có như vậy cơng tác phát huy tác dụng mới
được trọn vẹn. Từ những nhận thức đó, một số bảo tàng đã từng bước triển khai
hoạt động dịch vụ và bước đầu đã đem lại những hiệu quả tích cực, khách tham
quan đến với bảo tàng khơng chỉ được thăm quan, được xem, được cung cấp
những thông tin, được tiếp nhận những giá trị lịch sử, văn hoá, mà còn được
phục vụ những nhu cầu cần thiết trong quá trình tham quan bảo tàng.
Hoạt động dịch vụ tại các bảo tàng được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác
nhau, không chỉ đơn thuần là cung cấp sản phẩm như nước uống giải khát, mua
sắm những sản phẩm lưu niệm, văn hoá phẩm đặc trưng tại bảo tàng, hay thu phí
cung cấp dịch vụ…. Nhiều bảo tàng đã biết gắn những hoạt động chuyên môn
với hoạt động dịch vụ như: tổ chức sinh hoạt truyền thống, Tổ chức chương
trình về nguồn cho nhiều tổ chức đơn vị; xây dựng trưng bày các nhà truyền
thống của các cơ quan, đơn vị ; hay tổ chức các chương trình vui chơi, trình diễn
nghệ thuật, chế tác, làng nghề tại các bảo tàng…
Bảo tàng cần phải nghiên cứu tìm kiếm và cung cấp những sản phẩm dịch
vụ phù hợp với các đối tuợng khách tham quan. Một yếu tố vô cùng quan trọng
mang tính chất quyết định đối với hiệu quả của hoạt động dịch vụ của mổi bảo
tàng đó là khách tham quan. Đây là một yếu tố vô cùng quan trong quyết định
đến quy trình và hiệu quả hoạt động dịch vụ trong các bảo tàng.
Một trong nhưng yếu tố rất quan trong trong hoạt động dịch vụ đó là việc
nghiên cứu tìm kiếm nguồn hàng phù hợp cung cấp cho hoạt động dịch vụ. Hoạt

động dịch vụ tuyệt đối khơng được làm ảnh hưởng đến chu trình tham quan của
khách. Tốt nhất là hệ thống điểm dịch vụ được tổ chức ngay sau khi kết thúc chu
trình tham quan. Tất cả những yếu tố trên là những điều kiện rất cần thiết khi
chúng ta tổ chức triển khai hoạt động dịch vụ tại các Bảo tàng.
Hoạt động dịch vụ ở mỗi bảo tàng là cần thiết, song không thể xem hoạt
động dịch vụ đó là nhiệm vụ chính mà quên mất chức năng khoa học của bảo
tàng. Vì vậy, song song với việc triển khai các hoạt động dịch vụ trong các bảo


tàng, Mỗi bảo tàng cần phải nghiên cứu, suy nghĩ để làm tốt công tác phát huy
tác dụng nhằm thu hút khách tham quan, như : đổi mới công tác trưng bày để
hấp dẫn khách tham quan; tăng cường các triển lãm chuyên đề độc đáo, đẩy
mạnh phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để quảng bá tuyên
truyền….nhằm thu hút khách đến tham quan, có như vậy, hoạt động dịch vụ tại
các bảo tàng mới có thể triển khai một cách hiệu quả và phát triển bền vững, lâu
dài, đúng hướng và thiết thực.
4. Liên hệ thực tế hoạt động đó ở một bảo tàng cụ thể.
Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của truyền
thông và dịch vụ trong việc thu hút khách tham quan, hệ thống bảo tàng trên vả
nước đã chú trọng đầu tư về công tác truyền thông bảo tàng. Đặc biệt là bảo tàng
Mỹ Thuật Việt Nam, một trong những bảo tàng đi đầu về hoạt động truyền thông
và dịch vụ.
Tại bảo tàng đã triển khai nhiều biện pháp truyền thông và và dịch vụ đạt
được những kết quả cao. Hiện nay, bảo tàng đã xây dựng được “ thương hiệu
bảo tàng” mang dấu ấn riêng, bảo tàng có logo mới được thiết kế đẹp mắt và ý
nghĩa. Thông tin về các trưng bày đang diễn ra và sẽ diễn ra tại bảo tàng được
cập nhật thường xuyên. Quan hệ với báo chí được bảo tàng đặc biệt quan tâm.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách tham quan và có thể giới
thiệu số lượng hiện vật sưu tầm ngày càng nhiều, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
mở rộng diện tích trưng bày (từ 1.000m2 lúc ban đầu đến nay đã có 3.000m2).

Trong hai thập niên 70-80 của thế kỷ 20, Bảo tàng xây dựng thêm khu nhà B
(1977). Vào thập niên 90, Bảo tàng mở rộng thêm diện tích khu vực nhà A (tịa
nhà chính) về phía sau nhằm thực hiện một hướng trưng bày mới, theo đó ưu
tiên phần trưng bày Mỹ thuật Cổ đại. Các tác phẩm mỹ thuật tạo hình cận - hiện
đại được trưng bày một cách trang trọng, khoa học, gây ấn tượng, phản ánh
được một giai đoạn phát triển rực rỡ của thế hệ các họa sĩ Mỹ thuật Đông Dương
và những giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, Bảo tàng tiếp tục mở rộng, khai thác
các diện tích cịn trống như sử dụng tầng hầm nhà B để trưng bày sưu tập gốm.


Đến nay, Bảo tàng giới thiệu gần 2.000 hiện vật tại hệ thống trưng bày
thường xuyên. Hiện vật trưng bày tăng lên về cả số lượng và chất lượng; giải
pháp trưng bày khoa học, hợp lý, hấp dẫn; hệ thống chú thích rõ ràng; hệ thống
ánh sáng hiện đại v.v… đáp ứng được yêu cầu của một Bảo tàng hiện đại và nhu
cầu của khách tham quan. Ngoài hệ thống trưng bày thường xuyên, hằng năm,
Bảo tàng tổ chức nhiều cuộc triển lãm lưu động tại các địa phương trong cả
nước và các nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Lào v.v... Thêm vào đó, nhiều triển lãm của các
tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài diễn ra tại Bảo tàng, tạo một sân chơi
cho giới mỹ thuật.
Trong những năm gần đây, công tác thuyết minh, hướng dẫn khách và
công tác giáo dục của Bảo tàng được đặc biệt quan tâm và đi vào hoạt động có
hiệu quả. Cơng chúng trong và ngồi nước đến với Bảo tàng ngày càng đông.
Bảo tàng đã xây dựng được nhiều chương trình tham quan theo các chủ đề đa
dạng nhằm phục vụ du khách, nhất là các tour du lịch.
Năm 2011, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam khai trương “Không gian sáng
tạo cho trẻ em”. Với thiết kế không gian mang tính mở, cơng năng sử dụng linh
hoạt, đảm bảo tính hấp dẫn, phù hợp tính cách, tâm lý lứa tuổi.
Dịch vụ trải nghiệm dành cho trẻ em tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam bao
gồm:

- Chương trình trải nghiệm hằng ngày
- Chương trình trải nghiệm đặc biệt
- Chương trình Hè
- Chương trình Tết Thiếu nhi 1/6
- Chương trình Tết Trung thu
Với chủ trương mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về lĩnh vực Mỹ thuật và
Bảo tàng, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm giới
thiệu các bộ sưu tập Mỹ thuật tại các nước trên thế giới (Hoa Kỳ, Pháp, Anh,
Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Lào…), đồng thời tổ chức nhiều
cuộc triển lãm Mỹ thuật của các tổ chức, cá nhân họa sĩ nước ngoài tại Bảo tàng


(Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Nga, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines,
Hungary…).
Nhận thức được lợi ích của cơng nghệ số, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã
từng bước ứng dụng vào các hoạt động của mình. Gần đây nhất, ngày
22/4/2021, lần đầu tiên trong hệ thống bảo tàng ở Việt Nam, ứng dụng thuyết
minh đa phương tiện (Gồm: âm thanh, hình ảnh, bài viết) với 8 ngơn ngữ (Gồm:
Việt, Anh, Pháp, Trung, Nhật, Hàn, Ý và Tây Ban Nha) trợ giúp người dùng
tham quan bảo tàng trực tuyến và trực tiếp đã chính thức ra mắt tại Bảo tàng Mỹ
thuật Việt Nam. Đây là minh chứng cho định hướng đúng đắn của Bảo tàng
trong việc áp dụng tiện ích của cơng nghệ thơng tin vào hoạt động truyền thơng
số.
Ngồi ra, Bảo tàng hết sức quan tâm tới việc xây dựng và duy trì mối
quan hệ với các cơ quan báo chí, truyền thơng, thường xun gửi thơng tin về
các sự kiện của Bảo tàng và hỗ trợ báo chí khai thác giá trị di sản mỹ thuật. Nhờ
đó, lượng phủ sóng về Bảo tàng tăng lên đáng kể, ví dụ: sự kiện ra mắt sản phẩm
iMuseum VFA đã được hơn 80 báo, đài và trang tin điện tử đưa tin. Đồng thời,
Bảo tàng xác định nhà trường và các công ty du lịch, lữ hành là những đối tượng
công chúng mục tiêu quan trọng. Bảo tàng đã ký biên bản hợp tác với một số

trường liên quan đến chuyên ngành du lịch và mỹ thuật, khuyến khích đưa sinh
viên đến Bảo tàng học tập và trải nghiệm. Kết quả, lượng sinh viên đến Bảo tàng
tăng lên 20%, góp phần làm thay đổi tỉ lệ khách tham quan nội địa từ 17% (năm
2016) lên 30% (năm 2019) (Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và 2019
của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam). Tương tự, đối với các công ty du lịch, lữ
hành, Bảo tàng đã chủ động đối thoại, đề ra chính sách và xây dựng những sản
phẩm phục vụ du lịch. Tuy nhiên, hiệu quả công việc này vẫn còn hạn chế, đòi
hỏi Bảo tàng phải tiếp tục có những chính sách và bước đi phù hợp hơn. Ngồi
ra, Bảo tàng cịn chú trọng đến việc tăng cường nhận diện, đổi mới hình ảnh và
quan tâm hơn đến trải nghiệm của du khách. Theo đó, cảnh quan, sân vườn được
chỉnh trang, hệ thống biển chỉ dẫn bên trong và bên ngồi được làm mới, Khơng


gian sáng tạo cho trẻ em hoạt động đều đặn, hệ thống dịch vụ được vận hành,
cung cấp nhiều trải nghiệm phong phú cho khách tham quan.
Tính đến tháng 4/2021, fanpage của Bảo tàng đã có hơn 9.000 lượt theo
dõi. Trong thời gian dịch bệnh Covid-19 và giãn cách xã hội năm 2020, thông
qua website và fanpage, Bảo tàng đã chủ động giới thiệu một số tác phẩm ca
ngợi các y, bác sĩ hết lịng tận tuỵ chăm sóc bệnh nhân, hay giới thiệu chùm tác
phẩm nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thống nhất đất nước và kỷ niệm 130 năm
ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc đăng tải những tác phẩm nghệ thuật hết
sức ý nghĩa vào đúng thời điểm đã thu hút sự chú ý của báo chí, truyền thơng: có
23 bài báo đưa tin về các tác phẩm ca ngợi “những chiến sĩ áo trắng”, 30 bài đưa
tin về chùm tác phẩm dịp 30/4 và 10 bài về chùm tác phẩm nhân dịp sinh nhật
Bác Hồ. Các tin, bài đăng tải trên phương tiện truyền thơng của Bảo tàng nhận
được nhiều bình luận tích cực. Đặc biệt, thông tin về ứng dụng thuyết minh đa
phương tiện iMuseumVFA đã thực sự thu hút sự chú ý của cơng chúng.
5. Kết luận
Như vậy, chúng ta có thể thấy sức mạnh to lớn của truyền thông và dịch
vụ trong phát triển bảo tàng trong thời kỳ mới. Việc nghiên cứu và phát triển

hoạt động truyền thông và dịch vụ tại các bảo tàng ở Việt Nam nên được quan
tâm và thực hiện hơn nữa để tạo ra động lực bền vững cho Bảo tàng tương lai.



×