Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (326.3 KB, 17 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

----------------

TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Biện
chứng giữa cái chung
và cái riêng và vận
dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta
Họ và tên
Lớp
Mã số sinh viên
Số báo danh
Giáo viên hướng dẫn

:
:
:
:
:

Phạm Quang Anh
Anh 12 – KTKT – K59
2014815004
03
Nguyễn Thị Tùng Lâm

Quảng Ninh, tháng 06 năm 2021
NỘI DUNG:
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………… 1


CHƯƠNG I: Khái niệm cơ bản và mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái
riêng
1. Khái niệm cái riêng và cái chung…………………………………………....2
P a g e 1 | 17


2. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng…………………………….2
CHƯƠNG II: Vận dụng quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Khái niệm kinh tế thị trường………………………………………………...4
2. Tính tất yếu phải tiến lên kinh tế thị trường ở Việt Nam……………………4
3. Tính tất yếu phải tiến lên kinh tế thị trường ở Việt Nam……………………6
4. Thành tựu trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam………………………………………………………………..8
5. Tiếp tục nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa…………………………..9
KẾT LUẬN……………………………………………………………………….14

MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong khu vực đã gặp rất nhiều
khó khăn trong việc xây dựng nền kinh tế. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, đất
nước ta đã trải qua hàng nghìn năm phong kiến lạc hậu, sau đó phải đấu tranh chống lại
kẻ thù xâm lược. Khi mà đất nước còn quá non trẻ, ta đã vội vàng áp dụng nền kinh tế
P a g e 2 | 17


bao cấp làm cho nền kinh tế càng chậm phát triển. Trong khi xu hướng chung của nền
kinh tế thế giới lúc bấy giờ là nền kinh tế thị trường và đã đạt được những bước phát triển
lớn. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã quyết định thực hiện bước chuyển đổi lớn
đưa đất nước thoát khỏi nền kinh tế bao cấp, đến nền kinh tế tập trung và sau đó là tiến
lên kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, qua đó giúp cho nền kinh tế

nước ta phát triển nhanh, vững chắc, theo kịp các quốc gia đang phát triển khác.
Bước đầu tiến lên nền kinh tế thị trường nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn mà tiêu biểu
là cuộc khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên với việc vận dụng chủ động, sáng tạo, tích cực
chủ nghĩa Mác – Lê nin mà điển hình là mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái
riêng, Đảng và Nhà nước đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, vững chắc, khiến cho dân
giàu nước mạnh, hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới.
Vì vậy em quyết định chọn đề tài tiểu luận: Biện chứng giữa cái chung và cái
riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta. Qua đề tài này
em muốn phân tích, làm rõ sự vận dụng quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và những lợi ích, từ đó thể hiện sự đồng tình của
bản thân em cũng như giúp cho mọi người hiểu rõ đường lối phát triển kinh tế đúng đắn
của đất nước. Trong q trình ngun cứu rất khó tránh khỏi những sai sót, em rất mong
nhận được ý kiến từ thầy để bài tiểu uận được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm
ơn.

CHƯƠNG I: Khái niệm cơ bản và mối quan hệ biện chứng
giữa cái chung và cái riêng
P a g e 3 | 17


1. Khái niệm cái riêng và cái chung
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với những sự vật, hiện
tượng, quá trình khác nhau như: Cái bàn, cái nhà, cái cây cụ thể, v.v.. Mỗi sự vật đó
được gọi là một cái riêng, đồng thời, chúng ta cũng thấy giữa chúng lại có những mặt
giống nhau như những cái bàn đều được làm từ gỗ, đều có màu sắc, hình dạng. Mặt
giống nhau đó người ta gọi là cái chung của những cái bàn.
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định.
Cần phân biệt “cái riêng” với “cái đơn nhất”. “Cái đơn nhất” là phạm trù để chỉ những
nét,

những mặt, những thuộc tính... chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp
lại
ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác. Ví dụ: thủ đơ Hà Nội là một “cái riêng”, ngồi
các đặc điểm chung giống các thành phố khác của Việt Nam, còn có những nét riêng như
có phố cổ, có Hồ Gươm, có những nét văn hóa truyền thống mà chỉ ở Hà Nội mới có, đó
là cái đơn nhất.
Phạm trù cái chung dùng để chỉ chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố,
những quan hệ,… tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng. Ví dụ: Trong tập thể sinh
viên trường đại học Ngoại Thương thì thuộc tính “ là sinh viên trường đại học ngoại
thương” là cái chung của các thành viên trong tập thể.
2. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Trong lịch sử triết học đã có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa “cái
riêng” và “cái chung”: Phái duy thực cho rằng, “cái riêng” chỉ tồn tại tạm thời, thống
qua, khơng phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có “cái chung” mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự
độc lập với ý thức của con người. “Cái chung” không phụ thuộc vào “cái riêng”, mà còn
sinh ra “cái riêng”. Theo Platôn, cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh
những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời. Thí dụ, bên cạnh cái cây riêng lẻ, có ý niệm cái
cây nói chung; bên cạnh cái nhà riêng lẻ, có ý niệm cái nhà nói chung, v.v.. Cái cây, cái
nhà riêng lẻ có ra đời, tồn tại tạm thời và mất đi, nhưng ý niệm cái cây, cái nhà nói chung
thì tồn tại mãi mãi. Từ đó Platôn cho rằng cái cây, cái nhà riêng lẻ là do ý niệm cái cây,
cái nhà nói chung sinh ra. Như vậy theo Platôn cái riêng do cái chung sinh ra. Phái duy
danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng,
do con người đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực. Quan điểm này khơng thừa
nhận nội dung khách quan của các khái niệm. Chẳng hạn như, họ cho khái niệm con
người, giai cấp, đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế
quốc, v.v., khơng có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống
rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu. Ngay đến cả những khái niệm như vật chất,
chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm, v.v., họ cũng cho là những từ khơng có ý nghĩa.
P a g e 4 | 17



Như vậy ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhịa và con người
khơng cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa.
Cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái
riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại. Họ
không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng. Phép biện chứng
duy vật cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng
có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Điều đó thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại của mình. Nghĩa là khơng có cái chung thuần túy tồn tại bên ngồi cái riêng. Chẳng
hạn khơng có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể.
Nhưng cây cam, cây quýt, cây đào... nào cũng có rễ, có thân, có lá, có q trình đồng hóa,
dị hóa để duy trì sự sống. Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ, và
được phản ánh trong khái niệm “cây”. Đó là cái chung của những cái cây cụ thể. Rõ ràng
cái chung tồn tại thực sự, nhưng khơng tồn tại ngồi cái riêng mà phải thông qua cái
riêng.
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là khơng có cái
riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, khơng có liên hệ với cái chung. Thí dụ, mỗi con người
là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự
nhiên. Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và quy luật
xã hội. Đó là những cái chung trong mỗi con người. Một thí dụ khác, nền kinh tế của mỗi
quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái riêng. Nhưng
nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung - cầu, quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là cái chung. Như vậy
sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung.
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận,
nhưng sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngồi những đặc điểm
chung, cái riêng cịn có cái đơn nhất. Thí dụ, người nông dân Việt Nam bên cạnh cái
chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp,
sống ở nông thôn, v.v., cịn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, của

các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên của đất nước, nên rất cần cù lao
động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống.
Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối
liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại. Do vậy cái chung là cái gắn
liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng.
Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển
của sự vật. Sở dĩ như vậy vì trong hiện thực cái mới khơng bao giờ xuất hiện đầy đủ
ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Về sau theo quy luật, cái mới hoàn
P a g e 5 | 17


thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến. Ngược lại cái cũ lúc đầu là
cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần
đi và trở thành cái đơn nhất. Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là
biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ. Ngược lại sự chuyển hóa từ cái
chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định. Thí
dụ, sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn
ra bằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với điều
kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều
cá thể. Những đặc tính khơng phù hợp với điều kiện mới, sẽ mất dần đi và trở thành cái
đơn nhất.

CHƯƠNG II: Vận dụng quan hệ biện chứng giữa cái chung và
cái riêng vào nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Khái niệm kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng suất,
chất lượng cao; dư thừa và phong phú hàng hóa; thị trường được mở rộng và coi như là
hàng hóa thị trường, năng động, ln ln đổi mới hàng hóa; năng động, ln ln đổi
mới hàng hóa, cơng nghệ và thị trường. Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị
trường với những đặc trưng cơ bản như: phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng thị trường,

tự do kinh doanh, tự do thương mai, tự định giá cả, đa dạng hóa sở hữu, phân phối do
quan hệ cung – cầu.
2. Tính tất yếu phải tiến lên kinh tế thị trường ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị
chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những
người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc
Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ
trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như
nhiều nước khác, đã áp dụng mơ hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xơ-viết, mơ hình kinh tế kế
hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mơ hình này đã thu được những kết quả quan trọng,
nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mơ hình
này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm
mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối
suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, khơng tơn trọng quy luật khách quan, nhận
thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 121986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn
P a g e 6 | 17


công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con
đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về cơng nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách
quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết
hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người,
có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển
quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một q trình tìm tịi, thử

nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và cơng sức của toàn
Đảng, toàn dân trong nhiều năm.
Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan
điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa
xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính
quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ
trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.
Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: “Sản xuất
hàng hóa khơng đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh
nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi
chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa,
cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”. Phải đến Đại hội IX của
Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là đường lối chiến lược nhất qn, là mơ hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm
tịi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản
Việt Nam và là bước phát triển tất yếu cần thiết đúng theo quy luật biện chứng giữa cái
chung và cái riêng.
3. Tính tất yếu phải tiến lên kinh tế thị trường ở Việt Nam
Đảng và nhà nước đã vận dụng chủ động, sang tạo mối quan hệ giữa cái chung và cái
riêng vào việc quản lí nền kinh tế nước ta để đạt được nhiều thành tựu. Điều đó được thể
hiện ở việc quan tâm đến phát triển từng cá thể - cái riêng, đồng thời hướng những cái
riêng này theo một cái chung nhất định là định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này giúp
P a g e 7 | 17



cho chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thể hiện qua các mặt:
- Về hệ thống mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rỏ: phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, thực hiện: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để
thực hiện được mục tiêu đó trong phát triển nền kinh tế thị trường, phải tạo điều kiện để
giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và không ngừng phát triển lực lượng sản xuất; phát
triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN phù hợp
trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối; phát triển kinh tế thị trường để từng bước
xây dựng hạ tầng kinh tế cho chủ nghĩa xã hội; cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Mục tiêu kinh tế - xã hội - văn hóa mà nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta phải đạt là:
Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người
tăng nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng
được thu hẹp.
Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho
ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có hiệu
quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các bí mật
quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, cơng nghệ và an ninh, quốc phịng.
Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay
trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề
xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị khơng chỉ về kinh tế mà cịn có
giá trị cao về văn hóa, xã hội.
- Về mục tiêu chính trị: Làm cho xã hội dân chủ, biểu hiện ở chỗ dân chủ hóa nền kinh tế,
mọi người, mọi thành phần kinh tế có quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, vào sản xuất
kinh doanh, có quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của mình; quyền của người sản xuất và
người tiêu dùng được bảo vệ trên cơ sở pháp luật của nhà nước.
- Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế: Nền kinh tế có nhiều thành phần, với nhiều

hình thức sở hữu. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh với nhau trên cơ sở pháp luật của nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo và kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu,
từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội về cơ bản được
xây dựng xong.
- Về chế độ phân phối: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời có
P a g e 8 | 17


các hình thức phân phối khác nữa (phân phối theo vốn, theo tài năng cùng các nguồn lực
khác đóng góp vào sản xuất kinh doanh), vừa khuyến khích lao động, vừa bảo đảm phúc
lợi xã hội cơ bản, bảo đảm sự phân phối công bằng, hợp lý và hạn chế sự bất bình đẳng
trong xã hội.
- Về vai trị quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, sự quản lý và điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, sự quản lý của nhà
nước trong nền kinh tế thị trường phải định hướng cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả
trên cơ sở đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân lao động thông qua hệ thống
pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Đồng
thời, có sử dụng cơ chế thị trường (vận dụng các quy luật kinh tế thị trường để đưa ra
những công cụ tác động vào thị trường) kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát
huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường.
Sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường nhằm giải quyết
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống
nhân dân. Nhà nước thực hiện chính sách xã hội, một mặt, khuyến khích làm giàu hợp
pháp, mặt khác phải thực hiện xóa đói, giảm nghèo.
- Về nguyên tắc giải quyết các mối quan hệ chủ yếu: Kết hợp ngay từ đầu giữa lực lượng

sản xuất với quan hệ sản xuất, bảo đảm giải phóng sức sản xuất; xây dựng lực lượng sản
xuất kết hợp với củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN, nhằm phục vụ cho
phát triển sản xuất và cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữa phát triển sản xuất với
từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và
công bằng xã hội, ngăn chặn các tệ nạn xã hội; giải quyết tốt các nhiệm vụ chính trị, xã
hội, văn hóa, mơi trường và an ninh, quốc phịng.
- Về tính cộng đồng và tính dân tộc: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta mang tính cộng đồng cao theo truyền thống của xã hội Việt Nam, phát triển kinh
tế thị trường có sự tham gia của cộng đồng và vì lợi ích của cộng đồng, hướng tới xây
dựng một cộng đồng xã hội Việt Nam giàu có, đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh
thần, dân chủ, công bằng, văn minh, đảm bảo cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân
dân.
- Về quan hệ quốc tế: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta dựa vào sự phát
huy tối đa nguồn lực trong nước và triệt để tranh thủ nguồn lực nước ngoài theo phương
châm “Kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại” và sử dụng các nguồn
lực đó một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao, để phát triển nền kinh tế đất nước với tốc độ
nhanh, hiện đại và bền vững.
4. Thành tựu trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
Thứ nhất, về tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong hơn 30 năm qua (1986-2017), tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta, tuy có sự dao
P a g e 9 | 17


động nhất định, song vẫn ở mức cao hơn trung bình khu vực và thế giới với mức tăng
bình quân cả thời kỳ gần 7%/năm. Nếu như giai đoạn 1986-1990, tốc độ tăng trưởng kinh
tế nước ta chỉ đạt 4,4%/năm, thì đến giai đoạn 1991-1995 là 8,2%/năm; giai đoạn 19962000 là 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005 là 7,34%; giai đoạn 2006-2010 là 6,32%/năm;
năm 2016 là 6,21% và năm 2017 là 6,81% .
Chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện, trình độ cơng nghệ trong sản xuất được
nâng lên. Đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng

GDP giai đoạn 2001-2005 đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2%, đến giai đoạn
2011-2015 tăng lên 28,94%. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm sốt, nợ cơng có
xu hướng giảm dần, dự trữ ngoại tệ tăng, đạt mức an tồn. Thu nhập bình qn đầu người
từ khoảng 100 USD/người/năm vào năm 1986, lên 471 USD/người/năm vào năm 2003.
Năm 2015, quy mô nền kinh tế nước ta đạt 204 tỷ USD, bình quân đầu người 2300
USD/người/năm. Năm 2017, quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ
đồng, tương ứng hơn 220 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người khoảng 2385
USD/người/năm.
Thứ hai, về kết quả huy động nguồn vốn đầu tư
Giai đoạn 1986-2017, để tạo nguồn lực tài chính cho phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã
khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức chính trị, xã hội, các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư
phát triển kinh tế. Kết quả là tổng vốn đầu tư toàn xã hội của nước ta ngày càng tăng. Nếu
như giai đoạn 1998-2000, tổng vốn đầu tư tồn xã hội đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, đến năm
2017 đạt 1667,4 nghìn tỷ đồng, tăng gấp hơn 14 lần so với giai đoạn 1998-2000. Cơ cấu
vốn đầu tư theo thành phần kinh tế cũng có sự dịch chuyển theo hướng tích cực, thể hiện
ở chỗ: vốn đầu tư phát triển của khu vực nhà nước đã giảm xuống; khu vực ngồi nhà
nước và khu vực có vốn ĐTNN tăng lên. Nếu như giai đoạn 1986-2000, vốn đầu tư của
khu vực kinh tế nhà nước chiếm 54,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; khu vực kinh tế là
24,1%; khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là 21,6% thì đến năm 2017, cơ cấu vốn đầu tư theo
thành phần lần lượt là: 35,6%; 40,6% và 23,8% .
Thứ ba, về tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu
Từ năm 1986, nước ta thực hiện mơ hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc tế, nhờ đó sức sản xuất trong nước được
giải phóng, các thành phần kinh tế phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng.
Nhu cầu tiêu thụ, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong nước và quốc tế không ngừng mở rộng.
Do đó, xuất nhập khẩu hàng hóa tăng đột biến, nếu năm 1986 tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu mới đạt 2.944 triệu USD, trong đó, xuất khẩu đạt 789 triệu USD, nhập khẩu 2.155
triệu USD, thì năm 2017, tức là sau 31 năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 425
tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 213,96 tỷ USD, nhập khẩu đạt 211,04 tỷ USD, xuất siêu
hơn 2,9 tỷ USD.

5. Tiếp tục nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa
P a g e 10 | 17


Qua hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X,
Ðảng ta luôn quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra các bài học kinh
nghiệm, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển, góp phần quan trọng đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân,
bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại,
hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta thực hiện còn chậm. Một số quy định pháp luật, cơ chế, chính sách cịn
chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định, nhất qn; cịn có biểu hiện lợi ích cục bộ, chưa
tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
phát triển. Hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp trong
nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Việc tiếp cận một số nguồn lực xã hội chưa bình đẳng giữa
các chủ thể kinh tế. Cải cách hành chính cịn chậm. Mơi trường đầu tư, kinh doanh chưa
thực sự thơng thống, mức độ minh bạch, ổn định chưa cao. Quyền tự do kinh doanh
chưa được tôn trọng đầy đủ. Quyền sở hữu tài sản chưa được bảo đảm thực thi nghiêm
minh…
Với những mặt hạn chế trên, đã tác động mạnh mẽ đến đổi mới, tư duy và nhận thức
trong Đảng, tạo điều kiện chín muồi cho sự ra đời của Nghị quyết Trung Ương 6 về “
Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết
đã nêu rõ như sau:
* Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại
hình doanh nghiệp
- Thể chế hóa đầy đủ quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được quy
định trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách
nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao

dịch thông suốt; bảo đảm hiệu lực thực thi và bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản.
Hồn thiện pháp luật về đất đai, tài nguyên để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất
đai, tài nguyên, khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí trong
lĩnh vực này. Cơng khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát,
quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp
nhà nước. Tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp
vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển công
nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và nơng nghiệp hàng hóa quy mơ lớn, cơng nghệ cao, gắn
với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nơng dân, giữ vững ổn định chính trị - xã
hội ở nơng thơn. Hồn thiện pháp luật về quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu
quả tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước giao quyền khai thác tài nguyên cho các doanh
nghiệp theo cơ chế thị trường. Hoàn thiện pháp luật về đầu tư vốn nhà nước, quản lý và
P a g e 11 | 17


sử dụng có hiệu quả tài sản cơng; phân biệt rõ tài sản đưa vào kinh doanh và tài sản để
thực hiện chính sách xã hội. Đầu tư vốn của Nhà nước vào doanh nghiệp theo cơ chế thị
trường. Hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ theo hướng khuyến khích sáng tạo, bảo đảm
tính minh bạch và độ tin cậy cao; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ và thực thi hiệu quả.
Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp dân sự theo hướng thống nhất,
đồng bộ.
- Thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân
biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật.
Tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt
Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Hoàn
thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh, nhất là về đầu tư công, đấu thầu. Bảo đảm quyền tự
do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể kinh tế đã được Hiến pháp quy
định; xóa bỏ các rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục

hành chính. Hồn thiện các quy định liên quan để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho hoạt động khởi nghiệp. Hoàn thiện thể chế về cạnh tranh; tăng cường tính minh
bạch về độc quyền nhà nước. Tiếp tục hoàn thiện thể chế cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh
nghiệp; thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường. Đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới các doanh
nghiệp nhà nước trong nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất,
rừng và các tài sản nhà nước đã đầu tư; bảo đảm lợi ích của Nhà nước và các bên đang
nhận khoán đất đai, vườn cây lâu năm. Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra đối với
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, khơng để thất thốt, lãng phí vốn, tài sản nhà
nước. Hồn thiện thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự
nghiệp công lập. Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ cho các đơn vị sự nghiệp
công lập về phạm vi hoạt động, tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và tài chính gắn với cơ
chế đánh giá độc lập. Thực hiện xã hội hóa tối đa các dịch vụ cơng, bảo đảm quyền bình
đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp cơng lập và các đơn vị ngồi cơng lập tham gia cung cấp
dịch vụ cơng theo cơ chế thị trường.
- Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn, đào tạo
nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường. Đổi mới nội dung và
phương thức hoạt động của kinh tế tập thể. Tăng cường các hình thức hợp tác, liên kết, hỗ
trợ cho nông dân trong sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ nơng sản; nhân rộng các mơ
hình tổ chức sản xuất mới, hiệu quả; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất,
chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ ở cả trong và
ngoài nước; chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang mơ hình sản xuất hợp
tác, liên kết, tập trung, quy mơ lớn. Tiếp tục hồn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển
khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thúc
P a g e 12 | 17


đẩy hình thành và phát triển các tập đồn kinh tế tư nhân mạnh, có cơng nghệ hiện đại,
năng lực quản trị tiên tiến. Hồn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa.

- Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài; chủ động lựa chọn các dự án
đầu tư nước ngồi có chuyển giao công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, có cơ sở
nghiên cứu và phát triển cơng nghệ tại Việt Nam, có cam kết liên kết, hỗ trợ doanh
nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền
kinh tế và các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế.
* Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường
- Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; bảo đảm tính đúng, tính đủ và cơng khai,
minh bạch các yếu tố hình thành giá hàng hóa, dịch vụ cơng thiết yếu. Khơng lồng ghép
các chính sách xã hội trong giá hàng hóa, dịch vụ. Chuyển từ cơ chế cấp phát sang cơ chế
đặt hàng; từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối
tượng thụ hưởng. Hồn thiện pháp luật về phí, lệ phí theo hướng chuyển sang áp dụng giá
dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, phát huy đúng đắn, đầy đủ vai trò của người tiêu dùng, các hội bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng. Cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng
đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và cơng bằng. Nghiên cứu, hồn thiện pháp luật
về thuế tài sản, nhất là về đất đai, bất động sản. Bảo đảm minh bạch thông tin về thị
trường quyền sử dụng đất. Xác định giá trị quyền sử dụng đất theo cơ chế thị trường
thông qua đấu giá, đấu thầu các dự án có sử dụng đất, thỏa thuận mua bán trên thị trường;
áp dụng phổ biến việc xác định giá trị quyền sử dụng đất thông qua các tổ chức thẩm định
giá độc lập, chuyên nghiệp. Rà soát, điều chỉnh khung giá quyền sử dụng đất phù hợp với
thị trường ở từng địa phương. Tăng cường áp dụng phương thức cho thuê đất. Thực hiện
bình đẳng trong tiếp cận các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế. Hồn thiện và thực thi có hiệu quả các quy định của pháp luật về công khai, minh
bạch trong tiếp cận các nguồn lực công, mua sắm và đầu tư cơng. Tăng cường tính minh
bạch đối với độc quyền nhà nước; kiểm sốt, ngăn chặn, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp.
Hoàn thiện thể chế phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường vào những ngành, lĩnh vực
và địa bàn đạt hiệu quả cao, có tác động lan tỏa. Hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh
nghiệp theo cơ chế thị trường, thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản;
khơng hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế và dân sự.
* Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững,

tiến bộ và cơng bằng xã hội, quốc phịng, an ninh, bảo vệ mơi trường và ứng phó với
biến đổi khí hậu
- Tích cực thực hiện “Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững” của Liên hợp
quốc; triển khai chiến lược tăng trưởng xanh. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nhanh
P a g e 13 | 17


và bền vững với phát triển xã hội bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, tạo cơ
hội cho mọi thành viên trong xã hội tham gia bình đẳng và thụ hưởng cơng bằng thành
quả từ q trình phát triển. Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, thống
nhất; huy động sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng xã hội thực hiện chính
sách an sinh xã hội; khuyến khích người dân tự nguyện tham gia bảo đảm an sinh xã hội.
Tập trung nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.
Hoàn thiện thể chế về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phịng, an ninh. Có cơ
chế huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển kinh tế các vùng biên giới trên đất
liền, trên biển và hải đảo; phát triển các khu kinh tế - quốc phòng. Phát triển mạnh các
ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống
nhân dân vùng biển, đảo. Có cơ chế, chính sách đặc thù đối với doanh nghiệp quốc
phòng, an ninh, gắn kết chặt chẽ giữa cơng nghiệp quốc phịng, an ninh với cơng nghiệp
dân sinh trong tổng thể chính sách cơng nghiệp quốc gia. Xây dựng thể chế liên kết
vùng, hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vùng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của
từng địa phương; ưu tiên phát triển các vùng kinh tế động lực, đồng thời có chính sách hỗ
trợ các vùng cịn nhiều khó khăn; xây dựng một số đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ
máy thuộc hệ thống chính trị. Sớm xây dựng mơ hình điều phối liên kết vùng, xác định rõ
địa phương đầu tàu và nhiệm vụ của từng địa phương trong vùng.
* Hoàn thiện thể chế đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
- Triển khai và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương

mại tự do thế hệ mới. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật và các thiết chế, cơ
chế liên quan đáp ứng yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế. Xây dựng và hoàn thiện cơ
chế phối hợp điều hành giữa các bộ, ngành, địa phương trong thực thi các cam kết hội
nhập và tiếp cận thị trường. Đổi mới công tác xúc tiến thương mại và đầu tư, cung cấp
thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Nâng
cao năng lực phòng ngừa, giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế.
- Thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong hợp tác kinh tế quốc
tế, khơng để lệ thuộc vào một số ít thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
tiềm lực của các doanh nghiệp trong nước. Xây dựng và thực hiện các cơ chế phù hợp với
thông lệ quốc tế để phản ứng nhanh nhạy trước các diễn biến bất lợi trên thị trường thế
giới, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
* Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò xây dựng và thực hiện thể chế kinh
tế của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
P a g e 14 | 17


- Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của
Đảng. Tăng cường lãnh đạo việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng
cao chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và xây dựng, ban hành nghị quyết
của Đảng về kinh tế - xã hội. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy và phương thức hoạt
động của Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao hiệu quả
hoạt động của cả hệ thống chính trị
- Nhà nước tập trung thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng và tổ chức thực hiện
pháp luật; tăng cường sự phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa cơ quan lập pháp, cơ quan
hành pháp và cơ quan tư pháp; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; khắc phục mặt trái của thị
trường; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Đổi mới
phương thức quản lý nhà nước về kinh tế; thực hiện đúng đắn và đầy đủ chức năng của
Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Điều hành nền kinh tế không chỉ bảo đảm mục

tiêu ngắn hạn mà còn hướng tới thực hiện các mục tiêu trung và dài hạn. Nâng cao năng
lực phân tích, dự báo, nhất là dự báo chiến lược. Đổi mới căn bản và tồn diện cơng tác
xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công và
tài chính cơng thực sự theo cơ chế thị trường, khắc phục tình trạng “xin - cho”, chủ quan,
duy ý chí. Đổi mới cơng tác thống kê phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và thực thi pháp luật.
- Đẩy mạnh cải cách tư pháp. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế giải
quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, trọng tâm là các hoạt động hòa giải,
trọng tài thương mại và tòa án nhân dân các cấp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người dân và doanh nghiệp. Xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về kinh tế. Tăng
cường tính độc lập của hệ thống tư pháp các cấp trong xét xử, thi hành án dân sự, kinh tế.
Bảo đảm an ninh, trật tự, an tồn xã hội, tạo mơi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất,
kinh doanh.

P a g e 15 | 17


KẾT LUẬN
Bài tiểu luận “ Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng
nền kinh tế thị trường ở nước ta” của em đã nêu ra những kiến thức cơ bản về cái
chung và cái riêng và mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Vận dụng vào nền kinh tế ở
Việt Nam, đất nước ta đã phát triển nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp thu cái
chung của nền kinh tế thế giới nhưng không mất đi cái đơn nhất, bản sắc của nền kinh tế
Việt Nam. Thực hiện đúng quy luật phát triển chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, đạt mức tăng trưởng kinh tế cao.
Tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng chúng ta cần phải cải thiện những điểm thiếu xót
nhằm hồn thiện nền kinh tế. Đồng thời tăng cường quản lí Nhà nước, kích thích các
doanh nghiệp cá nhân, cạnh tranh phát triển công bằng, lành mạnh. Tích cực hội nhập,
học hỏi nền kinh tế quốc tế, khuyến kích các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam. Qua đó
làm cho nền kinh tế của nước ta năng động, phát triển, hội nhập cùng thế giới

Tài liệu tham khảo:
(1), />a=v&pid=sites&srcid=ZGVmYXVsdGRvbWFpbnxtYWNsZW5pbmhoZG58Z3g6N
TExZGY0ZmUzMmUxN2E2Mw
(2), />(3) />(4) />
P a g e 16 | 17


P a g e 17 | 17



×