ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN THỊ PHONG
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH
QUẢNG NAM
Kon Tum, tháng 08 năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH
QUẢNG NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : NGUYỄN THỊ ANH THƯ
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN THỊ PHONG
LỚP
: K814LK2
MSSV
: 141502071
Kon Tum, tháng 08 năm 2018
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện báo cáo thực tập, em đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ trong cơ quan cũng như quý thầy cô. Qua đây cho em
gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban lãnh đạo trường Đại học Đà Nẵng Phân Hiệu tại Kon Tum, khoa Sư
Phạm và Dự bị đại học và cô Nguyễn Thị Anh Thư giáo viên hướng dẫn đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong q trình học tập cũng như hồn thành
báo cáo thực tập này.
- Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cần
thiết nhất trong thời gian thực tập.
- Thư ký Tòa án chị Hoàng Thị Diễm My là cán bộ hướng dẫn và là người
giúp đỡ chỉ bảo em rất tận tình trong thời gian thực tập 4 tháng tại Tịa án.
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG BIỂU .............................................................................................. iv
DANH MỤC VIẾT TẮT .................................................................................................. iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 1
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài .................................................................................... 2
5. Bố cục. ............................................................................................................................. 2
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI..... 3
1.1. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI ........................................... 3
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại ...................................................... 3
1.1.2. Khái niệm về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ................................ 4
1.2. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại ......................................................... 5
1.3. Phân loại tranh chấp kinh doanh thương mại ......................................................... 6
1.4. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án ..................................... 7
1.4.1. Thẩm quyền các cấp Tòa án .................................................................................. 8
1.4.2. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại .................. 10
1.4.3. Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.............................. 11
1.4.4. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân ....... 16
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP ĐỨC ............................. 21
2.1. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP ĐỨC ......................................................... 21
2.1.1. Những kết quả đạt được trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức................................................................................. 22
2.1.2. Những thuận lợi và hạn chế trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức................................................................................. 26
2.1.3. Nguyên nhân của thực trạng ................................................................................ 28
2.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức ..................................................................... 29
2.2.1. Đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán ........................................................................... 29
2.2.1. Đào tạo, bồi dưỡng thư ký Tòa án ....................................................................... 31
2.2.3. Chú trọng vai trò của các đương sự khi tham gia tố tụng ................................... 31
2.2.4. Chú trọng và tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong nhân
dân........................... ........................................................................................................... 32
2.2.5. Đề xuất về chế độ tiền lương, điều kiện làm việc ............................................... 32
KẾT CHƯƠNG 2 ............................................................................................................. 33
ii
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
NHẠN XÉT CỦA GVHD
iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu bảng
1.1
1.2
1.3
Tên bảng
Sơ đồ tóm tắt 4 cấp tịa án
So sánh các hình thức giải quyết tranh chấp
Bảng số liệu các vụ án tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức
Số trang
10
12,13
23
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
Tên đầy đủ
Bộ luật tố tụng dân sự
Tranh chấp kinh doanh thương mại
Bộ luật dân sự
Luật thương mại
Kinh doanh thương mại
iv
Tên viết tắt
BLTTDS
TCKDTM
BLDS
LTM
KDTM
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là nước đang phát triển, đang trên đường hội nhập kinh tế thị trường, vì thế
các biến động của nền kinh tế thế giới ln có ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước.
Các quan hệ kinh tế, đời sống trở nên đa dạng, phong phú và có tính biến hóa hơn, tạo
cho thương nhân cũng như người dân lao động rất nhiều môi trường làm việc thuận lợi,
đem lại lợi ích cho bản thân. Các quan hệ xã hệ từ đó cũng trở nên phức tạp, đa sắc thái,
đa hình thù, dẫn theo các tranh chấp về dân sự nói chung và tranh chấp về kinh doanh
thương mại nói riêng cũng trở nên phức tạp hơn nhiều so với lúc trước. Việc này đòi hỏi
Đảng và Nhà nước ta cần phải thường xuyên nắm bắt tình hình thực tiễn và hết sức quan
tâm đến việc cải cách hệ pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng để có thể đáp
ứng được các yêu cầu thực tế đề ra. Trong kinh doanh, giữa các cá nhân, đơn vị kinh
doanh ln phải có sự liên kết với nhau để cùng nhau mang lại lợi nhuận, thông thường
cá nhân, đơn vị kinh doanh ký kết với nhau hợp đồng kinh tế nhằm xác định quyền và
nghĩa vụ trong kinh doanh, thương mại. Theo quy định pháp luật thì các bên phải thực
hiện đúng và đủ các nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào các chủ thể
cũng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, các tranh chấp về việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh, thương mại khó có thể tránh
khỏi. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, cũng như tạo
điều kiện hoạt động đồng bộ cho tồn bộ nền kinh tế, các tranh chấp đó cần được giải
quyết kịp thời, đúng đắn. Về nguyên tắc khi tranh chấp trong kinh doanh thương mại xảy
ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong kinh doanh thương, pháp luật cho
phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cách giải quyết. Trong trường hợp các bên khơng
thỏa thuận được với nhau và có u cầu thì tranh chấp kinh doanh thương mại được giải
quyết tại Trọng tài thương mại hoặc tại Tòa án nhân dân giải quyết theo thủ tục tố tụng
quy định. Nhìn nhận được những tính chất ngày càng phức tạp của các quan hệ pháp luật
kinh doanh thương mại hiện nay, với sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và
được thực tập tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức đã tạo động lực và tiền đề cho tơi có
thể đi sâu vào nghiên cứu về đề tài “Thực tiễn về tranh chấp kinh doanh thương mại tại
Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nắm rõ được đặc điểm, hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
- Biết được trình tự giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại.
- Đóng góp các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là các quy định của pháp luật về giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương
mại và việc áp dụng quy định giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án.
1
Tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
là vấn đề rộng lớn, có thể nhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng trong đề
tài chỉ phân tích về giải quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam nói chung và thực tiễn
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tịa án nhân dân huyện Hiệp Đức nói
riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở chương 1, mục 1.4.3, so sánh các hình thức
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại để phân biệt rõ các hình thức giải quyết nó
khác nhau như thế nào, giúp người đọc dễ tìm hiểu hơn.
- Phương pháp phân tích lý thuyết được sử dụng trong tồn bài báo cáo để người
đọc dê hiểu sâu nội dung hơn về tranh chấp kinh doanh thương mại.
- Thu thập các tài liệu, thông tin từ thực tiễn được sử dụng tại chương 2, mục 2.1
lập bảng thống kê số liệu về các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân
dân huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam để làm rõ thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện
Hiệp Đức.
5. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng
và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2 chương:
Chương I: Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại
Chương II: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
nhân dân huyện Hiệp Đức.
2
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại
Tranh chấp theo nghĩa chung là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là
trong vấn đề quyền lợi giữa các bên.
Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh từ những quan hệ có do ngành luật
thương mại điều chỉnh, vì vậy nó có những đặc trưng khác biệt so với tranh chấp dân sự,
tranh chấp lao động.
Tranh chấp thương mại thường là nguyên nhân phát sinh thiệt hại về vật chất đối
với các bên khi các bên có sự thoả thuận thơng nhất một cách giải quyết có lợi nhất cho
cả hai bên. Khác với các tranh chấp khác, tranh chấp thương mại thường có giá trị lớn
được phát sinh trong việc đầu tư vốn, tài sản nhằm thu lợi nhuận. Tranh chấp nảy sinh sẽ
ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của khơng những các đương sự mà cịn ảnh hưởng đến
các chủ thể kinh doanh khác.
Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều
kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Hoạt động thương mại của doanh nghiệp là hoạt
động thiết lập một mạng lưới các hành vi thương mại, mà mục tiêu của các bên khi tham
gia vào các quan hệ này là lợi nhuận. Các bên tuy hợp tác, song vẫn cạnh tranh nhau để
thu về được lợi ích nhiều nhất. Chính vì thế sẽ khơng tránh khỏi những mâu thuẫn bất
đồng trong việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng như quá trình thực hiện quyền và
nghĩa vụ đó của các bên.
Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể được Nhà nước
thừa nhận quyền doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đó là các doanh nghiệp. Vì vậy
khơng phải tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh cũng là tranh chấp thương
mại. Là tranh chấp thương mại khi các đơn vị kinh tế có đăng ký kinh doanh thuộc tất cả
các thành phần kinh tế (các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty trách nhiệm hưu hạn, Công
ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, hộ kinh
doanh cá thể ).
Tranh chấp thương mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh chấp này có thể dẫn
đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế giữa các chủ
thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt
động diễn ra thường xuyên, liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối
quan hệ kinh tế khiến cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên
quan đến nhau khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến
tranh chấp trong mối quan hệ khác. Ví dụ như doanh nghiệp A vay tiền của ngân hàng để
mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp B và bán sản phẩm cho doanh nghiệp C theo các
hợp đồng đã ký. Nếu doanh nghiệp B không cung cấp đúng nguyên vật liệu như đã thoả
thuận thì doanh nghiệp A cũng sẽ không giao được hàng cho bên C như trong hợp đồng
3
và không thu hồi được vốn đầu tư để trả cho ngân hàng. Tranh chấp phát sinh giữa doanh
nghiệp A và doanh nghiệp B; doanh nghiệp A và doanh nghiệp C; doanh nghiệp A và
ngân hàng.
Tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực
kinh doanh và thương mại, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 1, điều 3 Luật Thương mại 2005 “Hoạt động thương mại
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ưng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
Theo khoản 16, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 “Kinh doanh là việc thực hiện liên
tục một, một số hoặc tất cả các cơng đoạn của q trình, đầu tư, từ sản xxuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội hàm về
việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng dịch vụ nhằm
mục đích sinh lợi do đó hai hoạt động này đã được BLTTDS 2015 gọi chung là hoạt
động kinh doanh, thương mại và đưa vào cùng một quy trình giải quyết tranh chấp.Có thể
thấy khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại thực chất là những mâu thuẫn phát sinh
từ việc các chủ thế kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược nhau trong hoạt động
kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và
tranh chấp là khác nhau. Bởi khi nào mâu thuẫn, xung đột lớn đến mức khơng thể hịa
giải mới xảy ra tranh chấp.
1.1.2. Khái niệm về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách nhanh chóng để giải quyết các xung
đột, mâu thuẫn này để sớm đưa vào hoạt động kinh doanh. Do đó việc giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như các cơ quan giải quyết
tranh chấp phải tiến hành giải quyết tranh chấp nhanh chóng khơng làm ảnh hưởng đến
q trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác
trong hoạt động kinh doanh thương mại. Tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc lĩnh
vực tư nhân nên các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp
kinh doanh, có thể chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh trước khi xảy ra tranh
chấp hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là
các bên tranh chấp thơng qua hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành giải pháp nhằm loại
bỏ những mâu thuẫn xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
kinh tế của mình. Như vậy, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là
quá trình phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các bên, buộc bên vi phạm
nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên bị vi phạm. Dẫn đến mâu thuân
hay xung đột giữa các bên được dung hịa thơng qua các phán quyết của người đứng ra
giải quyết tranh chấp. Giải quyết TCKDTM có thể hiểu là cách thức, phương pháp cũng
như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh, nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh. Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh,
4
trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh
chấp có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình.
1.2. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại
Thứ nhất, tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp xảy ra trong quá trình
thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho
rằng quyền và nghĩa vụ của mình bị xâm phạm và yêu cầu được giải quyết. Ví dụ, đại lý
A ký hợp đồng với đại lý B về cung cấp hàng hóa thức ăn gia súc. Trong hợp đồng có
quy định sẽ thanh tốn tiền sau 2 tháng. Tuy nhiên sau 2 tháng đại lý A vẫn khơng thanh
tốn tiền nên đại lý B đa kiện đại lý A vì đại lý A cho rằng quyền lợi của mình bị xâm
phạm.
Thứ hai, những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt
động hoạt động kinh doanh thương mại. Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành
vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật. Trong nhiều trường hợp , tranh chấp
thương mại phát sinh do vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng
có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh
chấp. Tranh chấp thương mại phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ
của các bên phát sinh từ nhưng hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi khác.
Thứ ba, tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các
thương nhân với nhau. Thương nhân chỉ là chủ yếu, bởi vì trong một số trường hợp, chủ
thể của tranh chấp thương mại còn có thể là các cá nhân, tổ chức khơng phải là thương
nhân. Ví dụ như tranh chấp giữa cơng ty và thành viên của công ty là tranh chấp thương
mại giữa một bên chủ thể là thương nhân (công ty) và một bên là cá nhân không phải là
thương nhân (thành viên cơng ty).Cũng chính từ đặc điểm này đã dẫn đến việc giải quyết
vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại có thể sử dụng một trong hai văn bản pháp
luật, đó là Bộ luật dân sự hoặc Luật thương mại. Tức là, đối với trường hợp, bên có hoạt
động khơng nhằm mục đích sinh lợi có thể chọn Luật thương mại hoặc Bộ luật dân sự để
giải quyết mà không trái với quy định pháp luật.. Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là
giao dịch hỗn hợp. Về bản chất, hoạt động khơng nhằm mục đích sinh lợi của một bên
trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng
bên khơng nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở
thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ phát luật kinh
doanh thương mại này phải được quan niệm là tranh chấp kinh doanh thương mại.
Thứ tư, tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp mang yếu tố vật chất và có
giá trị lớn. Các tranh chấp này đều chủ yếu tranh chấp về những lợi ích vật chất có ảnh
hưởng lớn và liên quan trực tiếp đến lợi ích khác của các bên.
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là do các bên trong tranh
chấp kinh doanh thương mại tự định đoạt. Điều này thể hiện ở việc các bên trong tranh
chấp kinh doanh thương mại có nhiều hơn một cách để giải quyết tranh chấp như: hòa
5
giải, thương lượng, trọng tài thương mại, tòa án. Việc chọn phương pháp giải quyết nào
là quyền của các bên nhưng vẫn trên cơ sở tơn trọng lợi ích của nhau và lợi ích của nhà
nước. Trên thực tế tranh chấp KDTM ở nước ta chủ yếu là chọn giải quyết bằng Tòa án.
Trong trường hợp các bên chọn Tòa án là cơ quan quản lý tranh chấp KDTM thì các bên
phải tuân thủ triệt để, nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục
giải quyết tranh chấp được quy định tại BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi
hành bộ luật này.
1.3. Phân loại tranh chấp kinh doanh thương mại
- Theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại trong nước và tranh chấp thương
mại quốc tế. Tranh chấp thương mại trong nư ớc là các hoạt động bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh
lợi khác trong đó các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước. Tranh chấp
thương mại có yếu tố nước ngoài là các hoạt động bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác trong
đó có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể này được giải
quyết bằng tịa án hoặc trọng tài thương mại, nếu chúng khơng giải quyết được bằng
thương lượng. Giải quyết tranh chấp bằng tịa án là quyền đương nhiên, các bên tranh
chấp khơng cần phải thỏa thuận. Bên có quyền lợi bị xâm phạm có thể khởi kiện tại tịa
án nước mình, tịa án của bên vi phạm hoặc thậm chí tại tịa án của một nước thứ ba, tùy
thuộc tòa án của các nước này có thẩm quyền giải quyết loại tranh chấp cụ thể đó khơng.
Thẩm quyền của tịa án cũng có thể được xác lập bởi thỏa thuận của các bên, nếu pháp
luật tố tụng của nước đó chấp nhận thỏa thuận này. Tuy nhiên, quyết định của tòa án
nước này muốn được thi hành tại một nước khác thì phải được nước khác đó cơng nhận.
Bởi vậy, thuận tiện nhất là lựa chọn khởi kiện ở nơi mà bản án cũng cần được thi hành.
Tịa án cơng nhận xem xét việc đáp ứng các điều kiện công nhận, nhưng không bao gồm
xem xét lại sự việc. Bên cạnh giải quyết tranh chấp bằng tịa án, hình thức giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại đặc biệt được ưa chuộng trong hoạt động thương
mại quốc tế. Tuy nhiên, trọng tài chỉ có thẩm quyền nếu được các bên thỏa thuận. Thỏa
thuận trọng tài có thể là thỏa thuận trong hợp đồng hoặc trong một văn bản riêng biệt,
trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp. Thỏa thuận phải chỉ định một trung tâm trọng tài
cụ thể hoặc một hội đồng trọng tài do các bên thành lập. Giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài có nhiều ưu điểm, như được các bên tín nhiệm, thủ tục đơn giản, có thể thỏa thuận nơi
tiến hành xét xử, nhất là giữ được bí mật và uy tín của các bên do phiên xét xử không
công khai. Phán quyết trọng tài là chung thẩm, các bên phải thi hành, trừ trường hợp bị
tòa án hủy theo thủ tục hủy quyết định trọng tài, trong đó tịa án khơng xem xét lại sự
việc mà chỉ xem xét việc tuân thủ các điều kiện và thủ tục tố tụng. Phán quyết của trọng
tài quốc tế hoặc nước ngoài muốn được thi hành tại một nước khác cũng phải được nước
khác đó cơng nhận. Trong thủ tục cơng nhận này tịa án cũng khơng xem xét lại sự việc1.
1
/>
6
- Tranh chấp kinh doanh thương mại theo giữa hai bên và tranh chấp kinh doanh
thương mại nhiều bên. Ví dụ về tranh chấp kinh doanh thương mại nhiều bên với nhau
như Cơng ty A mua ngun liệu mía của nhà máy B về sản xuất đường đã được ký hợp
đồng và trong hợp đồng có ghi là giao mía ngày 15/8/2018. Công ty A đã ký hợp đồng
với công ty c là giao đường ngày 25/8/2018 nhưng do công ty B khơng giao mía đúng
thời hạn nên cơng ty A đã không giao đường đúng hạn cho công ty C. Vậy nên tranh
chấp kinh doanh thương mại phát sinh giữa công ty A với công ty B và giữa công ty A
với công ty C
- Tranh chấp kinh doanh thương mại liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của
các bên: Tranh chấp do người mua không thực hiện hay thực hiện không đúng theo quy
định của hợp đồng hoặc tranh chấp do người bán không thực hiện hay thực hiện không
đúng theo quy định hợp đồng.
- Tranh chấp KDTM hiện tại và tranh chấp KDTM tương lai. Tranh chấp KDTM
hiện tại là tranh chấp đã xảy ra đang cần được giải quyết. Tranh chấp KDTM tương lai
được hiểu là tranh chấp có thể xảy ra và việc giải quyết được dự liệu trong một điều
khoản của hợp đồng.
- Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng sai chế độ ký kết hợp đồng
+ Vi phạm nguyên tắc ký kết
+ Căn cứ ký kết không hợp pháp
+ Chủ thể ký kết hợp đồng không hợp pháp, hợp lệ
- Theo tiến trình thực hiện hợp đồng
+ Tranh chấp trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng
+ Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng
Do người bán không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình
như đã thoả thuận trong hợp đồng (liên quan đến nghĩa vụ giao hàng, cung cấp chứng từ
hàng hố, thơng qua kiểm định…).
Do người mua khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng nghĩa vụ của mình
trong hợp đồng (khơng mở L/C đúng hạn, thanh tốn chậm hay khơng thanh tốn, khơng
hoặc trì hỗn việc nhận hàng).
1.4. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển đặc biệt khi nước ta đã gia nhập tổ
chức thương mại thế giới, các quan hệ kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng, phong
phú và mang những diện mạo sắc thái mới. Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các
quan hệ này, các tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng mn hình mn vẻ và
với số lượng lớn. Đáp ứng yêu cầu giải quyết các TCKDTM của cá nhân, tổ chức trong
nền kinh tế thực tiễn đã hình thành nhiều phương thức giải quyết TCKDTM như: thương
lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tài. Ở Việt Nam các đương sự thường lựa
chọn hình thức giải quyết TCKDTM bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ
có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương
lượng, hoà giải. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Tồ án vẫn cịn
7
nhiều vấn đề đáng quan tâm đó là vướng mắc từ phía pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến
việc áp dụng khơng đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành không thống nhất,
quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp giải quyết, điều đó làm cho hoạt
động xét xử của Tồ án gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Hơn nữa, trong Nhà nước pháp
quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo cơng minh, nhanh chóng,
chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà,
mệt mỏi cho các bên đương sự. Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy
nhanh quá trình cải cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, cơng cuộc cải cách
tư pháp cũng đang được Đảng và Nhà nước tích cực triển khai, coi đây như là khâu đột
phá quan trọng, thúc đẩy q trình xây dựng và hồn thiện Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đã và đang đặt ra một loạt
vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách hợp lý và thoả đáng, trong đó có
vấn đề xây dựng và hồn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng như tạo lập khn khổ
pháp lý điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ
thể kinh doanh, kể cả việc giải quyết vấn đề đặt ra về tố tụng kinh tế, dân sự nói riêng sao
cho thích hợp hiện cũng cần được quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phương hướng giải
quyết đúng đắn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra
trong giai đoạn hiện nay. Nói một cách khác, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao
hiệu lực và hiệu quả của hoạt động xét xử của Toà án đối với việc giải quyết các
TCKDTM. Đây là một trong số những nội dung cơ bản, quan trọng trong việc cải cách và
trên nền tảng đó, hồn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cơng dân, cơ quan,
tổ chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị và hội nhập quốc
tế. Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp
luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM nhằm góp phần làm sáng
tỏ thêm về lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong quy định
pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó đề xxuất các giải pháp hồn thiện pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án kinh tế theo tinh thần cải cách tư pháp là
hết sức cần thiết.
1.4.1. Thẩm quyền các cấp Tòa án
Thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Toà án
nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính và
các văn bản pháp luật khác. Qua đó, khái niệm thẩm quyền của Tòa án được hiểu với
những cấp độ và nội dung khác nhau. Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi quyền hạn của
Tòa án trong việc thực hiện pháp luật mà trọng tâm là công tác xét xử các loại vụ án theo
quy định của pháp luật. Thẩm quyền của Tòa án còn là sự phân định quyền hạn giữa Tòa
án nhân dân và các cơ quan chức năng khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Qua
đó, thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM được hiểu là thẩm quyền của
Tòa án là phạm vi giới hạn hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tịa án có
mối liên quan chặt chẽ với nhau bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi, giới hạn xét xử và
quyền hạn quyết định của Tòa án.
8
Tòa án nhân dân cấp huyện là cấp Tòa thấp nhất trong hệ thống Tòa án Việt Nam
phân theo lãnh thổ. Tịa án nhân cấp huyện có thẩm quyền chính là xét xử sơ thẩm các vụ
án dân sự (Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015), đồng thời giải quyết các việc dân sự
(khoản 2 Điều 35 BLTTDS 2015).
Tòa án nhân dân cấp tỉnh (tên gọi đầy đủ là Tòa án nhân cấp tỉnh, thành phố thành
phố trực thuộc trung ương) có thẩm quyền trong việc xét sử sơ thẩm đối với các vụ việc
dân sự quy định tại Điều 37 BLTTDS 2015. Đối với các bản án, quyết định của Tịa cấp
huyện chưa có hiệu lực pháp luật thì Tịa mà bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp tỉnh
sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết định này.
Tòa án nhân dân cấp cao là một cấp Tòa mới được bổ sung tại Luật tổ chức Tịa án
nhân dân 2014 có hiệu lực vào ngày 1/6/2015. Hiện nay, cả nước có 3 Tòa án nhân dân
cấp cao được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi Tòa cấp cao như
vậy quản lý một khu vực tương ứng theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Theo đó, Tịa án
nhân dân cấp cao sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có
hiệu lực do Tịa cấp tỉnh ra theo thủ tục sơ thẩm mà bị kháng cáo, kháng nghị. Bên cạnh
đó, Tịa cấp cao cịn có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định
của Tòa cấp tỉnh và Tòa cấp huyện. (Tòa cấp cao quản lý khu vực nào thì sẽ có thẩm
quyền xét xử phúc thẩm hoặc thực hiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án,
quyết định tại của Tòa cấp tỉnh hoặc Tịa cấp huyện trong khu vực đó).
Tịa án nhân dân tối cao là Tòa án cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án Việt Nam.
Tòa án nhân dân tối cao sẽ khơng có thẩm quyền xét xử mà chỉ thực hiện quyền giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của tất cả các Tịa án cấp dưới đã có
hiệu lực pháp luật và bị kháng nghị (bao gồm Tòa cấp cao, Tòa cấp tỉnh và tòa cấp
huyện).
9
Tòa án nhân dân tối
cao
Tòa án nhân dân cấp
cao
Giám đốc thẩm, tái thẩm (đối với bản án, quyết
định của Tòa cấp cao +cấp tỉnh + cấp huyện
Giám đốc thẩm, tái thẩm (đối với bản án,
quyết định của Tòa cấp tỉnh + cấp huyện)
Xét xử phúc thẩm(đối với bản án quyết định
Tòa án cấp tỉnh)
Tòa án nhân dân cấp
tỉnh
Xét xử sơ thẩm (đối với vụ việc thuộc thẩm
quyền sơ thẩm của Tòa cấp tỉnh)
Xét xử phúc thẩm (đối với bản án quyết của
Tòa cấp huyện)
Tòa án nhân dân cấp
huyện
Xét xử sơ thẩm
Sơ đồ 1.1. Tóm Tắt Thẩm Quyền Của 4 Cấp Tòa
1.4.2. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Dựa trên cơ sở tự do và tự chủ trong kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật, việc
giải quyết tranh chấp phải đảm bảo các nguyên tắc sau2:
Nguyên tắc tự định đoạt: Theo nguyên tắc này thể hiện trước hết là ở chỗ các bên có
quyền thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp có lợi nhất có thể là tự thương
lượng, hoặc thơng qua trung gian hồ giải, hoặc thơng qua một hình thức tài phán. Sau đó
các bên có thể khơng nhất thiết phải tham gia tố tụng mà có thể uỷ quyền cho người khác
tham gia tố tụng, có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích của
mình. Cuối cùng khi đã đưa tranh chấp ra trọng tài hoặc toà án các bên có quyền hồ giải
hoặc thay đổi nội dung đơn kiện hoặc rút đơn kiện. Theo nguyên tắc này các bên tranh
chấp trong hợp đồng kinh doanh quốc tế hồn tồn có quyền tự quyết định có đưa vụ việc
ra xét xử tại tịa án hay khơng. Tức là các bên đương sự có quyền quyết định việc khởi
kiện, u cầu tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Tòa án chỉ thụ lý vụ việc khi có
đơn khởi kiện và chỉ giải quyết trong phạm vi khởi kiện đó. Trong q trình tịa án giải
quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu khởi kiện
nếu sự thay đổi đó không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Đây là một trong những
nguyên tắc thể hiện sự khác biệt rất lớn giữa tố tụng kinh tế và tố tụng hình sự. Trong tố
tụng hình sự thì các đương sự rất ít khi có quyền tự quyết định việc có đưa vụ việc ra tịa
hay khơng.
2
/>
10
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật: Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của các bên khơng phân biệt thành phần kinh tế, số vốn, tài sản. Bình đẳng trước pháp
luật là nguyên tắc đã được quy định trong hiến pháp của rất nhiều nước trên thế giới cũng
như tại Việt Nam, vì thế đây cũng là một nguyên tắc rất quan trọng trong việc giải quyết
các tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án. Theo nguyên tắc này, tất cả các bên
tranh chấp sẽ được bình đẳng với nhau trong quá trình tố tụng tại tịa án, khơng phân biệt
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước hay thuộc thành phần kinh tế tư nhân,
khơng phân biệt đó là doanh nghiệp của nước lớn hay của nước nhỏ, khơng phân biệt
doanh nghiệp đó là doanh nghiệp nhỏ hay tập đoàn kinh tế lớn.
Nguyên tắc hồ giải: Ngun tắc này quy định tịa án có trách nhiệm tiến hành hào
giải và tạo điều kiện thuận lợi để các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ việc. Chỉ khi nào các bên khơng thể hịa giải được với nhau thì tịa án mới chính
thức xét xử vụ việc. Việc hịa giải có thể thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và kịp thời, đảm bảo hạn chế gián
đoạn quá trình sản xxuất kinh doanh. Hoạt động kinh doanh được thực hiện theo chu
trình sản xxuất khép kín, vì vậy ở bất kỳ một cơng đoạn nào xảy ra trục trặc đều dẫn đến
ảnh hưởng tồn bộ q trình kinh doanh. Giải quyết tranh chấp khơng được tiến hành một
cách nhanh chóng kịp thời sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển vững mạnh của chủ
thể kinh doanh. Nhanh chóng, kịp thời nhưng phải dứt điểm, đạt hiệu quả thi hành cao
nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên.
Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng tạo tịa án: Theo
ngun tắc này thì tịa án khơng có nghĩa vụ phải xác minh thu thập chứng cứ mà bản
thân các bên tranh chấp phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh
cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định
tịa án có quyền xác minh, thu thập chứng cứ và chỉ có quyền xác minh, thu thập chứng
cứ trong trường hợp do pháp luật quy định.
Ngoài những nguyên tắc quan trọng nêu trên, việc xét xử các tranh chấp trong kinh
doanh quốc tế tại tòa án còn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản khi xét xử tại tịa án nói
chung như nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc hai cấp xét xử.
1.4.3. Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại, các bên tham gia là các thương
nhân, tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh khó tránh khỏi những mâu thuẫn, bất
đồng về quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Khi có tranh chấp xảy ra, để đảm
bảo quyền lợi của mình các bên đều muốn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi,
có hiệu quả và khơng ảnh hưởng đến q trình kinh doanh của mình. Theo quy định tại
Điều 317 Luật Thương mại năm 2005 có các hình thức giải quyết tranh chấp là:
- Thương lượng giữa các bên.
11
- Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa
thuận chọn làm trung gian hoà giải.
- Giải quyết tại Trọng tài
- Giải quyết tại Tồ án.
Bảng 1.2. so sánh các hình thức giải quyết tranh chấp
Tiêu chí
Khái niệm
Thương lượng
Các bên cùng
nhau bàn bạc, tự
dàn xếp, tháo gỡ
nhưng mâu thn
mà khơng có sự
tham gia, phán
quyết của bất kỳ
bên thứ ba nào.
Hòa giải
Các bên cùng
nhau bàn bạc,
dàn xếp với sự
tham gia của một
bên thứ 3 để hỗ
trợ, thuyết phục
các bên tìm các
giải quyết mâu
thuẫn.
Chưa có quy
định
Nghị định
22/2017/N Đ-CP
quy định về hịa
giải tranh chấp
thương mại
Thơng qua người
hịa giải là hịa
giải viên
Do các bên thỏa
thuận
Bí mật ( trừ khi
có thỏa thuận
hoặc quy định
khác)
Căn cứ pháp lý
Đối tượng
Phạm vi giải
quyết
Nguyên tắc giải
quyết
Điều kiện giải
quyết
Tính ràng buộc
pháp lý
Trọng tài
Các bên giải
quyết tranh chấp
thông qua trọng
tài viên tại các
trung tâm trọng
tài, trọng tài viên
với tư cách độc
lập sẽ ra phán
quyết có giá trị
bắt buộc các bên
phải thi hành
Luật trọng tài
thương mại 2010
Tòa án
Các bên giải
quyết tranh chấp
tại cơ quan mang
quyền lực nhà
nước, phán quyết
của Tòa án được
bảo đảm thi hành
Bộ luật tố tụng
dân sự 2015
Thông qua người Thông qua người
giải quyết là
giải quyết là
trọng tài viên
thẩm phán
Do các bên thỏa
Theo yêu cầu của Theo yêu cầu của
thuận
bên khởi kiện
bên khởi kiện
Tùy vào ý chí
Khơng cơng
Cơng khai vụ án
của các bên
khai( trừ khi các
( trừ các tranh
bên có thỏa
chấp thuộc
thuận)
trường hợp
không công khai
theo quy định
của pháp luật)
Không theo bất
Phải có thỏa
Có thỏa thuận về
Một trong các
kỳ điều kiện nào,
thuận giữa các
việc giải quyết
bên nộp đơn khởi
việc tiến hành
bên về việc giải
bằng trọng tài
kiện tại Tòa án
tùy thuộc vào sự
quyết bằng hịa
thương mại
Tranh chấp thuộc
thơng nhất ý chí
giải thương mại Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải
giưa các bên
thẩm quyền giải quyết của Tịa án
quyết của trọng
tài thương mại.
Khơng mang tính Khơng mang tính Có sự ràng buộc,
Quyết định bắt
ràng buộc, có ý
ràng buộc và
bắt buộc các bên
buộc các bên
nghĩa khuyến
khơng bắt buộc
phải thi hành
phải thi hành,
khích các bên tự
thi hành
nếu khơng thi
thực hiện
hành sẽ bị cưỡng
chế.
Các bên có tranh
chấp với nhau
Có thể thấy, đây cũng là các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến ở
các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, trọng tài thương mại không phải là hình thức giải
12
quyết tranh chấp mới xxuất hiện. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nước ta đã có
các hình thức trọng tài như Hội đồng Trọng tài Ngoại thương, Hội đồng Trọng tài Hàng
hải. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà trong một thời gian dài trọng tài –
với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại trong nền
kinh tế vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí của nó. Giải quyết tranh chấp về
hợp đồng thương mại bằng trọng tài hiện đang đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam cả
về mặt lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại bằng trọng tài đã và
đang được giới luật gia Việt Nam, các doanh nghiệp cũng như nhà nước thừa nhận. Biểu
hiện là sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý cho
việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài và hiện nay được Quốc hội đồng ý
xây dựng dự thảo nâng lên thành Luật trọng tài thương mại.
Về mặt thực tiễn, các tổ chức trọng tài thương mại đã được thành lập và ngày càng
phát triển. Đó là Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phịng Thương
mại và Cơng nghiệp Việt Nam (VCCI) được thành lập năm 1993 trên cơ sở sát nhập Hội
đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải; ngồi ra cịn có sáu 6 tổ
chức trọng tài thương mại khác như Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội; Trung tâm
Trọng tài Viễn Đông; Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Á Châu (TP.Hà Nội),
Trung tâm Trọng tài Thương mại TPHCM; Trung tâm Trọng tài Quốc tế Thái Bình
Dương (TP.HCM); Trung tâm Trọng tài Thương mại Cần Thơ (TP.Cần Thơ). Trên thực
tiễn những tổ chức trọng tài này chủ yếu giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương
mại quốc tế, còn với những tranh chấp về hợp đồng thương mại trong nước thì rất hạn
chế, theo thống kê có đến hơn 95 % tranh chấp hợp đồng thương mại trong nước được
đưa ra Tịa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Sở dĩ có tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có quan
điểm cho rằng xxuất phát từ pháp luật Trọng tài còn bất cập. Do sự nhận thức hiểu biết áp
dụng pháp luật trọng tài còn khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng và các Trọng tài
viên chưa thể hiện được mình trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.3
So với các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại khác thì ở Việt Nam đa số
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường Tòa án, giải quyết tranh
chấp thương mại tại tồ án có một số ưu điểm4:
Thứ nhất, việc dựa vào cơ quan tài phán là toà án kinh tế để giải quyết các tranh
chấp kinh tế có những ưu điểm nhất định. Trước hết phải kể đến, toà án là cơ quan nhân
danh nhà nước để giải quyết tranh chấp, do đó phán quyết của toà án được đảm bảo thi
hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Cơ quan thi hành án là một cơ quan
chuyên trách và có đầy đủ bộ máy, phương tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực
pháp luật. Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ, và hiệu lực phán quyết có tính khả thi cao
3
Theo THS. LS. PHAN THÔNG ANH – Trọng tài viên – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam
4
://text.xemtailieu.com/tai-lieu/ban-chat-uu-diem-va-nhuoc-diem-cua-bon-phuong-thuc-giai-quyet-tranhchap-thuong-mai-thuong-luong-hoa-giai-trong-tai-thuong-mai-va-toa-an-751430.html
13
Nếu khơng chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra tịa án thì quyền lợi của người
thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án. Đăc điểm
này được có thể coi là yếu tố hấp dẫn nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến
phương thức giải quyết tranh chấp tại toà án.
Thứ hai, khi giải quyết tranh chấp tại tồ án, việc giải quyết có thể qua nhiều cấp
xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của toà án được chính
xác, cơng bằng, khách quan và đúng với pháp luật.
Thứ ba, thẩm quyền giải quyết của toà án được mở rộng đến tất cả các ngành kinh
tế. Chính vì thế, khi xảy ra tranh chấp, người ta thường nghĩ đến toà án như là nơi bao
quát giải quyết mọi vấn đề.
Thứ tư, các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngồi ra chi phí hành chính
rất hợp lý, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án thấp hơn rất nhiều so
với việc nhờ đến các tổ chức trọng tài thương mại hay trọng tài quốc tế.
Tuy toà án là cơ quan tài phán có sức mạnh cưỡng chế giúp đơi bên có thể giải
quyết tranh chấp một cách triệt để, nhưng phương thức giải quyết tranh chấp này cũng
bộc lộ ra nhiều hạn chế:
Thứ nhất, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án, các bên phải
nắm rõ đươc bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của tồ án phải tuân thủ nghiêm ngặt
các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, và đặc điểm này đơi khi có thể
gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt độngkinh doanh, thương mại đòi
hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và mềm dẻo.
Thứ hai, một điều bất lợi nữa của toà án, đó là ngun tắc xét xử cơng khai. Điều
này xxuất phát từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì cơng lý đã
được pháp luật quy định, xã hội thừa nhận. Mặt khác, hoạt động xét xử cơng khai của tồ
án cịn có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp, để giữ bí mật nhà nước hoặc bí mật nghề nghiệp theo u cầu chính
đáng của đương sư, tồ án có thể xử kín nhưng phải tun án cơng khai. Các doanh
nghiệp làm ăn trên thương trường đều không muốn mang dấu đen phải ra toà để giải
quyết tranh chấp, nó có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, cho nên khuyết
điểm này có thể coi là lớn nhất.
Thứ ba, mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của tồ án là
chính xác, công bằng. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho vụ việc có thể bị kéo
dài, xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh chấp kinh tế có
giá trị lớn địi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc dây dưa, kéo dài vụ việc
sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời giờ, tiền bạc của doanh nghiệp và có khi phải bỏ
lỡ một cách đáng tiếc các cơ hội kinh doanh.
Thứ tư, khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đơi lúc
nó khơng thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp.
14
Thơng thường, hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thơng qua tồ án được
lựa chọn khi việc áp dụng cơ chế thương lượng hoặc hồ giải khơng có hiệu quả và các
bên tranh chấp khơng có thoả thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài.
Toà án là cơ quan tài phán của nhà nước tiến hành áp dụng pháp luật trong trường
hợp xảy ra tranh chấp thương mại phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các chủ thể
mà họ không tự giải quyết được với nhau và một bên làm đơn khởi kiện yêu cầu sự can
thiệp của tồ án để bảo vệ quyền lợi của mình. Tồ án chỉ giải quyết tranh chấp thương
mại thuộc thẩm quyền của mình theo quy định tại Điều 30 BLTTDS 2015 và giữa các
bên khơng có thoả thuận về việc giải quyết tranh chấp đó bằng con đường trọng tài.
Ngồi ra thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án cịn được phân định
theo cấp tồ án, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn.
Khi giải quyết tranh chấp thương mại, tồ án có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ
đóng vai trị là bên thứ ba, là cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp được yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp trên cơ sở áp dụng pháp luật hiện hành, toà án có
thẩm quyền sẽ nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ra bản án
hoặc quyết định có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp và tổ chức, cá nhân có liên quan
phải thực hiện. Bản án, quyết định của toà án được cơ quan thi hành án của Nhà nước bảo
đảm thi hành.
Việc giải quyết tranh chấp thương mại tại toà án được tiến hành theo thủ tục tố tụng
toà án quy định trong pháp luật tố tụng dân sự. Một trong những điểm đặc thù khi giải
quyết tranh chấp thương mại tại toà án là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản được
quy định tại Chương II BLTTDS 2015, từ Điều 3 đến Điều 24 trong đó có nguyên tắc
thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Điều 12
của BLTTDS 2015. Do đó, bên cạnh pháp luật về thủ tục tố tụng, pháp luật nội dung là
nguồn luật quan trọng để toà án áp dụng khi xét xử tranh chấp đưa đến tồ án nói chung
và tranh chấp thương mại nói riêng. Dựa vào nội dung các tranh chấp thương mại mà tồ
án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 30 BLTTDS 2015, có thể thấy các
văn bản pháp luật chủ yếu mà toà án thường dùng làm căn cứ pháp lý để giải quyết các
tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền của mình là: Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật
Thương mại năm 2005; Luật kinh doanh bất động sản năm 2014; Luật chứng khoán năm
2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Luật Xây dựng năm
2014; Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Đầu tư năm 2014; Luật Kinh doanh bảo hiểm
năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).
Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại tại tồ án có thể rút ra những vướng
mắc chủ yếu hiện nay mà toà án nhân dân các cấp gặp phải trong việc áp dụng pháp luật,
đó là cịn lúng túng trong việc áp dụng quy định của BLDS và các luật chuyên ngành khi
giải quyết vụ án kinh doanh thương mại. Tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của toà án theo quy định tại Điều 30 BLTTDS 2015 rất đa dạng, phức tạp liên quan
đến nhiều lĩnh vực kinh tế. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
15
vừa có thể áp dụng BLDS 2015 vừa có thể áp dụng các luật chuyên ngành khác. Hiện
tượng này thường nảy sinh khi giải quyết các tranh chấp sau:
Thứ nhất, các tranh chấp về hợp đồng mua bán, được quy định trong BLDS 2015 về
hợp đồng mua bán tài sản và quy định trong LTM 2005 về hợp đồng mua bán hàng hoá.
Thứ hai, các tranh chấp về hợp đồng dịch vụ, được quy định trong BLDS về hợp
đồng dịch vụ và được quy định trong LTM 2005 về hợp đồng cung ứng dịch vụ.
Ngoài ra, việc áp dụng quy định của luật chuyên ngành hay BLDS 2015 của một số
tồ chưa thống nhất như: Có tồ áp dụng quy định của BLDS 2015, có tồ áp dụng quy
định của luật chuyên ngành, có nơi áp dụng đồng thời quy định của BLDS 2015 và quy
định của luật chuyên ngành. Vấn đề này, theo nguyên tắc áp dụng LTM 2005 và pháp
luật có liên quan trong việc điều chỉnh hoạt động thương mại được quy định rất rõ về áp
dụng LTM 2005 và pháp luật có liên quan:
“1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên
quan.
2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy
định của luật đó.
3. Hoạt động thương mại khơng được quy định trong Luật thương mại và trong các
luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.” 5
Hoạt động thương mại phải tuân theo LTM 2005, vì LTM 2005 là luật riêng áp
dụng cho hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật
khác thì áp dụng quy định của luật đó. Đối với những vấn đề điều chỉnh hoạt động
thương mại không được quy định trong luật thương mại và trong các luật khác thì áp
dụng quy định của bộ luật dân sự. Ví dụ, đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đại
lý bảo hiểm thì trước tiên phải áp dụng các quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng đại lý
bảo hiểm được quy đinh trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung
năm 2010), những vấn đề gì mà Luật Kinh doanh bảo hiểm khơng quy định thì áp dụng
LTM, những vấn đề gì mà LTM 2005 khơng quy định thì áp dụng BLDS 2015.
1.4.4. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân
a) Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
Nhằm thực hiện quyền khởi kiện của mình, bên khởi kiện (nguyên đơn) phải chuẩn
bị hồ sơ khởi kiện và nộp tại Tịa án nhân dân có thẩm quyền. Trong trương hợp bên
nguyên đơn mời luật sư thì việc sẽ trở nên dể dàng hơn vì luật sư là những người có kiến
thức về pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, họ sẽ hướng dẫn công việc một cách hợp lý
và đúng pháp luật, trong trường hợp nguyên đơn không có mời luật sư thì địi hỏi ngun
đơn phải nắm vững thủ tục tố tụng và có khả năng soạn thảo văn bản tốt.
Hồ sơ khởi kiện bao gồm : Đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ liên quan gửi
kèm theo đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện là chứng thư pháp lý quan trọng để Tòa án xem
5
Điều 4, Luật thương mại 2005
16
xét và giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn, do đó nó phải được chuẩn bị thật kỹ lưỡng
và phải đáp ứng hai yêu cầu là hình thức và nội dung đơn khởi kiện6
Về hình thức, đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ các thông tin chi tiết về ngày, tháng,
năm viết đơn, tên Tòa án yêu cầu giải quyết và người ký trong đơn kiện phải đúng thẩm
quyền.
Nội dung, đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung theo hướng dẫn tại Nghị quyết
của Hội đồng Thẩm phán Tịa án nhân dân Tối cao như: thơng tin về nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tóm tắt nội dung vụ kiện, yêu cầu cụ thể của
nguyên đơn. Nội dung của đơn kiện phải trình bày đầy đủ, ngắn gọn, rõ ràng, lập luận
chặt chẽ và logic.
Theo luật tố tụng dân sự 2015 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn. Vì
vậy, khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện thì nguyên đơn phải nộp đầy đủ các giấy tờ,
chứng cứ liên quan để chứng minh cho u cầu của mình. Tịa án chỉ thực hiện việc thu
thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định. Khi nộp đơn khởi, nguyên đơn phải
nộp kèm theo các giấy tờ có liên quan sau : hợp đồng, phụ lục hợp đồng ( nếu có) ; các
biên bản cuộc, thanh lý hợp đồng, hóa đơn, chứng từ, giấy biên nhận liên quan đến hàng
hóa, dịch vụ mà các bên đã ký kết ; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều lệ hoạt
động của pháp nhân, các giấy tờ liên quan đến ủy quyền, người đại diện, phân công công
tác giữa các chức vụ. Các giấy tờ này là chứng cứ, phải là giấy tờ gốc hoặc là bản sao khi
có cơng chứng,chứng thực đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Người khởi kiện vụ án gửi đơn khiếu kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tịa
án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo phương thức sau đây :
Nộp đơn trực tiếp tại Tòa án
Gửi đến Tòa án qua bưu điện.
Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tịa án hoặc ngày có dấu
bưu điện nơi gửi.
b) Thụ lý vụ án7
Sau khi nhân đơn khởi kiện và tài liệu, chứng từ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc
thẩm quyền của Tịa án thì Tịa án phải báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến ngay
Tòa án để làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng
án phí.
Tịa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi
kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận giấy
báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng
án phí.
Tịa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lãi nộp tiền tạm ứng
án phí.
6
7
Điều 189 BLTTDS 2015
Điều 195 BLTTDS 2015
17
Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án
phí , thì Tịa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chúng cứ kèm
theo.
c) Chuẩn bị xét xử
Trong thời gian này, hồ sơ sẽ được phân công cho các thẩm phán thụ lý8 nghiên cứu
để tiến hành xử lý vụ án, trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh
án Tòa án phân công một thẩm phán giải quyết vụ án.Thẩm phán thụ lý có thể yêu cầu
các bên thực hiện các cơng việc sau: u cầu các bên xxuất trình thêm các giấy tờ, tài liệu
cần thiết liên quan đến vụ việc; triệu tập lên Tòa án để lấy lời khai hoặc để đối chất; triệu
tập đến để hòa giải.
Nếu các bên tranh chấp hịa giải được với nhau thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải
thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Nguyên tắc hòa giải9 như
sau :
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các
đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hịa
giải hoặc khơng tiến hành hịa giải được. Việc hịa giải được tiến hành theo ngun tắc :
Tơn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của
mình ; Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã
hội.
Biên bản hòa giải10 được Thư ký Tòa án ghi vào biên bản. Biên bản hịa giải phải có
các nội dung chính như : Ngày, tháng , năm tiến hành hòa giải ; địa điểm tiến hành phiên
hòa giải ; thành phần tham gia phiên hòa giải ; ý kiến của các đương sự hoặc người đại
diện hợp pháp của các đương sự ; những nội dung đã được các đương sự thỏa thuận,
khơng thỏa thuận. Biên bản hịa giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương
sự có mặt trong phiên hịa giải, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán
chủ trì phiên hịa giải. Khi các đương sự thỏa thận với nhau về vấn đề phải giải quyết trong
vụ án dân sự thì Tịa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này sẽ được gửi ngay cho
các đương sự tham gia hòa giải.
Trường hợp hòa giải khơng thành thì Tịa án lập biên bản hịa giải không thành và ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử.
d) Phiên tịa sơ thẩm
Trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm gồm: Thủ tục bắt đầu phiên tòa11; thủ tục hỏi
tại phiên tòa12; tranh luận tại phiên tòa13; nghị án và tuyên án14.
8
9
Điều 197 BLTTDS 2015
Điều 205 BLTTDS 2015
10
Điều 211 BLTTDS 2015
11
Phần thứ hai Chương XIV Mục 2 BLTTDS
12
Phần thứ hai Chương XIV Mục 3 BLTTDS
13
Phần thứ hai Chương XIV Mục 4 BLTTDS
14
Phần thứ hai Chương XIV Mục 5 BLTTDS
18
Yêu cầu chung đối với phiên toà sơ thẩm15 là Phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành
đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong
giấy báo mở lại phiên tồ trong trường hợp phải hỗn phiên tồ.
Tịa án xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục16: Tồ án phải trực tiếp xác định
những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét,
kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên
toà. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên toà và các chứng cứ
đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tồ; Việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành
liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi
bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 198 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Trong trường hợp đặc biệt thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá năm
ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục.
Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên
tồ. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau: Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trong
trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến.
Người có quyền và lợi ích được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến; Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;Người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu. Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến. Trong trường hợp nguyên
đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khơng có người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình thì họ tự mình phát biểu khi tranh luận.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án Chỉ
có các thành viên của Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên
của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo
đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau
cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được
đưa vào hồ sơ vụ án.
Sau khi kết thúc phần nghị án nếu khơng có khác xãy ra thì đến phần tuyên án .Khi
tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép
của chủ toạ phiên toà. Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử
đọc bản án (trong phần quyết định của bản án sơ thẩm phải ghi rõ các quyết định của Toà
án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản
án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó) và sau khi
đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.Trong
15
16
Điều 222 BLTTDS2015
Điều 225 BLTTDS2015
19