HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
KHOA VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
TIỂU ḶN MƠN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
TÊN ĐỀ TÀI
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN
DỤNG VÀ LÃI SUẤT
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Hữu Hà
19ĐHQT07-010100011007
Sinh viên thực hiện
Trương Kim Hằng-1951010360
Võ Thị Cẩm Sương- 1951010385
Phạm Thị Hồng Nhung-1951010410
Nguyễn Thị Thu Nga-1951010297
Nguyễn Trịnh Chí Minh-1951010351
TP. Hồ Chí Minh – 2021
1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 1
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
Ngày …. tháng …. năm …
Giáo viên chấm 1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM BÀI 2
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
Ngày …. tháng …. năm …
Giáo viên chấm 2
2
MỤC LỤC
3
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT( Thu Nga)
1. Tín dụng
1.1 Khái niệm
Tín dụng là quan hệ giao dịch giữa 2 bên đi vay và cho vay (đối tượng vay mượn là
tiền, hàng hóa, dịch vụ).
1.1. Đặc điểm
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng vốn từ người cho vay sang người đi vay, tức chỉ
làm thay đổi quyền sử dụng vốn, không làm thay đổi quyền sở hữu vốn.
- Q trình chuyển giao vốn phải có thời hạn và thời hạn này được xác định dựa trên
sự thỏa thuận giữa các bên tham gia hệ tín dụng.
- Hết thời gian tín dụng, người đi vay phải hoàn trả người cho vay cả gốc và lãi.
1.2. Chức năng và vai trị của tín dụng
Chức năng
Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tài nguyên
Nhờ sự vận động của tín dụng mà các nguồn vốn được tập trung lại, sau đó được
chuyển hóa cho các chủ thể đi vay để phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng.
Phân phối tín dụng được thực hiện bằng hai cách:
- Phân phối trực tiếp: là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng
sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó là kinh doanh và tiêu dùng. Phương pháp phân
phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái
phiếu của Nhà nước và các công ty.
- Phân phối gián tiếp: là việc phân phối được thực hiện thông qua các tổ chức trung
gian như ngân hàng, cơng ty tài chính,…
Trong nền kinh tế ngày nay, phân phối vốn tín dụng theo hình thức gián tiếp chiếm vị
trí quan trọng hơn. Một là, các tổ chức trung gian tập trung vốn tiền tệ của các doanh
nghiệp và cá nhân để làm nguồn vốn cho vay; hai là, chúng phân phối nguồn vốn đó
dưới hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân và một phần cho kho bạc
Nhà nước.
4
Phân phối qua tín dụng và phân phối qua ngân sách có những điểm khác nhau:
- Tín dụng phân phối trên cơ sở hoàn trả, phân phối vốn liên quan đến thu nhập quốc
dân, và tổng sản phẩm xã hội, phân phối chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
- Ngân sách phân phối vốn mang tính chất cấp phát, phân phối chủ yếu liên quan đến
thu nhập quốc dân và phân phối chủ yếu cho lĩnh vực phi sản xuất.
Tạo cơ sở để lưu thông dấu hiệu trị giá
Trong thời kỳ đầu lưu thơng là hố tệ, nhưng khi các quan hệ tín dụng phát triển, các
giấy nợ đã thay thế cho một bộ phận tiền trong lưu thông. Lợi dụng đặc điểm này, các
ngân hàng đã bắt đầu phát hành tiền giấy vào lưu thông. Lúc đầu tiền giấy phát hành
trên cơ sở có dự trữ quí kim (vàng), nhưng dần dần tiền giấy phát hành vào lưu thông
tách rời với dự trữ vàng của ngân hàng.
Ngày nay ngân hàng cung cấp tiền cho lưu thông chủ yếu được thực hiện thơng qua
con đường tín dụng. Đây là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền tệ ổn định, đồng thời
đảm bảo đủ phương tiện phục vụ cho lưu thơng.
Như vậy, nhờ hoạt động của tín dụng mà ngân hàng tạo ra tiền phục vụ cho sản xuất và
lưu thơng hàng hố. Tiền tệ do ngân hàng tạo ra gồm:
+ Tiền tệ: Tiền giấy và tiền kim loại không đủ giá trị.
+ Bút tệ: Số dư trên tài khoản tiền gửi ở ngân hàng.
Nhờ vào công cụ nói trên mà tốc độ lưu thơng hàng hố nhanh hơn và do vậy, hàng
hố đi từ hình thái tiền tệ vào sản xuất và ngược lại được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Nói
cách khác, tín dụng thúc đẩy lưu thơng hàng hố và phát triển kinh tế.
Sự vận động của vốn tín dụng phần lớn gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa
và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy qua hoạt động tín
dụng có thể phản ánh phần nào hoạt động kinh tế của chủ thể. Mặt khác hoạt động tín
dụng cịn góp phần kiểm sốt các hoạt động kinh tế thơng qua q trình thẩm định
trước cho vay, trong khi cho vay và kiểm tra sau cho vay.
Vai trị
Thực hiện tích tụ và tập trung vốn, tập trung sản xuất
Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở đó
cho vay các đơn vị kinh tế. Mặt khác q trình đầu tư tín dụng được thực hiện một
cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanh hiệu quả.
5
Ổn định tiền tệ, ổn định giá cả
Nếu lượng tiền dư thừa trong thị trường không được huy động và sử dụng kịp thời có
thể ảnh hưởng xấu đến tình hình lưu thơng tiền tệ dẫn đến mất cần đối trong quan hệ
tiền - hàng và hệ thống giá cả bị biến đổi. Vì thế hoạt động của tín dụng đã góp phần
giải quyết các vấn đề dư thừa và thiếu hụt vốn tài nguyên để ổn định tình hình lưu
thơng tiền tệ và ổn định giá cả trên thị trường.
Ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm
Tín dụng là cơng cụ hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển và tạo điều kiện để phát
triển các ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm cho nhân dân.
Là công cụ kết nối nền kinh tế quốc gia và kinh tế quốc tế
Trong điều kiện kinh tế mở hiện nay, tín dụng đã trở thành một cơng cụ đắc lực nối
liền các nền kinh tế lại với nhau, góp phần phát triển nền kinh tế giữa các bên.
1.3. Phân loại tín dụng
Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn
Loại tín dụng có thời hạn khơng q 12 tháng, thường được dùng để cho vay bổ sung
vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu thanh tốn cho sinh hoạt cá nhân.
Tín dụng trung hạn
Loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, dùng để cho vay vốn mua sắm
tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng và xây dựng các cơng trình qui
mơ nhỏ của các doanh nghiệp và cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàng tiêu
dùng có giá trị lớn của cá nhân.
Tín dụng dài hạn
Loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng để cho vay dự án đầu tư xây
dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có qui mơ lớn.
Tín dụng th mua là hoạt động tín dụng trung và dài hạn.
Căn cứ vào đối tượng tín dụng
6
Tín dụng vốn lưu động
Loại tín dụng được cấp nhằm hình thành vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc các
chủ thể kinh tế khác.
Tín dụng vốn cố định
Loại tín dụng được cấp nhằm hình thành vốn cố định của các doanh nghiệp hoặc các
chủ thể kinh tế khác. Loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung
và dài hạn.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
Tín dụng sản xuất và lưu thơng hàng hóa
Loại tín dụng cấp cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Tín dụng tiêu dùng
Loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Căn cứ vào chủ thể tín dụng
Tín dụng thương mại
Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức mua bán
chịu hàng hóa hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng hóa.
Cơng cụ của tín dụng thương mại là kỳ phiếu thương mại hay thương phiếu.
Tín dụng thương mại có đặc điểm cho vay dưới hình thức hàng hóa, thu nợ dưới hình
thức tiền.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết
thanh tốn khơng điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định.
Đặc điểm của thương phiếu:
- Tính trừu tượng: khơng ghi ngun nhân và cách tính.
- Tính bắt buộc: khi đến thời hạn phải bắt buộc trả.
7
- Tính lưu thơng: có thể chuyển nhượng, chiết khấu.
Thương phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu:
Hối phiếu
Lệnh phiếu
- Giấy u cầu thanh tốn
- Giấy cam kết thanh tốn
- Có thủ tục chấp nhận
- Khơng có thủ tục chấp nhận
- Đối tượng
+ Người ký phát
phát
+ Người thụ hưởng
hành:
Đối
tượng
+ Người phát hành
liên
quan:
+ Người thụ hưởng
Tín dụng ngân hàng
Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội.
Đặc điểm:
- Cho vay và thu nợ dưới hình thức tiền tệ.
- Ngân hàng vừa là chủ thể đi vay, vừa là chủ thể cho vay.
8
- Sự vận động của tín dụng ngân hàng khơng hồn tồn phù hợp với quy mơ phát triển
của sản xuất kinh doanh.
Ưu điểm:
- Quy mô lớn: nguồn vốn của ngân hàng và từ huy động.
- Thời gian đa dạng.
- Phạm vi rộng.
Tín dụng nhà nước
Là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp, cá
nhân, tổ chức xã hội. Nhà nước vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Căn cứ vào tính chất bảo đảm tiền vay
Tín dụng đảm bảo bằng tài sản
Loại tín dụng được đảm bảo bằng các loại tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh hoặc
hình thành từ vốn vay.
Tín dụng đảm bảo khơng bằng tài sản
Loại tín dụng được đảm bảo dưới hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính
phủ và hộ nơng dân vay vốn được bảo lãnh của các tổ chức đồn thể, chính quyền địa
phương.
Căn cứ vào lãnh thổ hoạt động tín dụng
Tín dụng nội địa
Là quan hệ tín dụng phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Tín dụng quốc tế
Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa một quốc gia với
một tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế.
2. Lãi suất
2.1. Khái niệm
9
Lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả cho người cho vay. Là loại giá cơ bản của
thị trường tài chính và có ảnh hưởng quan trọng đến các hoạt động kinh tế và tài chính.
Hai cách thức giải thích cho sự tồn tại của lãi suất:
- Giá trị thời gian của tiền tệ.
- Chi phí cơ hội.
2.2. Phân loại
1. Căn cứ và giá trị thực của tiền lãi thu được
Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất người cho vay hưởngtrong 1 kỳ hạn mà khơng tính
đến biến động của tiền tệ
Lãi suất thực: lãi suất thực = LSDN – tỷ lệ LP
Lãi suất thị trường: In = Ir + Pe + rP + lP
Với: In: lãi suất danh nghĩa
Ir: lãi suất không rũi ro
Pe: Lạm phát kỳ vọng
rP: phần bù đắp rũi ro
lP: phần bù đắp tính lỏng
2. Căn cứ vào tính chất của khoản vay
Lãi suất tiền gửi ngân hàng
Là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Lãi suất tiền gửi ngân
hàng có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, tiết kiệm…),
thời hạn gửi và quy mơ tiền gửi.
Lãi suất tín dụng ngân hàng
Là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng khi đi vay từ ngân hàng. Lãi suất
tín dụng ngân hàng cũng có nhiều mức tuỳ theo loại hình vay (vay thương mại, vay trả
góp, vay qua thẻ tín dụng…), theo mức độ quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng…
và phụ thuộc cả vào sự thoả thuận giữa hai bên.
10
Lãi suất chiết khấu
Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu
hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh tốn của khách hàng. Nó được tính bằng
tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng
đưa tiền vay cho khách hàng. Như vậy lãi suất chiết khấu được trả trước cho ngân
hàng chứ khơng trả sau như lãi suất tín dụng thông thường.
Lãi suất tái chiết khấu
Áp dụng khi ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian vay dưới hình thức
chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh tốn của
các ngân hàng này. Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ
có giá và cũng được khấu trừ ngay khi ngân hàng trung ương cấp tiền vay cho ngân
hàng.
Lãi suất tái chiết khấu do ngân hàng trung ương ấn định căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu
của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị
trường liên ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng
Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường
liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của
11
ngân hàng trung ương. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động
thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng trung ương của các ngân hàng
trung gian.
Lãi suất cơ bản
Là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh
của mình.
Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tuỳ từng nước. Mặc dù khác nhau, lãi suất
cơ bản của hầu hết các nước đều hình thành trên cơ sở thị trường và có một mức lợi
nhuận bình qn cho phép. Khi áp dụng đối với các đối tượng có mức rủi ro khác
nhau, mức lãi suất kinh doanh sẽ khác nhau vì sự biến động của mức bù rủi ro.
3. Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất quy định
Lãi suất cố định
Là lãi suất được quy định cố định trong suốt thời hạn vay. Nó có ưu điểm là số tiền lãi
được cố định và biết trước, nhưng nhược điểm là bị ràng buộc vào một mức lãi suất
nhất định trong một khoảng thời gian dù cho lãi suất thị trường đã thay đổi.
Lãi suất thả nổi
Là lãi suất được quy định là có thể lên xuống theo lãi suất thị trường trong thời hạn tín
dụng (báo trước hoặc không báo trước). Lãi suất thả nổi vừa chứa đựng cả rủi ro lẫn
lợi nhuận. Khi lãi suất tăng lên người đi vay bị thiệt trong khi người cho vay được lợi,
ngược lại với trường hợp lãi suất giảm xuống.
4. Căn cứ vào loại tiền cho vay
Lãi suất nội tệ
Là lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ.
Lãi suất ngoại tệ
Là lãi suất cho vay và đi vay đồng ngoại tệ.
Mối liên hệ giữa hai loại lãi suất này được thể hiện qua phương trình sau:
iD = iF + ΔEe
12
Trong đó:
iD: lãi suất nội tệ
iF: lãi suất ngoại tệ
ΔEe : mức tăng giá dự tính của tỷ giá hối đối hay đồng ngoại tệ
5. Căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế
Lãi suất trong nước hay lãi suất địa phương
Là lãi suất áp dụng trong các hợp đồng tín dụng trong một quốc gia.
Lãi suất quốc tế
Là lãi suất áp dụng trong các hợp đồng tín dụng quốc tế.
Các hợp đồng tín dụng quốc tế áp dụng mức lãi suất của thị trường quốc gia nào thì lãi
suất của thị trường quốc gia đó trở thành lãi suất quốc tế.
Lãi suất địa phương
Chịu ảnh hưởng của lãi suất quốc tế. Nếu thị trường vốn địa phương đó mà tự do thì
lãi suất địa phương sẽ lên xuống theo lãi suất quốc tế.
LIBOR (London Interbank Offered Rate)
Lãi suất của Liên ngân hàng London công bố vào 11h trưa hàng ngày tại London. Đây
là lãi suất cho vay ngắn hạn (1, 3, 6, 12 tháng), thường được sử dụng làm lãi suất tham
khảo trong các hợp đồng tín dụng quốc tế.
5.1 Phương pháp xác định lãi suất
13
Cơng thức tính lãi suất ngân hàng theo kỳ hạn
Tiền lãi = Số tiền gửi x Lãi suất (%) x Số ngày gửi/360
Cơng thức tính lãi suất ngân hàng lãi hàng tháng
Tiền lãi hàng tháng = Số tiền gửi x Lãi suất (% năm) / 12
5.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trị trung tâm trong hầu
hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trường tài chính. Vì lẽ đó, lãi
suất trong các nước đó đều do Nhà nước qui định, thậm chí một số nước cịn quy định
đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng. Sự
biến động của lãi suất trong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của
chính phủ và không vận động theo bất cứ một quy luật nào.
Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trị là người điều tiết
vĩ mơ, thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hố, cơ chế hình thành lãi suất
là cơ chế thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ
mô cũng như nhiều các nhân tố khác.
Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu hoặc cả
cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị
trường. Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính
phủ và Ngân hàng trung ương, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa
vào nguyên lý này để xác định lãi suất. Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị
trường vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược
trong từng thời kỳ chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự
án trọng điểm. Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị
trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hướng
tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa và
để duy trì lãi suất thực khơng đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải
tăng lên tương ứng. Mặt khác, cơng chúng dự đốn lạm phát tăng sẽ dành phần tiết
kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản khác như
vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngồi nếu có thể. Tất cả những điều này
14
làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ mối quan hệ
này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với
việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tư phải cao hơn lãi suất các khoản vay
tài trợ cho dự án. Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợi nhuận từ các dự án đầu tư và
phấn khởi mở rộng đầu tư. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính sách lãi suất phù hợp
sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷ suất lợi tức trung bình của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu tiền tăng và làm
tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về gia tăng
mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thơng thường, Chính phủ thường tài trợ
cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu. Lượng cung trái phiếu trên thị
trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm và lãi suất thị trường có xu
hướng tăng. Mặt khác, do tài sản có của NHTM tăng ở khoản mục trái phiếu chính
phủ, dự trữ vượt mức giảm nên lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng.
Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp ln có tác động đến lãi suất.
Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập của các cá nhân và tổ
chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh doanh chứng khoán.
Mọi người đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do vậy, để
duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vay
những thay đổi của thuế.
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng ngoại tệ
mạnh thì tâm lý phổ biến của người dân là coi ngoại tệ mạnh như một trong những loại
tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tượng đơ la hố xảy ra, người dân sẽ ồ ạt
chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm như vậy người gửi hưởng
lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ. Sự chuyển dịch này tạo
ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải tăng lãi suất tiền
gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế. Như vậy, khi xây dựng chính sách lãi
suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãi
suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất cho vay nội tệ và ngoại tệ. Điều này giúp
15
giảm bớt sự dịch chuyển không mong đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la
lên giá.
Những thay đổi trong đời sống xã hội:
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố
thuộc về đời sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng như những biến
động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới, các
luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước...
Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hành chính
sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trước khi đưa ra bất
cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất.
5.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Là cơng cụ để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư
Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiện tại của các chủ thể kinh tế.
Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ bản điều
tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích người ta hy sinh tiêu dùng hiện
tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại.
Trong một nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết kiệm được thu
hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp để tạo nên quỹ cho vay đáp
ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô
Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả năng có được những thu nhập khá lớn
để bù đắp được số lãi phải trả, và do đó số đầu tư chắc chắn sẽ giảm. Cũng có thể lập
luận như vậy về việc đi vay để tiêu dùng. Những người tiêu dùng so sánh số lãi phải
trả cho một khoản vay mượn với ý muốn có càng sớm càng hay một sản phẩm như
một căn nhà hay một chiếc ô tô chẳng hạn. Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số
người tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng sự định sẽ giảm xuống.
Tổng cầu bao gồm cả các thành phần như cầu đầu tư của doanh nghiệp và cầu tiêu
dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động lãi suất có tác
động đến đầu tư, dến tiêu dùng nên nó có tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền
kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trường hợp:
Lãi suất thấp → khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng → tăng tổng cầu
→ sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm so với ngoại
tệ.
16
Lãi suất cao → hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng → giảm tổng cầu → sản
lượng giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.
Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô nên lãi suất được Chính phủ các
nước sử dùng làm một cơng cụ có hiệu quả để điều tiết nền kinh tế quốc gia
Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả.
Lãi suất có tác dụng trong việc phân bổ vốn. Đối với những dự án có mức độ rủi ro
như nhau, dự án nào có lãi suất lớn hơn thường thu hút được vốn nhanh hơn, nhiều
hơn. Còn những dự án nào chứa định nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao mới có khả
năng thu hút được vốn. Như vậy, bằng cách đưa các mức lãi suất khác nhau có thể tạo
được sự phân bổ các luồng vốn theo mục đích mong muốn.
Trong quan hệ vay vốn, người đi vay không chỉ phải hồn trả gốc khi đến hạn mà cịn
phải trả lãi vay. Bằng việc buộc phải trả lãi đã kích thích các người đi vay phải sử dụng
vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập để
bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi.
Là cơng cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế
Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hương tăng do cung
cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ
tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, lãi
suất thường có xu hướng giảm xuống.
Là cơng cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thành cơng cụ quan
trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát triển,
lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động tới mục tiêu trung gian và
qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. NHTƯ sử dụng cơng cụ này dưới
các hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định
khung lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay, qua đó khống chế
lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.
Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, NHTƯ sử dụng cơng cụ lãi suất gián
tiếp như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi
suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô.
17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT TẠI VIỆT
NAM( Kim Hằng+ Cẩm Sương)
Thực trạng hoạt động tín dụng ở Việt Nam:
- Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, ngành Ngân hàng đã chủ động triển
khai các giải pháp quyết liệt nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế.
- Xã hội mà Đảng, Quốc hội và Chính phủ đề ra, góp phần đẩy nhanh q trình tái cơ
cấu nền kinh tế.
- Từ năm 2012, NHNN đã đưa ra lộ trình giảm dần các mức lãi suất điều hành, làm cơ
sở để các NHTM giảm lãi suất cho vay nhằm khơi thơng dịng tín dụng. Đồng thời, chỉ
đạo các NHTM tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín
dụng, đồng thời bảo đảm chất lượng tín dụng, cơ câu lại những khoản nợ vay có Tăi
suất cao trước đây.
- Ngày 23/4/2012, NHNN đã ban hành quyết định số 780/QĐ-NHNN cho phép các tổ
chức tín dụng (TCTD) giữ ngun nhóm nợ như đã được phân loại theo qui định trước
khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ.
- Thực hiện Nghị quyết số 48/2013/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng
3/2013, NHNN đã đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn về điều kiện, thủ tục vay vốn
để khơi thơng dịng tín dụng, ưu tiên cho lĩnh vực nơng nghiệp, nông thôn; ban hành
Thông tư số 11/2013/TT-NHNN qui định về cho vay, hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số
02/NQ-CP và Nghị quyết số 48/NQ-CP.
- Để mua nợ xâu của các TCTD và phân loại để chào bán ra thị trường, NHNN đã ban
hành Quyết định số 1459/QĐ-NHNN ngày 27/6/2013 về việc thành lập Công ty Quản
lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC).
- Trong những tháng đâu năm 2014, NHNN đã ban hành các chính sách tín dụng đối
với một số ngành, lĩnh vực đặc thù như mơ hình cánh đồng mẫu lớn, mơ hình ứng
dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, mơ hình chuỗi liên kết
các sản phẩm nơng nghiệp xuất khẩu, chương trình liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây
dựng và giao thông vận tải. Đây là những ngành, lĩnh vực kinh tế có hiệu ứng lan tỏa
đến tồn bộ nền kinh tế. Trong số này có chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát
triển nơng nghiệp đối với các mơ hình liên kết, ứng dụng cơng nghệ cao trong sản xuất
nơng nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 14/2014/NQ-CP. Việc triển
khai chương trình được coi là bước đột phá trong định hướng đầu tư vốn tín dụng cho
sản xuất nơng nghiệp, hướng sản xuất nơng nghiệp sang sản xuất hàng hóa qui mơ lớn,
liên kết sản xuất kinh doanh theo chuỗi, gia tăng giá trị sản phẩm phục vụ tiêu dùng và
xuất khẩu hiệu quả. - Ngoài ra, NHNN cũng tiếp tục triển khai các chương trình tín
dụng đặc thù đối với một số sản phẩm có thể mạnh của Việt Nam như: Cho vay thu
mua tạm trữ lúa gạo, cà phê, đánh bắt xa bờ, hỗ trợ lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi...
18
- Trước tình hình tín dụng tăng chậm, NHNN đã chỉ đạo các NHNN chi nhánh tổ chức,
triển khai các chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp tại các địa phương
nhằm mở rộng tín dụng và hỗ trợ các doanh nghiệp. Đồng thời, phối hợp với các bộ,
ngành liên quan nghiên cứu và để ra các biện pháp xử lý vướng mắc liên quan đến
hoạt động tín dụng. - Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ và của NHNN, các
TCTD đã đưa ra nhiều chương trình tín dụng hấp dẫn và đa dạng, chủ động tìm kiếm
khách hàng tốt để cho vay.
- Việc triển khai những chương trình tín dụng kế trên có ý nghĩa tích cực, góp phần
đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ thị trường. Đến cuối tháng
8/2014, tín dụng cho nền kinh tế tăng 5,82% so với cuối năm 2013, mặc dù tín dụng
tăng cịn thấp nhưng đã có sự chuyển dịch, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo định
hướng của Chính phủ.
- Mặc dù NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt và đồng bộ, các TCTD đã
giảm lãi suất, chủ động tìm kiếm khách hàng, song tăng trưởng tín dụng vẫn đạt thấp.
Nguyên nhân chủ yếu là do sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, sản xuất kinh
doanh phục hồi chậm, nhiều doanh nghiệp giải thế, phá sản, thị trường bất động sản
phục hồi chậm. Trong khi đó, các doanh nghiệp đang thực hiện tái cơ cầu và cân đối
tài chính, nên chưra mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Cho tới nay, tình
trạng nợ đọng ngân sách và nợ đọng xây dựng cơ bản chưa được giải quyết dứt điểm;
do còn nhiều vướng mắc trong việc xử lý tài sản đảm bảo nên tốc độ xử lý nợ xấu còn
chậm và chưa đạt kết quả như mong muốn, thị trường mua bán nợ xấu chưa hình
thành; nợ xấu có phần tăng do các TCTD đang phải áp dụng các qui định an toàn mới
theo hướng phù hợp dần với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. - - Q trình tái cơ cấu
các TCTD cịn gặp nhiều khó khăn như thiếu thơng tin, tình trạng sử hữu chéo và lợi
ích nhóm, việc thối vốn tại các TCTD và phối hợp chính sách chưa hiệu quả. Rủi ro
đạo đức còn diễn biển phức tạp, cả ngân hàng và doanh nghiệp. Thiếu cơ chế, chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ; thủ tục cho vay
cũng cân phải tiếp tục nghiên cứu cải tiến.
- Tín dụng ngân hàng đã hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế: Giai đoạn 2011 trở về
trước, mặc dù tín dụng tăng trưởng mạnh song GDP cũng chỉ xoay quanh mức 6%.
Trong khi đó, từ năm 2012 tới nay, tín dụng tăng trưởng thấp hơn hắn giai đoạn trước
và GDP cũng giảm thấp nhưng vấn ở mức trên 5%, điều đó cho thấy nguồn vốn tín
dụng đã được đầu tư đúng hướng hơn, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển. Trong
thời gian qua, tỷ lệ Dư nợ/GDP luôn ở mức cao (>95%) cho thấy tín dụng đã, đang và
sẽ ln là kênh chủ đạo cung ứng vốn cho nền kinh tế, góp phần quan trọng vào tăng
trưởng GDFcủa cả nước.
19
Tăng trưởng tín dụng giai đoạn vừa qua
- Mặt bằng lãi suất giảm mạnh so với cuối năm 2011: Thời gian qua, ngành Ngân hàng
đã thực hiện nhiều giải pháp lãi suất, tín dụng để giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ giảm
chi phí vay vốn cho doanh nghiệp và người dân. Kết quả, mặt bằng lãi suất từ mức 1718% thời điểm cuối năm 2011 đến nay đã giảm mạnh về ngang với mức lãi suất của
giai đoạn 2005 – 2006 và thấp hơn một nửa mức lãi suất cuối năm 2011. Lãi suất cho
vay khơng cịn là trở ngại đê các doanh nghiệp tiếp cận vốn. Đến nay, mặt bằng lãi
suất cho vay bằng VND đôi với 05 lĩnh vực ưu tiên phố biến ở mức 7-8%/năm, đối với
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, lãi suất cho vay ngắn hạn đang dao
động ở mức 9-10%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn chỉ còn 10,5- 12%/năm,
giảm mạnh từ 13-15%/năm vào cuối năm 2013.Lãi suất của các khoản vay cũ tiếp tục
được các TCTD tích cực điều chinh giảm; đến nay dư bằng VND có lãi suất trên
15%/năm chiếm 4,25% tổng dư nợ cho nợ cho vay VND, giảm so với tỷ trọng 6,3%
cuối năm 2013; dư nợ có lãi suất trên 13%/năm chiếm 12,16% tổng dư nợ cho vay
bằng VND, giảm so với tỷ trọng vay 19,72% cuối năm 2013. - Cơ cấu tín dụng theo
ngành nghề chuyển dịch tích cực theo mục tiêu của Chính phủ, NHNN: Cơ cấu tín
dụng theo ngành nghề chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm ngành nơng lâm
ngư nghiệp (từ 9% năm 2011 lên 11% tại tháng 6/2014), giảm tỷ trọng nhóm ngành
cơng nghiệp, xây dựng và đặc biệt là nhóm ngành thương mại, vận tải, viễn thơng có
tỷ trọng giảm mạnh nhất( 27% năm 2011 giảm còn 22 % tại 6/2014), xu hướng chuyển
dịch này phù hợp với chủ trương của chính phủ, NHNN về việc đẩy mạnh cho vay lĩnh
vực nơng nghiệp, nơng thơn. Tính đến hết tháng 8/2014, tính dụng cho các lĩnh vực ưu
tiên hầu hết có mức tăng trưởng cao hơn tăng trưởng tín dụng chung (dư nợ cho vay
nơng nghiệp nơng thôn tăng 6,1%; cho vài suất khẩu tăng 4,37 %; cho vay doanh
nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 12,73% cho vay cơng nghiệp hỗ trợ tăng 6,12%).
Duy trì mơ hình tổ chức quản trị phân tán, chưa tách bạch các chức năng dễ dẫn đến
xung đột quyền lợi trong quản trị rủi ro tín dụng: Ở một số ngân hàng, chức năng của
bộ phận quản lý rủi ro cũng chưa được hiểu đúng. Tình trạng bộ phận quản lý rủi ro
tham gia vào trong khâu thẩm định/tái thẩm định tín dụng khơng phải chỉ có ở những
20
ngân hàng nhỏ, mà ngay tại các ngân hàng lớn như BIDV hay Vietinbank vẫn tồn tại.
Điều đó cho thấy chưa thực sự tách biệt giữa chức năng tạo rủi ro (tác nghiệp) và chức
năng quản lý rủi ro, tính độc lập của quản lý rủi ro chưa được đảm bảo, dẫn đến hiệu
quả quản trị thấp.
Thực trạng lãi suất ở Việt Nam hiện nay:
1. Tình hình lãi suất Việt Nam qua các giai đoạn:
a. Trước năm 2000
Giai đoạn trước tháng 6/ 1992
NHNN can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vào lãi suất thông qua ấn định các mức lãi
suất tiền gửi và lãi suất tiền vay.
Giai đoạn tháng 6/1992 đến 1995
NHNN đã có nhiều bước điều chỉnh trong điều hành chính sách lãi suất: chuyển từ cơ
chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương, xóa bỏ về cơ bản sự chênh lệch
lãi suất cho vay giữa các thành phần kinh tế. Bắt đầu từ tháng 10/1993 lãi suất cho vay
có 2 loại (1.8%/ tháng đối với doanh nghiệp Nhà nước, 2.1%/ tháng cho nền kinh tế
ngoài quốc doanh) và NHNN cho phép NHTM được thỏa thuận lãi suất với khách
hàng (áp dụng trong trường hợp huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu lãi suất huy
động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn 0,2%/ tháng và cho vay cao hơn
mức trần 2,1%/ tháng).
21
Giai đoạn từ năm 1996 đến tháng 7/2000
NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và những đổi mới căn bản về điều
hành lãi suất. NHNN chỉ quy định mức lãi suất trần theo thời hạn cho vay và khống
chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/
tháng. Cuối tháng 1/1998, NHNN xóa bỏ quy định chênh lệch lãi suất. Cùng với nới
lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng
giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc biệt trong các năm 1998, 1999. Trong năm
1997 thay đổi hình thức quy định lãi suất tái cấp vốn sang quy định mức lãi suất cụ
thể. Tháng 11/ 1999 NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu được quy định ở
mức lãi suất thấp hơn 0,05%/ tháng so với lãi suất tái cấp vốn, tháng 7/2000 NHNN
đưa vòa sử dụng nghiệp vụ thị trường mở.
b.
Giai đoạn 2000 – 2009
Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến 2002
Đây là giai đoạn sử dụng lãi suất cơ bản cùng với lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp
vốn trong điều hành chính sách tiền tệ. TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách
hàng trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHNN công bố theo nguyên tắc lãi suất cho vay
không được vượt quá mức lãi suất cơ bản cộng biên độ do Thống đốc NHNN quy định
từng thời kỳ.
Giai đoạn từ 2002 đến 2005
Năm 2004 tình hình Thế giới có nhiều biến động, giá thành nguyên vật liệu tăng mạnh
tạo ra chi phí đẩy làm cho giá cả tăng nhanh, lạm phát gia tăng. Lãi suất tăng không
theo kịp lạm phát, đồng tiền mất giá, làm cho lạm phát càng gia tăng. Đến 6 tháng đầu
năm 2005, chỉ số giá tăng so năm 2004 là 8.6%, như vậy đã làm cho lãi suất thực tế
trong 2 năm này ở mức âm. Lạm phát cao ở nhiều nước, Cục dự trữ liên bang Mỹ tăng
lãi suất lên cao cũng trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình lãi suất ở Việt Nam.
Tình hình lãi suất cho vay qua các năm 2001-2004
Năm
Lãi suất cho Lạm
phát Lãi suất cho Tỷ
lệ
vay (%/năm)
(%/năm)
vay thực tế LSCVTT/TP
(%/năm)
(%)
2001
9.0
0.8
8.2
1052.0
2002
9.2
4.0
5.2
130.0
2003
9.6
3.0
6.6
220.0
2004
10.0
9.5
0.5
5.2
Trước tình hình năm 2004-2005 có nhiều diễn biến, giá cả tăng, nhu cầu tín dụng cho
nền kinh tế cũng tăng, NHNN không tăng mức lãi suất, chủ trương giữ ổn định cả lãi
22
suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu, chính sách được áp dụng để kìm
chế lạm phát đó là mức dự trữ bắt buộc.
Từ năm 2005 đến 2009, đã có nhiều sự thay đổi lãi suất huy động tiền gởi VNĐ của
các NHTM tại Việt Nam. Sự thay đổi đáng chú ý nhất bắt đầu từ tháng 2 năm 2008
kéo dài cho đến nay.
Giai đoạn 2005 đến 2009
Lãi suất thay đổi qua các tháng trong năm. Trong 6 tháng đầu năm 2006, lãi suất huy
động và cho vay của các NHTM tăng nhẹ so với đầu năm. Tuy nhiên, trong quý
3/2006, các ngân hàng không tăng lãi suất nhiều như giai đoạn trước. Chỉ một số ngân
hàng tăng lãi suất với biên độ nhỏ, nguồn huy động chủ yếu của các ngân hàng phần
lớn vẫn là từ cá nhân và các tổ chức kinh tế. Thị trường tài chính tương đối ổn định,
chính sách lãi suất của NHNN vẫn được điều hành. So với cuối năm 2005, mặt bằng
lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tăng nhẹ, chủ yếu trong 7 tháng đầu năm.
Đầu năm 2007, ngân hàng Techcombank là thanh viên mở đầu cuộc đua lãi suất huy
động VND, ở sản phẩm “Tiết kiệm điện tử” với 9,48%/năm, và sau đó kéo theo sự
tham gia của một loạt Ngân hàng cổ phần. Nhưng nhìn chung, lãi suất năm 2007
khơng có biến động nhiều giữa các tháng trong năm, lãi suất vẫn duy trì ở mức
9,5%/năm
Năm 2008 có thể được coi là năm của lãi suất khi lãi suất biến động trái chiều với một
biên độ lớn chỉ trong vòng 12 tháng. NHNN phải 8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi
suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền
gửi bắt buộc. Diễn biến lãi suất năm 2008 được chia làm 2 giai đoạn chính: cuộc đua
tăng lãi suất của các ngân hàng vào nửa đầu năm 2008 và một cuộc đua khác theo
chiều hướng ngược lại, đua giảm lãi suất, dù mức độ quyết liệt kém hơn. Cụ thể từ
mức lãi suất huy động tháng 1 là 8,5% đã lên đến đỉnh điểm vào tháng 6 với lãi suất
18,5%. Bắt đầu từ tháng 7 trở đi, cùng với cơ chế vay mới, sự hỗ trợ của NHTƯ với
nguồn vốn khả dụng tăng lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợt thối trao. Đặc biệt
từ tháng 9 đến cuối năm, gắn với những điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của NHNN,
cả lãi suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điều chỉnh trên diện
rộng. Từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VND rút về quanh mốc 8%/năm;
lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm.
23
Những tháng đầu năm 2009, lãi suất huy động của các ngân hàng tăng nhẹ. Từ tháng
5 đến tháng 7/2009, làn sóng đua tăng lãi suất huy động Việt nam đồng (VND) ở các
NHTM chưa có dấu hiệu dừng do nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế tăng cao, lãi
suất huy động VND đang tiến sát về mức trần cho vay. Nhiều NHTM chỉ trong 2 tuần
đã tăng lãi suất tiền gửi 2 đến 3 lần.
Từ tháng 8 đến tháng10/2009, các ngân hàng gia tăng lãi suất và đỉnh cao nhất lên đến
9,5%. NHNN đã nâng lãi suất cơ bản lên 8% cuối tháng 11, nhưng tình trạng căng
thẳng vốn vẫn chưa có chiều hướng được giải quyết khiến NHNN phải có biện pháp
răn đe thanh tra tồn diện các ngân hàng nâng lãi suất huy động lên quá 10,5%.
c. Sau 2009 đến nay
Từ đầu năm 2010, lãi suất cho vay bằng VND liên tục tăng cao lên mức 16% 18%/năm, cá biệt có những trường hợp lên tới 18 - 20%/năm) nên nhiều doanh nghiệp
chuyển sang vay bằng Đôla do lãi suất vay USD thấp hơn nhiều so với lãi suất vay
VND trong khi rủi ro tỷ giá hối đoái chưa hiện hữu.
Cuối năm 2010, lãi suất huy động và cho vay VND của các NHTM đã giảm dần với
lãi suất huy động VND không vượt quá 14%/ năm; lãi suất cho vay bình quân
15,27%/năm. Biến động liên tục của thị trường nguyên nhiên vật liệu cơ bản, của thị
trường tài chính tiền tệ quốc tế càng làm cho việc kiểm sốt lạm phát nói chung và ổn
định lãi suất nói riêng của chúng ta thêm khó khăn.
Kể từ đầu tháng 11/2010, lãi suất đồng Việt Nam liên tục biến động theo chiều hướng
gia tăng, cả lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay. NHNN phải tăng lãi suất cơ
bản từ 8% lên 9% sau khi đã cố định nó suốt từ tháng 12/2009 với kỳ vọng thắt chặt
chính sách tiền tệ để kiểm sốt lạm phát. Một mặt, tín hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ
24
phát ra dường như chưa đủ mạnh và rõ ràng, mặt khác, tín hiệu đó lại phát ra đúng vào
thời điểm cầu tín dụng tăng mạnh. Hơn nữa, tính thanh khoản của các NHTM nước ta
khơng tương đồng, thậm chí rất khác nhau nên các NHTM có thanh khoản khơng tốt
(thường là NHTM qui mơ nhỏ và trung bình) buộc phải đẩy lãi suất huy động lên khi
giảm sự trông cậy vào thị trường liên ngân hàng, do đó, kéo theo các NHTM có thanh
khoản tốt hơn vào cuộc đua lãi suất.
6 tháng đầu năm 2011
Theo quy định của NHNN, trần lãi suất huy động VND được áp 14%/năm chính thức
từ 3/3/2011 cho đến nay. Biến động lãi suất theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống
kê từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2011 như sau: Mặt bằng lãi suất ở mức cao. Chính điều
này làm cho doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng. Báo cáo của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính về tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm nay xác nhận
mức lãi suất huy động bình quân là 15,5%, tăng khoảng 3% so với cuối năm ngoái,
nhưng thực tế huy động và cho vay của các ngân hàng vẫn vượt qua con số trên.
Nhưng thực tế lãi suất huy động của các ngân hàng đều vượt mức 17% trở lên (với các
khoản tiền gửi trên 300 triệu đồng ) và lãi suất cho vay ra đều xấp xỉ từ 20% với điều
kiện giải ngân không dễ dàng.
Năm 2012, lãi suất cơ bản giảm 5% so với cuối năm 2011, từ mức trần 14%/năm
xuống 9%/năm. Song song việc áp trần lãi suất huy động kỳ ngắn hạn. NHNN đã thả
nổi lãi suất kỳ hạn 12 tháng trở lên, các mức lãi suất điều hành khác cũng giảm mạnh.
Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/ năm xuống còn 8%/năm trong khi lãi suất tái cấp
vốn giảm từ 15%/năm xuống 10%/năm. Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3-8%/năm. Lãi
suất cao nhất chỉ còn 15%/năm, theo chỉ đạo NHNN. Cuối năm, lãi suất cho vay phổ
biến từ 12 – 15%/năm.
25