MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. TỔNG QUAN VỀ FDI
1.1. Khái quát về FDI
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Đặc điểm
1.1.3. Các hình thức FDI
1.1.4. Những nhân tố thúc đẩy đầu tư
1.1.5. Lợi ích của thu hút đầu tư
1.2. Phân loại nguồn vốn đầu tư nước ngoài
1.3. Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế
2. THỰC TRẠNG FDI Ở VIỆT NAM
2.1. Tình hình thu hút FDI ở Việt Nam
2.2. Sức thu hút FDI ở Việt Nam và hạn chế
2.3. Vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam
2.4. Tác động của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam
2.4.1. Mặt tích cực
2.4.2. Mặt tiêu cực
3. NGUYÊN NHÂN
4. GIẢI PHÁP
5. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
6. ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI
KẾT LUẬN
1
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, với xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hóa,
quốc tế hóa, đòi hỏi mỗi quốc gia phải chủ động trong việc hội nhập quốc tế,
nhằm phát huy những tiềm năng sẵn có, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên
ngoài. Nguồn vốn FDI là một nguồn lực hết sức quan trọng không chỉ đối với
các nước đang phát triển mà cả các nước công nghiệp phát triển.
Đối với Việt Nam, sau 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, với trình
độ phát triển kinh tế chưa cao, khả năng tích lũy vốn còn hạn chế thì bên cạnh
nguồn vốn trong nước, nguồn vốn FDI là một nhân tố quan trọng và tích cực, tạo
ra “cú huých” mạnh mẽ đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Nhận thức đúng đắn về vai trò của nguồn vốn này, trong những năm gần
đây Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh việc tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài nhằm khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực trong nước, tiếp nhận
khoa học công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, đánh giá kết quả đạt được và các hạn chế của
khu vực FDI, phân tích những tác động của hoạt động này tới quá trình phát
triển kinh tế xã hội của Việt Nam, không những giúp chúng ta có được sự hình
dung đầy đủ về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta mà còn góp phần
cung cấp những hiểu biết để đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy
hơn nữa hoạt động này cũng như những ảnh hưởng tích cực của nó tới quá trình
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Với những lý do trên, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài ” FDI với sự
phát triển kinh tế Việt Nam”.
Trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những thiếu sót mong cô
góp ý để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn chỉnh hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
1.TỔNG QUAN VỀ FDI
2
1.1.Khái quát về FDI
1.1.1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách
thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm
quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
* Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư)
cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI
với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài
sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những
trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản
được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
*Theo luật đầu tư Việt Nam tại Khoản 1 Điều 2 của Luật đầu tư nước
ngoài:
Đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bằng bất cứ tài sản nào được chính phủ Việt Nam
chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp
liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy đinh của luật này.
1.1.2. Đặc điểm
- Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng
đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát
triển cần chú ý đến điều này khi tiến hành thu hút FDI.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong
vốn pháp định hoặc vốn điều lệ theo quy định của luật pháp từng nước để giành
quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ qyu
định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng phân
chia dựa vào tỷ lệ này.
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ
không phải lợi tức.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh
3
vực đầu tư,hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công
nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ.
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận
đầu tư.Thông qua hoạt động FDI,nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công
nghệ,kĩ thuật tiên tiến,học hỏi kinh nghiệm quản lý.
1.1.3. Các hình thức FDI
1.1.3.1. Phân theo bản chất đầu tư
- Đầu tư phương tiện hoạt động
Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư
mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình
thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.
- Mua lại và sáp nhập
Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp
có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có
thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh
nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới
tăng khối lượng đầu tư vào.
1.1.3.2. Phân theo tính chất dòng vốn
- Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do
một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào
các quyết định quản lý của công ty.
- Vốn tái đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động
kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có
thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
1.1.3.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
4
- Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi
dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng
giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn
nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như
các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của
nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài
nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
-Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở
nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất
như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất
kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v...
- Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi
bị đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận
dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực
khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực
và toàn cầu.
1.1.4. Những nhân tố thúc đẩy đầu tư FDI
- Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Năng suất cận biên là số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất
có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất. Một nước thừa vốn
thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng
suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi
dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
- Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì
sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm
mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu
Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở
nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước
nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng
lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu
này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài(giai đoạn sản
phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong
5
nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa).
Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù cho phép công ty vượt
qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi
nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi
thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và
công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và
thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này.
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương
mại song phương.
- Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém
phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là
nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví
dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử
dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy.
Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng
có chính sách tương tự.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư
vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này.
FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
1.1.5. Lợi ích của thu hút FDI
- Bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập.
Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa.
Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài,
trong đó có vốn FDI.
- Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
6