Tải bản đầy đủ (.docx) (5 trang)

cay thuoc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (231.54 KB, 5 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

Đại bi


<b>ĐẠI BI</b>
<b>1. Tên khoa học:</b> Blumea balsamifera (L.) D C.


<b>2. Họ:</b> Cúc (Asteracea).


<b>3. Tên khác:</b> Mai hoa băng phiến, Long não hương, Từ bi, đại ngải, mai phiến, mai hoa
não, ngải nạp hương, co nát (Thái), phặc phà (Tày).


<b>4. Mô tả: </b>


Cây nhỏ, cao khoảng 1-3m, thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lơng. Lá mọc so le,
phiến lá có lơng, mép có răng cưa hay nguyên. Cụm hoa hình ngù ở nách lá hay ở ngọn,
gồm nhiều đầu, trong mỗi đầu có nhiều hoa màu vàng. Quả bế có lơng. Tồn cây có mùi
thơm của Long não. Cây ra hoa tháng 3-5, có quả tháng 7-8.


<b>5. Phân bố: </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>6. Trồng trọt:</b>


Đại bi có ở khắp các vùng núi với độ cao dưới 1000m, ở trung du và cả ở đồng bằng.
Cây thường mọc lẫn với các loài cây cỏ khác trên các đồi cây bụi thấp, ven rừng, bãi
hoang, ven đường đi. Đặc biệt trên các vùng nương rẫy mới bỏ hoang, Đại bi được coi
là một trong những loài cây tiên phong, ưa sáng và có khả năng chịu hạn. Khi các lồi
cây bụi, cây gỗ khác mọc vượt lên, Đại bi khơng thích nghi được với điều kiện bị che
bóng và tự đào thải. Đại bi ra hoa kết quả hàng năm. Lượng hoa, quả rất nhiều. Đến
cuối thu đầu đơng, quả chín tung hạt giống đi xa nhờ có túm lơng ở đầu. Cây có hiện
tượng rụng lá nhiều về mùa đơng. Sự tái sinh trở lại và hạt giống nảy mầm thường bắt
đầu vào khoảng giữa mùa xuân năm sau. Đại bi còn được trồng, chủ yếu trong các
vườn thuốc ở vùng đồng bằng. Có thể trồng bằng cành hay rễ.



<b>7. Bộ phận dùng: </b>


Lá, tinh dầu.


<b>8. Thu hái, chế biến: </b>


Có thể thu hái lá quanh năm, chủ yếu vào mùa hạ. Thu hái toàn cây vào mùa hạ và thu,
dùng tươi, hoặc phơi hay sấy khơ. Có thể dùng lá non và búp để chưng cất rồi cho thăng
hoa thành Mai hoa băng phiến (Long não Ðại bi).


<b>9. Thành phần hoá học: </b>


Lá chứa từ 0,2-1,8% tinh dầu. Trong đó thành phần chủ yếu là D-borneol, L-camphor,
cineol, limonen, acid palmitic, acid myristic. Cịn có sesquiterpen alcol. Thành phần
chính của mai hoa băng phiến là borneol; đó là một chất có tinh thể óng ánh và trắng
như hoa mai, do đó mà có tên mai hoa băng phiến hay băng phiến đại bi.


<b>10. Công năng: </b>


Khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ.


<b>11. Công dụng:</b>


11.1. Chữa cảm sốt, ho, đầy bụng khó tiêu. Dùng ngồi chữa vết thương chấn thương,
đinh nhọt, viêm mủ da, ngứa da.


11.2. Mai hoa băng phiến chữa mắt kéo màng, bụng đau, ho lâu ngày, ngạt mũi, tức
ngực, cảm gió, cấm khẩu.



<b>12. Cách dùng, liều lượng: </b>


Xông chữa cảm mạo. Uống nước sắc 20 - 30g lá tươi/ngày chữa đầy bụng, khó tiêu.
Uống 0,1 - 0,2g mai hoa băng phiến mỗi ngày, chia làm nhiều lần.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

13.1. Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng dùng 5-12g lá Ðại bi nấu nước uống. Có thể nấu
nước xơng, dùng riêng hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu.


13.2. Thấp khớp tạng khớp, dùng rễ Ðại bi, Kê huyết đằng mỗi vị 30g, sắc uống hoặc
ngâm rượu uống.


13.3. Ðau bụng kinh, dùng rễ Ðại bi 30g, ích mẫu 15g sắc uống.
13.4. Chữa lòi dom: Lá Ðại bi giã nát với lá Câu đằng, đắp.


13.5. Chữa ghẻ: Lá Ðại bi tươi và lá Hồng Bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát lấy
nước đặc bôi.


13.6. Chữa ho: Lá Ðại bi 200g, lá Chanh 50g, rễ Cà gai leo 100g, rễ thuỷ xương bồ
100g, củ Sả 100g, Trần bì 50g, tất cả phơi khơ, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần để được
700ml dung dịch, lọc, rồi thêm 300ml xi rơ để được 1 lít cao. Ngày uống 40ml, chia làm 2
lần.


13.7. Chữa bị ngất, hôn mê: Mai hoa băng phiến xát vào chân răng.
13.8. Chữa bệnh chân răng thối loét: Mai hoa băng phiến và phèn phi với lượng bằng
nhau, rắc vào chỗ đau.


Thông thường ta hay dùng nấu chúng với lá Sả, lá Bưởi, lá Cam làm nước xông cho ra
mồ hôi. Người ta giã lá đắp ở thái dương cho đỡ nhức đầu hoặc lá nhét vào lỗ mũi khi bị
chảy máu cam.



<b>Ðại bi </b>


Ðại bi, Từ bi xanh - Blumea balsamifera (L.) DC, thuộc họ Cúc - Asteraceae.


<b>Mô tả:</b> Cây nhỏ, cao khoảng 1-3m, thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lơng. Lá mọc so le, phiến lá có
lơng, mép có răng cưa hay nguyên. Cụm hoa hình ngù ở nách lá hay ở ngọn, gồm nhiều đầu, trong mỗi
đầu có nhiều hoa màu vàng. Quả bế có lơng. Tồn cây có mùi thơm của Long não.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>Bộ phận dùng:</b> Lá, cành non, rễ và mai hoa băng phiến- Folium, Ramalus, Radix et Camphora Blumeae.


<b>Nơi sống và thu hái:</b> Cây của vùng Ấn Độ, Malaixia, mọc hoang, phân bố rộng rãi khắp các vùng núi ở
độ cao dưới 1000m, ở trung du và cả ở đồng bằng, thường gặp ven đường, quanh làng, trên các savan,
đồng cỏ. Cũng được trồng bằng cành hay rễ để lấy lá. Có thể thu hái lá quanh năm, chủ yếu vào mùa hạ.
Thu hái toàn cây vào mùa hạ và thu, dùng tươi, hoặc phơi hay sấy khơ. Có thể dùng lá non và búp để
chưng cất rồi cho thăng hoa thành Mai hoa băng phiến (Long não Ðại bi).


<b>Thành phần hoá học:</b> Lá chứa 0,2-1,88%, tinh dầu và mai hoa băng phiến. Tinh dầu chứa d-borneol,
L-camphor, cineol, limonen, acid palmitic, acid myristic. Cịn có sesquiterpen alcol. Thành phần chính của
mai hoa băng phiến là borneol; đó là một chất có tinh thể óng ánh và trắng như hoa mai, do đó mà có tên
như trên.


<b>Tính vị, tác dụng:</b> Ðại bi có vị cay và đắng, mùi thơm nóng, tính ấm; có tác dụng khu phong, tiêu thũng,
hoạt huyết, tán ứ. Ở Ấn Độ, người ta cho rằng nước hãm lá có thể làm tốt mồ hơi, nước sắc lá bổ phổi và
tồn cây có độc với cá. Mai hoa băng phiến có vị cay the đắng, mùi thơm nồng, tính ấm, có tác dụng tán
phong hàn, tiêu đờm, sát trùng.


<b>Công dụng, chỉ định và phối hợp:</b> Thường được dùng trị 1. Thấp khớp tạng khớp, dòn ngã tổn thương,
sản hậu đau lưng; 2. Ðau bụng sau khi sinh, đau bụng kinh; 3. Cảm mạo, đau dạ dày do lạnh, ỉa chảy.
Dùng ngoài chữa vết thương chấn thương, đinh nhọt, viêm mủ da, ngứa da. Ở Ấn Độ, người ta dùng Ðại
bi làm thuốc chữa trạng thái tâm thần bị kích thích, chữa chứng mất ngủ và bệnh huyết áp cao. Liều dùng



6-12g lá, 15-30 g rễ hoặc toàn cây sắc uống. Dùng ngoài lấy lá giã đắp hoặc nấu nước tắm. Có thể làm
thuốc ngâm rượu để xoa bóp chỗ đau.


<b>Ðơn thuốc:</b>


1. Chữa cảm mạo, ho, sốt nóng dùng 5-12g lá Ðại bi nấu nước uống. Có thể nấu nước xơng, dùng riêng
hay phối hợp với các loại lá khác có tinh dầu.


2. Thấp khớp tạng khớp, dùng rễ Ðại bi, Kê huyết đằng mỗi vị 30g, sắc uống hoặc ngâm rượu uống.
3. Ðau bụng kinh, dùng rễ Ðại bi 30g, ích mẫu 15g sắc uống.


4. Chữa lòi dom: Lá Ðại bi giã nát với lá Câu đằng, đắp.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

6. Chữa ho: Lá Ðại bi 200g, lá Chanh 50g, rễ Cà gai leo 100g, rễ thuỷ xương bồ 100g, củ Sả 100g, Trần bì
50g, tất cả phơi khơ, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần để được 700ml dung dịch, lọc, rồi thêm 300ml xi rơ để
được 1 lít cao. Ngày uống 40ml, chia làm 2 lần.


7. Chữa bị ngất, hôn mê: Mai hoa băng phiến xát vào chân răng.


</div>

<!--links-->
cây hoàn ngọc - cây thuốc đa năng
  • 4
  • 485
  • 3
  • cay thuoc cay thuoc
    • 22
    • 318
    • 1
  • Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

    Tải bản đầy đủ ngay
    ×