Tải bản đầy đủ (.docx) (57 trang)

NHUNG MAU CHUYEN LICH SU T1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (280.78 KB, 57 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>trong buổi bình minh của lịch sử nước nhà chiếc trống thần kỳ Truyền thuyết Mường kể rằng: "Ngày xưa con gái út vua Dịt Dàng đi gội đầu ở bến Bãi, con gái cả đi chải chấy ở bến Đông; hai chị em nhìn ra giữa mặt biển, mặt sông thấy nổi lên một vật giống như cái giỏ. Chị em về mách bố ra xem. Dịt Dàng xem xong cho người đi với nhưng không làm sao với được. Dịt Dàng bèn sai thợ nhìn hình dáng đó, lấy đồng đúc được trống trăm trống nghìn. Trống nào đẹp Dịt Dàng sai cất vào kho, trống nào xấu Dịt Dàng sai chủ Khoá thằng Lồi đem bán khắp nơi. Những tài liệu lịch sử đáng tin cậy chứng minh rằng người dân Lạc Việt - tổ tiên chung của người Việt và người Mường là những người biết đúc trống đồng trước hết. Trống đồng là di vật tiêu biểu nhất của thời đại đồng thau Viêt Nam. Từ miền quê Việt Nam, trống đồng đi "du lịch" rất xa tới Hoa Nam, Miến điện, Ân độ, Thái Lan, Mã lai cho tới tận nước đảo Dừa. Và còn xa hơn nữa...Chính vì vậy mà trống đồng được coi là một di vật khảo cổ đặc biệt của cả miền Đông Nam á. tổ tiên ta hao tốn công phu đúc đồng, bỏ bao công sức chạm, khắc hình chim, hình thú, hình thuyền và cả hình ảnh bản thân mình trên trống, khiến trống đồng trở thành một tác phẩm nghệ thuật vô cùng độc đáo đẹp xinh. Để làm chi vậy? Nếu người dân quê miền Bắc ngày nay say mê tiếng trống chèo giục giã tha thiết như thế nào thì tổ tiên ta ngày xưa cũng say mê tiếng trống đồng trầm hùng vang dội như thế. Theo nhịp trống giục, chuông khua hoà với dàn cồng to, chiêng nhỏ, từng đoàn người khoác những bộ áo lông chim hay đội lốt hươu nai, tay cầm dáo, cầm khiên say sưa trông điệu múa vũ trang, rất khoẻ, rất hùng. Ngày mùa rộn rã thôn trang, mọi người tay liềm tay hái gặt lúa vàng. Nhưng những lúc nghĩ tay hay trong đêm trăng sáng, trai gái lại rủ nhau ra bãi cỏ, đồi cao, nắm tay ca múa theo nhịp trống âm vang hoà với tiếng khèn êm dịu, thiết tha. Nhưng trống đồng không phải chỉ là một nhạc cụ. Tiếng trống đồng nổi liên hồi ở nhà làng hay ở nhà tù trưởng còn là một hiệu lệnh tập trung dân. ấy là những khi có chiến tranh hay có những việc công cần kíp khác như đắp đê chống lụt v.v... Nghe tiếng trống đồng kêu dồn, mọi người đến tụ tập chờ tù trưởng và các già làng ra lệnh. Trống đồng còn được chở trên thuyền chỉ huy để thủ lĩnh quân sự đánh nhịp cổ vũ, ra lệnh thúc quân hay lui quân trong các trận thuỷ chiến mà người Việt xưa vốn vô cùng thành thạo..

<span class='text_page_counter'>(2)</span> Người Việt thời đồ đồng còn cảm thấy nhiều bất lực trước sức mạnh tự nhiên. Đại hạn, mưa lũ làm hại mùa màng, sức người chưa chế ngự được; sấm sét, bão tố rung trời chuyển đất, tri người chưa giải thích được. Ôi, sao mặt trời, mặt trăng đang chiếu sáng lại bị con quái vật gì ngoạm dần đi vậy? Nhật thực và nguyệt thực, người xưa chưa hiểu nguyên nhân. Và thế là các thầy mo lại rung chuông, đánh trống đồng, tế thần Mưa, thần Sấm sét để cứu mặt trời, mặt trăng... Họ làm những hình cóc nhái trên mặt trống, và hy vọng rằng tiếng trống sẽ vang lên như tiếng cóc, tiếng ếch nhái để cầu trời mưa xuống, lấy nước uống, tưới ruộng cây... Bản mường có tù trưởng chết, người ta gõ cối gạo để báo. Trống đồng được treo trên xà, thầy mo được gọi đến nổi những hồi trống đồng làm lễ tang. Người ta coi trống đồng với thanh âm trầm buồn của nó là sợi dây nối liền người sống và người chết, thế giới có thực và "thế giới bên kia". Đôi khi người ta chôn cả trống đồng theo người chết để dùng ở cỏi âm đầy hư ảo. Thế là từ một vật thực, có công dụng hữu ích, trống đồng trở thành một vật thần kỳ. Giá trống đồng rất đắt. Người ta phải đổi hàng chục, thậm chí đến hàng mấy trăm trâu bò mới được một chiếc trống đồng. Trống đồng trở thành một của báu. Và chỉ kẻ nào giàu có, có quyền thế mới có trống đồng. Trống làng chưa đánh thì thùng. Của chung ai khéo vẫy vùng nên riêng. Và từ đó xã hội nguyên thuỷ tan rã, Người Việt bước dần vào ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp, có áp bức và bóc lột. đánh tan mấy chục vạn quân tần dũng mãnh Bấy giờ là vào khoảng năm 214 trước công nguyên. Vì hám của báu sừng tê, ngà voi, ngọc trai, lông chim trả... của phương Nam, Tần Thuỷ Hoàng phát 50 vạn binh do tên tướng Đồ Thư cầm đầu và và tên Triệu Đà đi tiếp viện xuống đánh phá miền Bách Việt. Năm đạo quân Tần chia năm đường đi đánh phá các miền Phúc kiến, Quảng Đông, Quảng tây địa bàn xưa của người Việt. Sau ba năm đào ngòi nối sông Tương ở Hồ Nam và sông Ly ở Quảng Tây, giặc Tần hùng hổ tiến sâu vào vùng đất của người Âu, người Lạc - những con cháu của Âu Cơ và Lạc Long Quân trong truyền thuyết Việt Nam. Chúng giết được một thủ lĩnh của người Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng cũng từ đấy chúng bắt đầu nếm trãi những đòn chống trả mãnh liệt của nhân dân Âu Lạc..

<span class='text_page_counter'>(3)</span> Trước thế giặc mạnh, nhân dân Âu Lạc lẫn trốn vào miền núi rừng Việt Bắc. Nhưng dãy núi hùng vĩ uy nghi, những cao nguyên trên ngàn thước cỏ xanh rờn, những rặng đồi liên tiếp, những cánh rừng bát ngát với những dòng suối lắm thác nhiều ghềnh, những thung lũng và hang động sâu thẳm đã che chở cho người dân Việt. Trong rừng sâu, quanh những đống lửa rực cháy, các bộ lạc người Việt hồi họp cử những người tài giỏi làm thủ lĩnh quân sự. Chiến tranh đã lan rộng. Toàn thể nhân dân các bộ lạc được vũ trang bằng cung nỏ với đầu mũi tên tẩm thuốc độc, bằng giáo mác đồng nhọn hoắt, bằng những cây rìu đồng lưỡi xéo sắc gọt hơn dao... Ban ngày họ ẩn kín trog rừng sâu núi hiểm luyện tập cung nỏ. Quân thám sát người Việt được phái đi dò la các dinh trại giặc Tần. Khi màn đêm buông xuống, ấy là lúc các bộ lạc Âu Lạc - chủ nhân xưa của Việt Bắc oai hùng - nhất tề xông tới trại giặc, chém giết quân Tần xâm lược, lấy chi khí dũng mãnh và tre, gỗ, đồng thau mà chọi với sắt thép của quân thù. Cứ như vậy chiến tranh tiếp diễn khoảng 10 năm. Giặc Tần khi xuống phương Nam đi nhanh tựa muôn ngựa phi, đến lúc này đã phải coi chiến tranh với người Việt là một "tai hoạ". Chúng thở than: "Thật đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xông..., đàn ông quang năm mặc áo giáp, đàn bà suốt ngày phải chở lương. Khổ không sống nổi, người ta tự thắt cổ trên cây dọc đường...". Tên bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng đã đem "nướng" ở đất Việt hơn 200 000 sinh mạng. Đại tướng giặc là Đổ Thư cũng bị lực lượng vũ trang Âu Lạc giết chết. Chiến thắng lừng lẫy của tổ tiên ta chống giặc Tần xâm lược ở buổi bình minh của lịch sử nước nhà là như thế đó! triệu thị trinh người con gái quang vinh "Ru con con ngủ cho lành Để mẹ gánh nước rửa bành con voi Muốn coi lên núi mà coi, Có bàt Triệu tướng cưỡi voi bành vàng" (Ca dao cổ) Năm 240, Triệu Thị Trinh mới 19 tuổi. Bố mẹ Triệu Thị Trinh mất sớm, anh là Triệu Quốc Đạt nối nghiệp nhà làm thủ lĩnh vùng núi Nưa (Nông cống, Thanh Hoá). Bấy giờ đất nước và nhân dân ta đang rên siết dưới ách giặc Ngô xâm lược. Hàng năm giặc Ngô bắt nhân dân ta nộp cống hàng nghìn tấm vải và biết bao sừng.

<span class='text_page_counter'>(4)</span> tê, ngà voi, đồi mồi, lông trả, ngọc châu cùng hoa thơm quả lạ: chuối tiêu, nhãn, dừa, cam, quýt... Nhân dân ta căm phẫn, các thủ lĩnh cũng rất bất bình. Triệu Thị Trinh bàn cùng anh em lên núi Nưa, dựng lá cờ nghĩa, chiêu mộ binh mã chống lại giặc Ngô. Có kẻ khuyên bà nên lấy chồng hơn là "làm loạn", bà khăng khái trả lời: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô đem lại giang sơn, dựng quyền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người". Sách xưa tả lại rằng: "Bà Triệu thường mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi mà chiến đấu". Giặc Ngô rất sợ, gọi bà là Lệ Hải bà vương. Không biết kẻ nào trong bọn giặc đã làm hai câu thơ lột tả được tâm thần hoảng loạn của chúng trước khí thế quyết chiến của "vua bà": Hoanh qua đương hổ dị Đối diện bà vương nan. Tạm dịch: Cầm ngang ngọn giáo chống hổ dể, Giáp mặt với vua bà thực khó. Quả thật, Triệu Thị Trinh rất anh hùng. Bà cũng anh đánh thắng quân Ngô nhiều trận lớn. Sau Triệu Quốc Đại chết, bà được nghĩa quân tôn làm chủ tướng và xưng là Nhuỵ Kiều tướng quân. Nhà Ngô lo sợ, cử Lục Dận đem 8 000 quân sang cứu. Lục Dận là một tên tướng nham hiểm. Trong trận cuối cùng, bà bị hắn vây riết quá, buộc phải tự tử để giữ tròn khí triết của mình. Ngày nay ở thôn Phú Điền (Hậu Lộc), cạnh đường số 1 vẫn có ngôi đền bà Triệu, và trên núi Tùng Sơn phía trước đền còn lăng mộ của bà. Có lần một tên giặc lái máy bay kẻ cướp Mỹ bị bắt sống ở gần lăng bà Triệu. Chẳng phải vì "khí thiêng" của bà Triệu run rủi khiến tên cướp ngày phải đền tội, mà chính vì quân dân Thanh Hoá - con cháu của bà Triệu - đã phát huy đến cao độ truyền thống quật cường của dân tộc, qyuết tâm đánh thắng giặc mỹ xâm lược để bảo vệ miền Bắc và tích cực giúp đở miền Nam. vài mẫu chuyện về vua đen (mai hắc đế) Ngày xưa, ở miền biển Thạch Hà, Hà Tỉnh, nổi lên một cồn cao, cát trắng hoang vu, nhân dân gọi là vùng Kẻ Mỏm. Có những người dân họ Mai lần đầu tiên tới khai thác đất này thành ruộng muối, nhóm lên làng lên xóm và lấy họ mình đặt tên cho làng mới. ấy là làng Mai phụ (gò đất họ Mai). Phía Nam Mai phụ, từ cửa Nam giới trở đi là đất đai của nước Chiêm thành..

<span class='text_page_counter'>(5)</span> Trong làng Mai phụ có một gia đình khá giả, sinh được một cô con gái rất đẹp. Từ nhỏ cô đã yêu lao động, hằng ngày thường ra bãi biển xem dân làng nấu muối. Lớn lên cô lấy chồng và đến khi cô có mang, cô dời xóm làng, lặn lội lên sinh sống ở thôn Ngọc trừng, huyện Nam Đàn (Nghệ An). Cô sinh đựơc một đứa con trai mặt như sắt, da đen. Đưa bé lấy họ mẹ, mang tên là Mai Thúc Loan. Từ lúc lọt lòng, Mai Thúc Loan đã chịu cảnh đói khổ. Ngày mùa, mẹ phải đi làm thuê làm mướn. Ngày ba tháng tám, mẹ phải vào núi Giẻ kiếm củi nuôi con. Sữa cơm chẳng nhiều nhưng chú bé vẫn lớn nhanh như thổi. Chẳng bao lâu, chú đã theo mẹ vào rừng hái củi rồi sau phải đi ở cho nhà giàum, chăn trâu, cày ruộng. Mai Thúc Loan rất sáng dạ. Nhà nghèo không được đi học, nhưng Mai Thúc Loan chỉ thoáng nghe người ta học bài trông người ta viết chữ là đã thuộc bài viết chữ ngay.Sức Mai Thúc Loan rất khoẻ nổi tiếng hay vật cả một vùng. Vì chăm làm việc và hay giúp đỡ mọi người nên Mai Thúc Loan được dân làng hết sức yêu mến. Bấy giờ đất nước ta bị nhà Đường thống trị vô cùng tàn bạo. Bọn chúng vơ vét đủ thứ: thóc, tiền, tơ lụa, cau, vải, nhãn, chuối tiêu, sừng tê, ngà voi... Dân Mai phụ, quê mẹ Mai Thúc Loan chuyên làm muối cũng phải nộp thuế và bán muối cho chính quyền đô hộ chứ không được tự do đổi chác. Mai Thúc Loan cũng như trăm nghìn trai tráng khác phải đi phu cho chính quyền đô hộ và bị đánh đập dã man. Mai Thúc Loan cảm thông với nổi khổ của nhân dân và ngày đêm nung nấu lòng căm hờn đối với bọn quan quân tàn bạo. Một buổi trời nóng nực, Mai Thúc Loan cùng đoàn phu đi gánh quả vải nộp cho bọn quan đô hộ. Giữa đường, dân phu mỏi chân, khát nước, Mai Thúc Loan bảo dân phu dừng chân nghĩ, lấy vải ăn. Vừa ăn Mai Thúc Loan vừa chửi mắng và kể tội bọ đô hộ. Mọi người nghe theo lời ông, gánh vải trở về không chịu đem nộp cho bọn quan lại nhà Đường nữa. Họ đồng lòng theo Mai Thúc Loan phấn cờ khởi nghĩa. Hàng trăm người của các phường săn quang vùng cũng đến tụ tập dưới cờ nghĩa. Thế lực nghĩa quân dần dần mạnh lên. Mai Thúc Loan liền lợi dụng địa thế vùng Sa Nam, lập thành căn cứ chống giặc. Ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm đóng tại bản doang. Núi này nằm cạnh sông Lam ở đoạn hiểm sâu. Xưa kia nơi đây cây rừng còn rậm rạp. Trên núi, ông đóng đại quân, chứa voi trận, dựng doanh trại. Dọc bờ sông, ông sai đắp một chiến luỹ dài hơn nghìn thước. Đấy là thành Vạn An. Đứng trên núi Vệ Sơn nhìn căn cứ nghĩa quân thì thật là hiểm trở và hùng vĩ: núi rú Đụn (Hùng Sơn) làm chổ dựa; phía trong núi, là một thung lũng rộng vài chục mẫu được dùng làm nơi tàng trữ lương thực, vũ khí; phía ngoài núi, nhiều đồn trại được đóng ở cạnh sườn; chung.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> quanh núi, sông Lam vây bọc như con hào thiên nhiên. Bao quanh khu trung tâm, nghĩa quân xây dựng cả một hệ thống đồn trại nương tựa lẫn nhau: Biều sơn hình quả bầu bảo vệ cánh tả, Liên sơn bảo vệ mặt trước, Ngọc đai sơn hình đai ngọc nằm cạnh thành Vạn An là đồn tổng chỉ huy, thống lĩnh cả hai đạo quân thuỷ bộ. Mai Thúc Loan tự xưng hoàng đế và đóng đô ở đó. Sử gọi ông là Hắc Đế (Vua Đen). Mai Hắc Đế ra sức xây dựng lực lượng. Ông lại sai tướng đi mượn thêm quân của Chiêm thành ở Nam, Chân lạp ở Tây. Với hàng chục vạn quân trong tay và được sự hưởng ứng của nhân dân khắp nước, Mai Hắc Đế đã nhanh chóng chiếm được châu Hoan (Nghệ Tỉnh), tiến quân ra Bắc, đánh hãm phủ thành An Nam (Hà Nội). Tên quan cai trị Quang Sở Khách phải cuốn gói bỏ thành mà chạy. Người thời sau nhớ tới sự nghiệp hiển hách của vị Vua Đen anh hùng đã làm bài thơ ca ngợi, tạm dịch như sau: Châu Hoan riêng một bầu trời Vạn An thành luỹ muôn đời lửa hương. Tiếng hô hưởng ứng bốn phương, Uy danh bách chiến khiến Đường phải kinh. Sông Lam trăng lấp sóng kình. Núi Hùng gió đã bạt hình sói lang. Vải ngon dứt cống vua Đường Ơn sâu trăm họ nhớ thương đời đời. vài nét sinh hoạt văn nghệ thời đinh, lê, lý, trần Xiếc Từ thời Đinh, nước ta đã có đoàn xiếc, gồm 6 người. Hàng năm, tới tháng một, đoàn xiếc tới biều diễn ở Bạch Hạc (Việt Trì). Đoàn xiếc xây lầu phi vân cao 20 thước, dựng một cây cao ở giữa lầu. Họ tết võ gai làm dây chão dài 136 thước, đường kính rộng 2 tấc, lấy mây quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, phần giữa của dây gác lên cây. Nghệ sỹ Thượng Kỵ đứng lên trên dây, chạy ba bốn lần, đi đi lại lại mà không ngã. Dây của nghệ sỹ Thượng Can dài 150 thước, có một chổ mắc chạc ba. Can hai tay cầm hai cán cờ. Can, Kỵ hai người đi trên dây, gặp nhau ở chổ chạc ba thì lại tránh, lên xuống không hề ngã. Đấy là trò leo dây. Nghệ sỹ Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng một thước ba 3 tấc, dây 7 tấc đặt lên trên cây.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> cao 17 thước 3 tấc, Đát đứng ở trên nhảy hai, ba cái, tiến tiến lùi lùi. Nghệ sỹ Thượng Toát lấy tre đan thành lồng hình cái lờ bắt cá, dài 5 thước, tròn 4 thước rùi chui vào đứng thẳng người mà lăn. Nghệ sỹ Thượng Câu vỗ tay nhảy nhót; la hét kêu gào, vỗ đùi, vỗ bụng hoặc cưỡi ngựa phi nhanh, cúi mình xuống lấy vật dưới đất mà không ngã. Nghệ sỹ Thượng Hiểm ngã mình nằm ngửa thấy thân đỡ một cái gậy dài rồi cho đứa trẻ trèo lên mà không rớt xuống. Giữa các cuộc diễn trò xiếc lại có các nghệ sĩ gõ trống khua chiêng ca múa góp vui.. Múa rối Không rõ nghệ thuật múa rối xuất hiện ở nước ta từ thời nào, chỉ biết rằng đến thời Lý - Trần thi sân khấu múa rối đã thịnh lắm. Năm 1290 sử Nguyên sang nước ta đã được vua Trần cho dự một buổi biểu diễn múa rối biểu diễn bằng que. Nhưng nổi tiếng nhất là nghệ thuật múa rối nước. Ngày Trung thu và ngày Tết, trên sông Hồng gần Thăng Long có tổ chức hội đua thuyền. Nhân đó, vua quan và nhân dân còn được xem biểu diễn múa rối ngoài trời. Giữa sóng nước sông Hồng một chú rùa vàng nổi, lưng đội ba hòn núi. Rùa lội rù rờ trên mặt nước, lộ vân trên vỏ và xoải bốn chân, chuyển mắt nhìn lên bờ, miệng thì phun nước lên bến. Rùa quay đầu, hướng ngai vua cúi đầu chào. Không phải rùa thật đâu, con rối đấy! Lý Nhân Tông mở hội đèn lồng, sai xây đài cao giữa đài dựng cây nêu có rồng cuốn đỡ toà sen vàng. Rèm lồng che đèn sáng rực. Có máy dấu kín dưới đất, làm đài quay như bánh xe. Lại dựng hai toà lầu hoa, treo quả chuông đồng. làm con rối hình chú tiểu mặc áo cà sa. Nghệ sĩ múa rối đứng trong điều khiển, chú tiểu giơ dùi thỉnh chuông, nghe tiếng sáo trúc thổi liền quay đầu lại. Thấy bóng vua, lại biết cúi đầu. Cứ y như là người thật! chèo tuồng Cũng như thời Đinh, tiếng trống chèo đã làm rộn ràng lòng dân quê nước Việt. Bấy giờ chèo chưa có tích chuyện roc ràng. Dân chủ yếu đi nghe hát chèo với một số làn điệu dân ca, dân vũ và cười vang thích chí trước những câu pha trò và bộ điệu của mấy chú hề. Chú hề Liêu Thủ Tâm đã từng làm vui cho đám vua quan thời Lê Long Đĩnh ở Hoa Lư. Dưới thời Lý, triều đình nuôi hàng trăm nghệ sĩ chèo tuồng chuyên nghiệp. Kỷ niệm ngày sinh Lý Thái Tông, năm 1028, vua sai dựng năm ngọn núi giả bằng tre, trên núi làm những hình tiên bay, chim, thú. Lưng.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> chừng núi có hình rồng vây cuốn cắm cờ, treo vàng ngọc. Các nghệ sĩ chèo tuồng đứng trên núi thổi sáo, ca múa làm vui. Năm 1182, các nghệ sĩ chèo tuồng đã diễn trò đả kích thói lộng quyền của tên thái sư Đỗ An Thuận. Sau chiến thắng chống Nguyên, ta bắt được một tù binh là Lý Nguyên Cát vốn là một kép hát có tài. Nhiều đầy tớ gái trẻ tuổi ở các nhà quyền quý thi nhau học hát theo cac điệu tuồng Trung Quốc. Khi diễn trò có 12 người đóng các vai đào, kép, mặc áo gấm, áo vóc, kẻ đánh trống, người thổi kèn, thay đổi nhau ra vào sân khấu đóng tuồng. Nhờ sự học tập các nghệ sĩ Trung Quốc, nghệ thuật của dân tộc ta ngày thêm phong phú. ca múa nhạc Tiếng Việt vốn nói lên đã nghe như hát. Tâm tình không đủ nói ra lời thì lên giọng ngâm nga, ngâm nga không đủ thì cất cao tiếng hát. Nhân dân ta vốn ưa ca hát. Kho tàng dân ca của chúng ta có hàng trăm làn điệu do nhân dân lao động trải hàng nghìn năm lịch sử. Quan họ Bắc Ninh; hát dậm Hà Nam; hát ghẹo Phú Thọ; hát ả đào, hát trống quân v.v... đều đã được lưu hành từ đời Lý -Trần. Ngoài dân gian trong cung đình, âm nhạc dân tộc đều phát triển. Lý Nhân Tông sáng tác nhiều bản nhạc. Trần Nhân Duật, người chỉ huy đánh thắng giặc Nguyên ở cửa Hàm Tử cũng là người giỏi nhạc nổi tiếng. Sứ Nguyên 1290 đã được thưởng thức tiếng đàn bầu réo rắt của nghệ sĩ nước Việt. Ngoài ra còn có các loại đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn nguyệt, nhị, sáo, tiêu phách, xênh, mõ trống, trống cơm... Trống cơm từ Chiêm thành được truyền sang nước Việt cùng với nền âm nhạc Chiêm. Lê Hoàn và các vua Lý đi đánh Chiêm bắt hàng trăm ca nữ Chiêm đem về để phục vụ trong cung đình. Nhạc Chiêm, nhạc Trung Quốc tuy có ảnh hưởng đến nhạc Việt nhưng không làm nhoà những nét độc đáo của nhạc Việt. Cùng với các bài thơ nôm, những bản nhạc lời Việt được lưu hành nhiều trong nước. Lê Hoàn khi thết tiệc sử Tống, đã hát khúc hát lời Việt mời rượu. Ca nhạc thường gắn liền với múa. Ca múa thời Lý - Trần vô cùng phát triển. Một số công trình chạm khắc trên chân cột đá chùa Phật tích (Hà Bắc), trên những tấm gỗ chùa Thái Lạc (Hưng Yên) của thời Lý - Trần còn lại đến nay cho ta thấy hình ảnh các cô gái Việt chít khăn, mặc váy, thắt đáy lưng ông đang say sưa trong các điệu múa vô cùng uyển chuyển. Tấm bia đá thời Lý ở chùa Đọi (Nam Hà) còn ghi rằng dưới thời Lý Nhân Tông (1072-1127) có những đội múa chuyên nghiệp của triều đình, "những cô gái đẹp hiện trên đài sen uyển chuyển mềm mại tiến lui múa nhảy chúc mừng vua". Đây là cảnh trên đài Chúng tiên gồm ba bậc thềm: Vua.

<span class='text_page_counter'>(9)</span> ngôi chắp tay ngay ngắn ở thềm trên. Thềm giữa có những cô gái đẹp như tiên múa lượn vòng quanh. Dưới sân, các nhạc quan xếp thành hàng tấu khúc nhạc tuyệt diệu, tiếng sáo trong cao vút từng không, át cả mây bay... Trong một buổi biểu diễn dưới triều Trần, có điệu múa trên cà kheo (ngày nay ở Thái Bình vẫn còn giữ được lối múa này). Lại có người mang khố vải, mình trần, kề vai, dậm chân, đi vòng quanh mà hát... * * * Vài nét sinh hoạt văn nghệ thời Đinh, Lê, Lý, Trần trình bày ở trên chứng tỏ rằng bấy giờ nhân dân ta, sau khi thoát được những đêm dài tăm tối thời Bắc thuộc đã vươn lên mạnh mẽ, xây dựng một nền văn nghệ dân tộc vô cùng phong phú và độc đáo. bô lão anh hùng Mùa đông năm 1284. Vua Trần một mặt cho sứ giả sang nhà Nguyên xin hoãn binh, một mặt cho mời các bậc già cả ở trong nước về kinh đô Thăng Long, đặt tiệc ở thềm cung điện Diên Hồng, mời các cụ ăn và hỏi mưu kế đánh giặc Nguyên. Vua nói về thế giặc mạnh, sợ đánh không được, lại sợ đánh nhau quyết liệt với giặc thì đất nước, cung điện, đền đài, mồ mả tàn phá. Hoà hay đánh, nhà vua ra ý phân vân chưa thật quyết. Vua Trần muốn dò xét ý dân về chủ trương kháng chiến. Giữa điện Diên Hồng, các bô lão anh hùng đã đồng thanh thét lên một tiếng duy nhất: Đánh! Muôn miệng một lời, như phát ra từ một miệng! Lòng yêu nước của nhân dân ta đã được khích lệ. "Tiếng thét ấy cùng với bài Hịch truyền tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã dần dần biến thành sức mạnh của toàn dân và toàn quân đánh thắng bọn xâm lược hung hãn nhất đương thời trên thế giới. Từ đó, mỗi lần đứng trước nhứng quân cướp nước tàn sát dân tộc mình, giày xéo non sông mình, mỗi người Việt Nam yêu nước lại thấy nổi lên trong lòng tiếng thét Diên Hồng vang dội nghìn thu". miền núi kết hợp cùng miền xuôi đánh giặc.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> Giặc Mông - Nguyên ba lần xâm lược nước ta. Lần nào cũng vậy, địch chưa bước chân tới biên thuỳ, vua tôi nhà Trần ở Thăng Long đã biết trước và có ngay biện pháp đối phó. Sở dĩ như vậy là vì nhân dân thiểu số miền biên giới, thông qua các thủ lĩnh của mình như Hà Khuất ở Quy Hoá (vùng Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Cai), Lương Uất ở Lạng Giang (Lạng Sơn) đã báo cho Thăng Long tình hình chuyển quân của giặc. Tháng giêng năm 1258, địch bị đánh bại phải bỏ Thăng Long chạy ngược sông Hồng về Vân Nam. Qua Quy Hoá, chúng bị nhân dân miền núi do Hà Bổng cầm đầu với vũ khí thô sơ tập kích. Quân Mông cổ vốn nổi tiếng hung hãn nhất thế giới giờ đây bị đánh tan tác. Trong lúc nguy khốn, quân địch cố mở đường chạy, không kịp cướp phá giết chóc gì. Nhân dân miền núi mừng chiến thắng, gọi chúng là ''giặc Bụt'' (hiền như Bụt!) Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1284-1285), giặc Nguyên cho một đạo quân theo triền sông Chảy và sông Lô xuống cướp vùng Tuyên Quang, Phú Thọ. Tháng 5 năm 1285, khi chúng rút chạy về đường này, nhân dân thiểu số do hai anh em Hà Đặc, Hà Chương chỉ huy ra sức chặn đánh địch ở động Cự Đà. Hà Đặc dùng kế : cứ đêm đến mang những hình người to lớn đan bằng tre, bên ngoài mặc áo, dẫn ra dẫn vào dưới ánh đuốc chạp chờn; lại cho người sang gần trại giặc dùi cây to thành lỗ, lấy những mũi tên cực lớn cắm vào. Quân giặc hoảng sợ tưởng bên ta có "đoàn quân khổng lồ" sử dụng những cánh cung có sức mạnh bắn xuyên cây lớn! chúng không dám tiến đánh Hà Đặc. Trong tình hình đó, Hà Đặc cùng nhân dân xuất kích, đánh tan nhiều đoàn quân giặc. Hà Đặc chiến đấu vô cùng dũng cảm, sau bị hy sinh. Hà Chương nối chí anh ra sức chiến đấu. Bị địch bắt nhưng ông đã trốn thoát, lại lấy được áo giáp và cờ hiệu của giặc. Quân ta dùng liền quân trang ấy mặc giả làm quân Mông Cổ, đột nhập trại giặc. Giặc Mông Cổ không phòng bị, tan vỡ. Trận ấy quân ta thắng lớn. * * * Tháng 2 năm 1285, trước thế giặc mạnh, đại quân Trần rút lui để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công địch. Một số cánh quân của ta không rút, ở lại hoạt động trong vùng sau lưng địch, cùng với nhân dân bám sát và tìm cách tiêu diệt giặc. Trong số đó có cánh quân Tày - Nùng của thủ lĩnh Nguyễn Thế Lộc. Nguyễn Thế Lộc vốn là một thổ hào người Tày, được vua Trần phong chức quản quân, coi một cánh quân miền núi. Trước khi giặc Nguyên tiến vào biên giới Lạng Sơn, cánh quân này đánh ở châu Thất Nguyên (huyện Tràng Định, Lạng.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> Sơn). Cho đến lúc bấy giờ cánh quân đó vẫn hoạt động ở vùng trại Vĩnh Bình (gần Kỳ lửa, huyện Cao Lộc, Lạng Sơn) và dần dần mở rộng phạm vi ra khắp vùng Lạng Sơn. Tháng 5 năm 1285, Thoát Hoan sai Mang - Lai Si Ban đưa bọn Việt gian Trần Kiện, Trần Tú Hoãn... cùng với gia đình chúng về Trung Quốc. Khi bọn chúng đi qua Lạng Sơn, đội dân binh Tày - Nùng do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy phối hợp với một cánh quân của Trần Quốc Tuấn đã tập kích bọn chúng ở trại Ma lục (vùng Chi Lăng). Bọn Việt gian và đoàn quân hộ tống của Mang-Lai Si-Ban bị vây đánh cả ngày lẫn đêm, chúng thoát khỏi chổ phục kích này thì lại gặp chổ phục kích khác. Người nhà Trần Quốc Tuấn là Nguyễn Địa Lô đã bắn chết tên Việt gian Trần Kiện ngay trên mình ngựa... Các xe lương thực hành lý của chúng đều lọt vào tay quân nhân ta. Bọn tuỳ tùng bị giết chết gần một nửa. Một lần nữa ải Chi Lăng lại ghi thêm một chiến công chói lọi của những dân quân yêu nước Tày - Nùng - Việt quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. yết kiêu giỏi bơi lặn, đục chìm nhiều thuyền địch Yết Kiêu người làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Hưng. Nhà nghèo, hằng ngày ông phải đi mò cua bắt ốc, bắt cá đem lấy tiền đong gạo nuôi thân. Ông có sức khoẻ và dũng cảm lạ thường. Một hôm thấy hai con trâu húc nhau trên bãi cát, ông dùng đòn gánh phang, cả hai con trâu chạy biến xuống nước. Yết Kiêu đặc biệt có tài bơi lặn: ông lội nước hàng mấy dặm như đi trên đất và thường lặn lội bắt cá, mò trai cả ngày dưới nước. Vì có tài, ông trở thành người nhà của Trần Hưng Đạo. Cùng với Dã Tượng, ông được Hưng Đạo Vương hết sức tin yêu. Ông và Dã Tượng khuyên Trần Hưng Đạo bỏ thù nhà, dốc sức vào việc đánh giặc cứu nước. Khi giặc Mông Cổ sang xâm lược năm 1284, lúc đầu quân ta thế yếu hơn địch. Một lần, trước thế giặc đương hăng, quan quân nhà Trần ở Nội Bàng (Chũ, Hà Bắc) bị thua kéo thuyền bỏ chạy về vạn Kiếp (Hải Hưng). Một mình ông cắm thuyền ở lại bến Bãi trên sông Lục Nam, chờ đón kỳ được Trần Hưng Đạo thoát chết nhờ lòng quả cảm và tinh thần kỷ luật của Yết Kiêu không dời bỏ vị trí chiến đấu khi chưa có lệnh. Cảm kích trước lòng trung nghĩa của Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo nói: "Ôi, chim hồng hộc sở dĩ bay cao được cũng là nhờ có sáu trụ xương cánh cứng rắn, nếu không, hồng hộc cũng chỉ như chim thường thôi!" ý Trần Hưng Đạo muốn nói: người tướng tài giỏi, nổi tiếng phần lớn cũng là nhờ những người chung.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> quanh mình ra sức làm việc, giúp rập, nếu chỉ có một cá nhân mình thì không sao có thể làm nên sự nghiệp lớn. Bấy giờ giặc Mông Cổ kéo mấy trăm chiếc thuyền theo đường biển vào đánh cướp nước ta. Yết Kiêu không quản mùa đông giá rét, đêm đêm lặn xuống biển, nằm dưới đáy thuyền, lấy dùi sắt nhọn đục thủng thuyền. Thuyền giặc bị nước biển chảy ồ vào, chìm ngay. Quân giặc sợ lắm. Lúc đầu chúng không hiểu vì lẽ gì. Sau giặc chăng lưới vây bắt được Yết Kiêu. Chúng hỏi ông: - Nước mầy có bao nhiêu người có tài bơi lặn như mầy? Ông đáp: - Nước Nam có nhiều người có tài bơi lặn như tôi. Hiện nay họ vẫn ẩn nấp ở dưới biển để đục thuyền, chỉ một mình tôi chẳng may bị bắt. Nếu các ông tha tôi ra tôi sẽ dẫn các ông đến chổ họ ẩn nấp, tha hồ cho các ông bắt. Bọn giặc hí hửng vì tưởng ông nói thật, chúng lấy một chiếc thuyền nhẹ chở ông đi. Thừa lúc giặc sơ ý, ông nhảy tủm xuống biển, lặn trốn về doanh trại quân ta, tiếp tục cùng quân dân ta tiếp tục đánh giặc cứu nước. Quân giặc đành trơ mắt nhìn nhau căm tức. Bà lương giết giặc minh, hạ thành cổ lộng Sau khi bắt được cha con Hồ Quý Ly (1407), tướng giặc Minh là Mộc Thạnh sai lấy đất núi Bô đắp thành Cổ Lộng ở bên bờ sông Đáy, giữa cánh đồng Lai cách huyện ý Yên (nay thuọc tỉnh Nam Hà). Thành rộng tới hơn trăm mẫu, trấn giũ cả con đường bộ từ Bắc vào Nam và con đường thuỷ theo sông Đáy, là nơi liên lạc mật thiết giữa thành Đông Quan (Hà Nội và thành Tây Đô Thanh Hoá). Từ thành Cổ Lộng qua một cánh đồng, theo mấy con đường đất đỏ ngoằn ngoèo là tới thôn Ngọc Chuế, xã Chuế Cầu. Đấy là quê hương của một người đàn bà đã góp phần quan trọng vào việc đánh thắng giặc Minh xâm lược ở đầu thế kỷ XV: bà Lương. Bà là con một trong gia đình họ Lương, sức khoẻ hơn người, có sắc đẹp và chí lớn. Bà lấy Đinh Tuấn, người cùng làng, ăn ở với nhau rất hoà thuận. ở cách thành Cổ Lộng không xa, bà luôn luôn được mắt thấy tai nghe tội ác của giặc Minh đối với đồng bào. Vì có sắc đẹp, khi qua lại thành Cổ Lộng, bà thường bị quân Minh chòng ghẹo. Truyền thống bất khuất của bà Trưng, bà Triệu trổi dậy trong lòng bà Lương. Bà bàn cùng chồng xin dọn hàng bán quà nước ở bên thành, lợi.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> dụng sắc đẹp để dò xét tình hình quân giặc. Còn ông Đinh thì bí mật chiêu tập dân đinh các nơi, mưu đồ khởi nghĩa chống giặc. Quân giặc đóng lâu trong thành, sinh trễ biếng, tướng soái ham mê rượu thịt, ngủ say trong trướng, quân canh chúi mũi đánh bạc hay rúc đầu vào túi ngủ. Bấy giờ Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xa gần đều biết tiếng. Nghĩa quân đã giải phóng hầu hết miền đất từ Thanh Hoá trở vào. Bà Lương không quản đường xa thân gái, lặn lội vào tận Thanh Hoá tâu bày tình hình giặc với Bình Định vương Lê Lợi. Lê Lợi sai quân đi thám thính, thấy đúng như lời bà Lương nói. Bà xin vua Lê đem quân đánh thành Cổ Lộng và bà xin làm nội ứng, ông Đinh sẽ đem dân binh cùng tham gia chiến đấu. Lê Lợi thấy nếu hạ được thành Cổ lộng thì sẽ mở được đường tiến quân ra Bắc nên sai Lê Khôi, Đinh Liệt, Đinh Lễ, Nguyễn Xí... đem 5000 quân tinh nhuệ đi tắt đường rừng, cùng bà Lương tiến về phía thành Cổ lộng. Bà Lương về trước báo ông Đinh chỉnh đốn dân binh, chuẩn bị cùng đại quân ứng chiến. Bà lại mua rượu thịt mời giặc Minh ăn uống, lấy cớ là vừa đi lễ xa về nên ăn mừng. Bà lại mời một số gái đẹp đến chuốc rượu cho lũ giặc. Giặc say bí tỷ, chui vào túi ngủ như chết. Nửa đêm bà cùng các cô gái mở cửa thành. Quân ông Đinh tràn vào. Đại binh của Lê Lợi phát từ Thanh Hoá ra phục ở bốn mặt thành cũng nhất tề nổi dậy, xông vào đánh giết quân Minh. Đến sáng sớm thì nghĩa quân hạ xong thành Cổ lộng. Thấy giặc chết ngổn ngang. Quân dân ta đem xác thù quẳng xuống cái kênh chảy dưới chân thành cho trôi ra sông Đáy. Đến nay nhân dân ở đấy còn quen gọi là Kênh Ma. Được tin báo, Lê Lợi cả mừng, giao thành cho vợ chồng bà Lương coi giữ. * * * Sau mười năm chống Minh thắng lợi, vua Lê đổi tên Lai cách là Bình cách, đặt cho thôn ở đầu canh tên gọi Thanh Khê (khe trong), thôn ở cuối kênh tên gọi Kinh Thanh (kênh trong) (tức là làng Kinh Thanh ở bên dưới bến đò Khuốt hiện nay) để đánh dấu cảnh đất nước thanh bình, không còn bóng giặc. Khi vua Lê hội họp quần thần ở điện Giảng Vũ để thưởng công lao đánh giặc, vua Lê ban thưởng cho bà trước tiên, phong bà là Kiến Quốc phu nhân ("Người đàn bà dựng nước"), thưởng cho bà 200 mẫu ruộng ở phía Đông thành theo lời xin của bà vì làng Chuế Cầu quê bà đất hẹp, người đông..

<span class='text_page_counter'>(14)</span> Năm 1432 bà mất, vua Lê sai quan về tận nơi làm lễ tế và cấp thêm 100 mẫu ruộng thờ. Năm 1469 vua Lê lại sai quan về lập đền thờ bà, và sai nhà văn kiêm nhà viết sử Lê Tung ghi chép sự tích bà. Bài thơ ca tụng công đức của bà như sau: Vĩ đại thay người đàn bà giỏi, Chí khí mạnh ngang vạn quân! Giặc Ngô cướp giữ ở thành Cổ lộng. Vua ta khởi nghĩa lên, Bà dốc chí theo về. Quân ta oai hùng đánh mạnh, Thành công như thắt nút túi Cầm bút chép sử nước Việt Danh tiếng bà nganh với Trương vương. Lập miếu đền tế bà, Tiếng tăm bà truyền lại nghìn đời! * * * Ngày nay nền thành Cổ lộng chỉ còn là cánh đồng ngô, khoai, dâu, dưa xanh tốt. Xa xa, nước sông Đáy trong xanh đã rửa sạch mối hận thù của dân ta đối với giặc Minh xâm lược. Nhưng cỏ xanh mọc quanh thành vẫn không che nổi bộ mặt xấu hổ của tên tướng Mộc Thạnh cùng bè lũ xâm lược. Chúng đã xây thành kiên cố mong đóng giữ lâu dài ở nơi đây, nhưng nhân dân địa phương do một phụ nữ đảm đang, anh hùng đứng đầu đã vùng dậy phá thành, vùi xác giực xuống bùn đen vạn kiếp.. nguyễn trãi người anh hùng dân tộc vẻ vang Nguyễn Trãi sinh năm 1380 ở kinh đô Thăng Long trong dinh ông ngoại là Trần Nguyên Đán, một nhà quý tộc lớn triều Trần. Cha ông - Nguyễn Phi Khanh vốn là một học trò thông minh, học giỏi nhưng nhà nghèo, phải vừa dạy học, vừa học tại làng Nhị Khê (Thượng Tín, Hà Tây) và về sau trở thành dân làng đó, Trần Nguyên Đán biết tiếng ông, đón về dinh kèm dạy con gái. Người con gái đó sau lấy thầy học, sinh ra Nguyễn Trãi. Từ bé, Nguyễn Trãi đã rất thông minh chăm học.

<span class='text_page_counter'>(15)</span> dưới sự dạy dỗ của cha. năm 1400, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần và mở khoa thi thứ nhất, ông thi đậu tiến sĩ và cùng cha ra làm quan với nhà Hồ. Quân Minh sang xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly ra sức chống địch nhưng cuối cùng thất bại. Phi Khanh cùng nhiều người khác bị giặc bắt đóng cũi giải về Trung Quốc. Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em trai Phi Hùng lẽo đẽo đi theo xe tù. Đến ải Nam quan giữa biên giới hai nước, Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi quay về và dạn dò: "Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là con hiếu, lọ là cứ phải đi theo cha khóc lóc...". Nguyễn Trãi nghe lơid cha quay trở lại. Đấy là lần cuối cùng ông được thấy mặt cha! Trở về thành Đông quan (Hà Nội), ông bị sa vào tay giặc Minh. Tướng gặic là Trương Phụ dụ dỗ ông ra làm quan với chúng Nguyễn Trãi khéo léo nhưng cương quyết chối từ. Tức giận, Trương Phụ toan giết ông. Nhưng thượng thư giặc là Hoàng Thúc khôn ngoan mưu mẹo, muốn tiếp tục dụ dỗ ông nên thả ông ra, nhưng lại giam lỏng ông trong thành Đông quan, ngăn cản ông tiếp xúc với những phong trào yêu nước bên ngoài. Gần chục năm ở Đông quan, Nguyễn Trãi sống vô cùng thiếu thốn: Góc thành Nam lều một gian, No nước uống thiếu lương ăn. Nhưng đấy cũng là thời kỳ ông được thấy tận mắt những tội ác tày trời của quân giặc, nung nấu chí căm thù và lòng quyết chiến. Năm 1417 Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn rủ nhau trốn vào Lam Sơn tìm Lê Lợi. Ông đã tìm ra con đường phải đi sau mười năm suy ngẫm ở Đông quan: Phát động nhân dân đấu tranh vũ trang chống địch, giải phóng đất nước. Và bỗng nhiên một hôm người ta thấy xuất hiện trên nhiều lá cây ở rừng núi Lam Sơn những chữ "Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi". Câu ghi trên đó như một lời sấm truyền, một quyết định của trời. Thật ra đấy là một cách tuyên truyền của Nguyễn Trãi: Ông cho lấy mỡ viết chữ trên lá cây, kiến ăn mở khoét thành chữ. Lá rụng, dân đi đường nhặt được, người nọ bảo người kia và dần dần tìm đến thủ lĩnh Lạm Sơn Lê Lợi ngày một đông. Đấy là cách "đánh vào lòng người" mà ông còn áp dụng nhiều lần nữa về sau này và đã chiếm được lòng dân ngay từ những buổi trước khởi nghĩa. Trong những ngày chờ đợi phất cờ khởi nghĩa, ông mở lớp huấn luyện quân sự cho các chỉ huy nghĩa quân. Ông còn mở lớp dạy học cho trẻ con vùng, thường chế ra những cái trống con, lại nấu mật đặc nặn ra những hình con.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> gà, con chó cho trẻ con làm đồ chơi. Các em mến Nguyễn Trãi, đua nhau nói với bố mẹ đến xin theo học. Vào đầu xuân 1418, cờ khởi nghĩa phất cao ở rừng núi Lam Sơn. Từ đó Nguyễn Trãi cùng Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Thận, Trịnh Khả, Nguyễn Xí v.v...gắn liền cuộc đời mình hơn nữa với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mười năm khởi nghĩa, Nguyễn Trãi ở trong bộ tham mưu luôn luôn sát cánh cùng Lê Lợi, bàn luận mọi đường lối, phươnh châm, chính sách chính trị và quân sự. Chính tay ông đã thảo ra mọi thư từ và mệnh lệnh của nghĩa quân. Văn thơ của ông lại có giá trị như những đội quân thiện chiến, tính chiến đấu rất cao, xuyên qua mọi hào luỹ, đánh thẳng vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm quân thù. Nguyễn Trãi là một nhà văn học đại tài của thế kỷ XV, đồng thời ông cũng là một nhà chính trị và quân sự xuất sắc. Ông hết sức chú trọng đến tính chất chính nghĩa, nhân đạo của cuộc chiến tranh yêu nước. Ông nói: "Phàm mưu đồ việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, lập nên công lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu". Ông vạch trần tính chất phi nghĩa dối trá của lũ giặc "Nước mày mượn cái tiếng thương dân đánh kẻ có tội" để thoả cái thực "cướp của giết người", xâm đoạt bờ cỏi ta, săn bắn nhân dân ta, thuế nặng hình nhiều, dầu kẻ dân lành trong thôn xóm cũng không yên sống, nhân nghĩa mà thế ư?". Dưới sự chỉ đạo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, nghĩa quân hết sức đoàn kết, "thết quân rượu hoà ước, trên dưới đều một bụng cha con", chiến đấu dũng cảm, chịu đựng gian khổ, gắn bó với nhân dân do đó chiến thắng liên tiếp. Khi quân khởi nghĩa thế đã mạnh như chẻ tre thì Nguyễn Trãi dùng ngòi bút nhân nghĩa viết thư dụ địch hàng, hạ được nhiều thành mà không mất một mũi tên, phát đạn nào. * * * Sau khi đánh thắng giặc Minh, đuổi chúng ra ngoài bờ cỏi, Nguyễn Trãi làm qua ta trong triều đình nhà Lê. Ông rất ngay thẳng không ích kỷ, không ham lợi, ghét độc ác bạo ngược: ... Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược Có nhân, có trí, có anh hùng. Do tác phong ngay thẳng của ông, mực dầu làm quan to ông vẫn nghèo: ... Đọc sách mười năm còn kiết mãi Ăn không rau đậu chẳng chiên ngồi ... Bữa ăn dù có dưa muối áo mặc nài chi gấm là..

<span class='text_page_counter'>(17)</span> Bấy giờ trong triều đình nhà Lê đầy rẫy bọn gian thần, bọn quan lại tham ô, làm việc thì trễ biếng, chỉ chuyên đục khoét vơ vét của dân. Nguyễn Trãi đã mắng vào mặt bọn này; "Các ông chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của dân cho nhiều...", "mỗi khi có việc tâu vua chỉ thấy bàn sự đục khoét của dân cho nặng để làm giàu cho kho công cốt làm cho vui lòng vua". Nguyễn Trãi rất yêu mến nhân dân. Ông tuyên bố "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" và ông vì dân mà chiến đấu: ... Nhớ xưa ở Lam Sơn đọc binh thư Đường lúc đó chỉ đã ở nơi dân Để tâm đến nhân dân: lo trước điều thiên hạ lo. Khi vui hưởng thái bình, vua Lê sai ông sáng tác âm nhạc, ông nói: "Dám mong bệ hạ rủ lòng thương và chăm sóc muôn dân, khiến trong thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc..." Nhưng giai cấp thống trị sống được là nhờ áp bức, bóc lột nhân dân, không thể làm theo những mong muốn cao quý của Nguyễn Trãi. Mấy năm sau hoà bình vua Lê và bọn gian thần đã đền đáp công ơn những người xông pha mũi tên hòn đạn để dựng lên cơ nghiệp nhà Lê bằng cách chặt đầu hoặc cho uống thuốc độc: Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo... lần lượt bị giết. Nguyễn Trãi có lần bị tống giam và cũng suýt bị giết chết. Việc đời trái với lòng mình, Nguyễn Trãi xin thôi việc làm quan, về ở ẩn tại núi Côn Sơn (Chí Linh, Hải Hưng) năm 1439. ... Làm nhà dưới mây núi, Múc nước pha trà kể đá ngủ! Nguyễn Trãi về nhà riêng chưa được bao lâu thì Lê Thái Tông lại vời ông ra làm việc (1440). Nguyễn Trãi từ chối không được bất đắc dĩ lại phải ra nhưng vẫn thường ở tại Côn Sơn. Chẳng bao lâu sau, ngày 19 tháng 9 năm 1442 Nguyễn Trãi và toàn thể gia đình đã phải rụng đầu dưới lưỡi dao oan nghiệt. Chung quanh cái chết oan khốc của Nguyễn Trãi, dư luận xưa nay bàn tán rất nhiều. Sự việc mở đầu bằng biến cố ở Lệ Chi Viên (trại Vải). Mùa thu năm 1442, Lê Thái Tông đi duyệt võ ở thành Chi Linh về ghé vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Sau đó vua Lê trên đường trở lại Thăng Long truyền cho vợ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Ngày 4 tháng 8, Lê Thái Tông về tới Gia Định (Gia Lương, Hà Bắc) nghỉ lại một đêm ở vườn Lệ chi làng Đại Lai. Nửa đêm hôm ấy, thốt nhiên vua chết. Các quan theo hầu vội bí mật đưa thi hài vua về kinh mới loan báo tin dữ. Bọn quan lại trong triều vốn sẵn hiềm thù và ghét ghen tài đức Nguyễn Trãi, liền nhân cơ hội đó vu khống rằng Nguyễn Trãi đã bày mưu cho Thị Lộ đầu độc.

<span class='text_page_counter'>(18)</span> vua Lê. Thị Lộ bị tống giam ngay vào ngục. Nguyễn Trãi đang đi kinh lý ở miền xa nghe tin dữ vội quay về thì cũng bị bắt ngay. Ngày 16 tháng 8, bọn quyền thần mạng vụ án Thị Lộ ra xét xử. Trước sau bọn quan toà chỉ hỏi Thị Lộ một câu: "Có phải mày đã tiến độc cho đức vua và kẻ chủ mưu việc đó là Nguyễn Trãi phải không?" Thị Lộ kêu oan. Nhưng sau nhiều lần bị tra tấn dữ dội không chịu nổi, Thị Lộ buộc phải nhận như y câu hỏi của quan toà đặt ra. Thế là Nguyễn Trãi không còn cách nào giải toả nổi oan. Ông bị lên án tru di tam tộc. Nguyễn Trãi sống trong ngục những ngày cuối cùng với tâm trạng cực kỳ đau xót. Ông đã chết vì lòng ngay thẳng "sáng như sao" khiến bọn gian thần phong kiến ghen ghét và bày trò vu cáo tội lỗi cho ông. Hai mươi hai năm sau, năm 1464, Lê Thánh Tông - người đã được Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cứu sống cả mẹ lẫn con - mới xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi. Triều đình phong kiến sau khi đã giết chết người anh hùng dân tộc của chúng ta, giờ đây mới chính thức công nhận lỗi lầm.. phong kiến suy tàn khởi nghĩa nông dân đàng ngoài thứ nhất kinh kỳ thứ nhì phố hiến. Vui nhất kinh kỳ... Hoàng thành Thăng Long thời vua Lê được mở rộng gấp đôi thời Lý - Trần, có những cung điện, lâu đài bằng cẩm thạch, có vườn bách thú và nhiều núi giả hồ ao, đền miếu... Đê Đại la đắp quanh kinh thành được sửa sang vững vàng, lại đắp thêm ba lần hào luỹ, vừa phòng lụt, vừa phòng giặc giã. Mặt đê là đường xe ngựa đi, phía ngoài là hàng rào tre kín mít. Trong hào thả chông. Rải rác trên thành có đồn canh, Nơi nào cũng có quân lính sắp hàng gươm súng sáng quắc. Quan lại, quân sĩ ở khu vực phía Nam. Riêng phủ chúa Trịnh đã gồm 52 cung điện lớn và đều hướng về phía Hồ Hoàn Kiếm. Khu vực nhân dân ở gần ba mươi sáu phố phường sầm uất. Rải rác đã có những nhà hai tầng. Trên tầng gác còn bắc thêm giá cao phòng khi có lụt. Từ thế kỷ XVII, tại các phường phố Thăng Long đã có nhiều người phương Tây tới buôn bán. Họ có cửa hiệu ở phía bờ sông Hồng như cửa hiệu của người Hà Lan, người Anh... cảnh buôn bán ở Thăng Long còn mang tên Kẻ Chợ. Phố ở Kẻ.

<span class='text_page_counter'>(19)</span> Chợ rộng và đẹp, lát gạch từng khoảng dài cho khách đi bộ, còn để những lối đi không lát cho ngựa, voi, xe của vua quan và các súc vật khác. Hàng hoá bán trong thành phố đều mỗi thứ bán riêng ở một phố, mỗi phố lại dành cho một, hai hay nhiều làng. Chỉ có những người làng ấy mới được phép mở cửa hàng tại đó. Thuyền buôn từ Thanh - Nghệ và các trấn ở miền Nam lên, từ mạn ngược xuôi về nhộn nhịp đầy sông Hồng và sông Tô Lịch. Một người ngoại quốc đến Kẻ Chợ ở thế kỷ XVIII nói rằng số lượng thuyền bè lớn đến nổi rất khó mà lội được xuống bờ sông! Phố phường Thăng Long đặc biệt đông vui trong những ngày mồng một và ngày rằm âm lịch. Đấy là những ngày phiên chợ. Nhân dân các làng lân cận đem hàng hoá đổ về Thăng Long đông không tưởng tượng được. Nhiều phố vốn rộng rãi quang đãng mà khi ấy cũng chật ních người, đôi khi lách chân vào trong đám đông, chỉ bước dần được chừng trăm bước trong nữa giờ cũng đã cảm thấy sung sướng lắm rồi. ... Thứ nhì phố Hiến Cách đây ba trăm năm con sông Hồng còn chảy ngay sát chân đê thuộc thị xã Hưng Yên ngày nay. Đê ấy ôm vòng lấy một khu đất đai mầu mỡ thuộc các làng Mậu Dương, Lưỡng Điền, Phương Cai, Nhĩ Châu... ngày trước. Đứng trên đê, người ta không khỏi náo nức về cái cảnh tấp nập trên bến dưới thuyền của phố Hiến, nơi tập trung khách buôn ngoại quốc. Thuyền đi song, đi biển của ta, thuyền biển đủ các kiểu của Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm La, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... đậu chen chúc dưới bến sông. Người vận chuyển hàng hoá, kẻ kéo neo, sửa thuyền, làm việc tấp nập, ồn ào... Nhìn vào phía trong đê, người ta thấy cả một đô thị, cửa nhà san sát, đường ngang dãy dọc. Phố chính chạy dọc theo con đê gọi là phố Khách hay phố Hiến. Đấy là nơi ở và buôn bán của lái buôn Trung Quốc, Nhật, Xiêm... Cắt ngang đường phố chính, sát bên hồ Bán Nguyệt và đền Trần Hưng Đạo là phố Hữu Môn và phố Hậu Tràng. Đấy cũng là hai phố đông đúc, nhà cửa chen nhau. Ngoài ra còn những phố buôn bán khác, ước chừng có cả thảy mười phố. Bên ngoài đường phố chính về phía đê sông Hồng là khu thương điểm của người Âu. Năm 1637 người Hà Lan, năm 1673, người Anh, năm 1680 người Pháp lần lượt đến mở thương điểm ở đây. Mặc dầu phố Hiến có quan cai trị, có lính đóng đồn nhưng lái buôn châu Âu vẫn nơm nớp lo cho cái túi buôn của họ. Họ đào thêm hào sâu chunh quanh khu thương điểm, dẫn nước từ sông Hồng vào. Thương điểm Hà Lan còn có cả lính canh riêng..

<span class='text_page_counter'>(20)</span> Hai hạng lái buôn Âu - á sống riêng biệt, theo phong tục tập quán và luật lệ riêng của nước mình. * * * Tàu thuyền nước ngoài đến vào vụ gió bấc và nhổ neo đi vào vụ gió nồm. Lái buôn ngoại quốc mang len dạ, châu báu, đồ pha lê, đồng hồ, ống nhòm và súng ống đạn dược đến bán cho vua chúa Việt Nam để dùng trong quốc phòng và trong đời sống xa xỉ hàng ngày. Hàng nhập khẩu còn có cả soong nồi, thuốc bắc, thuốc tây, chè tàu, miến... khi đói kém, lái buôn nước ngoài đem cả gạo đến bán kiếm lời... Mỗi chuyến tàu hàng ngoại quốc cập bến, lái buôn ngoại quốc phải nộp lễ vật cho vua chúa, quan lại, phải ưu tiên bán hàng cho vua quan. Súng ống, đồ châu báu quý lạ không được bán cho dân chúng. Trong khi buôn bán, người ta dùng bạc nén, vàng thoi hay tiền đồng (song phần nhiều là bạc nén) để trao đổi. Cũng có khi người ta dùng hàng này đổi ngay lấy hàng khác không phải dùng tiền. Lái buôn ngoại quốc mua của ta khá nhiều mặt hàng. Vua chúa bán cho chúng trầm hương, ngà voi, yến sào, quế, sừng tê... dân chúng được phép bán tơ lụa, sa the, đường, sa nhân, nấm hương, gỗ quý, củ nâu, sơn và các hải sản như: vây, cá khô, tôm khô, hải sâm, đồi mồi, ngọc trai... lái buôn tranh giành nhau để mua được nhiều, được rẻ. Giữa chúng thường xảy ra cạnh tranh, xích mích, hằn thù, chiếm đoạt... lái buôn Anh và Hà Lan ở thế kỷ XVII đã từng gây ra những vụ chặn tàu thuyền của nhau, cướp hàng, thậm chí còn phá phách cả thương điểm của nhau. Việc buôn bán ở phố Hiến phồn thịnh nhất vào thế kỷ XVII. Sang thế kỷ XVIII, khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã kết thúc, nhu cầu súng đạn không cấp thiết nữa, chúa Trịnh lại quay về vời chính sách hạn chế buôn bán với nước ngoài. Phố Hiến dần dần trở nên tiêu điều rồi bị bỏ hẳn. hải thượng lãn ông, một thầy thuốc giỏi, một nhà văn Hải thượng Lãn Ông (1720-1791) tên huý là Lê Hữu Trác, nguyên quán ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương, con ông Lê Hữu Mưu, đậu tiến sĩ, làm thượng thư đời Lê Dụ Tông. Lúc nhỏ, theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long, Lãn Ông đã nổi tiếng thông minh lỗi lạc. Khi 20 tuổi, cha mất ông thôi học về nhà. ít lâu sau bị ốm nặng, dưỡng bệnh hơn một năm. Lãn Ông bắt đầu chú ý đọc sách thuốc. Được ông lang họ Trần ở làng Đậu Xá cùng huyện giúp đỡ, càng ngày ông càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa của.

<span class='text_page_counter'>(21)</span> nền y học. Ông tự học và bắt đầu chữa bệnh. Ông nghiên cứu rất sâu các bộ sách thuốc cổ và dựa vào kinh nghiệm bản thân mà đề ra các phương pháp điều trị. Ông theo dõi rất sát các bệnh ông chữa, ghi chép tỉ mỉ các bệnh án điển hình. Ông còn lập đài quan sát chiều gió để nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu đối với bệnh tật. Ước mơ của ông là dân tộc Việt Nam phải có một nền y học có hệ thống và hoàn chỉnh. Sẵn có tinh thần tự lực cánh sinh mạnh mẽ, ông cố công sưu tầm, ghi chép các cây thuốc quý trong nước, bỏ tiền ra mua các bài thuốc gia truyền, nghiên cứu kinh nghiệm y học dân gian, viết thành sách để truyền bá rộng rãi. Ông mạnh dạn dùng thuốc trong nước vào viện chữa bệnh, phòng bệnh và hô hào mọi người hãy yêu quý vốn y học dân tộc. Đánh giá cao nghề thuốc, Lãn Ông thường nói: "Phương pháp dùng thuốc giống như phương pháp dùng binh". Ông quyết tâm dùng nghề y để phục vụ nhân dân. Đối với người bệnh dù nặng đến mấy, ông cũng hết sức cưú chữa với tinh thần "còn nước còn tát". Đối với người nghèo, ngoài việc cho thuốc không lấy tiền, ông còn giúp đỡ gạo tiền. Ông nói: " Đạo làm thuốc... có nhiệm vụ giữ gìn tính mệnh cho người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người. Chỉ lấy việc giúp người làm phận sự của mình mà không cầu lợi kể công" Khi cần chữa bệnh, ông đi bộ ba bốn chục cây số, trèo núi, vượt suối giữa đêm mưa, gió rét vẫn vui vẽ. Ông không hề phân biệt địa vị xã hội; ai bệnh nguy cấp ông thăm trước, bệnh nhẹ thăm sau. Mùa xuân năm 1782 chúa Trịnh Sâm nghe tiếng, vời ông lên kinh chữa bệnh cho con là Trịnh Cân. Nghe tin ông về Thăng Long, các quan lại, sĩ phu ở kinh đô no nức kéo nhau đến mời ông chữa bệnh hoặc hoạ thơ. Các bệnh phần nhiều được ông chữa khỏi, thơ ông lại hay. Danh tiếng Lãn Ông càng vang lừng. Tuy nổi tiếng xa gần, Lãn Ông vẫn luôn luôn khiêm tốn học hỏi người chung quanh, dù nhỏ đến đâu ông cũng coi trọng. Kinh nghiệm y học nước ngoài cái nào có giá trị ông đều ghi chép cẩn thận. Ông rất coi trọng viện vệ sinh phòng bệnh, có viết cuốn "Vệ sinh yếu quyết" và nghiên cứu các phương pháp nghĩ ngơi, luyện khí lực. Bốn mươi năm trong nghề, với ông nhân đạo và óc sáng tạo lớn lao, Lãn Ông luôn muốn lo lắng cho sự nghiệp y học của dân tộc. Ông đã tổng kết kinh nghiệm y học Việt Nam và kinh nghiệm làm thuốc của bản thân viết thành bộ sách thuốc " Y tôn tâm linh" gồm 66 quyển đến nay còn nhiều giá trị. Lãn Ông không những là một thầy thuốc giỏi mà còn là một nhà thơ và nhà văn hay. Ông dùng thơ để vạch rõ xã hội phong kiến thời Lê mạt và cũng viết nhiều.

<span class='text_page_counter'>(22)</span> bài thơ nói lên lòng yêu thương của ông đối với người bệnh. Xin nêu một bài sau đây: Người xưa lúc ốm chỉ ưa nhàn Mình ốm sao mà chẳng chút yên Gọi cửa biết ngay người hỏi thuốc Vui lòng khi vắng tiếng đau rên Thôn Đông vừa khỏi cơn nguy cấp Xóm Bắc còn lo thể đảo điên. Vất vả phải đâu mong hậu báo Cứu người nghĩa trọng dám khinh phiên Thơ văn của ông có giá trị trong lịch sử văn học Việt Nam. Cuộc đời của Lãn Ông là một bài học lớn. Ông chỉ lo việc giúp ích cho đời, không màng danh lợi. Lãn Ông thật là một tấm gương sáng ngời tinh thần nhân đạo và yêu nước! (Theo báo Tổ quốc 1 - 1966 và Thượng kinh ký sự). tài đức quận he Quận He Nguyễn Hữu Cầu người làng Lôi Dương huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương. Mồ côi cha từ thuở nhỏ, nhà nghèo, Nguyễn Hữu Cầu được mẹ thắt lưng buộc bụng cố gắng nuôi cho ăn học. Nguyễn Hữu Cầu là bạn cùng học với Phạm Đình Trọng và sau này là kẻ thù không đội trời chung với tên tay sai trung thành của phong kiến Lê Trịnh này. Nguyễn Hữu Cầu lớn lên giữa thời kỳ loạn lạc, Miền Hải Dương liền 2 năm (1740 - 1741) mất mùa, đói kém. Phần bị bọn địa chủ bóc lột tận xương tuỷ, phần bị thiên tai, nhân dân sống không có ngày mai, là con em nông dân, cảnh đói khổ của nông dân đập mạnh vào óc căm uất của Cầu. Từ bé, Cầu đã để lộ tính khí ngang tàng: Hồi còn cùng Phạm Đình Trọng đi học, mỗi khi theo thầy học đi đâu, học trò phải xách dép hầu thầy. Đến lượt Cầu, bao giờ Cầu cũng chỉ xách một chiếc còn một chiếc "nhường" cho Trọng! Nhưng chú bé Cầu cũng giàu tâm hồn nghệ sĩ: ngồi trên lưng trâu, chú thổi sáo rất hay... Lớn lên, Cầu tham gia vào cuộc khởi nghĩa nông dân Ninh Xá dưới sự lãnh đạo của anh em Nguyễn Cừ, Cầu là kiện tướng dưới cờ "Ninh Dân", được Nguyễn Cừ gả con gái cho. Sau khi cờ "Ninh Dân" bị hạ (1741), Nguyễn Hữu Cầu đảm nhận việc duy trì và phát triển cuộc khởi nghĩa..

<span class='text_page_counter'>(23)</span> Nguyễn Hữu Cầu có nhiều tài năng và trí mưu đặc biệt. Theo sử cũ, Nguyễn Hữu Cầu là người khoẻ mạnh nhanh nhẹn giỏi võ, chiến đấu hăng... Nhiều lần ông bị vây mấy vòng, chỉ một mình một ngựa phá vây xông ra, vài hôm sau lại có quần chúng hàng vạn. Khi ra trận, một mình cưỡi ngựa, cầm dao mác, đi lại như bay, quân sĩ triều đình không ai là không sợ hãi, đến các tướng của triều đình cũng phải tránh oai phong của ông. Nguyễn Hữu Cầu không những giỏi đánh bộ mà còn rất tài đánh dưới nước. Ông bơi lội rất giỏi, có thể lặn dưới nước rất lâu. Ban đêm Nguyễn Hữu Cầu thường lặn xuống nước, tìm tới đục thuyền địch hoặc leo lên giết quân tướng nhà Trịnh. Thuyền địch đóng ở đâu, phải trải chiếu khắo mặt sông xung quanh đoàn thuyền để đề phòng Nguyễn Hữu Cầu lặn tới đánh đột kích. Quần chúng nông dân chài tặng cho ông danh hiệu "Quận He" là ví ông với con cá he, một loài cá biển bơi nhanh, rất đẹp. Quân tướng nhà Trịnh đã phải nếm nhiều lần thất bại về thuỷ chiến với Nguyễn Hữu Cầu, Năm 1742, Cầu đánh tan thuỷ quân nhà Trịnh ở bến sông Cát Bạc (Kiến Thuỵ, Hải Phòng), viên đốc lãnh thuỷ quân Trịnh Bảng bị hơn chục vết thương và bị bắt sống. Liền năm sau, 1743, tại Đồ Sơn là căn cứ của nghĩa quân, Nguyễn Hữu Cầu lại đánh tan thuỷ quân phong kiến, giết chết tại trận tướng địch Trịnh Bá Khâm. Không chỉ là một chiến sĩ giỏi đánh bộ, giỏi đánh thuỷ, Nguyễn Hữu Cầu còn là một tướng cầm quân giỏi, hết sức mau lẹ, lấy ít địch nhiều. Nghĩa quân của ông nay ở đây, mai ở đó, nay đánh chỗ này, mai đánh chỗ khác khiến địch không kịp trở tay. Năm 1744 đại tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đem đại binh bao vây căn cứ Đồ Sơn, Nguyễn Hữu Cầu để mặc quân tướng nhà Trịnh vây giữ 5, 6 tháng. Rồi đột nhiên, Nguyễn Hữu Cầu đánh phá vòng vây, mở đường đưa toàn quân tiến nhanh lên Kinh Bắc, chiếm giữ Bắc Giang, đánh xuống thành Kinh Bắc. Tướng địch ở những nơi này không kịp trở tay, vứt cả ấn tín, chạy thoát lấy thân về Thăng Long, Hoàng Ngũ Phúc ở Đồ Sơn chạy theo không kịp. Nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu làm chủ vùng Kinh Bắc trong gần một năm và đã đánh tan nhiều cuộc phản công lớn của địch. Khoảng cuối năm 1748, Nguyễn Hữu Cầu sang đánh địch ở Duyên Hà (Thái Bình) đột nhiên quay lên đánh Cẩm Giàng (Hải Hưng). Tuy bị thất bại, nhưng ngay sau đó, Nguyễn Hữu Cầu lợi dụng địch chủ quan đã hành quân cấp tốc suốt đêm tới canh năm đến bến Bồ Đề (Gia Lâm) vượt sông Hồng tập kích Thăng Long. Quân tướng nhà Trịnh lại phải một phen chống đỡ vô cùng vất vả. Nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu tung hoành ngang dọc khắp vùng đồng bằng, trong hơn mười năm sát bên cạnh địch mặc cho địch án ngữ khắp nơi. Sở dĩ như.

<span class='text_page_counter'>(24)</span> vậy là vì Nguyễn Hữu Cầu được dân cày nghèo ủng hộ nhiệt liệt. Và phẩm chất cao quý nhất của Nguyễn Hữu Cầu cũng là chổ ông gắn bó mật thiết với nhân dân. Không phải chỉ vì tài giỏi mà vài hôm trước Nguyễn Hữu Cầu một mình một ngựa thoát vòng vây địch, vài hôm sau đã có trong tay hàng vạn nghĩa quân! Ông khởi nghĩa giữa lúc quân dân bị đói. Ngày từ những ngày đầu phất cờ khởi nghĩa, Nguyễn Hữu Cầu đã nhận nhiệm vụ cứu đói cho dân. Ông nêu khẩu hiệu: "Lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo". Nghĩa quân đánh chiếm thóc gạo của bọn địa chủ, bọn lái buôn giàu có chia cho dân nghèo, nhờ đấy nhiều người được cứu sống. Trong hàng ngũ nghĩa quân, tất thảy đều là dân nghèo. Thủ lĩnh Nguyễn Hữu Cầu cũng không hề xưng đế, xưng vương, lập triều đình, đặt quan chức gì cả. Trước sau ông chỉ mạng một danh hiệu "Đông đạo thống quốc bảo dân đại tướng quân" tức chỉ nhận mình một viên tướng cầm quân để bảo vệ nhân dân. Cử chỉ ấy của Nguyễn Hữu Cầu thật là khiêm tốn, giản dị. Bảo vệ quyền lợi dân nghèo, đấy cũng là mục tiêu của cuọc khởi nghĩa nông dân. * * * Năm 1751 Nguyễn Hữu Cầu bị bắt ở chân núi Hoàng Mai (Nghệ An) và bị đóng cũi giải về kinh. Trong những ngày bị gông cùm ở Thăng Long, Nguyễn Hữu Cầu định vượt ngục để trở về với nhân dân nhưng không thành công. Vào một ngày tháng 3 năm 1751, Quận He Nguyễn Hữu Cầu bị bọn phong kiến Lê - Trịnh xử tử cùng một lần cùng với lãnh tụ nông dân Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương. Trong thời gian bị giam cầm, ông có làm bài thơ "Chim trong lồng". Đọc những câu thơ: ... Hỡi sao sao luỵ cơ trần? Bận tài bay nhảy xót thân tang bồng Nào khi vỗ cánh rỉa lông Hót câu thiên túng trong vòng lao lung Chim oanh nọ vẫy vùng giậu bắc Đàn loan kia túc tắc cành nam. Mặc bay đông ngữ tây đàm Chờ khi phong tiện, rứt dàm vân lung Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán Phá vòng vây bạn với kim ô Giang sơn khách diệc tri hồ..

<span class='text_page_counter'>(25)</span> Chúng ta thấy cảm khái vô cùng và như thấy được cái chí hiên ngang bất khuất mà người anh hùng nông dân trẻ tuổi ấy vẫn còn giữ được cho tới phút chót của đời mình. bùi thi xuân, một nữ tướng anh dũng của tây sơn Nói đến những vỏ tướng xuất sắc của Tây Sơn, người ta phải kể tới Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, và đặc biệt không thể không nhắc tới Bùi Thị Xuân, một nữ tướng anh dũng tài trí vẹn toàn. Bùi Thị Xuân người phủ Quy Nhơn (Bình Định). Quy Nhơn cũng là quê hương thứ hai của anh em Tây Sơn. Trần Quang Diệu, chồng bà, là một võ tướng có tài, đã từng lập nhiều chiến công và được Quang Trung rất tin cậy. Dưới triều Quang Toản, Trần Quang Diệu giữ chức thiếu phó là một trong bốn đại thần của nhà Tây Sơn. Bùi Thị Xuân tuy không giữ chức tước gì, nhưng đã nhiều lần theo chồng xông pha nơi trận mạc và đã lập được nhiều chiến công oanh liệt. Tinh thần chiến đấu gan dạ, quả cảm của bà thể hiện rõ nhất trong trận luỹ Trấn Ninh vào đầu năm 1802. Bấy giờ Quang Trung đã mất, triều Tây Sơn đang suy yếu nhanh chóng. Trong khi đó, Nguyễn ánh được bọn địa chủ phản động trong nước và bọn tư bản Pháp giúp đỡ đã nhiều lần tấn công nhằm lật đổ triều Tây Sơn. Nguyễn ánh đã chiếm được thành Quy Nhơn và sau khi đánh chiếm được Phú Xuân, hắn lại đem quân tiến ra đánh chiếm miền Nam sông Gianh. Trước tình hình đó, Quang Toản phải dao cho Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng nhiệm vụ phản công lấy lại thành Quy Nhơn. Còn hai anh em Quang Toản và Quang Thuỳ thì ra Thăng Long để huy động lực lượng chuẩn bị chống lại Nguyễn ánh. Cuối năm 1801, Quang Toản đã huy động được hơn 30 000 quân, bè mở cuộc phản công lớn vào quân Nguyễn ánh ở miền Nam sông Gianh. Bùi Thị Xuân đem 5000 quân của mình tham gia trận phản công này. Quân Tây Sơn chia làm hai mặt thuỷ bộ phối hợp với nhau cùng tấn công. Bộ binh Tây Sơn do hai anh em Quang Toản và Bùi Thị Xuân chỉ huy đã tấn công rất mạnh vào luỹ Trấn Ninh và luỹ Đâu Mâu là những thành luỹ rất kiên cố. Quân Nguyễn ánh trong luỹ ra sức chống đỡ. Từ trên thành cao chùng bắn đại bác và lăn đá xuống như mưa không cho quân Tây Sơn tiến lên. Nhiều lần quân Tây Sơn xung phong cố tiến đến sát chân thành và bám chặt vào thành để leo lên nhưng đều bị đánh lui và bị thương vong rất.

<span class='text_page_counter'>(26)</span> nhiều. Anh em Quang Toản nhiều lúc nãn chí đã định lui quân. Nhưng Bùi Thị Xuân hết sức can ngăn và động viên quân sĩ quyết đánh đến cùng. Bà cưỡi voi, đi đầu thúc quân tiến đánh rất hăng, từ sáng đến quá trưa không hề mệt mỏi. Tinh thần quyết chiến và thái độ bình tĩnh gan dạ của bà đã có tác dụng động viên khích lệ rất lứon đối với toàn thể quan sĩ Tây Sơn. Nhưng, khoảng chiều tối, giữa lúc cuộc chiến đấu trên bộ ơ vào giai đoạn gay go quyết liệt nhất thì được tin thuỷ binh Tây Sơn đã bị đánh bại. Bộ binh vì thế hoang mang, tan vỡ mau chóng. Anh em Quang Toản vội rút chạy ra Thăng Long, còn Bùi Thị Xuân thì ở lại Nghệ An để thăm dò tình hình địch và chờ tin tức của chồng, Lúc đó, Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đã chiếm lại được thành Quy Nhơn, nhưng nghe tin Quang Toản thất bại, hai ông lại phải bỏ thành Quy Nhơn, đem quân trèo đèo vượt suối rút ra ngoài Bắc. Cuối cùng hai vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đều bị bắt ở đất Nghệ An. Sau khi lật đổ được nhà Tây Sơn, Nguyễn ánh đã dùng những hình thức tra tấn dã man nhất để trả thù các tướng tá và bà con thân thuộc của anh em Tây Sơn. Vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cũng chịu chung số phận đó. Chúng đã xử tử và cắt thịt hai vợ chồng ra từng mảnh. Hai đứa con thơ vô tội của bà cũng bị chúng giết chết. Nhưng trước những hình phạt hết sức man rợ và thảm khốc đó, Bùi Thị Xuân vẫn hiên ngang không chịu khuất phục. Cho đến phút cuối cùng của đời mình, bà vẫn giữ trọn được khí tiết anh hùng, bất khuất trước mặt kẻ thù. dưới chế độ phản động của nhà nguyễn chuyện phan bá vành Trên trời có ông sao vua ở dưới hạ giới có vua Bá Vành Đây là câu ca truyền tụng từ trước đến nay ở khắp nơi trên đồng bằng miền Bắc nước ta, nói về một lãnh tụ nông dân kiệt xuất: Phan Bá Vành. Vành người làng Minh Giám, nhà nghèo, bố mẹ mất sớm, đi ở chăn bò cho chủ, chẳng được học hành gì. Tính Vành lại nghịch ngợm, từ nhỏ đã tỏ ra có khí phách. Sáng sáng Vành cùng các bạn đánh trâu bò sang cánh đồng cỏ Mộ Đạc ở thôn bên để chăn dắt, mang theo gậy gộc tập trận giả. Các bạn giành cho Vành con trâu đầu đàn to khẻo nhất để Vành cưỡi đi đầu; tôn Vành làm tướng chỉ huy. Cũng có lúc cac sbạn dùng khố bao buộc vào gậy làm cáng, dùng lá sen làm lọng rước Vành ra bãi cỏ, các bạn cưỡi trâu bò theo sau làm quân sĩ....

<span class='text_page_counter'>(27)</span> Vành lớn lên giữa thời kỳ bà con nông dân trong làng, trong tỉnh, trong xứ Sốngs cực khổ dưới chế độ phong kiến phản động nhà Nguyễn. Liền ba năm (1824, 1825, 1826) tất cả miền đồng bằng và ven biển miền Bắc lâm vào nạn đói: thuế má rất nặng nề, nhiều xã thôn không vét đâu còn đồng tiền bát gạo mà nộp cho đủ số. Dân luôn luôn bị gọi đi phu phen, lính tráng, quá sức đảm đương, công việc đồng áng bị bỏ bê vì dân cày phải ra ruộng vườn nhà cửa, Quan phủ, quan huyện, quan toà... toàn một bọn tham ô. Năm 1824, toàn miền Tây Sơn, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình bị đại hạn, từ xuân đến hạ không mưa, lúa khoai đậu khô héo. Năm 1825 nước mặn tràn vào ruộng, có nơi không cấy được, có nơi cấy mà bị hạn. Sau đại hạn, ở Nam Định cũng như Nghệ An lại bị gió bão, thuyền chìm, nhà hư, người chết đuối nhiều. Năm 1826, 13 huyện thuộc Hải Dương bị đói, dân 108 làng phải bỏ nhà bỏ cửa đi lang thang kiếm ăn, ruộng bỏ hoang hết 12.700 mẫu. Dân khổ không sống nổi. Giữa luc đó Ba Vành xuất hiện ở núi Voi Phục (Hải Phòng, bấy giờ thuộc Hải Dương), hiệu triệu nhân dân chiêu quân, mộ tướng mưu khởi nghĩa. Khi đã được một số nghĩa quân, Ba Vành lại trở về Minh Giám quê nhà và tìm gặp và bàn bạc với Chiêu Liến là người vừa có võ nghệ, vừa có học thức, và Tổng Cầu là người lắm mưu, nhiều mẹo. Hai người cùng đồng tình với việc khởi nghĩa của Ba Vành. Tổng Cầu ở nhà lo việc tiếp tế lương thực cho nghĩa quân, còn tất cả trở ra núi Voi Phục làm lễ tế cờ khởi nghĩa. Hoạt động ở miền biển quanh núi Voi Phục ít lâu, Bá Vành kéo quân theo đường biển về cửa sông Trà Lý (Thái Bình). Về cửa Trà, Ba Vành có bờ biển rộng để tập luyện quân sĩ, đồng thời trấn giữ mặt biển phòng quân triều đình theo đường biển kéo vào đánh úp. ở đây Ba Vành càng tích cực việc chiêu quân và vận động quyên góp lương thực. Có một lần, Ba Vành đến một nhà giàu ở làng Cát Giả tên là Tri Đạo để quyên tiền và thóc. Tri Đạo bày tiệc rượu thết Vành và muốn thử tài Vành. Vành bảo Tri Đạo cho người đẽo mười cái lao nhọn bằng tre đặt cạnh mâm rượu. Từ đó nhìn ra ngoài, qua một cái sân rộng, một cái vườn dài đến cái ao to. Bên kia bờ ao là bụi chuối, Ba Vành dùng lao phóng, mười cái trúng cả mười, lao cắp gập đều đặn từ ngọn chuối xuống đến gốc. Tri Đạo sợ phục, đem cả tiền thóc nộp cho Ba Vành. Quân triều đình cho Đặng Đình Miễn và Nguyễn Trung Diễn chỉ huy từ Nam Định kéo đến đánh nghĩa quân. Gặp ngày Ba Vành cùng mấy tướng tá về làng Minh Giám ăn giỗ bố, quân quan phục kích ở trại Đồng Quan, thôn Phú Cốc (xã Nam Bình, huyện Kiến Xương), gần làng Minh Giám. Được tin báo, Ba Vành dừng.

<span class='text_page_counter'>(28)</span> ngựa vào làng vận động nhân dân chặt tre làm gậy, làm lao đánh tan hàng trăm quân triều đình, bắt sống và giết chết hai tên chỉ huy tại trận. Từ đó tiếng tăm Ba Vành càng lừng lẫy, dân chúng theo ông có hàng vạn. Tên trấn thủ Nam Định là Lê Mậu Cúc vội đem một số quân lớn đi đánh Ba Vành. Ba Vành để cho Lê Mậu Cúc kéo quân đến tận cửa Trà bao vây doanh trại nghĩa quân. Nghĩa quân đang đà thắng lợi, vừa phấn khởi vừa đông đảo, theo lệnh Ba Vành phản công ngay quân triều đình. Không đầy một ngày, tên trấn thủ Lê Mậu Cúc bị bắn chết tại trận, quân lính của vua quan phong kiến chết rất nhiều, một số chạy sang hàng ngũ nghĩa quân, số còn lại bỏ chạy toán loạn. Thế là một lần nữa uy thế của nông dân đã áp đảo được bọn quan quân phong kiến. Bấy giờ tháng 3 năm 1826. Sau khi ăn mừng chiến thắng, Ba Vành rời cửa Trà kéo một cánh quân sang Trà Lũ (thôn Trà Lũ, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Hà). Trà Lũ là đất đô vật, có nhiều người khoẻ, giỏi võ. Tướng tá và quân sĩ của Ba Vành có nhiều người quê ở Trà Lũ. Về đây Ba Vành được dân cày ủng hộ nhiệt liệt. Nghĩa quân cùng dân làng đào hào, đắp luỹ, khơi sông ngòi cho tiện việc giao thông và cày cấy. Trà Lũ trở thành đại bản doanh của nghĩa quân. Suốt năm 1826, hàng vạn nghĩa quân Ba Vàng hoạt động suốt một dải đồng bằng ven bể từ Nam Định tới Hải Phòng đánh phá các phủ huyện, lấy của nhà giàu chia cấp cho dân nghèo. Mùa đông năm 1826, nghĩa quân đánh hai huyện Nghi Dương và Tiên Minh thuộc Hải Dương. Viên trấn thủ Nguyễn Đăng Huyên đem quân đánh nghĩa quân, bị thua nặng. Từ Huế nghe dồn dập toàn tin thất bại vua Minh Mạng vô cùng lo sợ. Hắn triệu tập quần thần hội họp, bàn bạc và quyết định điều một loạt tướng tá có tài với một lực lượng quân đội lớn hòng trấn áp cuộc khởi nghĩa nông dân. Cơ quan tham mưu quân sự ở ngoài Bắc được tổ chức lại. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Hữu Thận, cùng thống chế Trương Văn Minh coi quân lực Bắc thành không đàn áp nổi nghĩa quân. Vua Minh Mạng vội điều thêm hai viên quan cao cấp là tham hiệp Thanh Hoá Nguyễn Công Trứ, tham hiệp Nghệ An Nguyễn Đức Nhuận cùng 18 chiếc thuyền chiến chở đầy lính Thanh - Nghệ do hai viên quan cơ điều khiển ra giúp bọn quan quân ngoài Bắc. Dù có sự trợ chiến của quân Thanh - Nghệ, quân triều đình vẫn liên tiếp bị thua. Tháng 2 năm 1827, Ba Vành lại mở cuộc tấn công ở Thiên Trường và Kiến Xương. Quan lại Bắc thành phải nài xin Minh Mạng phát thêm binh lính ở kinh đô Huế với thuyền và súng ra tiếp viện. Phó tướng Ngô Văn Vĩnh điều quân từ Huế ra Bắc, qua Nghệ An lại lấy thêm hai viên quan võ đi cùng..

<span class='text_page_counter'>(29)</span> Thế là vào dịp Tết ra; đầu xuân năm Đinh Hợi (1827), bọn quan quân từ kinh đô Huế; từ Nghệ An và Bắc thành đã hợp sức nhau lại để đối phó với Ba Vành và nông dân ngoài Bắc. Cán cân lực lượng đã nghiêng về phía quan quân phong kiến nhà Nguyễn. Tháng 3 năm 1827, Ba Vành đem quân vây Phạm Đình Bảo ở chợ Quán. Nguyễn Công Trứ và Phạm Văn Lý mang ba đạo quân đến cứu, trong ngoài giáp đánh nghĩa quân bị thua, Ba Vành chạy về Trà Lũ. Nguyễn Công Trứ đem quân vây Trà Lũ và dùng kế trá hàng: Hắn sai tên Trúc đem con gái sang dinh Ba Vành xin hàng và xin dâng con gái cho Ba Vành làm vợ. Ba Vành mất cảnh giác, đã nhận tên Trúc vào hàng ngũ nghĩa quân và lấy con gái hắn làm vợ. Từ đó Ba Vành đêm ngày mở tiệc rượu, chèo hát lu bù cùng gái đẹp, lơ là luyện quân. Việc canh phòng bị trễ nải, tướng tá bỏ đi một số. Thừa cơ, Nguyễn Công Trứ thúc quân đánh riết vào Trà lũ. Ba Vành nhân đêm tối chạy ra bãi sú ven biển nhưng quân Nguyễn Công Trứ đã đánh ập thẳng vào trại chính, bắt được Ba Vành và hơn 760 tướng tá, nghĩa quân cùng nhiều thuyền và súng. Cuộc khởi nghĩa Ba Vành đã thất bại. Quân quan phong kiến hèn mạt còn kéo về làng Minh Giám đốt phá nhà dân, tìm đào mả bố Ba Vành và bắt đổi tên làng thành Nguyệt Giám. Để lừa bịp nông dân và hoà hoãn bớt mâu thuẫn giai cấp, Triều Nguyễn buộc phải xử tội một số viên quan tham nhũng : chánh án Nam Địng bị đem ra chợ chém ngang lưng, tri phủ Nguyễn Công Tuy bị giết, vài viên quan phủ huyện khác bị cách chức. Song, hận thù ngàn đời của nông dân đối với địa chủ phong kiến không vì thế mà nguôi ... trạng trình nguyễn bỉnh khiêm Ông sinh năm 1491 có tên tự là Hanh Phủ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là Vĩnh Bảo - Hải Phòng). Khi ông mới sinh ra, mặt mũi tinh anh, khôi ngô, đầy một năm đã biết nói. Năm mới lên bốn tuổi, mẹ ông đem những câu chính văn trong kinh chuyện ra dạy. Ông đọc thuộc ngay. Lúc nhỏ, ông học ở nhà, lớn lên theo học tiên sinh Lương Đắc Bằng. Trước đấy, ông Bằng đi sứ nhà Minh, có đem về được bộ sách Thái ất thần kinh, đem truyền dạy cho ông, nên ông hiểu được nhiều lẽ huyền bí ở đời. Lương Đắc Bằng về sau giao con mình là Hữu Khanh cho ông, ông chăm nom như con, dạy bảo cho đến lúc thành danh. Ông học rất giỏi, nhưng thấy thời thế nổi loạn, không muốn thi và không muốn ra làm quan. Mái đến năm 1535, khi đã 45 tuổi, theo lời khuyên của họ hàng.

<span class='text_page_counter'>(30)</span> và bạn bè, ông mới chịu đi thi và đỗ Trạng nguyên, rồi ra làm quan cho nhà Mạc. Được tám năm, thấy gian thần hoành hành, ông dâng sớ xin chém 18 người nhưng không được, bèn xin từ quan về quê dạy học. Về sau vua nhà Mạc lại mời ông ra làm Tả thị lang Bộ Lại, sau được thăng chức lên Trình quận công, mọi người tôn ông là Trạng Trình. Trong lòng ông luôn mong muốn, mọi vật đều được sống yên ổn, dẫu có nghèo đói cũng phải tự lao động để kiếm ăn. Thời bấy giờ, ông có người con rể là Phạm Dao cậy thế tung hoành, làm nhiều điều càn rỡ, ông giả ốm xin nghĩ việc về quê. Khi về làng, ông dựng am Bạch Vân, tự đặt tên hiệu là Bạch Vân cư sĩ, hưởng thú vui du ngoạn, nghỉ ngơi và làm thơ ngâm vịnh. Ông tuy ở quê, nhưng vua Mạc tôn như bậc thầy, khi trong nước có việc quan trọng vẫn sai người về hỏi ý kiến ông. Cũng có lúc, vua triệu ông về Kinh hỏi mưu kế lớn. Nhưng ông lại xin về am để thoả chí mình, vua không thể nào giữ lại được. Khoảng đời Diên Thành (1578 - 1585), Mạc Hậu Hợp sai người đến thăm vf hỏi về việc nước, ông nói: "Sau này, nếu có biến cố thì đất Cao Bằng dẫu nhỏ cũng có thể hưởng phúc lâu được vài đời". Bảy năm sau, họ Mạc mất ngôi, lui về giữ đất Cao Bằng. Nhờ chổ đó mà nhà Mạc còn duy trì được 7 năm. Lời ông nói thật là linh nghiệm. Khi vua nhà Lê là Trung Tông mất, không có con nối ngôi; Trịnh Kiểm lúc này muốn tự lập mình làm vua, nhưng còn phân vân. Biết Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ở quê nhà, là người rất uyên bác về tướng số, Trình Kiểm bèn sai Phùng Khắc Khoan mang lễ vật đến hỏi ý kiến ông. Nguyễn Bỉnh Khiêm không đáp, quay lại bảo với người nhà rằng: " Năm nay mất mùa, có gieo mạ nên dùng thóc giống cũ". Rồi ông sai đày tớ ra chùa bảo tiều quét chùa và chuẩn bị dâng hương. Ra chùa, ông bảo chú tiều: "Thờ Phật thì được ăn oản". (ý bảo họ Trịnh cứ tôn nhà Lê thì được hưởng lộc). Phùng Khắc Khoan đem việc đó về nói lại với Trịnh Kiểm. Sau đó, Trịnh Kiểm đưa Lê Duy bằng lên làm vua lấy hiệu là Anh Tông. Nhờ vậy, xã tắc được yên. Tuy Anh Tông làm vua, nhưng quyền hành đều ở trong tay Trịnh Kiểm. Lúc bấy giờ, Nguyễn Hoàng là con thứ hai của Nguyễn Kim, trong lòng lo sợ người anh rể Trịnh Kiểm làm hại mình, nên Nguyễn Hoàng đem điều này nói với mẹ. Mẹ của Nguyễn Hoàng liền sai người đến hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lúc đó, ông đang dạo chơi, ngắm nhìn núi non bộ và nói rằng: " Một dải Hoàng Sơn đủ để nương thân" (Nghĩa là hãy vào miền Thuận -.

<span class='text_page_counter'>(31)</span> Quảng để lập nghiệp và sinh sống sẽ yên thân). Người ấy về kể lại, Nguyễn Hoàng liền nghĩ kế xin vào trấn thủ đất Thuận Hoá và Quảng Nam; Trịnh Kiểm đồng ý ngay và hy vọng Nguyễn Hoàng sẽ gặp khó khăn ở miền đất mới. Sau đó, vùng đất này trở thành nền tảng của nhà Nguyễn và nguy cơ của một cuộc phân tranh mới đã xuất hiện. Nguyễn Bỉnh Khiêm có rất nhiều học trò thành đạt như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ,...Khi Nguyễn Dữ viết Truyền Kì mạn lục, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã góp phần sửa chữa văn chương, làm cho tác phẩm này trở nên nổi tiếng. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nguời phóng khoáng, tư chất trời cho sáng láng, lại đọc rộng đủ các sách, hiểu sâu nghĩa lí, các hiện tượng mưa nắng, bão, hoạ, phúc; việc gì ông cũng dự đoán và biết trước được. sứ thần giang văn minh Ông quê ở Mông Phụ, xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây); đỗ Thám hoa năm 1628,đi sứ sang nhà Minh năm 1637. Vào ngày khánh thọ Vua Minh, sứ giả các nước đến cống lễ thiên triều, đều mũ áo chỉnh tề, đem lễ vật đến mừng đúng theo lễ nghi. Chỉ riêng sứ thần là không thấy đâu cả. Vua nổi giận, cho thị vệ đến nơi công quán, đòi sứ giả đến hỏi nguyên do. Bọn lính đến nơi thấy sứ thần Việt Nam đang nằm trên giường, ôm mặt khóc nức nở. Đem lệnh tuyên triệu ra bắt buộc, ông mới gắng gượng thất thểu đi theo chúng vào triều kiến nhà vua. Trả lời câu hỏi cũng là lời trách cứ vì tội vô lễ, sứ thần Đại Việt quỳ xuống tâu trình: - Chúng tôi tự biết việc dự lễ khánh thọ là hệ trọng, vắng mặt thật là điều không tội, kính xin thánh hoàng lượng thứ cho. Nguyên do chỉ vì hôm nay lại đúng vào ngày giỗ tổ của thần. Thần được nhận trọng trách đi sứ xa quê hương lâu ngày, gia đình ở quê thì neo đơn, đến ngày giỗ tổ mà không thắm được nén hương tưởng niệm thì thấy xót xa trong dạ. Vì vậy mà không thể nào tham dự được cuộc vui. Nói xong, ông lại khóc ầm lên. Vua Minh bỗng bật cười: - Tưởng làm sao chứ như thế việc gì phải khóc. Cũng đáng khen cho nhà ngươi biết giữ hiếu kính với tổ tiên. Nhưng nếu là giỗ cha, giỗ mẹ thì còn có thể được, chứ ông tổ xa xôi như vậy thì có gì đáng phải băn khoăn cho lắm. Người khuất, chuyện xa đã đến mấy đời, thì cũng có thể 'miễn nghị". Vị sứ giả Việt Nam lau nước mắt, ngẩng đầu lên, giọng trầm và kiên quyết:.

<span class='text_page_counter'>(32)</span> - Muôn tâu, lời dạy của Thánh hoàng thật là quý báu. Chính thần cũng đã nghĩ như vậy, mà vẫn không an tâm, vì thần vẫn thấy trong đời, lắm chuyện xa xôi mà không được "miễn nghị". Chẳng hạn như việc thiên triều bắt nước Nam của thần phải cống nạp người và vàng để trả nợ Liễu Thăng chết cách đây hàng mấy trăm năm. Mãi đến bây giờ cũng chưa "miễn nghị". Nay được lời Thánh hoàng ban dạy, thần cũng xin gác lại ngày giỗ tổ để cùng vui với buổi khánh tiết này. Cúi xin Thánh hoàng từ đây "miễn nghị" cho cái nợ Liễu Thăng, cho tình giao hảo hai nước khỏi bị những chuyện xa xôi kia làm bận bịu... Vua Minh ngớ người ra! Lí lẽ của sứ thần thật mềm mỏng, ôn hoà mà chặt chẽ, kín không khe hở. Vua đành gật đầu, cho bãi bỏ lệ cống người vàng. Tuy vạy, phải đến triều Thanh, vua Quang Trung mới bắt được vua Thanh bỏ vĩnh viễn lệ này. Những ngày ở lại kinh đô nhà Minh, Giang Văn Minh vẫn cứ tỏ thái độ cứng cỏi, đôi lúc ngông cuồng. Có lần, sau những ngày mưa gió ẩm ướt, trời nắng to, thiên hạ ai cũng đi dạo chơi, ngắm cảnh, sưởi ấm, riêng ông lại nằm nhà, ra sân, phanh bụng để... phơi nắng! Bọn quan chức Tàu hỏi tại sao, thì ông nói: - Lâu nay học hành, sách vở thiên hạ có bao nhiêu, đều thu cả vào bụng này. Bên nước Nam, thời tiết hanh khô, chứ bên Trung Quốc thì ẩm ướt quá. Hôm nay đựơc trời nắng to phải phơi bụng ra cho chữ trong ấy khỏi mốc! Câu trả lời nghịch ngợm, hóm hỉnh của ông lại làm bọn quan nhà Minh lại hiểu ra ông là có ý khinh bỉ, ngạo mạn. Chúng liền tâu lại với vua Minh, nhà vua cũng tự ái, cứ muốn nhắc lại cho sứ giả biết rằng xưa kia nước Nam đã có thời gian nội thuộc thiên triều lâu dài. Bởi vậy nhân dịp này muốn thử tài ứng đối, vua Minh đã ra cho Giang Văn Minh một vế đối như sau: Cột đồng này rêu đã bám xanh! (Đồng trụ chí kim đài dĩ lục) ý muốn nhắc chuyện Mã Viện chôn cột đồng để khoe khoang chiến công xâm lược còn lưu lại đến bây giờ. Giang Văn Minh thấy họ chỉ thích thú với tội ác mà quên bao nhiêu nhục nhã từ xưa, nên đáp lại: Sông Đằng từ lâu máu vẫn đỏ! (Đàng giang tự cổ huyết do hồng!) Máu vẫn đỏ vì máu loang ra từ những trận Ngô Quyền diệt Hoằng Tháo, Lê Hoàn diệt Hầu Nhân Bảo, Trần Hưng Đạo diệt Thoát Hoan..

<span class='text_page_counter'>(33)</span> Bị chạm nọc vì Giang Văn Minh ngang nhiên nhắc lại những trận thua đau của họ, vua Minh nổi cáu, bất chấp cả luật lệ bang giao, cho bắt giam trám mắt, trám miệng và mổ bụng Giang Văn Minh xem sứ thần Việt Nam to gan đến thế nào. Cuộc sát hại hèn hạ này xảy ra vào năm 1638. công chua lê ngọc hân và quang trung nguyễn huệ Mùa hè năm 1786, Nguyễn Huệ được sự giúp sức của Nguyễn Hữu Chỉnh đưa quân vượt đèo Hải Vân, đánh thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ đưa quân ra Nam sông Gianh, giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong. Từ đây Nguyễn Huệ quyết định tiến thẳng ra Đàng Ngoài với danh nghĩa phù Lê, diệt Trịnh. Giưa năm 1786, Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long trong niềm vui chiến thắng. Quân Trịnh thua chạy, chúa Trịnh bị dân bắt, nộp cho quân Tây Sơn. Chính quyền chúa Trịnh tồn tại hơn 200 năm, đến đây suỵ đổ. Vua Lê Hiễn Tông lúc ấy đã già, vốn lại ông vua bù nhìn, để mặc cho các chúa Trịnh tác oai, tác quái. Khi vào kinh thành Thăng Long, Nguyễn Huệ đã làm đúng như quyết định ban đầu của mình là "phù Lê, diệt Trịnh", nên ông giao chính quyền cho vua Lê. Nguyễn Hữu Chỉnh đã nghĩ ra một kế bằng cách thăm dò ý định của Nguyễn Huệ, giả ý vua Lê là muốn gả một nàng công chúa cho chủ soái Tây Sơn để lấy chổ nương tựa khi về già. Nguyễn Huệ biết được việc đó, tỏ ý bằng lòng. Nguyễn Hữu Chỉnh chớp lấy thời cơ đó, liền tâu với vua Lê. Lúc đó nhà vua đã ở tuổi "cổ lai hi" nhưng vẫn còn mấy cô con gái chưa lấy chồng. Trong số các cô con gái của vua, có Lê Ngọc Hân là đẹp người và đẹp nết hơn cả. Vua Lê rất yêu quý Ngọc Hân và cho học đủ các môn như tập đánh đàn, làm thơ và hội hoạ. Vua vẫn tự ngẫm rằng, sau này Ngọc Hân chắc sẽ lấy được người phi thường. Giờ nghe Nguyễn Hữu Chỉnh nói đến việc Nguyễn Huệ muốn làm con rể đất Bắc, vua Lê nghĩ ngay đến việc gả nàng công chúa Ngọc Hân cho ông. Khi được biết nàng công chúa Ngọc Hân năm nay vừa tròn mười tám, xinh đẹp tuyệt trần, lại muốn nương bóng "anh hùng", thì Nguyễn Huệ rất vui và nói với giọng cảm động: "Tôi xin kính lạy Hoàng thượng, ở miền núi xa xôi tới đây, tôi đâu dám đuờng đột như vậy? Bây giờ may sao lại đuợcdựa vào cành vàng lá ngọc, thật là mối nhân duyên kì ngộ ngàn năm mới có. Kẻ ở miền núi xiết bao mừng rỡ". Thế rồi đám cưới của Chủ soái nghĩa quân Tây Sơn với nàng công chúa Lê Ngọc Hân được tổ chức rất trọng thể ở Kinh thành Thăng Long. Công chúa Lê.

<span class='text_page_counter'>(34)</span> Ngọc Hân lúc mới lấy Nguyễn Huệ còn e thẹn, nhưng cuộc sống vợ chồng làm cho nàng dần rồi cũng quen. Hôm vào lễ yết cac vị tiên đế ở nhà thái miếu, Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân gióng kiệu cùng đi, lễ xong lại gióng kiệu cùng về. Nguyễn Huệ lấy làm hài lòng và hỏi công chúa: "Con trai, con gái của vua cha, đã có ai được vẻ vang như nàng?" - Các con trai, con gái của vua đều nghèo khó, chỉ riêng thiếp có duyên lấy được chàng, ví như hạt mưa sa được rơi vào chốn lâu đài như thế này, là thiếp được may mắn lắm. Thật cảm ơn chàng. Nguyễn Huệ nghe Ngọc Hân nói vậy, lòng càng vui sướng và càng yêu quý nàng hơn. Thế rồi, ngày Nguyễn Huệ phải về Nam đã đến. Ngọc Hân phải tạm biệt người thân, cùng hoàng gia và Kinh thành Thăng Long, theo chồng vào Phú Xuân (Thừa Thiên - Huế ngày nay). Ngọc Hân sinh đựoc một con trai, đặt tên là Nguyễn Văn Đức và một con gái là Nguyễn Thị Ngọc. Vua Quang Trung yêu quý Ngọc Hân không chỉ vì nàng có sắc đẹp, nết na, mà còn trọng nàng ở tài văn chương, nhạc, hoạ và cả những kiến thức về các chuyện đại sự quốc gia. Tình yêu của họ ngày càng mặn nồng. Họ chỉ sống với nhau được tròn 6 năm. Quang Trung đột ngột từ trần. Ngọc Hân vô cùng đau đớn, đã làm bài thơ Ai tư vãn để nói lên sự đau xót của cõi lòng nhớ thương chồng. Bài thơ có đoạn: ... Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt Cảnh đìu hiu thánh thót chân sa! Tưởng lời di chúc thiết tha Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, họ ngoài chuyên quyền, nội bộ triều Tây Sơn lục đục; Nguyễ ánh tấn công quyết liệt, triều Tây Sơn không sao chống cự được. Ngọc Hân và hai con phải đổi danh tính sống lẫn vào dân chúng ở Quảng Nam để tránh sự truy lùng của Nguyễ ánh. Không lâu sau, bị lộ và bị bắt, Ngọc Hân uống thuốc độc tự tử, hai con bị thắt cổ chết, đó là năm Kỉ mùi (1799) khi bà mới 29 tuổi. bị toà xét xử vì cho rằng quả đất quay xung quanh mặt trời.

<span class='text_page_counter'>(35)</span> Quả đất quay xung quanh Mặt Trời. Đó là chân lý ngày nay ai cũng biết. Nhưng thời trung đại ở phương Tây cho đến thế kỉ XVI, ngườu ta vẫn tin vào thuyết quả đất đứng yên, Mặt Trời quay quanh Trái Đất. Không đồng ý với quan điểm đó, một giáo sĩ đồng thời là nhà Thiên văn học Ba Lan Cô-péc-ních (1473-1543) cho rằng không phải mặt trời quay xung quanh Trái Đất mà trái lại, quả đất tự quay xung quanh trục của nó và quay xung quanh Mặt Trời. ý kiến này của ông được công bố mấy ngày trước khi ông qua đời. Bạn hữu và học trò của Cô-péc-ních đã ghi lên mộ ông dòng chữ: Người đã giữ Mặt Trời lại và đẩy Trái Đất di chuyển. Ra đời sau khi khi Cô-péc-ních mất được 5 năm, một nhà thiên văn học và cũng là một giáo sĩ người I-ta-li-a là Bru-nô (1548-1600) đã công khai ủng hộ học thuyế của Cô-péc-ních. Vì vậy, ông bị Giáo hội Thiên Chúa cho là một kẻ tin theo tà thuyết, nên phải chạy đến nhiều nước, nhưng ở đâu ông cũng bị phái bảo thủ hãm hại, bất đắc dĩ phải trở về I-ta-li-a. Nhưng kết cục bi thảm dành cho ông là sau 8 năm bị giam cầm, ông bị thiêu sống. Tiếp đó, một nhà khoa học người I-ta-li-a khác là Ga-li-lê (1564-1642) đã phát triển quan điểm của Cô-péc-ních và Bru-nô. Vì vậy, năm 1633 tức là năm ông đã 69 tuổi, ông bị đưa ra xét xử trước một phiên toà gồm 10 Hồng y giáo chủ. Trong bản án buộc tội nhà khoa học nổi nổi tiếng này có đoạn viết: "... Tên Ga-li-lê... bị toà án nghi ngờ là tà giáo tức là nghi ngờ rằng ngươi đã tin và theo cái tà thuyết đối lập với Kinh Thánh, một tà thuyết cho rằng Mạt Trời lf trung tâm của vòng quỷ đạo Trái Đất, và Mặt Trời không chuyển động từ Đông sang Tây, và rằng Trái Đất chuyển động chứ không phải là trung tâm của vũ trụ... do đó ngươi phải chịu tất cả mọi sự cải đổi và hình phạt mà luật Thánh và các bộ luật công và tư khác đã quy định và công bố. Toà án chỉ có thể tha thứ cho ngươi khỏi hình phạt đó trong trường hợp ngươi thành thật và với sự thành tín, đứng trước Hội đồng xét xử tuyên bố từ bỏ những sai lầm và tà thuyết nói trên cũng như tất cả mọi tà thuyết khác chống lại Giáo hội Thiên Chúa và Thánh Tông đồ, nguyền rủa lên án chúng theo cách mà toà án chỉ cho ngươi." Khiếp sợ trước những hình phạt của toà án tôn giáo, Ga-li-lê phải quỳ trước toà án tuyên bố những quan điểm của mình là sai lầm và xin từ bỏ những luận điểm ấy. Tương truyền khi đứng dậy, ông lẩm bẩm trong miệng: "Dẫu sao thì Trái Đất vẫn quay"..

<span class='text_page_counter'>(36)</span> Mặc dầu Ga-li-lê đã buộc phải khuất phục nhưng ông vẫn bị quản chế tại nhà cho đến khi ông qua đời vào năm 1642. Khi ông mất, Giáo hội vẫn không cho làm lễ mai táng. Mãi đến thế kỉ XIX, một số người kính phục ông mới chính thức tổ chức mai táng hài cốt của ông và dựng bia tưởng niệm; và đến năm 1984 Toà thánh Va-ti-căng mới tuyên bố xóa án cho nhà khoa học vĩ đại này.. lăng mộ tần thuỷ hoàng Tần Thuỷ Hoàng là ông vua có công thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN, nhưng đồng thời cũng là một vua tàn bạo và xa xỉ. Ngay khi mới lên ngôi hoàng đế, Tần Thuỷ Hoàng đã huy động 70 vạn người trong tất cả đất nước rộng lớn đến núi Ly Sơn để xây dựng cho mình một khu lăng mộ rộng hơn 66km2. Bên trong lăng mộ, Tần Thuỷ Hoàng bắt đào ba con suối rồi đổ đồng xuống, sai lấy thuỷ ngân làm một trăm con sông và biển lớn có các máy móc làm cho nước sông và biển chảy vào nhau ở trên có đủ thiên văn, ở dưới có đủ địa lí. Những đồ quý báu của các cung được đem vào đây, dùng mỡ hải báo để thắp sáng, trù tính làm sao để cháy được lâu không tắt. Lại sai thợ làm máy bắn tên, có ai đào đến gần thì tự động bắn ra. Năm 210 TCN, Tần Thuỷ Hoàng chết. Khi mai táng, những cung phi chưa có con đều bị chôn theo. Để bí mật trong hầm mộ không bị tiết lộ ra ngoài, sau khi chôn cất xong, cửa đường hầm đi đến huyệt bị đóng lại, vì vậy những người phục vụ việc mai táng phải vĩnh viễn ở lại trong đó. Bên trên toà cung điện dưới đất ấy, thì đắp đất rồi trồng cây cỏ trông giống như một quả núi. Sự mô tả trên đây chỉ mới thể hiện được một phần tình hình lăng mộ cảu vị hoàng đế nổi tiếng này thôi. Năm 1974, nông dân ở địa phương đó, trong khi đào giếng tình cờ đã phát hiện được những tượng người bằng đất nung. Sau đó qua sự khai quật của giới khảo cổ học Trung Quốc thì mới biết nơi đây, cách lăng Tần Thuỷ Hoàng 1,5 km về phía Đông có một đội quân bảo vệ lăng gồm bộ binh, kị bih, ngựa, chiến xa,... hàng ngũ chỉnh tề đứng dưới chiến hào. Người và ngựa đều bằng đất nung to bừng thạt, còn xe thì bằng gỗ và vũ khí thì bằng đồng. Cả đội ngũ vệ binh này, tuy chỉ là những pho tượng bằng đất nung nhưng đã thể hiện được khí thế rất hùng dũng như đang sẵn sàng chiến đấu. Cuộc chinh phạt á - âu của thành cát tư hãn.

<span class='text_page_counter'>(37)</span> Thành Cát Tư Hãn tên là Tê-mu-sin vốn xuất thân trong một gia đình quý tộc thị Mông Cổ. Thuở thiếu thời, ông từng trãi qua một quãng đời đây gian truân. Năm 1206, ông được các thủ lĩnh bộ lạc bầu làm đại hãn (vua), gọi là Sin-ghít-khan, chữ Hán phiên âm thành Thành Cát Tư Hãn. Sự kiện ấy đánh dấu nước Mông Cổ bắt đầu thành lập. Sống trên thảo nguyên mênh mông, người Mông Cổ có tài cưỡi ngựa, bắn cung rất giỏi. Nhà nước Mông Cổ thi hành chính sách toàn dân là lính, con trai cứ đến 15 tuổi là phải gia nhập quân đội, do vậy Mông Cổ có một đội quân rất thiện chiến. Sau khi thành lập nước, Mông Cổ đã mở những cuộc tấn công để xâm chiếm đất đai của những nước lân cận. Đặc biệt bắt đầu từ năm 1291, Thành Cát Tư Hãn đã tiến hành một cuộc viễn chinh lừng danh trong lịch sử. Vốn là, năm 1218, một đội buôn của Mông Cổ gồm 450 người với 500 con lạc đà chở đầy vàng bạc, da thú và hàng hoá quý sang Trung á buôn bán. Nhưng vừa đến biên giới nước Khô-re-xmơ (địa bàn nước U-dơ-bê-ki-xtan ngày nay), đội buôn này bị giết gần hết, chỉ còn một người sống sót chạy về báo tin. Được tin ấy, mùa thu năm 1219, Thành Cát Tư Hãn đem 20 vạn quân tấn công ào ạt nước Khô-re-xmơ. Các thành phố của quốc gia nay lần lượt bị huỷ diệt, thậm chí có nơi quân Mông Cổ còn phá đê để nước sông tràn vào dìm chết cư dân trong thành phố. Nước Khô-re-xmơ bị tiêu diệt. Để truy kích Thái tử của nước này đang trốn ở ấn Độ, Thành Cát Tư Hãn tấn công vào vùng sông ấn. Quân của Thái tử thua to, Thái tử phải bỏ lại tất cả, một mình cưỡi ngựa bơi qua sông chạy về phía Tây á. Đồng thời, theo lệnh của Thành Cát Tư Hãn, một cánh quân khác đuổi theo vua Khô-re-xmơ tận vùng biển Cát-pi nhưng chưa kịp giao chiến thì ông vua này đã chết. Năm 1222, cánh quân Mông Cổ này tiến lên thành phía Nam nước Nga. Năm 1223, quân Mông Cổ đánh bại 8 vạn liên quân Nga, số quân còn lại không đến 1/10. Bọn tuớng lĩnh Mông Cổ bắt trói các vương công Nga, bắc ván lên đầu họ rồi ngồi lên đó để ăn mừng chiến thắng! Năm 1225, Thành Cát Tư Hãn rút về Mông Cổ. Năm 1226 -1227, Thành Cát Tư Hãn lại tấn công và tiêu diệt nước Tây Hạ ở Tây Bắc Trung Quốc. Thế là chỉ một thời gian ngắn, bằng những cuộc chiến tranh thần tốc, ồ ạt, huỷ diệt, Thành Cát Tư Hãn đã dựng lên một đế quốc rộng lớn gồm nhiều đất đai của hai châu á - Âu. Bản thân Thành Cát Tư Hãn chết ngày 25 - 8 - 1227 trước khi Tây Hạ nộp thành đầu hàng mấy ngày. Thi hài của ông ta được đem về mai táng.

<span class='text_page_counter'>(38)</span> một cách bí mật ở Mông Cổ và người ta đoán rằng trong mộ của ông đã chôn theo rất nhiều báu vật. tiên tri mô-ha-mét- người truyền bá đạo hồi Đạo Hồi ra đời ở nước A-rập Xê-út ngày nay. Cho đến đầu thế kỉ VII, cư dân ở đây đang sống trong xã hội nguyên thuỷ. Tuy vậy,ở đây đã có hai thành phố quan trọng là Méc-ca và Ya-tơ-ríp cách Méc-ca 400 km về phía Bắc. Đặc biệt ở Méc-ca có một ngôi đền gọi là Ca-a-ba, đó là nơi thờ các tượng thần của các bộ lạc A-rập. Nhưng đến đầu thế kỉ VII, nơi đây đã diễn ra những biến đổi lớn lao mà người có vai trò quyết định chính là Mô-hamét (570 - 632). Mô-ha-mét, có nghĩa là "Rất đáng khen, xuất thân từ bộ lạc có thế lực nhất ở Méc-ca, nhưng khi mới chào đời, ông không thấy được mặt cha, đến sáu tuổi lại mồ côi mẹ, gia sản chỉ có 5 con lạc đà và một đàn dê. Vì côi cút, ông được ông nội và chú nuôi nấng, nhưng không được học hành. Năm 12 tuổi, ông theo chú đi buôn bán ở nhiều nơi, do đó, sự hiểu biết của ông được mở rộng. năm 25 tuổi, ông kết hôn với bà Kha-đi-gia, vợ goá của một thương nhân đã 40 tuổi. Từ đó ông trở thành giàu có. Khoảng năm 610, ông thường vào một hang núi cách Méc-ca km, nhịn ăn mấy ngày để suy tưởng. Theo ông kể lại, một hôm ông được thánh Ga-bri-en báo cho biết ông là sứ giả của A-la. Thế là ông bắt đầu truyền bá một tôn giáo mới gọi là Ix-lam nghĩa là Thuận theo, ta quen gọi là đạo Hồi. Bản thân Mô-ha-mét tự xưng là Tiên tri. Khi ông mới truyền đạo ở Méc-ca, nhiều người cho ông là điên khùng thậm chí họ định góp tiền để đưa ông đến thầy thuốc chữa trị, nhưng về sau họ chống đối ông quyết liệt, hơn nữa còn định ám hại ông. Do vậy năm 622, ông cùng tín đồ của mình phải rời khỏi Méc-ca, trốn lên thành phố Ya- tơ- ríp ở phía Bắc, từ đó thành phố này gọi là Mê- đi- ra nghĩa là Thành phố của Tiên tri. Về sau, năm 622 được coi là năm đầu tiên của lịch Hồi giáo. Tại địa bàn hoạt động mới này, số người theo đạo Hồi tăng lên rất nhiều, thế lực của ông ngày càng mạnh. Lực lượng của Mô- ha- mét thường xuyên tập kích các đội buôn của Méc- ca để cướp hàng hoá. Vì vậy, chiến tranh giữa hai bên đã xảy ra nhiều lần. Năm 628, theo đề nghị của Mô- ha- mét, hai bên ký hoà ước ngừng chiến trong 10 năm, nhưng đến năm 630, tự nhận thấy thế lực của mình đã mạnh, Mô- ha- mét đem 10 000 người tiến xuống Méc- ca. Thành phố Méc- ca.

<span class='text_page_counter'>(39)</span> không giám chống cự. Với danh hiệu tiên tri, Mô- ha- mét không những là Giáo chủ của đạo Hồi mà đồng thời là người đứng đầu nhà nước A- rập mới thành lập. Mécca được coi là thánh địa của Hồi giáo. Năm 631, Mô- ha- mét đi hành hương ở Méc- ca lần cuối. Tại đây, Mô- hamét đã gửi tới toàn dân tộc A- rập những lời vĩnh biệt và khi kết thúc bài nói chuyện, ông hô lớn: "Hỡi chúa A- la! Con đã truyền bá những lời dạy của Ngài!". Năm 632, Mô- ha- mét qua đời tại Mê- đi- na.. Pi-ốt đại đế - ông vua học làm thợ Pi-ốt đại đế (1672-1725) cùng anh trai của mình là I-van bắt đầu lên làm vua nứơc Nga từ năm 1682. Năm ấy, ông mới 10 tuổi. Đến năm 1689, ông mới thực sự cầm quyền ở nước Nga. Lúc bấy giờ (cuối thế kỉ XVII), chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu đã phát triển, Hà Lan và Anh quốc đã hoàn thành cuộc cách mạng tư sản, nhưng nước Nga, về kinh tế và văn hoá còn lạc hậu. Vì vậy Pi-ốt đại đế quyết tâm làm cho nước Nga nhanh chóng trở thành một quốc gia giàu mạnh. Pi-ốt là một người cao lớn, khoẻ mạnh và nhanh nhẹn. Ông có thể dùng tay bẻ gãy cái móng ngựa bằng sắt, khi ông đi bộ thì những người đi theo phải chạy mới kịp. Với quyết tâm và sức khoẻ như vậy, ông thường đi vào thực tế để học tập, làm việc như những người bình thường. Năm 1695, khi quân Nga đánh nhau với quân Thổ Nhĩ Kì để tranh vùng Biển Đen, ông đổi tên và cải trang thành một pháo thủ để đi chiến đấu. Lần này vì thiếu tàu chiến, quân Nga bị thất bại. Do vậy, Pi-ốt đại đế ra lệnh gấp rút xây dựng nhà máy đóng tàu. Bản thân ông cũng cầm rìu cùng làm việc với công nhân và chỉ huy việc đóng tàu. Nhờ có tàu chiến, quân Nga đã đánh bại quân Thổ Nhĩ Kì. Để học tập kỷ thuật tiên tiến của Tây Âu, năm 1697, Pi-ốt cử một đoàn gồm 250 người sang Tây Âu học tập do ông dẫn đầu dưới danh nghĩa một hạ sĩ. Trước tiên ông và những người trong đoàn đến học tập và làm việc trong một xưởng đóng tàu của Hà Lan. Dưới sự hướng dẫn của kĩ sư Hà Lan, sau 2 tháng họ đóng được một chiếc tàu thuỷ. Do chăm chỉ lao động, Pi-ốt đại đế được khen là Một thợ mộc cần cù và thông minh. Sau đó, ông còn đến Đức và Anh, tại những nước này, ông đã học được kĩ thuật đúc súng đại bác và nghề đi biển. Trong thời gian ở các nước.

<span class='text_page_counter'>(40)</span> Tây Âu, ông còn học tập được nhiều nghề thủ công như nghề rèn, nghề cơ khí, nghề tiện, nghề đóng giày, nghề sửa đồng hồ,... tính ra ông làm được 14 nghề thủ công khác nhau. Ngoài việc học tập kĩ thuật, ông còn chú ý tìm hiểu cách tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ giáo dục,... của các nước Tây Âu. Năm 1698, Pi-ốt trở về nước và bắt đầu tiến hành một cuộc cải cách về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá giáo dục, phong tục tập quán... Từ đó nước Nga phát triển nhanh chóng về mọi mặt, trở thành một nước lớn mạnh ở châu Âu. vụ ám sát thái tử nước áo - ngòi lửa của cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, do mâu thuẫn với nhau trong việc tranh giành thuộc địa, các nước đế quốc đã hình thành 2 liên minh gọi là các nước Hiệp ước gồm các nước Anh, Pháp, Nga,... và các nước Đồng minh gồm Đức, đế quốc áo - Hung, I-ta-li-a,... (về sau I-ta-li-a chuyển sang liên minh với các nước Hiệp ước). Cả 2 phe đều thua nhau tăng cường lực lượng quân sự. Cuộc đại chiến thế giới chỉ cần có cơ hội là bùng nổ. Lúc bấy giờ có nước Bô-xi-na - Héc-xê-gô-vi-na mà cư dân chủ yếu là người Nam Xla-vơ bị nhập vào áo - Hung đang muốn thoát khỏi sự thống trị của đế quốc này. Nước Xéc-bi láng giềng thì muốn thống nhất những vùng lãnh thổ của người Nam Xla-vơ thành một nước. Nhiều tổ chức chống áo - Hung đã được thành lập, trong đó đáng chú ý là tổ chức Bàn tay đen. Để uy hiếp tinh thần chống đối ấy, ngày 28 - 6- 1914, áo - Hung tổ chức một cuộc tập trận ở Bô-xi-na. Thái tử áo cùng phu nhân đến tham quan cuộc tập trận ấy. Nhân dịp này, tổ chức Bàn tay đen đã tổ chức vụ ám sát thái tử áo. Phu nhân của thái tử bị trúng đạn. Lợi dụng cơ đó, với sự hậu thuẫn của Đức, ngày 28 - 7- 1914, áo - Hung tuyên chiến với Xéc-bi, sau đó mấy ngày lại tuyên chiến với Nga. Đồng thời từ ngày 1 đến 4 tháng 8, Đức cũng tuyên chiến với Nga, Pháp, Anh. Thế là cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Sau đó các nước Mĩ, Nhật, I-ta-li-av.v... cũng tham gia khối Hiệp ước, còn Thổ Nhĩ Kì, Bun-ga-ri... thì tham gia phe Đồng minh. Tính ra có đến 33 nước bị lôi cuốn vào cuộc chiến. Sau 4 năm, đến năm 1918, các nước Bun-ga-ra, Thổ Nhĩ Kì, áo - Hung, Đức đều lần lượt đầu hàng. Ngày 11-11-1918, cuộc Đại chiến thế giới lần thứ Nhất kết thúc bằng thắng lợi của phe Hiệp ước..

<span class='text_page_counter'>(41)</span> truyền thuyết về thuỷ tổ của người việt Sử củ có chép, xưa - cháu ba đời của Thần Nông là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi. Sau Đế Minh đi tuần thú phương Nam, đến Ngũ Lĩnh (năm ngọn núi ở phía Nam Trung Quốc), gặp người con gái của bà Vụ Tiên, rồi lấy nàng làm vợ và sinh đựơc một người con trai rất thông minh. Đế Minh đặt tên con là Lộc Tục và rất yêu quý cậu con trai của mình. Ông muốn Lộc Tục nối ngôi, nhưng Lộc Tục không dám nhận. Đế Minh bèn lập Đế Nghi làm con nối ngôi, cai quản phương Bắc; phong cho Lộc Tục cai quản phương Nam. Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương. Sau, Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Thần Long, sinh ra Sùng Lãm (tức Lạc Long Quân). Lạc Long Quân lên nối ngôi vua và lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ. Theo truyền thuyết, Âu Cơ sinh ra một trăm bọc trứng, nở thành một trăm con trai. Một hôm, vua bảo với Âu Cơ rằng: " Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thuỷ hoả khắc nhau, khó mà ở với nhau được". Rồi hai người từ biệt nhau, chia 50 người con theo mẹ về núi, còn 50 con theo cha về biển. Hai nhóm người này chính là thuỷ tổ của nhóm Bách Việt. Người con trưởng trong nhóm các người con theo mẹ, được phong làm vua, gọi là Hùng Vương.. Lý nam đế Lý Bí hay còn gọi là Lý Bôn, xuất thân từ một hào trưởng địa phương. Theo sử cũ, ông quê ở huyện Thái Bình xưa (vùng thị xã Sơn Tây ngày xưa). Tổ tiên của Lý Bí là người Trung Quốc, sang nước ta cư trú từ rất lâu, khoảng đầu Công nguyên, đến thờic Lý Bí thì dòng họ của ông đã ở nước ta hơn 5 thế kỉ. Lý Bí sinh năm Quý Mùi (503), là con một. Bố là Lý Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oanh người Thanh Hoá. Từ nhỏ, Lý Bí đã tỏ ra là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ lại qua đời. Lý Bí phải ở với người chú ruột. Lớn lên, ông chịu khó học hỏi, lại có tài văn võ nên được cử giữ chức chỉ huy quân đội ở Đức Châu (nam Nghệ An - Hà Tĩnh). Một thời gian ngắn sau, vì căm ghét bọn đô hộ, ông đã từ quan về quê, ngấm ngầm liên lạc với các hào kiệt trong vùng để chuẩn bị nổi dậy. Tù trưởng ở Chu Diên (Hưng Yên) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, mến tài đức Lý Bí đã đem quân đến xin ông cho hội quân; Tinh Thiều, Phạm Tu cũng hưởng ứng nổi dậy. Tháng giêng năm 542, Lý Bí khởi binh tấn công quân địch. Chưa đầy ba tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận huyện. Tiêu Tư hoảng sợ, vội bỏ thành Long Biên ( thuộc Bắc Ninh ngày nay) chạy về nước..

<span class='text_page_counter'>(42)</span> Tháng 4 năm 542, nhà Lương huy động quân từ Quảng Châu sang đàn áp. Nghĩa quân chủ động kéo quân lên phía Bắc và đánh bại quân Lương, giải phóng thêm Hoàng Châu (Quảng Ninh ngày nay). Đầu năm 543, nhà Lương tổ chức quân sang đàn áp lần thứ hai. Quân giặc đang còn lo sợ chưa biết tiến quân thế nào thì Lý Bí đã cho quân chủ động đón đánh địch ở Hợp Phố. Quân Lương mười phần chết đến bảy, tám phần. Tướng địch bị giết gần hết. Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế (Lý Nam Đế), đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng kinh đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội), đặt hiệu là Thiên Đức (tức là Đức Trời), thành lập triều đình với hai ban văn, võ; Triệu Túc giúp ông cai quản mọi việc. Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ, Triệu Quang Phục được trọng dụng. người ta xây dựng tháp chăm như thế nào? Trên đường từ Bắc vào Nam, đến địa phận tỉnh Quảng Nam, các em có thể nhìn thấy những tháp Chăm đứng sừng sững trên các đồi cao, rải rác cho đến tỉnh Bình Thuận. Các tháp này thường cao từ 15 đến 20 mét; trải qua hơn chục thế kỉ, dãi dầu mưa nắng, tồn tại cho đến ngày nay. Thân tháp là một khối vững chắc, khoẻ khoắn. Nóc tháp gồm nhiều tầng xếp nếp, có nhiều hình trang trí rất tỉ mỉ. Tầng trên lặp lại những hình trang trí của tầng dưới, nhưng nhỏ dần đi và cuối cùng tụ lại vào một đỉnh nhọn vươn lên cao. Hình trang trí có khi là hoa lá, có khi là hình mẫu của tháp thu nhỏ lại. Lối vào trong tháp chỉ có một cửa chính duy nhất, bên trong đặt một bệ thờ tượng thần. Mọi lễ nghi tiến hành chủ yếu ở bên ngoài tháp. Các tháp Chăm đều được xây dựng bằng gạch và rất ít dùng những vật liệu khác. Gạch ở đây là một loại gạch đặc biệt, có dãi dầu mưa nắng cũng không hề bị rêu bám. Các nghệ nhân Cham-pa đã sử dụng nhiều nếp tinh vi thay cho việc phải làm nhiều tầng bệ, lợi dụng đồi cao để thay cho nền đá lớn, tượng trưng cho chân núi thần thánh và uy nghi. Các hình ảnh điêu khắc trang trí trên các tháp Chăm rất phong phú, đa dạng, được biểu hiện theo từng chủ đề, thay đổi từng phong cách của nhóm tháp, qua từng giai đoạn lịch sử. Các quốc vương Chăm-pa khi xây dựng tháp đều muốn thể hiện sự sùng tín của mình đối với các vị thần Bà La Môn và muốn thần thánh luôn bảo vệ mình. Do đó, ở mỗi tháp, danh xưng của vua luôn gắn liền với tên thần. Sự sùng tín trên còn thể hiện ở những hình ảnh liên quan đến tôn giáo, thần thoại được chạm khắc trên các bài thơ, mi cửa, vòm uốn hay quanh tường tháp..

<span class='text_page_counter'>(43)</span> một ông quan liêm khiết, chính trực Lúc còn trai trẻ, Tô Hiến Thành là người có tài thao lược, có đức, lại có trí óc minh mẫn. Đầu đời Lý Anh Tông, ông làm Thái phó, cùng dự trong coi việc nhà binh. Năm 1159, Ngưu Hống và Ai Lao làm phản, ông vâng mạnh vua mang quân đi đánh và dẹp được loạn, được thăng làm Thái uý (chức quan võ cao nhất thời Lý). Năm 1160, ông đi tuyển dân đinh - những người khoẻ mạnh để sung vào quân ngũ. Năm 1161, ông lĩnh 2 vạn binh, đi tuần canh miền Tây Nam và miền ven biển để giữ yên bờ cỏi của đất nước. Vua đã đích thân tiễn ông đến cửa biển Đại An (Nam Định) rồi mới về. Năm 1167, Quân Cham -pa xâm phạm biên giới phía nam, ông cầm quân đi đánh. Vua Cham -pa thua, xin rút quân và tiếp tục giữ lệ cống nạp. Bấy giờ, Đỗ Anh Vũ đã chết, ông được giao trọng trách rèn luyện binh lính, giảng cách đánh trận, dạy quân lính cưỡi ngựa, bắn cung, việc quân được chấn chỉnh. Năm 1175, Lý Anh Tông lập long Trát làm Thái tử, phong ông chức Nhập nội Thái phó, tướng vương, giúp đỡ Thái tử. Vua Lý bị bệnh nặng, có để tờ chiếu lại, dặn Tô Hiến Thành giúp Thái tử, mọi công việc quốc gia đều giao cho ông xử đoán. Bà Thái hậu họ Lê muốn dựng Thái tử cũ là Long Xưởng, nêm đem vàng bạc hối lộ cho vợ ông là bà Lã thị. Ông nói:"Ta là bậc đại thần, chịu mệnh vua khi thác giúp ấu chúa; nay nhận hối lộ mà bỏ người nọ, dựng người kia, còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở nơi suối vàng". Thái hậu lại triệu ông vào triều, dụ dỗ trăm đường. Ông liền thưa: "Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, người trung thần nghĩa sĩ đâu lại muốn thế! Huống chi lời nói của Tiên đế hãy còn văng vẳng bên tai... Tôi không dám vâng lời". Lúc bấy giờ bà Thái hậu đành thôi. Lý Thái Tông lên ngôi, tôn ông làm Thái uý, cho coi cấm binh. Ông là người giữ nghiêm hiệu lệnh, thưởng, phạt rõ ràng. Người trong nước ai cũng mến phục. Năm 1179, Tô Hiến Thành bị bệnh, có Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường đêm ngày hầu bên cạnh. Còn Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận việc không có thời gian thăm ông. Thái hậu đến thăm và hỏi: " Nếu ông có mệnh hệ gì, thì ai thay ông?". Ông đáp: "Có Trung Tá". Thái hậu nói: "Tán đường hằng ngày hầu thuốc thang, sao không thấy ông nhắc đến?". Hiến Thành trả lời: "Vì bệ hạ hỏi người nào có thể thay thần nên thần nói đến Trung Tá, còn như hỏi người hầu dưỡng thì không phải Tán Đường thì còn ai nữa?. Thái hậu khen ông là người trung thực. Tới khi ông mất, vua giảm bữa ăn ba ngày, nghĩ Chầu sáu hôm. Ông là qua đầu triều, nhận trọng trách, hết lòng hết sức, khéo xử trong khi biến cố, dù sóng to gió cả, không.

<span class='text_page_counter'>(44)</span> lay chuyển, khiến cho trên dưới thuận hoà, thật không hổ thẹn với các bậc đại thần xưa. yết kiêu - dã tượng- hai người trung nghĩa Trần Quốc Tuấn đã khéo tiến cử hai người gia nô tài giỏi của mình ra cứu nước trong cuộc kháng chiến chống quân Mông -Nguyên. Đó là Dã Tượng và Yết Kiêu. Yết Kiêu có biệt tài rất giỏi bơi lặn. Hưng Đạo Vuơng Trần Quốc Tuấn rất tin yêu hai người nên đã có lần hỏi ý kiến hai ông về chuyện riêng của nhà mình. Chuyện thế này: Trần Quốc Tuấn là con Yên Sinh vương Trẫn Liễu, Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông) là em Trần Liễu, lấy vợ của Trần Liễu là công chúa Thuận Thiên. Trần Liễu căm thù lắm, đã có lần dấy binh làm phản chống lại Thái Tông. Khi sắp mất, Trần Liễu cầm tay dặn Quốc Tuấn rằng: "Con mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết dướu suối vàng cũng không nhắm mắt được". Quốc Tuấn ghi nhớ lời cha dặn trong lòng, nhưng không cho thế là phải. Đến khi vận nước bị lam nguy, quân Mông - Nguyên sang xâm lược; quyền quân, quyền nước đều ở trong tay mình, ông đem lời cha dặn hỏi Yết Kiêu và Dã Tượng. Hai ông đã can ngăn Hưng Đạo Vương: " Làm kế ấy tuy đựơc phú quý một thời mà để lại tiếng xáu ngàn năm. Nay đại vương há chẳng đủ phú và quý đó sao? Chúng tôi thề chết già làm gia nô, chứ không làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi". Hưng Đạo Vương cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người. Khi quân Mông - Nguyên tấn công các ải Nội Bàng, Chi Lăng, quân ta chống không nổi phải rút lui. Bấy giờ, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bến Bãi (trên sông Lục Nam). Quốc Tuấn toan rút theo đường núi, nhưng Dã Tượng nói: "Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương, tất không chịu dời thuyền". Quốc Tuấn đến Bến Bãi, quả nhiên thuyền của Yết Kiêu còn chờ đó. Thuyền vừa rời bến thì kị binh giặc tràn tới, nhưng chúng đuổi không kịp. Nhờ lòng quả cảm và trung nghĩa của Yết Kiêu mà Quốc Tuấn rút lui an toàn. Chính trong giờ phút thoát hiểm đó, Quốc Tuấn đã thấy rõ được vai trò của các vệ sĩ và gia nô của mình. Không cầm đựơc, Trần Hưng Đạo cảm kích bổng thốt lên: "Chim hồng học bay cao được là nhờ sáu trụ cánh. Nếu không có sáu cái trụ cánh này thì cũng như chim thường thôi". Khi cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng lợi, trong không khí khải hoàn của đất nước, hai ông đã được vua ban lộc rất lâu. người thầy giáo có khí tiết.

<span class='text_page_counter'>(45)</span> Đó là nhà giáo Chu Văn An, sinh năm 1292, mất năm 1371, tự là Tiểu ẩn, hiệu là Văn Trinh, quê ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì - Hà Nội. Ông là người cương trực, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, giữ khí tiết, không cầu lợi. Suốt cuộc đời làm thầy giáo, ông dạy hầu hết các học sinh từ thấp đến cao, từ con em bình dân đến con nhà quý tộc. Ông đã từng dạy dỗ cho hàng ngàn học sinh ở quê nhà và ở trường Quốc Tử Giám. Ông có một phương pháp giảng dạy rất đặc biệt nên hấp dẫn học trò. Ông luôn hành động một cách gương mẫu, uy nghiêm nên được mọi người kính nể. Ông đọc nhiều sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, nhiều người đỗ đại khoa, nhiều người giỏi, có công giúp nước, giúp nhà. Ngày xưa kể lại rằng, ông dạy học trò rất nghiêm khắc nên tất cả học trò đều kính nể. Những học trò làm quan to ở triều đình như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh khi về thăm ông, đều phải ý tứ, giữ gìn, lạy ở dưới đường; được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm. Kẻ nào làm việc gì sai trái thì ông nghiêm khắc quát mắng như khi họ còn là học trò. Ông được vua Trần Minh Tông mời làm Quốc Tử Giám tư nghiệp (tức là Hiệu trưởng trường Quốc Tử Giám) va dạy thái tử học. Thời vua Trần Dụ Tông (1341 -1369) chính sự suy đồi. Vua thích ăn chơi hưởng lạc, bỏ bê công việc triều đình. Quan lại nhiều kẻ làm trái phép nước. Chu Văn An khuyên can, Dụ Tông không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, là những kẻ quyền thế được vua yêu. Người thầy bấy giờ gọi là "thất trảm sớ". Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông rất thích vùng núi Chí Linh, bèn đến ở đấy. Khi nào có triều hội lớn thì vẫn chống gậy về kinh dự bàn. Vua Dụ Tông giao việc chính sự, ông khước từ. Bà Thái hoàng Thái hậu Hiến Từ đã phải nhận xét: "Người ấy là ngừơi không bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta". Vua sai nội thần đem quần áo ban cho ông. Ông lạy tạ xong, liền đem cho người khác hết. Thiên hạ đều cho ông là bậc cao thượng. Đến khi vua Trần Dụ Tông chết, xảy ra vụ Dương Nhật Lễ làm phản, rồi Nhật Lễ bị đổ, Trần Nghệ Tông lên thay. Ông vui mừng chống gậy về Kinh yết kiến vua, xong lại xin về làng, không nhận chức tước, cũng không nhận ban thưởng. ít lâu sau, ông ốm mất. Vua Trần Nghệ Tông sai người đến tế, ban tặng tên thuỵ, ít lâu sau ra lệnh thờ ông ở Văn Miếu. người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất Nguyễn Trãi, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thượng Tín, tỉnh Hà Tây); cha là Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ).

<span class='text_page_counter'>(46)</span> thời Trần; ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, đại thần của nhà Trần. Thời trẻ, ông nổi tiếng về văn chương, kinh sử. Khoa thi năm Canh Thìn (1400), thời nhà Hồ, ông đỗ Thái học sinh. Cả hai cha con ông đều làm quan cho nhà Hồ. Không bao lâu sau, cha ông bị giặc Minh bắt đem về Trung Quốc. Tiễn cha đến biên giới phía Bắc, ông phải chia tay cha. Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở Đông Quan (Hà Nội). Giặc Minh mua chuộc, dụ dỗ nhưng ông từ chối. Những năm tháng ở Đông Quan là những năm tháng nuốt hận để tìm đường giải phóng cho dân tộc. Đầu năm 1416, ông trốn vào Thanh Hoá, tham dự Hội thề Lũng Nhai; cùng Lê Lợi tổ chức, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Nguyễn Trãi đã từng dânh lên Lê Lợi bản Bình Ngô sách, chỉ rõ con đường cứu nước với chủ trương đánh vào lòng người. Nguyễn Trãi đã thay mặt Lê Lợi soan thảo thư từ gửi cho triều Minh và các tướng lĩnh của địch. Những bức thư này được hợp lại trong bộ Quân trung từ mệnh tập. Nhiều thành luỹ quan trọng của giặc như Nghệ An, Diễn Châu, Tam Giang, Thị Cầu nhờ thư dụ hàng của ông, nghĩa quân không đánh mà địch chịu đầu hàng. Cuối năm 1427, Vương Thông xin hoà, Nguyễn Trãi là người chủ trương chấp nhận và tạo điều kiện cho địch rút quân, giữ hoà hiếu cho nhân dân hai nước. Khởi nghĩa Lam Sơn tháng lợi, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi thảo Bình Ngô đại cáo, tổng kết lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc (trong đó có 10 năm chiến đấu anh dũng và gian khổ của nghĩa quân Lam Sơn), có giá trị như một bản Tuyên ngôn Độc lập và được người đời sau ca ngợi là "thiên cổ hùng văn". Ông còn viết bài Phú núi Chí Linh, ca ngợi tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí đấu tranh cứu nước, cứu dân của nghĩa quân Lam Sơn. Ngày thắng lợi, ông được coi là bặc công thần và được ban quốc tính. Vào những năm 1430, 1431, ông xin về nghĩa ở Côn Sơn(Chí Linh, Hải Dương). Sau đó, ông lại được triệu vào triều, giao nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, ông được giao soạn văn bia Vĩnh Lăng. Khoảng cuối năm 1437, ông thấy mình không được trọng dụng nên xin về Côn Sơn. Thời kì này, ông sáng tác nhiều văn thơ, hiện còn một số bài thơ được tập hợp trong bộ ức Trai thi tập. Năm 1440, vua Lê Thái Tông lại mời ông ra làm quan và cho giữ chức vụ cũ. Tuy tuổi đã cao nhưng khi trở lại triều đình, ông đem hết tài năng giúp nước. Ông biên soạn bộ Dư địa chí, giúp mọi người nắm vững đặc điểm địa lí và con người các đạo, phủ, huyện trong cả nước. Ông chế định nhã nhạc, nhưng quan điểm của ông không phù hợp với Lương Đăng nên lại xin trở về Côn Sơn. Năm 1442, vua Lê Thái Tông nhân đi duyệt binh ở Chí Linh có ghé qua Côn Sơn thăm ông. Trên đường về Thăng Long, vua nghĩ đêm ở Trại Vải (Gia Lương -.

<span class='text_page_counter'>(47)</span> Bắc Ninh), có bà Nguyễn Thị Lộ - vợ lẽ của Nguyễn Trãi - theo hầu. Đêm đó, vua đột ngột qua đời. Triều thần vốn ghen ghét ông, nhân đó quy cho Nguyễn Trãi tội mưu cùng vợ giết vua, kết án tru di tam tộc. Gần 20 năm sau, vua Lê Thánh Tông viết : "Lòng ức Trai sáng tựa như cao khuê" và tự mình chú thích rằng: "ức Trai tiên sinh Thánh Tổ mới sáng nghiệp theo về Lỗi Giang, trong thì bàn kế hoạch ở nơi màn trướng, ngoài thì thảo văn thư dụ dỗ các thành; văn chương tiên sinh làm vẻ vang cho nước, lại được vua tin , quý trọng". ông vua giỏi trị nước Tên ông là Lê Tư Thành, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao, con gái công thần khai quốc Ngô Từ, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Trước kia, khi còn là tiệp dư, bà đi cầu tự, mơ thấy thượng đế ban cho tiên đồng, thế rồi có thai. Tục truyền khi bà sắp sinh con, khi chớp mắt ngủ, mơ thấy mình đến được thượng đế; thượng đế sai một tiên đồng đến làm con bà, tiên đồng chần chừ mãi không chịu đi, thượng đế giận, lấy cái hốt ngọc đánh vào trán chảy máu ra, sau tỉnh dậy, rồi sinh ra Lê Tư Thành, trên trán vẫn còn thấy dấu vết lờ mờ như thấy trong giấc mơ. Lê Tư Thành sinh ngày 20 tháng bảy năm Nhâm Tuất (1442). Khi mới sinh, thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, rạng rỡ, nghiệm trang, thực là bậc trí dũng để giữ nước. Người xưa kể rằng, ông sinh ra và thời thơ ấu ở ngoài Kinh thành, tại chùa Huy Văn (trong ngõ Văn Chương, phía gần ngõ Tôn Đức Thắng - Hà Nội ngày nay). Năm lên 4 tuổi, Lê Tư Thành mới được vào nội cung cùng học tập với các thần vương khác. Lê Tư Thành từ khi còn nhỏ đã sớm có tư chất đế vương, chăm chỉ học tập, dáng dấp đoan chính, thông tuệ hơn người. Vì thế, mẹ vua Nhân Tông coi ông như em ruột của mình. Cuối năm 1459, Nghi Dân ( con đầu của vua Thái Tông) giết mẹ con vua Nhân Tông, lên chiếm ngôi vua, phong ông làm Gia vương. Giữa năm 1460, các đại thần Nguyễn Xí, Lê Niệm phế truất Nghi Dân đưa Tư Thành lên ngôi vua. Ông làm vua 38 năm. Trong những năm cầm quyền, Lê Thánh Tông đã làm nhiều việc để cũng cố chính quyền nhà Lê, phát triển đất nước. Nhà vuâ rất chăm lo đến việc biên giới bà bảo toàn lãnh thổ quốc gia. Ông đã từng nói: Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được. Nếu người.

<span class='text_page_counter'>(48)</span> nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc thì người đó sẽ bị trừng trị nặng". Nhà vua hạ sắc dụ bảo các viên quan địa phương ở Lạng Sơn, An Bang và Bắc Bình rằng: "Người bầy tôi giữ đất đai của triều đình, chức phận là phải bảo toàn lãnh thổ, yên uỷ nhân dân, bẻ gãy những mũi nhọn tấn công, chống cự những kẻ khinh rẻ mình. Thế mà mới đây, người nước ngoài xâm phạm, cướp bóc, trẫm không nghe thấy các ngươi làm gì để đánh giặc giữ đất cả! Nếu nay cứ mỗi một việc lại buộc phải phạt theo pháp luật thì trẫm không nỡ. Vậy các ngươi phải cố gắng hết lòng, hết sức, nghĩ làm thế nào để gột rửa tội lỗi trước kia". Năm 1490, ông cho vẻ bản đồ 13 đạo trong cả nước và kinh đô, gọi là Hồng Đức bản đồ. Ông ban hành bộ luật Hồng Đức gồm hơn 700 điều, vừa bảo vệ trật tự an ninh đất nước vừa đáp ứng quyền lợi của nhân dân cả nước, trong đó có phụ nữ. Ông coi trọng nông nghiệp, chia ruộng đất công xã cho nông dân, sai đắp đê ven biển Bắc Bộ, giúp dân khẩn hoang. Ông cho dân các địa phương được tuỳ ý họp chợ. Lê Thánh Tông cũng là ông vua hoàn chỉnh chế độ giáo dục và thi cử, mở rộng nhà Thái học, trường Quốc Tử Giám, mở các kì thi để kén chọn nhân tài. Người nào đỗ Tiến sĩ thì được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu. Lê Thánh Tông còn là ông vua giỏi thơ văn, ông để lại tập thơ chữ Nôm và nhiều bài văn thơ chữ Hán. Ông mất tháng 2 năm 1497, thọ 55 tuổi. Ông là vị vua giỏi trong công cuộc cũng cố nhà nước phong kiến, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước về các mặt kinh, chính trị, quốc phòng và văn hoá. Ông còn là một ông vua rất thươnh yêu dân chúng, lo từng việc nhỏ hàng ngày cho thần dân. Sách Đại Việt sử kí toàn thư có chép: "Tháng 11 năm Tân Mão (1471) ông ra sắc dụ cho các quan phủ, huyện ở Sơn Nam rằng: Bọn các người giữ trọng trách ở một phương, thần yêu dân là trách nhiệm. Thế mà không biết thể theo lòng nhân của triều đình, yêu nuôi dân chúng, chỉ chăm làm những việc nhỏ mọn như roi vọt, sổ sách. Nay sứ ti và phủ huyện các ngươi phải mau mau đi xem xét những nơi núi, chằm, bờ biển trong hạt, chỗ nào hình thế có thể khơi đắp ngòi cừ, đê đập để làm ruộng, chỗ nào có hùm sói làm hại, cường hào thao túng, phong tục kiêu bạc, sinh dân đau khổ... tóm lại tất cả những việc có lợi cho dân thì nên làm, mọi mối hại nên bỏ, hạn trong trăm ngày phải tâu trình cẫn thận. Nếu chây lười để quá hạn, ta sẽ sai vệ sỹ đi điều tra, nếu thấy, vẫn còn việc lợi nên làm, mối hại nên bỏ, mà các ngươi chưa nói tới thì quan phủ huyện phải bãi chức". sự tích phật tích ca.

<span class='text_page_counter'>(49)</span> Đạo phật ra đời ở ấn Độ cách đây hơn 2 500 năm. Người sáng lập đạo Phật là hoàng tử Xít- đác- ta Gô -ta-ma thuộc họ Xa-ki-a, sau khi thành Phật được đệ tử tôn xưng là ''Vị thánh họ Xa-ki-a'' ta quen gọi là Thích ca Mâu Ni . Truyền thuyết Phật giáo kể rằng, một hôm bà Mai-a, hoàng hậu của vua nước Ca-pi-la-va-xtu ở Đông Bắc ấn Độ nằm mơ thấy một con voi trắng, vòi cắp một bông sen trắng đi ba vòng quanh giường rồi húc nhẹ vào sườn bên phải như chui vào bụng bà. Thế la hoang hậu co thai. Khi gần tới ngày sinh nở, bà tỏ ý muốn về bên ngoại để sinh con. Nhà vua sai một nghìn người hộ tống. Khi đến một cánh rừng, thấy hoa nở rộ, hoang hậu nuốn dừng lại để dạo cảnh. Tại khu rừng này, bà thấy chuyển bụng va đứa trẻ chui ra từ sườn bà. Sau khi đứa trẻ được đưa về cung, một nhà hiền triết đã đoán rằng đây là một vị cứu tinh vừa giáng thế. Tin theo lời lói đó, vua cha tìm cách ngăn ngừa để hoang tử không hiến thân cho việc phục vụ tôn giáo. Ông cố tình cho hoàng tử sống trong cảnh hết sức xa hoa. Bốn vạn vũ nữ thường xuyên trổ mọi tài nghệ để hoang tử thưởng thức. Đến tuổi kết hôn, 500 thiếu nữ xinh đẹp được đưa đến trình diện để hoàng tử lựa chọn. Công chúa Y-a-xô-đa-ra đã lọt vào mắt xanh của hoang tử, sau đó họ sinh được một bé trai đặt tên là Ru-hu-la. Giàu sang và hạnh phúc tưởng như vậy đã trọn vẹn. Nhưng vào năm 29 tuổi, một hôm hoang tử ra khỏi cung điện dạo chơi và thấy một cụ già, hôm khác thấy một người ốm, hôm khác nửa thấy một người chết. Những cảnh khổ mà loài người phải chịu đựng in sâu vào tâm trí hoàng tử. Vì vậy hoàng tử quyết tâm từ bỏ cuộc sống nhung lụa và gia đình hạnh phúc để tìm con đường cứu vớt những khổ đau của loài người. Thế là hoàng tử rời khỏi cung điện, thay quần áo, lấy kiếm cắt tóc và trở thành một nhà tu hành. Sau nhiều năm tu khổ hạnh và không ngưng suy tuởng, đến năm 35 tuổi, một hôm khi đang ngồi suy nghĩ dưới một cây bồ đề, nhà tu hành Xit-đac-ta đã giải thích được nguyên nhân mọi khổ đau và do đó đã tìm được con đường cưu vớt. Từ đó ông được gọi là But-đa, ta quen gọi la Phật hoặc Bụt, nghĩa là "người đã hiểu được chân lí''. Sau đó 49 ngày, Phật đến vườn Lộc Dã (vườn hươu) để giảng bài thuyết pháp đầu tiên. Từ đó, đạo Phật được truyền bá rộng rãi ở ấn Độ. Đến năm 80 tuổi, Phật viên tịch (chết)..

<span class='text_page_counter'>(50)</span> Phật thích ca vốn la nhân vật có thật nhưng vì được tôn sùng nên trong sự tích của Phật, người ta đã thêm vào nhiều yếu tố huyền thoại.. truyền thuyết về biển ê- giê Giữa Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì ngày nay có một biển nhỏ, một bộ phận của Địa Trung Hải, gọi là biển Ê -Giê. Tại sao biển này lại được đặt tên như vậy? Việc đó được xuất phát từ sự tích dưới đây. Truyền thuyết kể rằng từ xa xưa, ở trên đảo Crét tại phía Nam Hi Lạp có một nước rất hùng mạnh. Đứng đầu nhà nước ấy là vua Mi-nốt. Ông vua này có một mê cung, trong đó có rất nhiều phòng và lối đi ngoắt ngoéo. Đó là nơi ở của con quái vật Mi-nô-to mình người đầu bò, đứa con riêng của vợ vua Mi-nốt. Để nuôi Mi-nôto, cứ 10 năm, A-ten ở trên đất liền Hi Lạp phải nộp cho vua Mi-nốt 7 đôi thanh niên nam nữ. Đã 3 lần, người A-ten phải chịu thảm hoạ ấy của nhân dân, hoàng tử Tê-dê con vua Ê -giê ở A-ten khẩn thiết xin vua cha cho mình cùng đi để giết con quái vật ấy, chấm dứt cảnh đau khổ cho người A-ten. Sau nhiều lần thuyết phục, vua Ê-giê phải chấp nhận và giao hẹn rằng, nếu thành công thì khi trở về, chiếc buồm đen sẽ được thay bằng cánh buồm trắng, để từ xa vua Ê-giê đứng trên bờ mong đợi có thể nhìn thấy và biết con mình còn sống. Sang đến đảo Crét, chàng hoàng tử Tê-dê khôi ngô tuấn tú được công chúa con vua Mi-nốt là A-ri-át-nơ đem lòng yêu thương nên đã tặng chàng một thanh kiếm và một cuộn chỉ. Tê-dê buộc một đầu chỉ ở cửa rồi vừa đi vừa mở chỉ để tiến sâu vào mê cung. Trải qua một trận chiến đấu quyết liệt với Mi-nô-to, cuối cùng Tê-dê nắm chặt được sừng nó rồi đâm thẳng vào ngực nó. Thế là con quái vật ấy bị giết chết. Sau đó, Tê-dê cùng những nam nữ thanh niên A-ten được cứu thoát. Lần theo sợi chỉ trở ra theo lối cũ, khi vua Mi-nốt chưa kịp phát hiện, chàng, công chúa và những thanh niên A-ten vội vàng lên thuyền về Hi Lạp. Để khỏi bị truy đuổi, họ không quên đục thủng đáy tất cả các thuyền của đảo Crét. Khi thuyền gần về đến Hi Lạp, vì quá vui mừng, Tê-dê quên bẵng mất việc thay buồm đen bằng buồm trắng. Trong khi đó, vua Ê-giê hằng ngày vẫn đứng trên bờ biển để ngóng trông con, nay bỗng thấy thuyền trở về và vẫn với chiếc buồm đen nên tưởng rằng Tê-dê đã chết. Trong cơn tuyệt vọng, vua Ê-giê nhảy xuống biển tự tử, vì vậy biển ấy về sau được gọi là biển Ê-giê..

<span class='text_page_counter'>(51)</span> Việc ở đảo Crét đã từng tồn tại một nhà nước phát triển cách đây gần 5 000 năm là một sự thật lịch sử và đã được chứng minh bằng tài liệu khảo cổ học. Còn con quái vật Mi-nô-to mình người đầu bò sống bằng thịt người chỉ là chuyện bịa đặt. con ngựa thành tơ-roa Cách đây hơn 3 000 năm, các nước nhỏ Hi Lạp đã đem quân sang tấn công thành Tơ-roa ở Tiểu á, thuộc Thổ Nhĩ Kì ngày nay. Cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm (từ 1194-1184 TCN) nhưng quân Hi Lạp vẫn chưa hạ được thành Tơ- roa. Bỗng một hôm, quân Hi Lạp tự phá bỏ doanh trại, toàn bộ rút xuống thuyền về nước. Chỉ có một vật rất lớn họ không mang theo, đó là con ngựa gỗ. Một số người đề nghị với nhà vua thành Tơ-roa nên chất củi đốt con ngựa gỗ ấy đi. Trong khi đó, có mấy người chăn cừu bắt được một tù binh Hi Lạp, quần áo rách rưới, mình dính đầy bèo và bùn đất dẫn đến nộp cho vua thành Tơ-roa. Người tù binh ấy khai rằng: "Do chiến tranh kéo dài mệt mỏi, quân Hi Lạp muốn trở về nhưng vì ngược gió thuyền không đi được. Các thầy cúng nói các thần đòi hỏi phải dùng người làm lễ cúng, nếu không thì gió không lặng, không thể về Hi Lạp được. Vì vậy họ đã chọn tôi để làm vật hi sinh ấy. Nhân khi bọn lính gác lơ là, tôi đã trốn được, nấp dưới ao. Sáng nay thấy quân Hi Lạp đã rút hết, tôi mới ra khỏi chổ ẩn nấp thì bị người của các ngài bắt". Một chiến sĩ của thành Tơ-roa hỏi người tù binh: "Người Hi Lạp làm con ngựa gỗ ấy để làm gì và vì sao khi rút quân họ không mang đi?". Người tù binh nói: "Đó là vật người Hi Lạp tạo ra để cúng thần. Người Hi Lạp cố ý để con ngựa lại vì họ đoán rằng thế nào các ngài cũng sẽ phá huỷ nó và như vậy sẽ làm cho các thần nổi giận. Người Hi Lạp rất sợ các ngài không phá huỷ nó mà đưa nó vào để ở trong thành do đó sẽ làm cho Tơ-roa trở thành một thành phố không thể công phá được và làm cho người Hi Lạp sẽ bị thất bại trong chiến tranh, vì vậy họ phải làm con ngựa ấy rất cao lớn để không thể đưa qua cổng thành được". Thế là người Tơ-roa quyết đinhk phá một đoạn thành, lắp bánh xe vào chân ngựa, buộc dây thừng vào mình ngựa để kéo ngựa vào trong thành. Vui mừng vì chiến tranh đã kết thúc và thu được món chiến lợi phẩm đặc biệt ấy, người Tơ-roa ca hát, nhảy múa cho đến khuya rồi về nhà ngủ, chỉ để mấy người ở lại canh thành. Trong khi đó, trên biển Ê-giê, quân Hi Lạp quay thuyền trở lại Tơ-roa rồi bí mật đổ bộ lên bờ. Từ trong bụng ngựa gỗ, các chiến sĩ Hi Lạp chiu ra, giết mấy.

<span class='text_page_counter'>(52)</span> người lính gác, mở toang cổng thành cho đại quân Hi Lạp ào vào. Quân đội và cư dân thành Tơ-roa bàng hoàng tỉnh dậy chống cự một cách bị động. Quân Hi Lạp thẳng tay chém giết đốt phá. Thành Tơ-roa bị hạ. Cuộc chiến tranh giữa Hi Lạp và Tơ-roa là một sự thật lịch sử, còn câu chuyện con ngựa thành Tơ-roa chỉ là một sáng tác văn học. Tuy vậy ngày nay "Con ngựa thành Tơ-roa"đã trở thành một thành ngữ để lại chỉ lực lượng gián điệp được cài vào nội bộ của đối phương. bảy tuổi phải rời mẹ- phương pháp giáo dục ở Xpác Hi Lạp cổ đại không phải là mộtk nước thống nhất mà là một quốc gia có rất nhiều nước nhỏ. Mỗi nước nhỏ có một thành phố làm trung tâm nên gọi là một thành bang. Trong số đó, có 2 thành bang quan trọng nhất, lớn mạnh nhất là A-ten và Xpác. Về chính trị, kinh tế, văn hoá, hai thành bang này phát triển theo hai con đường khác nhau. Trong khi A-ten có nền công thương nghiệp phát triển rất mạnh và có nền văn hóa rất rực rỡ thid Xpác chỉ chú ý phát triển về quân sự. Để có một đội quân hùng mạnh gồm những chiến sĩ dũng cảm, Xpác đã thi hành một chế độ giáo dục rất đặc biệt. Khi vừa mới lọt lòng mẹ, đứa trẻ đựơc tắm bằng ruợu. Nếu vượt qua được thử thách đầu tiên này, đứa trẻ được đưa đến cho Hội đồng trưởng lão khám. Chỉ những đứa trẻ khoẻ mạnh mới được đem về nuôi, còn những đứa yếu thì vứt xuống nghĩa địa trẻ sơ sinh ở dưới khe núi. Những đứa trẻ cha mẹ nuôi cũng không được ăn các thức ăn ngon, và phải tập không sợ đêm tối, không sợ ở một mình, không nóng vội, không hay khóc. Đến 7 tuổi, các bé trai phải rời cha mẹ, đến sống tập trung trong các trại trẻ của nhà nước để rèn luyện. Chúng phải cạo trọc đầu, đi chân đất, mặc quần áo bằng vải thô, buổi tối ngũ trên tấm chiếu bằng lau sậy do chúng tự làm lấy, về mùa đông thì đọn thêm bông cỏ để cho ấm. Mỗi buổi sáng chúng phải tắm trong dòng sông giá lạnh, sau đó được điểm tâm bằng một mẫu bánh mì. Nhiệm vụ hằng ngày của chúng là phải tập các môn thể thao như chạy, nhảy, ném đĩa, ném lao, đánh thuyền,... Chúng còn phải thường xuyên tập chịu đòn để rèn luyện tính kiên cường. Chúng cũng phải tập ăn trộm để rèn luyện khả năng mưu trí nhanh nhẹn. Nếu ăn trộm bị bắt thì bị phạt đòn. Trải qua 13 năm luyện tập gian khổ như vậy, đến năm 20 tuổi, thanh niên Xpác được chính thức trở thành người lính. Đến năm 30 tuổi thì được lạp gia đình nhưng cuộc sống trong quân ngũ kéo dài cho đến năm 60 tuổi..

<span class='text_page_counter'>(53)</span> nguồn gốc của đại hội thể thao ô-lem-pích Người Hi Lạp cổ đại thờ rất nhiều thần, trong đó vị thần cao nhất là thần Dớt. Đền thờ thần Dớt được xây dựng trên đỉnh núi Ô-lem-pích ở miền Nam Hi Lạp. Mặc dù lúc bấy giờ Hi Lạp chia thành nhiều thành bang, nhưng để cúng thần Dớt một cách trọng thể, cứ 4 năm một lần, toàn Hi Lạp tổ chức một cuộc đại hội thể thao mà lần đại hội được biết đến đầu tiên là vào năm 776 TCN. Do đại hội được tổ chưc sgần Ô-lem-pích nên được gọi là Đại hội thể thao Ô-lem-pích. Những vận động viên được thi đấu phải là những người có quyền công dân trong các thành bang Hi Lạp, còn nô lệ không được tham gia. Trước khi thi đấu, mọi người phải đến cúng bái trước tượng thần Dớt. Đại hội diễn ra vào mùa hè và kéo dài 5 ngày. Trong thời gian đại hội, giữa các thành bang Hi Lạp nếu đang có chiến tranh cũng tạm thời ngừng chiến. Nội dung thi đấu gồm có thi chạy, đua ngựa, ném đĩa, đấu sức,... về sau còn thêm vào các nội dung như diễn kịch, biễu diễn âm nhạc, ngâm thơ. Những vận động viên giành đựơc thắng lợi trong các môn thi đấu được đội một vòng hoa làm bằng cành ô liu. Khi trở về quê hương, họ được đón tiếp cực kì nồng nhiệt. Họ được tạc tượng, được dành riêng những chổ ngồi vinh dự trong rạp hát, được trợ cấp về tài chính suốt đời và được miễn mọi nghĩa vụ công dân. Đến giữa thế kỉ II TCN, Hi Lạp bị nhập vào đế quốc Rô-ma. Năm 394, Hoàng đế Rô-ma là Tê-o-đo-di-út I ra lệnh bỏ Đại hội thể thao Ô-lem-pích vì cho rằng đó là truyền thống văn hoá của Hi Lạp chứ không phải của người Rô-ma. Hơn 15 thế kỉ sau, năm 1896, Đại hội thể thao Ô-lem-pích được tổ chức lại nhờ sự vận động của một Bá tước người Pháp. Đại hội này diễn ra ở A-ten, thủ đô của Hi Lạp và được tính là Đại hội lần thứ nhất. Từ đó, nội dung thi đấu ngày càng phong phú, những người thi đấu gồm vận động viên nhiều nước, và các lần đại hội được luân phiên tổ chức tại nhiều thành phố trên thế giới. nhà vật lý học ác-si-mét và tiếng reo"ơ-rê-ca" Nhà vật lý học ác-si-mét (187-212 TCN) là một nhà khoa học tài năng quê ở Xi-ra-quy-dơ, một thành bang do di dân Hi Lạp lập nên ở đảo Xi-xin-phía Nam bán đảo I-ta-li-a. Đối với khoa học, cống hiến lớn nhất của ác-si-mét là về vật lý học, đặc biệt là về lực học. Phát minh quan trọng thứ nhất của ông là nguyên lí đòn bẩy. Với.

<span class='text_page_counter'>(54)</span> nguyên lí này, người ta có thể dùng một lực nhỏ để nâng lên một vật nặng gấp nhiều lần. Tương truyền, ông đã nói một câu nổi tiếng: Hãy cho tôi một điểm tựa chắc chắn, tôi có thể cất lên cả quả đất. Phát minh quan trọng thứ hai là một định luật về thuỷ tinh học, về sau mang tên ông gọi là định luật ác-si-mét. Theo định luật này, tất cả mọi vật thả xuống nước đều phải chịu mộtk lực đẩy từ dưới lên trên bằng trọng lượng của khối lượng bị chiếm chỗ. Tương truyền rằng, vua của thành bang Xi-ra-quy-dơ có một cái vương miện, chóp mũ làm bằng vàng pha đồng. Một hôm nhà vua mời ác-si-mét đến và hỏi có thể biết được tỉ lệ vàng và đồng ở trong chóp mũ không. Lúc ấy, ác-si-mét chưa trả lời được, nhưng sau đó nhờ một lần tắm trong bể nước ông đã phát minh ra nguyên lí trên do đó đã giải được bài toán của nhà vua. Vui mừng về phát hiện đó, ông chạy ra đường reo lên: Ơ-rê-ca!Ơ-rê-ca! nghiã là: "Ta đã tìm ra rồi! "Ta đã tìm ra rồi!. Ông còn có những phát minh quan trọng về kĩ thuật như đường xoắn ốc, ròng rọc, bánh xe răng cưa, máy ném đá, máy phóng gỗ để bắn thuyền địch, gương 6 mặt để đốt thuyền địch, máy bơm nước để rút nước ra khỏi thuyền khi thuyền bị thủng,... Năm 212TCN, thành phố Xi-ra-quy-dơ bị quân Rô-ma đánh chiến. Ông bị quân Rô-ma xông vào bắt khi ông đang vẽ một đồ án khoa học. Trước khi bị sát hại, ông đã quát quân giặc: "Chúng mày muốn làm gì thì làm nhưng không được phá huỷ đồ án của tao". chợ bán nô lệ ở rô-ma cổ đại Từ khi làm chủ ở toàn khu vực Địa Trung Hải, số nô lệ ở Rô-ma tăng lên rất nhiều. Người ta ước tính rằng số lượng nô lệ chiếm khoảng một nửa số cư dân của đế quốc Rô-ma. Nguồn nô lệ bao gồm những người bị bắt trong chiến tranh, những người bị bọn cướp biển bắt cóc, những người mắc nợ không trả được và con cái do nữ nô lệ sinh ra. Nô lệ là những người cực khổ nhất trong xã hội. Họ không có tự do, gia đình, tài sản. Bản thân họ bị biến thành tài sản của chủ và do đó bị coi là một loại hàng hoá để mua bán. Vì vậy ở Rô-ma cổ đại có rất nhiều chợ bán nô lệ. Tại những chợ này, hằng ngày có hàng nghìn nô lệ bị đem ra bán, có khi con số này còn lên đến một vạn. Những người nô lệ bị đem ra bán ở chợ đều trần truồng, mục đích để người mua thấy rõ chất lượng của món hàng. Trên đầu họ được đội một cái mũ da cừu hoặc một vòng hoa. Cổ họ đeo một cái biển trên đó ghi rõ.

<span class='text_page_counter'>(55)</span> quê quán, tuổi tác, khả năng lao động,... của họ. Người bán còn phải nói cho người mua biết được những khuyết điểm của món hàng. Người mua xem kĩ món hàng rồi mặc cả. Giá nô lệ tuỳ thuọc vào khả năng lao động của từng người và giá cả thị trường hôm đó. Nói chung những nô lệ nấu bếp giỏi, có khả năng nghệ thuật cao như ca múa, biết chơi âm nhạc,... thì giá đắt hơn những nô lệ chỉ làm được những công việc thông thường bốn năm lần. pie đệ nhất và thành phố pêtecbua tráng lệ Trong quá trình phát triển văn minh nhân loại đã từng diễn ra nhiều cuộc cải cách, cách tân (mà bây giờ ta thừơng gọi là cải tổ, đổi mới). Có những cuộc cải cách phản văn minh, chống lại loài người như cuộc cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc những năm sáu mươi của thế kỉ trước... Những cuộc cải cách lấy mục tiêu vì sự tiến bộ của loài người và do những cá nhân có tâm lớn, tài cao, có tầm nhìn xa trong rộng lãnh đạo thì thường mang lại thành quả to lớn, thậm chí thành quả đó rực rỡ, vẻ vang vượt ngoài sức tưởng tượng của người đời sau. Cuộc cải cách của Pie đệ nhất (Piốt I) những năm đầu thế kỉ mười tám là một thí dụ. Trước thời Pie, nước Nga chìm đắm trong đêm đen của chế độ phong kiến đầy tính cát cứ. Trong nước chia năm bè bảy bối, gây ra những cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn đẫm máu liên miên; nhiều khi còn liên kết với ngoại bang để thôn tính lẫn nhau. Nền kinh tế đất nước trì trệ, lạc hậu chỉ có một con đường đúng đắn nhất là Âu hoá. Muốn Âu hoá thì việc mở đường thông thương ra biển có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Nhưng các ngã đường ra biển khi ấy đều bị ách tắc. Đường ra biển Adốp và Hắc Hải ở phía Nam bị pháo đài của quân Thổ án ngữ. Đường ra biển Ban Tích và vịnh Phần Lan phía Tây Bắc bị quân Thuỵ Điển ngăn chặn. Đường thông với châu Âu ở phía Bắc thì quá dài và nữa năm đóng băng. Không còn cách nào khác, Pie vừa phải cầm quân chiến đấu đánh đuổi ngoại bang để mở đường ra biển, vừa chỉ huy xây thành phố cảng Pêtécbua trên một cánh đầm lầy hoang vu. Để làm được những việc "tầy đình", "dời non lấp biển" ấy đã có những lần nhà vua phải trực tiếp cầm quân ra trận; đã có những phen nhà vua phải giả trang một người dân thường đến nước Phổ học xạ thuật, đến Hà Lan học kỹ thuật đóng tàu biển, đến vương quốc Anh học cách quản lý nhà nước... Trên bãi đầm lầy, thành phố Pêtécbua hiện dần lên như một câu chuyện thần thoại với hải cảng sầm uất; với hàng trăm công trường, xí nghiệp đóng tàu, luyện kim, dệt vải mọc lên. Rồi trường học, viện bảo tàng, thư viện cũng hiện diện hình.

<span class='text_page_counter'>(56)</span> hài. Các đoàn học sinh Nga được gửi đi du học châu Âu và các đoàn chuyên gia châu Âu sang nước Nga tư vấn làm ăn ngày càng tăng lên nhanh chóng. Hệ ý thức mới mang tính khoa học xuất hiện thay thế ý thức hệ tôn giáo. Các trường học với những môn toán, vật lý, hoá học, lịch sử, văn học, địa lý, thiên văn, ngoại ngữ... đã dần thay thế các trường tôn giáo độc tôn vốn chỉ học các môn thần học, thánh thư, kinh bổn. Chỉ trong vòng 25 năm mà sách viết, sách dịch in ra bằng cả 200 năm trước đó. Pie đệ nhất công khai thừa nhận quyền cá nhân của con người. Trong các buổi thiết triều ông thường lấy kéo cắt đi những bộ râu và những vạt áo dài cổ lỗ của các quan cận thần. Pie khuyến khích các bà, các cô thoát ra khỏi chốn khuê phòng thâm nghiêm lưu cữu đi đến với các vũ hội, nhà hát. Tất cả những trí thức có tài; những phát kiến phát minh đều được nhà vua trọng dụng. Pie cho xây nhà hát thật đẹp bên cạnh điện Cremli và cho phép ký hợp đồng với những đoàn kịch nước ngoài vào biểu diễn để thúc đẩy nền sân khấu trong nước phát triển. Dòng văn học cổ điển của nước Nga được khai sinh từ đây và sau này trở thành một nền văn học khổng lồ, với những tên tuổi lẫy lừng tạc vào lịch sử nhân loại: A.Puskin, M.Lecmantốp, N.Gôgôn, Tuôcghênhiep, Ph.Đốttôiepky, Nhêcaxôp, Liep Tôntôi, A.Chekhôp... Xây dựng thành Pêtécbua trong bối cảnh nước Nga còn nghèo, lạc hậu, giặc giã bốn bề, Pie phải huy động đến mức tối đa sức người, sức của; có khi ông phải tỏ hành động chuyên quyền đến độ tàn bạo, gây nên sự than trách, oán thán từ phía nông dân; thậm chí có nơi nông dân đã nổi dậy chống lại ông, buộc ông phải ra tay đánh dẹp. Cái giá phải trả cho các cuộc cải cách không bao giờ là rẻ rúng cả. Pie đệ nhất qua đời, sau 43 năm cầm quyền, thì ngai vàng lần lượt rơi vào tay Êcatêrina (1725-1727), Piốt II (1727-1730), Anna Ivanôpna (1730 - 1740), Ivan Antônôvits (1740-1741), Êlidaveta Pêtơrôpna (1741-1761). Nghĩa là chỉ trong vòng ba mươi năm đã có năm đời vua kế tiếp nhau. Các vị này đều không đủ trí lực để phát huy những thành quả mà Pie đã làm nên. Triều đình bất an, quan lại nhũng lạm, địa chủ quý tộc hoành hành. Nông dân bị biến thành nô lệ như món hàng mua bán trao tay, bị đoạ đầy, sĩ nhục. Có thời kỳ chỉ trong vòng tám năm đã có tới hai trăm ngàn nông nô bỏ trốn, tụ tập thành những toán"lục lâm" chống lại triều đình. Quan quân triều đình ra tay đàn áp đẫm máu. Mâu thuẫn xã hội ngày càng khoét sâu. Đấy là những nguyên do căn cốt khiến nước Nga sau thời Pie tiếp tục bị rơi vào trì trệ, tụt hậu so với châu Âu..

<span class='text_page_counter'>(57)</span> Song le, dù thế nào chăng nữa thì vai trò của vua Pie đệ nhất với sự ra đời của thành phố Pêtécbua tráng lệ, sang trọng thì nhân loại không ai có thể phủ nhận. Đã ba trăm năm có lẽ trôi đi mà vẻ đẹp hài hoà, nguy nga của những cung điện, toà tháp, biệt thự, nhà thờ, tu viện, quảng trường, sông ngòi, hải cảng, trường ốc... vẫn không hề nhàm cũ trong con mắt thẩm mĩ của người người năm châu bốn bể. Cho đến nay người ta vẫn xếp Pêtécbua vào loại thành phố có vẻ đẹp độc đáo nhất châu Âu. Người ta lấy tên Pie đặt lại tên cho thành phố (Pêtécbua dịch âm từ Pie) là vô cùng xứng đáng. Mỗi lần nhớ đến Pêtecbua, tôi không khỏi giật mình âu lo khi quan sát và thu nhận những thông tin liên quan đến quá trình đô thị hoá hôm nay ở nước ta, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội. Những toà nhà chung cư nhiều tầng, nhìn bên ngoài thì cũng khá là mĩ miều, nhưng bên trong liệu có bền vững, có là vẽ dẹp cho nhiều thế hệ đời sau chiêm ngưỡng? Những con đường chi tiền làm vô cùng tốn kém sẽ sử dụng được mấy năm thì phải phá ra làm lại? Rồi cầu vượt, công sở này, siêu thị kia liệu có tránh được là gánh nặng cho con cháu mai sau? Xin đừng nguỵ biện rằng tại nền kinh tế của chúng ta còn thấp kém nên các công trình nó còn những "khiếm khuyết" như thế. Hãy nhớ, thời Pie đệ nhất xây thành Pêtécbua nước Nga nông nô còn nghèo gấp nhiều lần nước ta bây giờ!.

<span class='text_page_counter'>(58)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×