Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

duong

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (95.31 KB, 19 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>A/ TÊN ĐỀ TAØI:. NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ DẠY MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 2 B/ CAÁU TRUÙC NOÄI DUNG: PHẦN 1: MỞ ĐẦU. 1/Lyù do:. - Môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập đọc nói riêng ở lớp 2 có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với bốn khả năng : nghe, nói, đọc, viết. Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt lớp 2. Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng Việt, vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở lớp 2. - Từ những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, những tư tưởng, tình cảm của các thế hệ đi trước và của những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, một cuộc sống khi con người đang bước vào một xã hội hiện đại. - Biết đọc, các em sẽ nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần. Từ đây, biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Biết đọc các em có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản, giúp các em giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, nhận biết được tư tưởng, tình cảm của người khác. Đặc biệt, khi đọc các bài thơ, bài văn, các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở những ước mơ đẹp, làm khơi dậy sức mạnh sáng tạo và những tâm tư tình caûm veà taâm hoàn. - Trái lại, không biết đọc, các em sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo duïc maø xaõ hoäi daønh cho caùc em, khoâng theå hình thaønh cho caùc em moät nhaân cách toàn diện. Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tin, nếu các em không biết đọc hay đọc còn ê a thì làm sao các em hiểu và sử dụng được các nguồn thông tin. Vì vậy, các em biết đọc là rất quan trọng trong thời đại bùng nổ thoâng tin nhö hieän nay. - Trong khi đó, ở khối 2 nói chung và ở lớp 2 của tôi nói riêng, việc dạy đọc, bên cạnh những thành công còn nhiều hạn chế. Phần lớn ở lớp, các em chưa đọc được như mong muốn, kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc. Các em chưa nắm được việc lĩnh hội tri thức,.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong các bài văn, bài thơ mà các em đã đọc. Bản thân là một giáo viên dạy lớp 2 còn lúng túng khi dạy tập đọc: Cần đọc bài tập đọc với giọng như thế nào? Làm thế nào để chữa lỗi phát âm cho học sinh, làm thế nào để cách đọc nhanh hơn, hay hơn, diễn cảm hơn, làm thế nào để các em hiểu được nội dung câu chuyện được đọc, làm thế nào để cho những gì các em đọc được có tác dụng chính vào cuộc sống của các em,… . Đó chính là những trăn trở của tôi trong mỗi giờ dạy tập đọc, mà đó cũng chính là lý do tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này.. 2/ Nhiệm vụ của đề tài: - Khi bước vào dạy phân môn Tập đọc cần xác định rõ nhiệm vụ của dạy đọc là gì? Trong thực tế, cũng như trong dạy phân môn Tập đọc ở lớp 2, tôi thường không hiểu khái niệm đọc một cách đầy đủ. Có người nói đọc như sử dụng bộ mã chữ – âm, cho rằng đọc là nhìn chữ phát ra thành lời, nghĩa là đã đọc thì phải thành tiếng. Vì vậy, tôi đánh giá một giờ dạy Tập đọc chỉ dựa vào căn cứ duy nhất: Đếm xem có bao nhiêu em được đứng dậy đọc, rồi có khi tôi lại quan niệm đọc chỉ là để hiểu được nghĩa lý những gì được đọc, tức là tìm hiểu bài. Vì vậy cô – trò tôi sa vào hỏi đáp về bài tập đọc, sa vào bình giá mà không chịu đọc chính bài tập đọc đó. - Có nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định nghĩa thường nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của đọc. Trong cuốn “ Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga” ( năm 1988 ) viện sĩ M.R.Lơ vôp đã định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động của ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng hình thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó ( ứng với hình thức đọc thành tiếng ), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với hình thức đọc thầm)” . Theo tôi nhận thấy đây là một định nghĩa rất phù hợp với dạy học phân môn Tập đọc ở lớp 2. - Định nghĩa này thể hiện một quan niệm đầy đủ về đọc, xem đó là một quá trình giải mã 2 bậc: Chữ viết – âm thanh và chữ viết ( âm thanh ) – nghĩa. Như vậy, đọc không chỉ là đánh vần, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá trình nhận thức chữ viết để có khả năng thông hiểu như những gì đọc được. Đó chính là sự tổng hợp của 2 quà trình treân. Như vậy khi chọn đề tài này cần xác định rõ dạy học Tập đọc có nhiệm vụ riêng cần trả lời 3 câu hỏi sau:.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> * Dạy Tập đọc là dạy cái gì? Trả lời câu hỏi này là xác định được nội dung dạy học Tập đọc. Nội dung đó bao gồm: - Những tri thức về hệ thống và chuẩn mực Tiếng Việt văn hoá, về quá trình hoạt động giao tiếp. - Các kĩ năng hoạt động của ngôn ngữ ( kĩ năng tiếp nhận và sản sinh ra lời noùi ). Như vậy khi dạy Tập đọc không phải là bản sao rút gọn các giáo trình ngôn ngữ học mà phải là những tri thức và kĩ năng đảm bảo cho học sinh có thể sử dụng Tiếng Việt để đảm bảo hoạt động học tập và hoạt động xã hội sau này.. * Dạy đọc như thế nào? Phương pháp chỉ trở thành phương pháp thực sự khi nó đưa ra được những hướng cụ thể về phương pháp, thủ pháp dạy đọc. Phương pháp dạy đọc cần phải nghiên cứu những phương pháp dạy Tập đọc nói chung, đồng thời lại có những phương pháp cụ thể cho từng phần. Ngoài ra, các nhà phương pháp còn phải soạn sách giáo khoa, sách giáo viên, các lọai từ điển và các phương pháp dạy học khác.. * Tại sao lại như vậy? Để cho những chỉ dẫn của mình tránh chủ quan, kinh nghiệm, cảm tính, các vấn đề được đề xuất về mặt nội dung và phương pháp dạy học Tập đọc cần phải có cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Bởi vậy, nhà phương pháp phải có hiểu biết về ngôn ngữ học, tâm lý – ngôn ngữ học, tâm lý – giáo dục học, thường xuyên nghiên cứu kinh nghiệm thành công cũng như thất bại ở trường tiểu học. Bên cạnh đó còn phải có cơ sở lý thuyết và thực tiễn tin cậy: + Triết học Mác- Lênin: là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy học Tiếng Việt. Đáng lưu ý nhất là những lý thuyết về nhận thức, quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, về bản chất xã hội của ngôn ngữ…. + Giáo dục học: Dạy học Tập đọc cụ thể hoá mục tiêu, nguyên tắc dạy học. chung vào bộ môn của mình. Ngoài ra, nhiều khái niệm, thuật ngữ giáo dục học cũng được sử dụng trong dạy học Tập đọc. + Tâm lý học: Các qui luật tâm lý của quá trình lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo nói chung, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi do tâm lý học khám phá là cơ sở tâm lý cho dạy Tập đọc xác định nội dung và cách thứctổ chức dạy học Tập đọc, cũng sử dụng cả những thuật ngữ và khái niệm tâm lý hoïc..

<span class='text_page_counter'>(4)</span> + Tâm lý ngôn ngữ học: Tâm lý ngôn ngữ học nghiên cứu quá trình hình thành lời nói ở trẻ, các qui luật tâm lý của quá trình sản sinh và lĩnh hội lời nói. Những hiểu biết đó rất có ích cho việc dạy học Tập đọc. + Ngôn ngữ học: Những tri thức về dạy Tập đọc quan hệ trực tiếp đến các nguyeân taéc daïy hoïc, noäi dung chöông trình, caùch saép xeáp caùc chöông trình. + Cơ sở thực tiễn chính là tình hình dạy học ở lớp 2 nói riêng và ở trường Tiểu học nói chung: Đây chính là nơi đề xuất, nơi thực tiễn, là tiêu chuẩn kiểm tra lý thuyết được đề ra.. 3/ Phöông phaùp tieán haønh:. - Tự nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá và phân tích qua từng bài đọc của học sinh. - Trong quá trình học tập, công tác, tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp, qua tìm hiểu sách vở, trò chuyện, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em học sinh khi học phân môn Tập đọc và thấy phương pháp dạy học của mình còn lúng túng, mơ hồ, có sự nhầm lẫn. Hơn nữa hiệu quả giảng dạy và tiếp thu của học lớp 2 còn hạn chế. Vì vậy, bản thân cần phải nghiên cứu đề tài này.. 4/ Cơ sở và thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài này: - Để tiến hành và áp dụng đề tài, ngay từ khi mới nhận lớp. Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy phải nắm rõ tình hình đọc của từng học sinh, khả năng học tập, hoàn cảnh gia đình. Đây cũng là cơ sở để đối chiếu kết quả việc thực hiện đề tài. - Học sinh lớp 2B – Trường tiểu học Hoà Thắng. - Dựa vào chương trình giảng dạy của bộ giáo dục và đào tạo. - Thời gian nghiên cứu và tiến hành trong năm 2009-2010. PHAÀN 2: KEÁT QUAÛ 1/ Mô tả tình trạng sự việc hiện tại: a) Ý nghĩa của dạy học Tập đọc ở lớp 2: Tập đọc là nhóm bài học khởi đầu giúp học sinh lớp 2 chiếm lĩnh được một công cụ mới; chữ viết; có được một năng lực mới: đọc thông viết thạo. Từ đó mở cánh cửa bước vào địa hạt của người biết đọc, biết viết để có thể có điều kiện tiến lên nắm lấy kho tàng tri thức và văn hoá của loài người tàng trữ trong sách vở. Đối với học sinh lớp 2, nhờ biết đọc, các em có điều kiện học caùc moân hoïc khaùc trong chöông trình. Tập đọc là loại bài học thực hành kĩ năng. Tính chất thực hành đòi hỏi người giáo viên cần coi trọng việc luyện đọc của học sinh; từ đọc chậm, ngắc.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> ngứ, lí nhí, … tiến tới đọc thông thạo, lưu loát; đọc thành tiếng tới đọc thầm; từ đọc thông thạo tiến tới đọc diễn cảm. Vì vậy, dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn đối với học sinh lớp 2. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi một học sinh đi học. Đầu tiên, học sinh lớp 2 phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập, đọc là một công cụ để học các môn học khác. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Chính vì vậy, ở trường tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng giáo viên có nhiệm vụ dạy học cho học sinh một cách có kế hoạch và có hệ thống. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở lớp 2 có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này. Đó là: hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. b) Nhiệm vụ của dạy học tập đọc ở lớp 2: Tập đọc là môn thực hành Tiếng Việt. Dạy Tập đọc chính là dạy một kĩ năng. Cần coi trọng việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh, cần chú ý đến các hình thức đọc chủ yếu ở lớp 2: đọc nối tiếp câu, đọc nối tiếp đoạn, đọc cả bài, đọc thầm và đọc thành tiếng, đọc diễn cảm. Vậy hiệu quả của việc dạy đọc là giúp cho các em học sinh lớp 2 có được khả năng thấu hiểu được nội dung của câu chuyện. Do đó, việc dạy Tập đọc coù nhieäm vuï raát quan troïng trong daïy hoïc cuõng nhö trong hoïc taäp cuûa hoïc sinh. Theo tâm lý ngôn ngữ học, học sinh muốn hiểu câu chuyện đọc phải nắm được các từ chìa khoá, những nhóm từ này mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ giúp học sinh hiểu được nội dung câu chuyện. Các bài tập ở phần tập đọc trong vở bài tập Tiếng Việt chính là nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu. Ngoài nhiệm vụ rèn đọc cho học sinh còn có nhiệm vụ tích luỹ kiến thức nhiều mặt, đa dạng, phong phú cho các em. Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về hiện thực cuộc sống con người và thời đại … . Các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người, về đất nước ta trong quá khứ và trong hiện tại, về nhiều nước trên thế giới, càng thêm tin yêu ở con người và cuộc sống tương lai. Nhờ học Tập đọc mà trí tuệ của các em được mở mang, nhận thức của các em được nâng cao, hiểu biết của các em thêm mở rộng, vốn sống về nhiều mặt được tăng lên. “Người ta chỉ trở thành người cộng sản khi làm giàu tri thức của mình bằng sự hiểu biết tất cả kho tàng tri thức mà nhân loại đã.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> tạo ra’’ ( Lênin ). Vốn sống đó sẽ được nâng dần và làm phong phú khi học lên các lớp trên. Vậy nhiệm vụ của dạy Tập đọc không chỉ trau dồi cho học sinh kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ, kiến thức đời sống cho học sinh mà còn giáo dục tính thaåm mó, giaùo duïc tình caûm, phaùt trieån tö duy cho hoïc sinh.. * Giáo dục thẩm mĩ: Thực chất của việc giáo dục thẩm mĩ là gì nếu không. phải là cho các em biết cảm thụ cái hay cái đẹp của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn học qua mỗi bài tập đọc. Dạy Tập đọc có khả năng hướng học sinh tới các đẹp, biết rung cảm trước vẻ đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng nghệ thuật đẹp, hành vi đẹp của các nhân vật. Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộc sống đi vào văn học mang một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thô mộc. Nó đã được hình tượng hoá, điển hình hoá cao độ. Noù laø cuoäc soáng song song thoâng qua laêng kính chuû quan cuûa caùc taùc giaû neân ngời sáng lên và giàu chất thơ, chất mộng. Phải giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của tác phẩm. Từ đó rung cảm với tác phẩm văn học để cá thể đọc được hay.. *. Giáo dục tình cảm: Văn học có sức mạnh lớn, nó giáo dục con người không phải bằng triết lý khô khan mà bằng những hình tượng văn học sinh động. Từ sự rung động nội tâm, bài tập đọc mang đến cho các em những tình cảm đạo đức cao cả: tình yêu đối với cuộc sống con người, tình yêu gia đình, yêu bè bạn, yêu quê hương xứ sở. Thầy cô giáo có con đường ngắn nhất để đi đến trái tim các em qua từng bài tập đọc. Thầy cô sẽ là người hướng dẫn các em trong bước đi chập chững vào đời, không phải bằng nguyên tắc, qui tắc cứng nhắc mà bằng những tình cảm đẹp, lành mạnh, cao thượng có sức lay động sâu xa, có sức hấp dẫn tâm hồn trẻ thơ. Từ đó có tác dụng vun đắp, bồi dưỡng tình cảm đạo đức của con người với xã hội chủ nghĩa.. * Phát triển tư duy: Mỗi bài tập đọc giúp các em nhận thức thêm được một. mảng nhỏ của cuộc sống: nhận thức của các em phát triển, tầm hiểu biết của các em được mở rộng, ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú, từ đó tư duy của các em phát triển. Dạy Tập đọc góp phần phát triển tư duy hình tượng bên cạnh việc phát triển tư duy logic. Những bài tập đọc có giá trị thẩm mĩ cao sẽ có tác dụng ghi dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời của mỗi học sinh. Như vậy tính đa nghĩa của đọc kéo theo tính đa nghĩa của “ biết đọc”. “Biết đọc” được hiểu theo nhiều mức độ. Một em mới bước vào lớp 2, ngập ngững đọc từng tiếng một, thế cũng gọi là biết đọc. Đọc, thâu tóm được tư.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> tưởng của một cuốn sách trong vài ba trang cũng là biết đọc. Chọn trong quyển sách báo của nhân loại những gì mình cần, trong một ngày nắm được tinh thần của hàng chục cuốn sách cũng gọi là biết đọc. Những năng lực không phải tự nhiên mà có. Không thể chờ đợi gặt hái những gì mà ta không gieo trồng. Nhà trường phải từng bước hình thành và giáo viên nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên. C/ Tập đọc là một phân môn thực hành: Nhiệm vụ quan trọng nhất là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc’’: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức ( hiểu được nội dung những gì mình đọc) và đọc hay (đọc diễn cảm). Cần phải hiểu kĩ năng đọc có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau. Đầu tiên đọc là giải mã chữ – âm một cách sơ bộ. Tiếp theo, đọc là phải hiểu nghĩa của từ tìm được từ các từ chìa khoá, câu chìa khoa ù( biết tóm tắt nội dung của đoạn). Như vậy, lúc chiếm lĩnh được bài văn (bài khoá) ở các tầng bậc khác nhau về nội dung các sự kiện cấu trúc, chủ đề, các phương tiện biểu đạt. Vậy 4 kĩ năng đọc được hình thành trên hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hổ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực tới các kĩ năng khác. Ví dụ: đọc đúng là tiêu đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung câu chuyện. Ngược lại nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được. Cũng như khó mà nói con gà đẻ ra quả trứng hay quả trứng nở con gà, nhiều khi khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng. Vì vậy, trong dạy học không thể xem nhẹ kĩ năng nào cũng như không thể tách rời chúng.. 2/ Mô tả nội dung giải pháp mới: Phương pháp dạy học Tập đọc phải dựa trên cơ sở khoa học: a) Cơ sở tâm lý học : Đọc gồm hai quá trình: đọc thành âm thanh và đọc để hiểu nội dung. * Đọc thành âm thanh có các mức độ: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Các tác giả Friđôsô.M và F.Gôđôlanh đã nêu ra sơ đồ biểu diễn quá trình vận động của các giác quan con người trong việc đọc. Như vậy quá trình đọc thành âm thanh gồm hai hoạt động: Hoạt động thu nhận thông tin dựa trên cơ sở tri.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> giác bằng mắt, bằng tai các bài tập đọc. Hoạt động các thông tin thu nhận được bằng âm thanh ngôn ngữ vẫn được thực hiện trong trí não người đọc. Vì thế người bên ngoài không thể nghe đượccác âm thanh này. Cơ chế trên cho ta thấy có thể dạy cho học sinh từ việc luyện đọc thành tiếng chuyển dần sang tập đọc thầm. * Đọc để hiểu nội dung câu chuyện: Mục đích cuối cùng của việc đọc là để thông hiểu nội dung câu chuyện. Có nhiều mưcù độ tạo nên sự thông hiểu toàn bộ nội dung: sự hiểu nghĩa của từ ngữ, nghĩa của câu, của đoạn, của toàn câu chuyeän. Sự thông hiểu nội dung của câu chuyện gắn liền với các hoạt động của tư duy: phân tích, hệ thống hoá, phân loại, tổng hợp, khái quát, … . Như vậy rèn luyện sự thông hiểu nội dung câu chuyện cho học sinh không phải chỉ rèn luyện khả năng đọc thành âm thanh của câu chuyện một cách thông thạo. Ñieàu chuû yeáu laø reøn luyeän caùc phaåm chaát cuûa tö duy cho hoïc sinh. Khi nói đến đọc là phải nói đến việc rèn kĩ năng đọc. Như trên đã trình bày đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài. Có một điều kiện cần xem xét tới: Khả năng chiếm lĩnh văn tự dùng để ghi văn bản đọc. Đối với học sinh lớp 2, việc luyện kĩ năng phải tính từ điểm xuất phát đầu tiên. Luyện đọc từng con chữ ghi âm, tiến tới luyện đọc tiếng, từng từ, từng câu, … . Nói cách khác việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 gồm cả giai đoạn luyện đọc để chiếm lĩnh chữ quốc ngữ. Theo tác giả Ê-gô rốp, việc luyện đọc trong quá trình đọc tiếng mẹ đẻ của học sinh gồm 3 giai đoạn: giai đoạn phân tích, tổng hợp (còn gọi là quá trình phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động hoá”. Các công trình ngiên cứu gần đây đã nêu ra cơ chế đọc. Theo các tác giả, khi đọc, mắt lướt từ dòng này sang dòng khác theo từng bước nhảy kế tiếp. Mỗi bước, mắt bao quát một khối lượng từ nhất định gọi là trường nhìn. Trường nhìn của mỗi người đọc khác nhau. Người đọc giỏi có trường nhìn lớn hơn người đọc kém. Một kĩ thuật khác của việc đọc là các bước hồi quy. Sau khi lướt trên các dòng, người đọc sẽ có những bước dừng lại để quay trở lại bao quát một lần nữa khối lượng các chữ cần đọc. Bước hồi quy có tác dụng: nhận biết thêm về những chữ, những dòng đã lướt qua để nắm vững hơn. Người đọc giỏi, ít cần đến bước hồi quy, do đó tốc độ đọc tăng lên. Có thể giúp cho giáo viên hiểu rõ quá trình luyện đọc của học sinh và giúp các em mở rộng trường nhìn và giảm các bước hồi quy..

<span class='text_page_counter'>(9)</span> b/ Cơ sở ngôn ngữ học và văn học: Các vấn đề thuộc ngôn ngữ học,Việt ngữ học như chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu, ngữ nghĩa, kiểu câu, dấu câu, đặc điểm phong cách văn bản, cấu trúc văn bản, … là cơ sở quan trọng cho việc xác định phương pháp dạy tập đọc. Hiện nay nhiều vấn đề trên chưa được Việt ngữ học giải đáp một cách tường tận, chi tiết. Điều đó làm cho phương pháp dạy tập đọc không tránh khỏi những lúng túng khi giải quyết vấn đề luyện đọc thông thạo, đọc đúng, đọc diễn cảm … . Ví dụ do chưa giải quyết được vấn đề chính âm và mối quan hệ giữa phát âm địa phương với chính âm, phương pháp dạy học tập đọc chưa vạch ra được các biện pháp hữu hiệu để dạy tập đọc đúng chính âm. Do thiếu các nghiên cứu cụ thể, kĩ lưỡng về ngữ điệu của Tiếng Việt nên không có được chỉ dẫn cụ thể cho việc luyện đọc diễn cảm mà đành bằng lòng với cách nói chung chung, hời hợt, bài thơ cần đọc với giọng tha thiết, sôi nổi, … . Mặc dù còn các khó khăn như vừa nêu trên, các kiến thức đã có về ngữ âm tiếng việt , từ vựng và ngữ pháp tiếng việt, ngữ pháp văn bản tiếng việt … trong chương trình tiếng việt là những kiến thức và hiểu biết rất quan trọng mà mỗi giáo viên cần nắm được. Chỉ có trên nền các kiến thức ấy mới có thể lĩnh hội một cách đầy đủ, có căn cứ khoa học các chỉ dẫn cụ thể của phương pháp dạy tập đọc. Việc nghiên cứu cơ chế của đọc giúp ta trải được hoạt động đọc theo chuỗi tuyến tính, nhờ đó có thể hình dung được trật tự các việc cần làm để tổ chức quá trình dạy đọc cho học sinh. Cần chú ý đến luyện đọc từ dễ đến khó. Có các hình thức luyện đọc: c) Yêu cầu của giáo viên trực tiếp giảng dạy: - Khảo sát bài đọc của học sinh. - Phân tích các lỗi đọc sai của học sinh theo âm, vần, thanh. - Nêu nội dung mà giáo viên cho học sinh tự rèn. - Kieåm tra. - Tuyên dương, khen thưởng.. 3/ Các hình thức luyện đọc: a) Luyện đọc đúng: - Đọc đúng là phát lại âm thanh được kí mã bởi hình thức văn tự, các âm thanh này theo đúng quy định của chính âm..

<span class='text_page_counter'>(10)</span> - Luyện đọc đúng bao gồm luyện đọc đúng các âm vị và ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. Luyện đọc đúng âm vị tức là khắc phục các lỗi về phát âm do ảnh hưởng của phương ngữ, do ảnh hưởng của việc phát âm cá nhân,… gây ra. Ví dụ: Luyện đọc để không đọc chồng cây, lăm anh em, dang dọng, iu tin, hộc hành, … mà phải đọc thành: trồng cây, năm anh em, vang vọng, ưu tiên, hoïc haønh … . - Luyện ngắt nghỉ hơi đúng chỗ nhằm tạo cho văn bản âm thanh phản ánh đúng văn bản ghi bằng văn tự. Cần dựa vào ý nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ, vào mạch văn bản câu, đoạn … để xác định choõ ngắt nghỉ đúng. Ví dụ: Không được tách một từ làm hai để nghỉ hơi: Ca lô đội lệch Moàm huyùt / saùo vang Không tách từ chỉ loại với danh từ đi kèm để nghỉ hơi: Nhö con / chim chích b) Luyện đọc nhanh nhằm rèn luyện năng lực đọc lưu loát, trôi chảy (một phẩm chất quan trọng của năng lực đọc): - Luyện đọc trơn: chủ yếu thực hiện ở các học sinh học kém, hình thức luyện tập này diễn ra trong thời gian dài ở lớp 2. - Luyện đọc trôi chảy, lưu loát. Đó là đọc không kéo dài ê a, không ngắc ngứ ( vì còn tách vần các chữ cần đọc). Cần chú ý việc đọc trôi chảy, lưu loát phải đảm bảo tốc độ hợp ly ù( không đọc liếng thắng ) nhằm đảm bảo người nghe hiểu kịp văn bản đang đọc. - Các hình thức luyện đọc nhanh: đọc các câu khó( khó ngắt giọng… ) đoạn khó; đọc tiếp nối trên lớp; đọc có tính thời gian … . c) Luyện đọc diễn cảm: - Đó là cách đọc làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng … để biểu đạt đúng nội dung và tình cảm của văn bản, thể hiện sự thông hiểu và cảm thụ văn bản của người đọc. - Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát. Đây chính là cái đích của quá trình đọc thaønh tieáng.. 4/ Chính âm và vấn đề chính âm ở lớp 2:. Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực phát âm Tiếng Việt đang là vấn đề thời.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> sự có nhiều ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến các vấn đề khác nhau như chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng chính âm. Việc chưa có chuẩn chính âm trong trường học là một khó hkăn lớn cho việc luyện đọc, làm cho phương pháp dạy tập đọc không giải quyết được vấn đề phát âm địa phương một cách có nguyên tắc, không tránh khỏi những lúng túng khi xác định nội dung đọc đúng, đọc diễn cảm. Để luyện phát âm đúng cho học sinh, trước hết và thực chất phải giải quyết vấn đề ngôn ngữ. Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinh vươn tới một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh. Muốn như vậy, chúng ta phải luyện cho học sinh đọc đúng, đọc hay trong phạm vi giao tếp rộng hơn phương ngữ hẹp của mình. Vấn đề đặt ra là phải giải quyết như thế nào những nét khác biệt trên bình diện ngữ âm giữa các phương ngữ, một hiện tượng khách quan có liên quan trực tiếp đến việc xác định chuẩn chính âm. Sự thực, bức tranh ngữ âm của các phương ngữ Tiếng Việt còn đa dạng và phức tạp hơn nhiều. Trong bốn thập kỉ nay trong giới Việt ngữ học có nhiều quan điểm khác nhau về chuẩn mực ngữ âm Tiếng Việt, trong đó có ý kiến cho rằng nên lấy phương ngữ Bắc Bộ( chủ yếu là thủ đô Hà Nội ) làm cơ sở để xác định chuẩn mực ngữ âm Tiếng Việt đồng thời bổ sung một số yếu tố ngữ âm tích cực của các phương ngữ khác nhau. Đây là quan điểm được nhiều người tán thành. Về thực chất, quan điểm này đã lấy chữ viết làm cơ sở để xác định chuẩn mực ngữ âm Tiếng Việt. Quan điểm này đã chi phối cách phát âm của trường học, nên hiện nay, mặc dù chưa có một văn bản nào chính thức qui định nhưng trong trường học hệ thống ngữ âm được phản ánh trên chữ viết được coi là hệ thống ngữ âm chuẩn mực của Tiếng Việt hiện đại. Đó là cách phát âm lấy phương ngữ Bắc Bộ bổ sung thêm 3 phụ âm đầu của miền Trung như: tr, s, r và 2 vần: ươu, ưu. Đây là cách phát âm đúng chuẩn chữ viết. Giáo viên tiểu học như tôi gọi cách phát âm này là cách phát âm đúng chính tả. Đây là cách phát âm có sự khu biệt âm vị học tối đa của chữ viết để khắc phục những âm đã mất đi hoặc đã bị biến dạng của tiếng địa phương. Cách phát âm này tránh được hiện tượng đồng âm và cũng là cách phát âm để viết đúng chính tả. Giá trị của cách phát âm này là ở chỗ đó. Vì vậy, cách phát âm đúng theo tiếng Hà Nội là căn cứ đầu tiên để chúng ta dạy cho học sinh cách phát âm. Cho nên là một giáo viên dạy lớp 2 tôi cần xác định được các trường hợp phát âm lệch chuẩn chữ viết vùng mình đang dạy như học sinh ở trường Tiểu học Hoà Thaéng..

<span class='text_page_counter'>(12)</span> Mặc khác, luyện phát âm chỉ đạt hiệu quả khi nó được tiến hành một cách tự nhiên, tự nguyện, không đi ngược với quan niệm và tình cảm và nó không buộc phải thực hiện những kỉ luật phát âm quá khó đối với các em học sinh lớp 2. Hệ thống ngữ âm và chữ viết là một hệ thống siêu phương ngữ, không thực hiện hoá đầy đủ trong giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ mà chỉ tồn tại trong ý thức người bản ngữ khi đọc, viết đúng chính tả. Nếu phát âm đúng chữ viết sẽ có nhiều cái lợi : Trước hết nó giúp học sinh viết đúng chính tả, sau đó giúp học sinh phát âm dễ dàng hơn khi học ngoại ngữ. Chúng ta không nên đẩy tất cả gánh nặng của chính tả sang cho ngữ âm. Vì phát âm sai nên viết sai chính tả nhưng điều đó không có nghĩa là để viết đúng lại chỉ có cách luyện phát âm. Cần phải khắc điều này bằng cách dạy ý thức chính tả cho học sinh từ khi mới bước vào đầu năm lớp 2. Học sinh lớp 2 cần ý thức được rằng có những âm của mình ứng với nhiều cách viết khác nhau. Học sinh biết nhiều cách phát âm khác nhau càng có lợi. Nhưng khi nói đến tính nguyên tắc bắt buộc thì lại không được vì ở lớp 2 chỉ có thể đặt ra vấn đề luyện các kĩ năng cơ bản không thể thiếu được mà chưa thể luyện tất cả những kĩ năng cần có. Nếu chỉ chọn phát âm theo chữ viết thì không hợp lý. Làm như vậy sẽ gây ra biết bao nhiêu khó khăn đối với việc trau dồi cách phát âm chuẩn mực trong trường học. Vì vậy, để luyện đọc đúng cho học sinh, chúng ta phải đặt vấn đề chấp nhận hai chuẩn chính âm. Vậy những trường hợp nào cần xem là học sinh mắc lỗi phát âm phải sửa chữa và trong những trường hợp nào cần chấp nhận chuẩn chính âm thứ hai? Dựa vào tâm tý của người bản ngữ, chúng ta có thể chia các trường hợp phát âm lệch chuẩn chữ viết thành hai nhóm: Nhóm lỗi phát âm và nhóm biến thể phương ngữ . Chúng ta chỉ luyện cho các trường hợp được xem là mắc lỗi phát âm và còn đặt vấn đề chấp nhận hai chuẩn chính âm cho cho các trường hợp được xem là biến thể phương ngữ. Sở dĩ đặt vấn đề như vậy là vì xét từ vấn đề tâm lý, xã hội, cũng từ một âm này( của hệ thống phát âm hợp chuẩn chữ viết ) được phát âm thành một cách khác( theo cách phát âm của từ địa phương ). Nhưng chỉ có một nhóm thứ nhất gây cho người nghe cảm giác người nói mắc lỗi, nhưng nói có văn hoá phát âm không cao, hoặc chút ít, cách phát âm này tạo ra một số dấu hiệu âm thanh để người nghe nhận ra gioïng queâ nhö caùch phaùt aâm laãn n/ l hay khoâng roõ tieáng cuûa kieåu cuoân cuøa bia bía ( con cò be bé ) của một số người miền Bắc. Những cách phát âm này làm cản trở hiệu quả giao tiếp giữa người nói và người nghe..

<span class='text_page_counter'>(13)</span> Tất nhiên phải thừa nhận, cảm giác về phát âm hay hay không hay, cũng là đánh giá tính hiệu qủa của giao tiếp về mặt phát âm có thể mang tính chủ quan tuỳ theo ngữ cảm của người nghe. Chẳng hạn, một người nói có phân biệt tr, r/d(gi), s/x vẫn cảm thấy cách phát âm không có 3 phụ âm quặc lưỡi của người Bắc là hay, nhẹ nhàng, đáng yêu nhưng khi nghe người Nam Bộ nói đớt, giọng nhà, hơi thừa lưỡi. Có lẽ vì người nói những âm này theo kiểu cấu âm sâu hơn, tạo ra những âm z ( hay chính là j ). Những cách phát âm này chúng ta không đặt vấn đề chữa lỗi. Để luyện phát âm cho học sinh, chúng ta có thể hướng đến một trong 3 mẩu hình lý tưởng, hay nói cách khác là có thể chọn một trong 3 chuẩn phát âm sau: * Hướng đến cách phát âm của hệ thống ngữ âm phù hợp với cách viết. Giáo viên và học sinh thuộc phương ngữ Trung Bộ nên hướng đến cách phát âm naøy. * Hướng đến cách phát âm theo tiếng Hà Nội như phát thanh viên đài phát thanh, truyền hình Trung ương. Giáo viên và học sinh phương ngữ Bắc Bộ nên hướng đến cách phát âm này. * Hướng đến cách phát âm của tiếng Thành Phố Hồ Chí Minh như phát thanh viên đài phát thanh , truyền hình Thành Phố Hồ Chí Minh. Giáo viên và học sinh thuộc phương ngữ Nam Bộ nên hướng đến cách phát âm này. Chấp nhận nhiều chuẩn chính âm, học sinh thuộc phương ngữ Bắc Bộ sẽ không bắc buộc phải phân biệt các cặp phụ âmđầu tr/ch, r/d(gi), s/x. Như vậy, cần loại bỏ những cách luyện phát âm không tự nhiên, chỉ hướng đến mục đích chính tả như cách đọc , nói sai ở một số vùng miền Bắc ràn mướp, rao bài tập và cả cách luyện ba phụ âm đầu quặc lưỡi rất nặng nề. Với học sinh Nam Bộ, sự phân biệt các cặp phụ âm đầu v/d; các cặp phụ âm cuối n/ng; t/c cũng là không bắt buộc. Cũng vì vậy, theo tôi những chỉ dẫn luyện đọc đúng phân biệt tr/ch, r/d/gi, an/ang, s/x, ac/at trong các tài liệu dạy học là không cần thiết. Như vậy nội dung luyện đọc đúng âm vị ở một vùng khác nhau, sách học sinh, sách giáo viên chỉ là những gợi ý, còn giáo viên sẽ là người lựa chọn những từ ngữ cần thiết để luyện phát âm cho học sinh lớp 2. Như thế, luyện phát âm không có nghĩa là bắt buộc học sinh các tỉnh khác đọc giọng Hà Nội, bắt người Nam nói giọng Bắc, một giọng Nam Boä trau chuoát hôn, chuaån hôn, hay hôn..

<span class='text_page_counter'>(14)</span> Tuy ta xem chuẩn chữ viết tiếng Hà Nội, tiếng Sài Gòn là đích lý tưởng cần hướng tới nhưng khi luyện phát âm phải có sự vận dụng mềm dẻo, trong phần luyện tập có chia ra nội dung bắt buộc và nội dung lựa chọn. Chấp nhận nhiều chuẩn chính âm, giáo viên sẽ lựa chọn chuẩn phát âm nào gần nhất với giọng địa phương của mình, đối chiếu với cách phát âm địa phương tự nhiên theo phương ngữ của mình còn những điểm nào sai lạc. Trước hết, giáo viên phải tự chữa lỗi cho mình ( nếu có ) rồi xây dựng chữa lỗi phát âm cho học sinh trong các giờ tập đọc và cả các giờ học khác. Tóm lại, luyện chính âm nhằm nâng cao văn hoá phát âm của học sinh và khi thực hiện cần lưu ý không để học sinh phát âm tự nhiên như nhiên theo giọng địa phương ở những âm bị xem là mắc lỗi. Từ đó không gò ép học sinh luyện phát âm theo chữ viết một cách tự nhiên. 5/ Trọng âm, ngữ điệu và nội dung luyện đọc thành tiếng ở lớp 2: a) Trọng âm và đọc dúng trọng âm: Trong việt ngữ học, trọng âm là một vấn đề ít được quan tâm. Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng ). Dựa vào sự phát âm mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu rõ hay không, người ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có trọng âm( tiếng có trọng âm yếu ). Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quan trọng trong câu. Trọng âm yếu đi với những từ không có hoặc có ít thông tin mới. Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn mạnh hay kéo dài những từ quan trọng trong bài. Từ ghép chính phụ chỉ có một trọng âm. Hai tiếng có quan hệ đẳng lập ( trong từ ghép đẳng lập ) hay hai từ đơn có quan hệ song song trong câu thì đều mang trọng âm. Ở ngữ đoạn danh từ, trọng âm mạnh thường rơi vào định ngữ. Thực từ mới có trọng âm. Loại từ và hư từ mang trọng âm yếu. Không nắm được đặc điểm này, nhiều khi học sinh đọc các hư từ với trọng âm tạo ra những cách đọc sai nghĩa hoặc đọc nhấn mạnh vào từng tiếng đều đều như đọc chính tả, không diễn cảm được. Ví dụ: Một số học sinh đã đọc Quả dừa – đàn lợn/ con nằm/ trên cao ( Tiếng Việt 2 ), tạo ra một cách hiểu sai có một đứa con nằm trên cao. Cách đọc này làm cho câu thơ nghe không tự nhiên, rời rạc như đọc chính tả. Troïng aâm khoâng coù taùc duïng phaân bieät caùc tieáng veà maët nghóa maø chæ coù taùc dụng phân cắt các ngữ đoạn và góp phần xác định ý nghĩa ngữ pháp. Đây là căn cứ quan trọng để xác định chỗ ngắt nghỉ trong câu văn, câu thơ, cũng là căn cứ để xác định những chỗ cần luyện ngắt giọng trong bài..

<span class='text_page_counter'>(15)</span> b) Ngữ điệu và đọc đúng ngữ điệu, đọc diễn cảm: Ngữ điệu Tiếng Việt chưa được nghiên cứu nhiều, đây cũng là lý do khiến cho phương pháp dạy học không đưa ra được những chỉ dẫn cụ thể cho việc luyện đọc diễn cảm mà đành bằng lòng với những cách nói chung hời hợt. Ví dụ, về ngữ điệu mới có những qui tắc ít ỏi của ngữ pháp: đọc kết thúc câu phải xuống giọng, hết câu hỏi phải lên giọng nên có những bài thơ đọc với giọng tha thiết, sôi nổi còn những chỉ dẫn về mối tương quan giữa độ cao, trường độ, cường độ, chỗ ngắt nghỉ của đoạn, …, của bài chưa được xác định. Vì vậy, việc dạy đọc diễn cảm nhiều lúc còn mang tính chủ quan, cảm tính. Điều này gây nên những khó khăn nhất định trong việc xác định nội dung và phương pháp dạy đọc. Sau đây, chúng ta đi vào xem xét từng yếu tố của ngữ điệu để luyện đọc đúng, đọc diễn cảm.  Đo đúng chỗ ngắt nghỉ hơi.  Đọc đúng kiểu câu.  Đọc diễn cảm bài văn. 6/ Bình diện ngữ nghĩa của bài văn và luyện đọc ở lớp 2: a) Ý nghĩa của việc dạy đọc hiểu: Khi học sinh biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo các bài văn được đọc thì học sinh mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong bài văn. Đó cũng chính là điểm tựa để lĩnh hội những tri thức khi học các môn học khác của nhà trường. b) Bài văn với vấn đề đọc hiểu: Bài văn là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể của ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm mục đích giao tiếp nhất định. Văn bản có tính chỉnh thể. Tính chỉnh thể này được thể hiện ở hai phương diện: - Veà maët noäi dung. - Về mặt hình thức. Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản: Nhận diện ngôn ngữ – làm rõ nghĩa – hồi đáp. 7/ Tác phẩm của bài văn với vấn đề đọc hiểu bài văn nghệ thuật: Đọc bài văn nghệ thuật, học sinh không chỉ hiểu nội dung bài văn mà còn phải cảm thụ được một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu. Vì.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> vậy, đọc bài văn nghệ thuật thực hiện một nhiệm vụ kép: dạy một kỉ năng Tiếng Việt và dạy văn. Từ đây có thể suy ra dạy đọc hiểu bài văn nghệ thuật gồm các công việc làm cho học sinh nắm được nội dung của bài văn, mục tiêu của bài văn. Đồøng thời dạy cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình tượng văn chương làm nên nội dung văn bản. Với nghĩa đó, dạy đọc hiểu baøi vaên ngheä thuaät laø daïy tieáp nhaän vaên hoïc. Để dạy đọc hiểu bài văn nghệ thuật, người giáo viên lớp 2 như tôi phải hiểu roõ ñaëc tröng vaên chöông vaø ñaëc tröng tieáp nhaän vaên chöông. Lí thuyeát tieáp nhận văn học đã chỉ ra 3 cấp độ trong tiếp nhận văn học: * Người đọc tri giác, hiểu ngôn từ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ. * Người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc tư yưởng và tình cảm của tác giả. * Người đọc đưa hình tượng vào đời sống và kinh nghiệm riêng của mình để đồng cảm. Cuối cùng nâng cấp lí giải tác phẩm lên lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hoá, tư tưởng, đời sống vaø truyeàn thoáng ngheä thuaät. Ba cấp độ trên có điểm tương đồng với ba bước trong quá trình đọc hiểu bài vaên vaø nhö vaäy hieåu baøi vaên ngheä thuaät laø hieåu moät kieåu vaên baûn. Taùch vieäc hiểu bài văn nghệ thuật ra khỏi cái chung, khỏi hiểu văn bản là không hợp lý. Đồng thời những đặc trưng của bài văn nghệ thuật cũng cho ta thấy muốn hiểu biết nó, ngoài bước đi chung còn phải nắm bắt được các đặc điểm riêng của loại văn bản này. Vậy bài văn nghệ thuật là gì chúng có những đặc điểm chung naøo? Văn bản văn học là một tổ chức nghệ thuật gồm từ, câu, đoạn đào tạo thành một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát nhằm phản ánh đời sống và biểu hiện sự cảm nhận trước đời sống của tác giả, nhằm thức tỉnh những thái độ, tình cảm nhất định đối với thực tạiđời sống thông qua việc xây dưngh nhân vật, không gian, thời gian, qua việc sắp xếp các chi tiết để tạo thành bức tranh đời sống sinh động nhằm biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người của taùc giaû. Giữa bài văn nghệ thuật và bài văn có những điểm giống nhau: cả hai cùng có tính hoàn chỉnh trên cơ sở liên kết nội dung và hình thức; cả hai cùng mục đích thông tin; cùng dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt. 8/ Về nội dung, kết cấu, ngôn ngữ:.

<span class='text_page_counter'>(17)</span> Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Nhờ chất liệu của ngôn ngữ mà chất nhân văn, tính hình tượng, tính cảm xúc và độc đáo cả văn chương còn có những sắc thái riêng mà các nghệ thuật khác không có. Nói về hình thức của tác phẩm, trước hết đó là phương diện âm thanh. Đọc đúng và đọc diễn cảm sẽ giúp các em tái sinh tác phẩm nghệ thuật, để cho các dòng chữ được vang leân. Vì vậy , có những bài tập đọc ở lớp 2 chỉ cần để học sinh trực tiếp đọc bằng chính giọng đọc của mình, nó sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng cảm nhận cái đẹp, cái hay của văn chương. Tất nhiên những yếu tố âm thanh không tồn tại một cách cô lập mà bằng cả hình ảnh, ý nghĩa do lời nói tạo nên. 9/ Soá lieäu khaûo saùt qua caùc kì: Lớp. Hoïc kì Só soá Đầu năm. 2B/ 26. Hoïc kì I Hoïc Kì II. Đọc khoâng maéc loãi SL ( % ) 5 19.2% 10 38,5% 19 73,1%. Đọc mắc loãi veà aâm. Đọc mắc loãi veà vaàn. SL ( % ) 5 19.2% 3 11,5% 2 7,7%. SL ( % ) 7 26,9 5 19.2% 2 7,7%. PHAÀN III: KEÁT LUAÄN. Đọc mắc loãi veà thanh SL ( % ) 9 34,7% 8 30,8% 3 11,5%. 1/ Khaùi quaùt: Song qua thực tế lỗi đọc sai của học sinh, bản thân đã cố gắng tổ chức rèn cách đọc cho học sinh nhằm mục đích giúp học sinh lớp mình từng bước đọc không còn sai nữa. Với hướng khắc phục và kết quả đạt được như bản dưới đây. Tôi nhận thấy lớp học trở nên tiến bộ hơn. Vì vậy, bản thân là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp tôi thật sự vui mừng trước sự tiến bộ của lớp mình. 2/ Đề nghị: - Khi tổ chức cho học sinh đọc cần thực hiện tốt công tác đến từng học sinh để nhắc nhở cho học sinh đọc đúng. - Thực hiện tốt công tác kiểm tra dụng cụ học tập của học sinh..

<span class='text_page_counter'>(18)</span> - Phối hợp với cha mẹ học sinh trong lớp để nhắc nhở học sinh phải có người kèm cho các em đọc ở nhà. - Giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy phân môn Tập đọc để giúp học sinh khắc phục những lỗi đọc sai..

<span class='text_page_counter'>(19)</span>

<span class='text_page_counter'>(20)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×