Tải bản đầy đủ (.pdf) (579 trang)

Niên giám thống kê tỉnh hà nam 2019 hanam statistical yearbook 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.64 MB, 579 trang )

1


Chỉ đạo biên soạn:
VŨ ĐẠI DƯƠNG
Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Hà Nam

Tham gia biên soạn:
PHÒNG THỐNG KÊ TỔNG HỢP
VÀ CÁC PHÒNG NGHIỆP VỤ
Cục Thống kê tỉnh Hà Nam

2


LỜI NĨI ĐẦU
Để đáp ứng u cầu nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội trên
địa bàn tỉnh Hà Nam, Cục Thống kê tỉnh Hà Nam biên soạn và xuất
bản cuốn "Niên giám Thống kê tỉnh Hà Nam năm 2019".
Nội dung Niên giám bao gồm số liệu báo cáo chính thức của các
năm 2015, 2016, 2017, 2018 và sơ bộ năm 2019.
Các kí hiệu nghiệp vụ sử dụng trong cuốn sách này:
(-): Khơng có hiện tượng phát sinh.
(…): Có hiện tượng phát sinh nhưng không thu thập được số liệu.
Các chỉ tiêu cơ cấu: Lấy tổng bằng 100%.
Các chỉ tiêu tốc độ phát triển: Lấy năm trước liền kề làm gốc
so sánh và bằng 100%.
Trong quá trình biên soạn khó tránh khỏi những thiếu sót, chúng
tơi rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các cá nhân,
đơn vị nghiên cứu và sử dụng để Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam
ngày càng hoàn thiện.


CỤC THỐNG KÊ TỈNH HÀ NAM

3


FOREWORD
In order to meet the demand of researching socio-economic
situation in Ha Nam province, Ha Nam Statistics Office has compiled
and published the book “Ha Nam Statistical Yearbook 2019”.
The book includes official reported data of the year 2015, 2016,
2017, 2018 and preliminary data of 2019.
Some special signs used in the book:
(-): No fact occurred.
(...): Fact occurred but no information.
Structure indicators: Total equal 100%.
Index indicators: Previous year is the base year and equal 100%.
During compilation and publishing, mistake is unavoidable, we
are looking forward to receiving any ideals and comments from
readers and users to complete Ha Nam Statistical Yearbook in the
next release.
HA NAM STATISTICS OFFICE

4


MỤC LỤC - CONTENTS
Trang
Page
Lời nói đầu
Foreword


3
4

Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam năm 2019
Overview of socio-economic situation in Ha Nam province in 2019

7
23

Đơn vị hành chính, Đất đai
Administrative unit, Land

41

Dân số và Lao động - Population and Labour

51

Tài khoản quốc gia, Ngân sách Nhà nước và Bảo hiểm
National accounts, State budget and Insurance

111

Đầu tư và xây dựng - Investment and Construction

143

Doanh nghiệp, Hợp tác xã và Cơ sở SXKD cá thể
Enterprise, Cooperative and Individual business Establishment


177

Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản
Agriculture, Forestry and Fishing

303

Công nghiệp - Industry

389

Thương mại và Du lịch - Trade and Tourism

423

Chỉ số giá - Price index

441

Vận tải, Bưu chính và Viễn thông
Transport, Postal service and Telecommunication

467

Giáo dục, Đào tạo và Khoa học, Công nghệ
Education, Training and Science, Technology

485


Y tế, Thể thao, Mức sống dân cư, Trật tự, An toàn xã hội,
Tư pháp và Môi trường
Health, Sport, Living standards, Social order, Safety, Justice
and Environment

539

5


6


TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH HÀ NAM NĂM 2019
1. Tổng sản phẩm trên địa bàn
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2019 (theo giá so sánh)
ước đạt 35.139,1 tỷ đồng, tăng 10,63% so với năm 2018, đây là mức
tăng trưởng khá cao so với bình quân cả nước và so với các tỉnh trong
khu vực Đồng bằng sơng Hồng. Trong mức tăng chung 10,63%, đóng
góp của từng khu vực như sau: nông, lâm lâm và thủy sản tăng 1,43%,
đóng góp 0,16 điểm phần trăm của mức tăng chung; cơng nghiệp xây dựng tăng 13,41%, đóng góp 8,13 điểm phần trăm; dịch vụ tăng
8,26%, đóng góp 2,34 điểm phần trăm.
GRDP năm 2019 theo giá hiện hành đạt 53.772,1 tỷ đồng, cơ cấu
theo 3 khu vực kinh tế: Nông, lâm lâm và thủy sản chiếm 9,1%, công
nghiệp - xây dựng 62,8%, dịch vụ 28,1%. Có thể thấy, kinh tế của tỉnh
liên tục tăng cả về quy mô và tốc độ; cơ cấu kinh tế ngày càng chuyển
biến rõ nét theo hướng cơng nghiệp hóa.
2. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam

năm 2019 đạt 9.546,6 tỷ đồng, tăng 1.673,6 tỷ đồng (tăng 21,3%) so
với năm 2018, trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.650,9 tỷ đồng (chiếm
80,1%), tăng 19,9%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.895,6
tỷ đồng (chiếm 19,9%), tăng 26,9%.
Tổng chi cân đối ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam
năm 2019 là 7.177,1 tỷ đồng, tăng 6,9% so với năm trước, trong đó:
chi đầu tư phát triển là 1.753,8 tỷ đồng (chiếm 24,4% tổng chi cân
đối); chi thường xuyên là 5.414,3 tỷ đồng (chiếm 75,4%), tăng 24,1%
so với năm 2018.
7


3. Bảo hiểm
Năm 2019, tồn tỉnh có 139.476 người tham gia Bảo hiểm xã hội,
tăng 9,8% so với năm 2018; 733.961 người tham gia Bảo hiểm y tế,
tăng 4,3% và 127.572 người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp, tăng
11,5% so với năm 2018.
Tổng thu bảo hiểm năm 2019 đạt 2.615 tỷ đồng, tăng 9,6% so
với năm 2018, trong đó: Thu bảo hiểm xã hội đạt 1.755 tỷ đồng,
chiếm 67,1% tổng thu bảo hiểm; thu Bảo hiểm y tế đạt 732,0 tỷ đồng,
chiếm 28,0%; thu Bảo hiểm thất nghiệp đạt 128,0 tỷ đồng, chiếm 4,9%.
Tổng chi bảo hiểm năm 2019 đạt 2.687 tỷ đồng, giảm 6,0% so
với năm 2018, trong đó: Chi Bảo hiểm xã hội đạt 2.233 tỷ đồng,
chiếm 82,3% tổng chi bảo hiểm; chi Bảo hiểm y tế đạt 407,0 tỷ đồng,
chiếm 15,1%; chi Bảo hiểm thất nghiệp đạt 57 tỷ đồng, chiếm 2,1%.
4. Xây dựng và đầu tư
Tổng vốn đầu tư toàn tỉnh năm 2019 theo giá hiện hành đạt
33.205,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với năm 2018 và bằng 61,8% GDP,
bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 4.753,7 tỷ đồng (chiếm 14,3%
tổng vốn đầu tư thực hiện toàn tỉnh), giảm 8,2% so với cùng kỳ; khu

vực ngoài Nhà nước đạt 21.726 tỷ đồng (chiếm 65,4%), tăng 9,8%;
khu vực có vốn đầu tư nước ngồi đạt 6.726 tỷ đồng (chiếm 20,3%),
tăng 18,9%.
Về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI), năm 2019 có
55 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký 713,5 triệu USD,
tăng 19,6% về số dự án và tăng 60,3% về vốn đăng ký so với năm 2018.
Bên cạnh đó có 27 dự án đã cấp phép từ những năm trước đăng
ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 109,7 triệu USD.
Thực hiện thu hồi 8 dự án với tổng vốn đầu tư 29,7 triệu USD.
Tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án FDI cấp mới và cấp
vốn bổ sung năm 2019 đạt 823,2 triệu USD, nguồn vốn này tập trung
8


chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong các quốc gia
và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Hà Nam năm 2019, Đài Loan là
nhà đầu tư lớn nhất với tổng số vốn đạt 341 triệu USD, chiếm 47,8%,
tiếp đến là Hồng Kông 116,7 triệu USD, chiếm 16,4%; Nhật Bản 115,5
triệu USD, chiếm 16,2%; Hàn Quốc 105,3 triệu USD, chiếm 14,8%.
Lũy kế đến hết ngày 31/12/2019 tồn tỉnh có 293 dự án FDI cịn
hiệu lực với vốn đăng ký 3.498,2 triệu USD. Trong đó: trong khu
cơng nghiệp có 253 dự án với vốn đăng ký 320,4 triệu USD, ngồi
khu cơng nghiệp có 40 dự án với tổng vốn đăng ký 247,8 triệu USD.
Ước tính năm 2019, diện tích sàn xây dựng nhà ở hồn thành đạt
1.444,6 triệu m2, tăng 33,6% so với năm 2018. Trong nhà ở riêng lẻ,
diện tích nhà ở riêng lẻ dưới 4 tầng đạt 1.320,1 triệu m2, chiếm 91,4%;
diện tích nhà ở riêng lẻ từ 4 tầng trở lên đạt 89,3 triệu m2, chiếm
6,2%; diện tích nhà biệt thự đạt 35,2 triệu m2, chiếm 2,4%.
5. Chỉ số giá
Thị trường giá cả năm 2019 tại tỉnh Hà Nam biến động tăng,

giảm trái chiều tương đối lớn. Đặc biệt là một số mặt hàng thực phẩm
tươi sống như: thịt lợn, thịt gà… Tuy một số mặt hàng thực phẩm tăng
mạnh vào các tháng của cuối q III và q IV nhưng tính bình quân
cả năm, chỉ số các mặt hàng thực phẩm tăng không cao. Chỉ số giá
tiêu dùng tháng 12 năm 2019 tăng 1,47% so với tháng trước; tăng
5,87% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân năm 2019 so với
năm trước tăng 2,06%, tăng thấp hơn so với chỉ số giá bình quân của
năm 2018. Cụ thể các nguyên nhân tác động đến sự biến động của chỉ
số giá tiêu dùng năm 2019 như sau:
- Thực hiện Thông tư số 19/2019/TT-BYT ngày 05/7/2019 sửa
đổi Thông tư số 39/2018/TT-BYT quy định về thống nhất giá dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn
quốc áp dụng từ ngày 20/8/2019. Tác động mạnh tới chỉ số của nhóm
9


Thuốc và dịch vụ y tế, đặc biệt là dịch vụ y tế bình qn cùng kỳ tăng
3,65%; trong đó dịch vụ y tế tăng bình quân 4,55%.
- Bên cạnh giá dịch vụ y tế, giá của nhóm dịch vụ giáo dục năm
2019 cũng tăng khá cao do giá của một số dịch vụ như: học phí nhà
trẻ tư thục, học phí cao đẳng và trung cấp, các trường dạy nghề… tăng
so với năm học trước. Bình quân cả năm, nhóm giáo dục tăng 5,92%,
trong đó dịch vụ giáo dục tăng 6,07%.
- Cùng với giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, giá của một số mặt
hàng thiết yếu cũng tăng khá cao, đặc biệt là một số mặt hàng thực
phẩm tăng mạnh vào các tháng quý IV. Điển hình là giá thịt lợn tăng
rất cao, thịt lợn tăng cao kéo theo hàng loạt các mặt hàng thực phẩm
khác tăng theo. Bình quân cả năm, giá thực phẩm tăng 5,27% đây là
nguyên nhân tác động mạnh tới CPI của năm 2019.
- Ngoài ra một số mặt hàng tiêu dùng khác tăng khá cao như:

giá điện sinh hoạt tăng 8,62%; nhà ở tăng 1,36%; thiết bị đồ dùng
tăng 0,74%.
- Do ảnh hưởng của tình hình kinh tế - chính trị thế giới có nhiều
diễn biến phức tạp, tác động tới giá vàng, tỉ giá đồng đô la Mỹ tăng
mạnh trong năm. Giá vàng tăng bình quân 8,62%; tỷ giá đồng đô la
Mỹ tăng 0,84% đã tác động trực tiếp và gián tiếp tới các hàng hóa
nhập khẩu hoặc các mặt hàng được sản xuất trong nước bằng các
nguyên liệu có nguồn gốc từ nhập khẩu.
6. Doanh nghiệp
Năm 2019, số doanh nghiệp thành lập mới tại Hà Nam là 663
doanh nghiệp, tổng số vốn đăng ký đạt 20.938,5 tỷ đồng; số vốn bình
quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2019 đạt 31,6 tỷ
đồng. Trong năm 2019 có 215 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, có
53 doanh nghiệp hồn tất thủ tục giải thể, phá sản.

10


Sơ bộ số doanh nghiệp thực tế hoạt động tại thời điểm
31/12/2019 là 3.570 doanh nghiệp, tăng 12,6% so với năm 2018, trong
đó: doanh nghiệp ngồi Nhà nước tăng 12,1%; doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngồi tăng 23%; riêng doanh nghiệp Nhà nước
khơng đổi. Ước tính lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp
tăng 2,1% so với cùng thời điểm 31/12/2018, trong đó: lao động trong
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi tăng 1,7%; lao động
trong khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 2,5%; lao động
trong doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,6%. Doanh nghiệp tập trung chủ
yếu ở thành phố Phủ Lý và một số huyện: Duy Tiên, Thanh Liêm…
Tại thời điểm 31/12/2019, thành phố Phủ Lý có số lượng doanh
nghiệp lớn nhất với 1.530 doanh nghiệp, chiếm 42,8% tổng số doanh

nghiệp đang hoạt động và thu hút 40.685 lao động, chiếm 31,6% số
lao động trong các doanh nghiệp của toàn tỉnh; huyện Duy Tiên có
745 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 20,9% và 47.050 lao động,
chiếm 36,5%; huyện Thanh Liêm có 454 doanh nghiệp, chiếm 12,7%
và 17.155 lao động, chiếm 13,3%,...
Vốn sản xuất kinh doanh bình quân của khu vực doanh nghiệp
năm 2019 ước tăng 7,2% so với năm 2018, trong đó: vốn của doanh
nghiệp Nhà nước giảm 0,3%; doanh nghiệp ngồi Nhà nước tăng
5,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,5%.
Năm 2019, doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực
doanh nghiệp ước đạt 167.331,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm
2018. Trong đó: doanh nghiệp Nhà nước đạt 3.923,6 tỷ đồng, tăng
3,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước đạt 104.015,1 tỷ đồng, tăng
11,0%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 59.393 tỷ đồng,
tăng 15,8%.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu năm 2019 của các doanh nghiệp
ước đạt 1,2%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với năm 2018, trong đó:
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt cao nhất là 1,7%, giảm 0,1

11


điểm phần trăm; doanh nghiệp ngoài Nhà nước là 0,9%, giảm 0,1
điểm phần trăm; doanh nghiệp Nhà nước đạt 1,5%.
Năm 2019, ước tính tồn tỉnh có 53.238 cơ sở kinh tế cá thể phi
nông nghiệp, tăng 1,2% so với năm 2018; có 91.143 người tham gia
lao động trong các cơ sở kinh tế cá thể phi nông nghiệp, tăng 1,2%.
7. Kết quả sản xuất, kinh doanh một số ngành, lĩnh vực
- Nông nghiệp
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh trong

năm 2019 được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng,
chính quyền địa phương cùng những cố gắng khắc phục khó khăn của
nhân dân để đạt kết quả. Sản xuất lương thực được mùa cả hai vụ
đơng xn và vụ mùa1, góp phần giữ vững an ninh lương thực trên địa
bàn tỉnh trong điều kiện quỹ đất sản xuất cây lương thực giảm; chăn
ni trâu, bị và gia cầm nhìn chung phát triển tốt, không phát sinh
dịch bệnh lớn, giá thịt hơi ổn định tạo tâm lý yên tâm cho người chăn
nuôi; chăn ni lợn phải đối mặt với khó khăn bởi dịch tả lợn châu
Phi đã xuất hiện ở tất cả các huyện, thành phố với diễn biến phức tạp
ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ và tâm lý người chăn ni.
Sản lượng lương thực có hạt của tỉnh đạt 421 nghìn tấn, giảm
0,6% (-2,3 nghìn tấn) so với năm 2018, trong đó sản lượng lúa đạt
384,6 nghìn tấn, giảm 0,5% (-1,8 nghìn tấn), chia ra: lúa đơng xn
206,8 nghìn tấn, giảm 1,5% (-3,2 nghìn tấn); lúa mùa đạt 177,8 nghìn
tấn, tăng 0,8% (+1,4 nghìn tấn).
Tổng diện tích cây lâu năm 2019 là 6.173,3 ha, tăng 1,6% (+98,2
ha) so với năm 2018, trong đó: diện tích trồng cây ăn quả 5.720,3 ha,
tăng 1,7% (+98,1 ha). Sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu của tỉnh:
nhãn 4.752,5 tấn, tăng 0,1%; vải 1.108,1 tấn, tăng 5,2% so cùng kỳ
năm 2018.
1

Năng suất lúa vụ đông xuân năm 2019 đạt 66,5 tạ/ha; vụ mùa đạt 57,4 tạ/ha; bình quân cả
năm 2019 đạt 62,0 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với năm 2018.

12


Năm 2019, trên địa bàn tỉnh chăn ni trâu bị và gia cầm phát
triển tốt, giá thịt hơi ổn định. Chăn ni lợn đối mặt với khó khăn lớn

bởi dịch tả lợn châu Phi xuất hiện và lan rộng ở tất cả các huyện,
thành phố. Tại thời điểm 01/10/2019: Đàn trâu 3.580 con, tăng 2,4%;
đàn bò 31.577 con, tăng 4,7%; tổng đàn lợn 327,4 nghìn con, bằng
69,3%; tổng đàn gia cầm 7.288,8 nghìn con, tăng 11,5%, trong đó: gà
4.704 nghìn con, tăng 13,9%; vịt, ngan, ngỗng 2.537,5 nghìn con, tăng
7,5% so với cùng kỳ 2018. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 63,9
nghìn tấn, bằng 89,3%; thịt bị hơi 2.228 tấn, tăng 6,2%; gia cầm hơi
giết mổ đạt 19.968,4 tấn, tăng 25,1%; sản lượng sữa bị tươi 6.590
nghìn lít, tăng 5,8% so năm 2018.
- Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2019 có nhiều thuận
lợi về thời tiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Năm 2019 so
cùng kỳ, sản lượng gỗ khai thác đạt 2.144,9 m³, giảm 0,7%; củi khai
thác 328,4 ste., giảm 3,2%; tre 517,5 nghìn cây; song mây đạt 13,9
tấn; măng 112,8 tấn.
Cơng tác phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng trồng được
thực hiện tốt. Vì vậy, trong năm khơng có thiệt hại rừng nào xảy ra.
- Thủy sản
Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh năm 2019 có nhiều thuận lợi;
sản phẩm thủy sản được giá, tiêu thụ tốt trên thị trường, đem lại hiệu
quả kinh tế cho người nuôi trồng. Sản lượng thủy sản năm 2019 đạt
22.948 tấn, tăng 1,9% so với năm 2018, trong đó: sản lượng cá đạt
22.810 tấn, chiếm 99,4% tổng sản lượng, tăng 1,9%; sản lượng tôm
đạt 28 tấn, bằng 97,5%, thủy sản khác đạt 110,3 tấn, giảm 0,5% so với
cùng kỳ.
- Công nghiệp
Năm 2019, sản xuất cơng nghiệp tiếp tục duy trì tốc độ phát triển
cao đóng góp chủ đạo vào tăng trưởng của tỉnh, góp phần quan trọng
13



thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tỷ trọng
cơng nghiệp liên tục chiếm trên 50% trong cơ cấu của tỉnh: Năm 2016
chiếm 51,0%; năm 2017 chiếm 52,7%; năm 2018 chiếm 53,2%; năm
2019 chiếm 54,2%.
Chỉ số sản xuất cơng nghiệp (IIP) năm 2019 ước tính tăng 12,8%
so với năm 2018 (quý I tăng 12,7%; quý II tăng 13,7%; quý III tăng
9,5%; quý IV ước tính tăng 17,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo
tăng 13,0%, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung tồn ngành
cơng nghiệp với 11,8 điểm phần trăm; ngành khai khống tăng 3,5%,
đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng
17,7%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác
thải, nước thải tăng 9,6%, làm tăng 0,1 điểm phần trăm mức tăng chung.
Trong năm 2019, một số ngành cơng nghiệp cấp II có chỉ số sản
xuất tăng cao so với năm trước, đóng góp chủ yếu vào mức tăng
trưởng của ngành cơng nghiệp: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học tăng 19,4%, đặc biệt tăng mạnh trong quý IV
với mức tăng 34,3% (quý I tăng 22,3%, quý II tăng 19,3%, quý III
tăng 9,8%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 19,2%; sản
xuất và phân phối điện tăng 17,7%; sản xuất kim loại tăng 16,5%; sản
xuất thiết bị điện tăng 16,0%... Một số ngành có mức tăng thấp: sản
xuất sản phẩm từ giấy tăng 2,9%; khai thác, xử lý và cung cấp nước
tăng 6,0%. Riêng ngành chế biến thực phẩm giảm 0,4%.
Một số sản phẩm cơng nghiệp chủ yếu có mức sản xuất năm
2019 tăng cao so với năm 2018: Bộ dây điện ô tô tăng 42,2%; thiết bị
điện, điện tử tăng 32,7%; xe gắn máy tăng 13,8%;...
- Thương mại và du lịch
Tính chung năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 26.782,6 tỷ đồng, tăng 14,3% so với
năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 12%). Xét theo ngành kinh doanh,

bán lẻ hàng hóa đạt 21.432,8 tỷ đồng, chiếm 80% tổng mức và tăng
14


14,76% so với năm 2018; dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 2.112,7 tỷ
đồng, chiếm 7,9% và tăng 11,3%; du lịch lữ hành đạt 27,5 tỷ đồng,
chiếm 0,1% và tăng 14,58%; dịch vụ khác đạt 3.209,6 tỷ đồng, chiếm
12% và tăng 13,49% so với năm 2018.
Tính đến thời điểm 31/12/2019, tồn tỉnh có 110 chợ được xếp
hạng, khơng tăng so với năm 2018; 8 siêu thị và 3 trung tâm thương
mại, không tăng so với năm 2018.
Tổng số lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ năm 2019 ước
tính đạt 524.480 lượt người, tăng 9,78% so với năm trước; tổng số
lượt khách do các cơ sở du lịch lữ hành ước tính đạt 24.433 lượt
người, tăng 8,59% so với năm trước.
- Vận tải
Năm 2019, vận tải hành khách đạt 6.859,7 nghìn lượt khách,
tăng 5,6%; trong đó: vận tải hành khách đường bộ đạt 6.831,3 nghìn
lượt khách, tăng 5,9% và đường sơng đạt 28,4 nghìn lượt khách, giảm
36,9% so với năm 2018; khối lượng hành khách luân chuyển là
475.667,8 nghìn lượt khách.km, tăng 8,3%, đường bộ 475.639,4 nghìn
lượt khách.km, tăng 8,3%, đường sơng là 28,4 nghìn lượt khách.km,
giảm 37,4% so với năm 2018.
Vận tải hàng hóa năm 2019 đạt 37.562,1 nghìn tấn, tăng 7,4%;
trong đó: vận tải hàng hóa đường bộ đạt 35.457,7 nghìn tấn, tăng
7,6% và đường sơng đạt 2.104,4 nghìn tấn, tăng 5,1% so với năm
2018; khối lượng hàng hóa ln chuyển là 1.817.586,2 nghìn tấn.km,
tăng 11,2%, đường bộ 1.571.925,8 nghìn tấn.km, tăng 11,7%, đường
sơng đạt 245.660,4 nghìn tấn.km, tăng 8,2% so với năm 2018.
8. Một số vấn đề xã hội

- Dân số
Dân số trung bình tỉnh Hà Nam năm 2019 là 854.469 người, dân
số nam đạt 420.655 người, chiếm 49,2%, dân số nữ đạt 433.814
15


người, chiếm 50,8%; dân số khu vực thành thị đạt 143.290 người,
chiếm 16,8%, dân số khu vực nông thôn đạt 711.179 người, chiếm
83,2%. Mật độ dân số là 991 người/km2, phân bố dân cư theo lãnh thổ
khơng đồng đều, có sự chênh lệch về mật độ dân cư giữa các huyện,
thành phố (cao nhất là thành phố Phủ Lý: 1.813 người/km2, thấp nhất
là huyện Kim Bảng: 717 người/km2).
Dân số khu vực thành thị có tốc độ tăng nhanh trong những năm
gần đầy từ 10,4% năm 2010 lên 16,8% năm 2019. Dân số thành thị
tăng nhanh do trong thời gian qua tỉnh đẩy mạnh thực hiện cơng
nghiệp hóa, phát triển khu công nghiệp ở các đô thị thu hút lao động
đến làm việc. Bên cạnh đó, việc mở rộng địa giới hành chính thành
phố Phủ Lý, đầu tư cơ sở hạ tầng dân sinh thu hút dân cư cũng góp
phần tăng tỷ lệ dân số đô thị.
Năm 2019, dân số trong độ tuổi lao động 477.473 người (nam từ
15-59; nữ từ 15-54), chiếm 55,9% so với tổng dân số, đây là thời kỳ
cơ cấu “dân số vàng” mang lại cơ hội lớn để tận dụng nguồn nhân lực
có chất lượng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của tỉnh.
Tuy nhiên, nếu khơng có sự quan tâm và các chính sách phát triển phù
hợp, cơ cấu “dân số vàng” khơng những khơng đem lại tác động tích
cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mà sẽ là áp lực về việc làm,
trật tự, an ninh xã hội… Vì vậy, để tận dụng lợi thế này địi hỏi các
cấp, các ngành phải có những chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực đáp ứng với nhu cầu của thị trường lao động,
tăng năng suất lao động, tạo việc làm cho lực lượng lao động trẻ…

- Lao động
Lực lượng lao động tỉnh Hà Nam năm 2019 là 486,9 nghìn
người, chiếm 75,4% so với dân số từ 15 tuổi trở lên. Lực lượng lao
động nam (49,8%) chiếm tỷ trọng thấp hơn nữ giới (50,2%). Mặc dù
có sự tăng lên đáng kể của lực lượng lao động thuộc khu vực thành thị
16


trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn 84,1% lực lượng lao động
tập trung ở khu vực nông thôn.
Năm 2019, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là
478,9 nghìn người, trong đó: lao động ngành nơng, lâm nghiệp và
thủy sản chiếm 26,3%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 44,0%,
ngành dịch vụ chiếm 29,7% (các tỷ lệ tương ứng của năm 2011 là:
45,6% - 31,1% - 23,3%). Qua đó cho thấy cơ cấu lao động dịch
chuyển theo hướng tích cực, số lao động làm việc trong ngành nông,
lâm nghiệp và thủy sản giảm dần và các ngành cơng nghiệp, dịch vụ
tăng lên. Vì vậy, nhu cầu lao động trong các ngành, lĩnh vực công
nghiệp - xây dựng và dịch vụ sẽ tăng và giảm dần lao động làm việc
trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Cơ cấu lao động phù hợp với định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tập trung trung phát triển
các ngành cơng nghiệp có tiềm năng, lợi thế về ngun liệu và có khả
năng thu hút nhiều lao động tại chỗ, đồng thời phát triển mạnh các
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, gia cơng, lắp ráp cơ khí, điện
tử,… và công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm.
Tỷ lệ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có
bằng cấp chứng chỉ đã chuyển biến tích cực trong những năm qua, tuy
nhiên vẫn ở mức thấp so với nhu cầu sử dụng lao động có chun
mơn, kỹ thuật trong các ngành kinh tế. Năm 2019, trong tổng số 486,9
nghìn người từ 15 tuổi trở lên đang tham gia lực lượng lao động, chỉ

có 96,9 nghìn người được đào tạo có bằng cấp chứng chỉ, chiếm
19,9% tổng lực lượng lao động trong nền kinh tế. Tỷ lệ đào tạo của
nam cao hơn nữ (lao động đã qua đào tạo nam giới: 24,2%, nữ giới:
15,5%), lao động đã qua đào tạo khu vực thành thị cao hơn khu vực
nông thôn (lao động đã qua đào tạo khu vực thành thị: 43,1%, khu vực
nông thôn: 15,5%).
Tỷ lê ̣ thấ t nghiê ̣p trong đô ̣ tuổ i lao đô ̣ng năm 2019 là 1,83%,
trong đó: khu vực thành thi ̣ 1,7%; khu vực nông thôn 1,86%. Tỷ lê ̣
17


thiế u viê ̣c làm của lao đô ̣ng trong đô ̣ tuổ i là 0,42%, trong đó khu vực
thành thi ̣0,24%; khu vực nông thôn 0,45%.
Công tác giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn
tỉnh trong những năm qua được sự quan tâm các cấp, các ngành, các
đồn thể và cơng đồng xã hội chung tay, giúp sức, tìm nhiều biện
pháp, giải pháp để tạo việc làm cho người lao động thơng qua chương
trình giải quyết việc làm - dạy nghề, các chương trình dự án phát triển
kinh tế trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, chương trình hỗ
trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tư vấn giới thiệu
việc làm, cung ứng lao động đi làm việc trong và ngoài tỉnh đã giúp
người lao động có việc làm, tạo ra thu nhập và từng bước nâng cao
đời sống nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh, chính trị - xã hội trên
địa bàn tỉnh. Năm 2019, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho
23.204 lao động, trong đó: có 1.261 người tham gia xuất khẩu lao
động và tạo việc làm thêm cho 25.226 người.
- Giáo dục
Năm học 2019 - 2020, toàn tı̉nh có 121 trường mầm non, tăng 1
trường so với năm học trước; 262 trường phổ thông bao gồm: 121
trường tiểu học, 117 trường trung học cơ sở (giảm 01 do trường

THCS Nhân Hòa và trường THCS Hòa Hậu ghép vào thành 01
trường), 23 trường trung học phổ thông và 01 trường phổ thông cơ sở.
Tại thời điểm đầu năm học 2019 - 2020, số giáo viên mầ m non
là 3.287 người, tăng 2,85% so với thời điểm đầu năm học 2018 2019; số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 6.750 người, giảm
2,29%, bao gồm: 3.087 giáo viên tiểu học, giảm 0,42%; 2.379 giáo
viên trung học cơ sở, giảm 5,82% và 1.284 giáo viên trung học phổ
thông, tăng 0,16%; đặc biệt năm học 2019 - 2020 trường Tiểu học
Chất lượng cao Mensa được thành lập nhằm kế thừa và phát huy giá
trị bản sắc của nền giáo dục quốc gia, đồng thời tăng cường ngoại ngữ
18


tiếng Anh để đào tạo học sinh trở thành những học sinh có trách
nhiệm có hồi bão với đầy đủ phẩm chất và năng lực để sống hạnh
phúc, thành công góp phần tích cực xây dựng đất nước và hội nhập
quốc tế.
Năm học 2019 - 2020, toàn tı̉nh có 55.108 em đi học mầ m non,
tăng 0,17% so với năm học trước; 149.481 học sinh phổ thông, tăng
5,48% so với năm học trước, bao gồm: 74.714 học sinh tiểu học, tăng
4,29%; 47.896 học sinh trung học cơ sở, tăng 3,58% và 26.871 học
sinh trung học phổ thông, tăng 12,76%.
Số học sinh bình quân một lớp học mầm non là 28 học sinh/lớp;
cấp tiểu học là 32 học sinh/lớp; cấp trung học cơ sở là 37 học sinh/lớp
và cấp trung học phổ thơng là 48 học sinh/lớp. Số học sinh bình quân
một giáo viên mầ m non là 17 học sinh/giáo viên; cấp tiểu học là 24
học sinh/giáo viên; cấp trung học cơ sở là 20 học sinh/giáo viên và
cấp trung học phổ thơng là 21 học sinh/giáo viên.
Năm 2019, tồn tı̉nh có 4 trường trung cấ p chuyên nghiê ̣p và cao
đẳ ng, bao gồm: 3 trường công lập và 1 trường ngồi cơng lập. Số giáo
viên trung cấp chun nghiệp và cao đẳ ng là 222 người, giảm 28,39%

so với năm 2018. Số sinh viên trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳ ng là
3.029 người, giảm 48,29% so với năm 2018. Năm 2019, toàn tı̉nh có
2.330 sinh viên tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng, tăng
10,48% so với năm 2018.
Nghị quyết 76/NQ-CP ngày 3/9/2016 của Chính phủ đã quyết
định, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý Nhà
nước về giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan
quản lý Nhà nước đối với các trường sư phạm. Theo đó, 201 trường
cao đẳng và 303 trường trung cấp chuyên nghiệp được bàn giao cho
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Từ năm 2017 các trường này

19


sẽ tuyển sinh theo quy chế ban hành phù hợp với Luật Giáo dục
nghề nghiệp.
- Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Số cơ sở khám chữa bệnh do Nhà nước quản lý tại thời điểm
31/12/2019 là 142 cơ sở, trong đó: có 13 bệnh viện, 1 phịng khám đa
khoa khu vực và 116 trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp. Số
giường bệnh do Nhà nước quản lý tại thời điểm trên là 3.168 giường,
tăng so với năm 2018, trong đó: có 2.288 giường trong các bệnh viện;
10 giường tại phòng khám đa khoa khu vực và 820 giường tại các
trạm y tế. Số giường bệnh do các cơ sở y tế Nhà nước quản lý (khơng
tính giường bệnh tại các trạm y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp)
bình qn 1 vạn dân năm 2019 là 39,2 giường bệnh.
Tại thời điểm 31/12/2019, số nhân lực y tế do Nhà nước quản lý là
1.988 người, trong đó: 1.783 người làm việc trong ngành Y; 205 người
làm việc trong ngành Dược. Số bác sĩ bình quân 1 vạn dân là 6,4%.
Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin

năm 2019 đạt 99%, bằng với năm 2018; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy
dinh dưỡng cân nặng theo tuổi là 11,8%, giảm 0,5 điểm phần trăm so
với năm 2018.
- Đời sống dân cư
Năm 2019, thu nhập bình quân đầu người một tháng chung tồn
tỉnh theo giá hiện hành đạt 3.928,0 nghìn đồng, tăng 9,0% so với năm
2018, trong đó: khu vực thành thị đạt 5.271,2 nghìn đồng, tăng 8,0%;
khu vực nơng thơn đạt 3.750,6 nghìn đồng, tăng 12,4%.
Tỷ lệ dân sớ thành thi ̣ đươ ̣c cung cấ p nguồn nước sa ̣ch qua hê ̣
thố ng cấ p nước tâ ̣p trung năm 2019 đạt 97,0%; tỷ lê ̣ hô ̣ nông thôn
đươ ̣c sử du ̣ng nguồ n nước hơ ̣p vê ̣ sinh đa ̣t 98,2%. Diện tích nhà ở

20


bình quân đầu người toàn tı̉nh năm 2019 đạt 25,2 m2/người, tăng 0,9 m2
so với năm 2018.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,73% năm 2018 xuống còn 2,38%
năm 2019.
- Trật tự và an toàn xã hội
Năm 2019, toàn tı̉nh đã xảy ra 130 vụ tai nạn giao thông, làm 78
người chết và 80 người bị thương. So với năm 2018, số vụ tai nạn
giao thông năm 2019 giảm 3,0%; số người chết giảm 1,3%; số người
bị thương giảm 3,6%. Năm 2019, cả nước xảy ra 12 vụ cháy, nổ,
không thiê ̣t ha ̣i về người, thiệt hại về tài sản ước tính 2.100 triệu đồng.
So với năm trước, số vụ cháy, nổ giảm 12 vụ, thiệt hại tài sản bằng
11,7% so với năm 2018.
Khái quát lại, kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2019 đối mặt với
khơng ít khó khăn, thách thức: thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng
đến năng suất và sản lượng cây trồng; chăn nuôi gặp khó khăn do dịch

tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng; đầu tư toàn xã hội đạt thấp…
Nhưng với sự chỉ đạo tập trung, điều hành năng động của các cấp, các
ngành đã kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nên quy mô kinh tế
tiếp tục được mở rộng. An ninh, chính trị được giữ vững, trật tự an
tồn xã hội được kiểm sốt tốt, an sinh và phúc lợi xã hội được quan
tâm góp phần phát triển kinh tế bền vững hơn.

21


22


OVERVIEW OF SOCIO-ECONOMIC SITUATION
IN HA NAM PROVINCE IN 2019
1. Gross regional domestic product
Gross regional domestic product (GRDP) in 2019 (at constant
prices) was estimated to gain 35,139.1 billion VND, an increase of
10.63% against that in 2018. This growth rate was quite high in
comparison with the average rate of the whole country and other
provinces in the Red River Delta. The contribution of the three sectors
to the overall growth rate 10.63% was as follows: the agriculture,
forestry and fishery sector increased by 1.43%, contributing 0.16
percentage points; the industry and construction sector rose by
13.41%, contributing 8.13 percentage points; and the service sector
expanded by 8.26%, making a contribution of 2.34 percentage points
to the overall growth rate.
GRDP in 2019 at current prices achieved 53,772.1 billion VND,
comprising the share of 3 economic sectors as follows: the agriculture,
forestry and fishery sector accounted for 9.1%; the industry and

construction sector made up 62.8%; and the service sector was 28.1%.
It could be seen that the provincial economy continuously increased in
terms of size and speed; the economic structure changed clearly
towards modernization.
2. State budget revenue and expenditure
In 2019, total State budget balancing revenue in Ha Nam
province gained 9,546.6 billion VND, an increase of 1,673.6 billion
VND (equivalent to a rise of 21.3%) compared to that in 2018.
Particularly, domestic revenue was estimated at 7,650.9 billion VND
(making up 80.1%), rising by 19.9%; the estimated figure for
23


revenuefrom imports and exports was 1,895.6 billion VND (sharing
19.9%), increasing by 26.9%.
Total State budget balancing expenditure in the province in 2019
reached 7,177.1 billion VND, an increase of 6.9% over the previous
year, of which, expenditure on development investment gained
1,753.8 billion VND (accounting for 24.4% of the total balancing
expenditure); recurrent expenditure was 5,414.3 billion VND (making
up 75.4%), rising by 24.1% compared to that in 2018.
3. Insurance
In 2019, in the whole province, there were 139,476 persons
participated in Social insurance, an increase of 9.8% over that in 2018;
the Health insurance was 733,961 persons, a rise of 4.3% and the
Unemployment insurance was 127,572 persons, going up by 11.5%
compared to 2018.
Total insurance revenue in 2019 was estimated to reach
2,615billion VND, an increase of 9.6% compared to 2018. Of which:
the Social insurance revenue achieved 1,755 billion VND, accounting

for67.1%; the Health insurance revenue was 732.0 billion VND,
making up 28.0%; the Unemployment insurance revenue was 128.0
billion VND, representing4.9%.
Total insurance expenditure in 2019 was 2,687 billion VND, a
decline of 6.0% over 2018, of which: the Social insurance expenditure
was 2,233 billion VND, representing 82.3%; the Health insurance
expenditure was 407.0 billion VND, making up 15.1%; the
Unemployment insurance expenditure was 57 billion VND,
accounting for 2.1%.
4. Investment and construction
Total investment in the province in 2019 at current prices
reached 33,205.7 billion VND, an increase of 8.4% compared to that
24


in 2018, equaling 61.8% GDP, of which: State sector’s investment
reached 4,753.7 billion VND (accounting for 14.3 of total
implementation investment), decreasing by 8.2% compared to 2018;
the Non-State sector’s investment achieved 21,726 billion VND
(accounting for 65.4% of total investment), increasing by 9.8%; the
FDI sector’s investment reached 6,726 billion VND (accounting for
20.3% of total investment) and rising by 18.9%.
In terms of attraction of foreign direct investment (FDI), in 2019
there were 55 newly licensed projects with total registered capital of
713.5 million USD, rising by 19.6% in number of projects and
increasing by 60.3% in registered capital compared to that in 2018.
Additionally, there were 27 projects which were licensed in the
previous years, registered to adjust investment with additional capital
of 109.7 million USD. 8 projects were withdrawn with total
investment of 29.7 million USD.

Generally for total registered capital of newly licensed FDI
projects and additional capital in 2019 were 823.2 million USD,
mainly focusing on the manufacturing. Among countries and
territories invested in projects in Ha Nam in 2019, Taiwan was the
biggest investor with total capital of 341 million USD, accounting for
47.8%, the following was Hong Kong (China) with 116.7 million
USD, making up 16.4%; Japan invested 115.5 million USD,
representing 16.2%; Korea invested 105.3 million USD, representing
14.8%.
As accumulated as of 31st December 2019 the province was
recorded with 293 FDI projects in effect with total registered capital
of 3,498.2 million USD. Of which, 253 projects were within the
industrial zone with registered capital of 320.4 million USD, 40
projects were outside the industrial zone with registered capital of
247.8 million USD.
25


×