Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập - Lê Thị Kim Dung

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (110.1 KB, 12 trang )

236

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG KHU VỰC TÂY NGUYÊN
TRƯỚC THÁCH THỨC THỜI HỘI NHẬP
Lê Thị Kim Dung
Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Huế

Ngày 25‑11‑2005, UNESCO đã chính thức cơng nhận “Khơng gian
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền miệng và di sản văn
hóa phi vật thể của nhân loại. Đó là minh chứng hùng hồn cho sức sống
mãnh liệt của văn hóa dân tộc, là huyết mạch từ ngàn xưa vọng về, là
sức mạnh cho hôm nay và điểm tựa của ngày mai. Chính mạch nguồn
vững chãi đó đã ni dưỡng một nền văn hóa dù phải chìm nổi trong
bão táp lịch sử, trong máu, nước mắt và xiềng xích nơ lệ nhưng vẫn sáng
ngời mãi, bởi chủ nhân của chúng khơng tự đánh mất mình. Như vậy,
sức mạnh thần kỳ của dân tộc Việt Nam gắn liền với văn hóa dân tộc,
mà nền tảng là vốn di sản văn hóa.
Mc Namara, cựu Bộ trưởng Quốc phịng Mỹ từng viết trong hồi ký
của mình rằng “Mỹ thua Việt Nam vì người Mỹ đã khơng am hiểu văn
hóa Việt Nam”. Thực tế đã chứng minh, người Mỹ quá tin tưởng vào
sức mạnh vật chất nên quá muộn mới nhận ra điều này. Trong lịch sử,
dường như thế lực nào khi muốn thơn tính một dân tộc cũng thường
thực hiện chính sách “diệt tộc văn hóa” nhằm đánh bật gốc văn hóa bản
địa để dễ bề đồng hóa cư dân bị trị. Vì lẽ ấy, người Việt Nam đã nhận
thức được triết lý sâu sắc, đó chính là việc giữ gìn di sản văn hóa liên
quan đến sự tồn vong của dân tộc.
Hiện nay, di sản văn hóa được quan niệm khơng chỉ đơn giản là
những biểu tượng hồi niệm q khứ, mà là một lực cố kết cộng đồng
trong cuộc đấu tranh vì sự tồn tại và phát triển của quốc gia dân tộc. Dù


xã hội có hiện đại đến đâu, trí tuệ kiệt xuất của con người có phát minh
ra những sản phẩm kỳ diệu đến nhường nào, thì văn hóa vẫn được xem
là nội lực của cồng đồng dân tộc.


Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập

237

Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học và công nghệ,
thế kỷ mà con người có thể sinh sống ở những hành tinh khác ngoài trái
đất; vậy mà ở Việt Nam tiếng trống, chiêng trầm hùng của tổ tiên từ
ngàn xưa vẫn vang vọng trong cuộc sống hôm nay. Rõ ràng hồn cồng
chiêng đã sống, đang sống và sẽ sống mãi cùng sự lớn mạnh của dân
tộc. Đó là minh chứng hùng hồn về sự tồn tại của một nền văn hóa xa
xưa tưởng như chỉ là thần thoại. “Cồng chiêng Tây Nguyên hôm nay
không chỉ tồn tại ở trạng thái tĩnh lặng, ngược lại, nó đang là hiện thân
sống, là hồn thiêng gắn kết quá khứ và hiện tại, là sự đồng vọng của tổ
tiên để con cháu soi mình vào mà sống cho đúng lẽ nhân văn”.
Bởi những lẽ trên, việc tìm hiểu giá trị văn hóa, từ đó có thể xây dựng
định hướng bảo tồn nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên trong thời kỳ
hội nhập có ý nghĩa thiết thực.

1. Khơng gian văn hóa cồng chiêng Tây Ngun
Địa bàn Tây Nguyên hiện nay gồm có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk
Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng1. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây
Ngun là vùng Tây Ngun, ngồi ra còn bao trùm lên các tỉnh lân cận
thuộc miền Đông Nam Bộ và các tỉnh miền Trung Trung Bộ. Tiếng
chiêng theo tiếng vọng của núi rừng, bay theo gió đại ngàn lan tỏa cả
một vùng không gian rộng lớn. Vì vậy, đi tìm sự đồng điệu của cồng

chiêng Tây Nguyên và các vùng lân cận, từ đó nhận diện những âm
hưởng chung cũng như những nét đặc sắc riêng sẽ cho ta thấy sự đa
dạng, phong phú ngay trong một loại hình văn hóa.
Những bằng chứng trên chiếc trống đồng cổ có niên đại hàng mấy
ngàn năm trước cho thấy hoa văn trang trí đã thể hiện hình ảnh dàn
cồng chiêng 7 chiếc của người Việt cổ. Công dụng của chiếc chiêng xưa
khơng chỉ là một nhạc khí thơng thường, bởi chiêng được dùng làm hiệu
lệnh dàn quân, thu quân, điều khiển voi chiến trong quân đội. Ngày nay,
trong các lễ tết quan trọng của người Việt ở đồng bằng như lễ khai
trương, lễ cúng tế ở đình làng… tiếng chiêng vẫn đóng vai trị trong
những nghi thức long trọng, thể hiện sự tơn kính, thiêng liêng. Tiếng
1. Viện Văn hóa Thơng tin (2006), Kiệt tác di sản truyền miệng và phi vật thể của nhân
loại: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, NXB Thế giới, Hà Nội.


238

Lê Thị Kim Dung

chiêng trống hòa vào nhau tạo nên bản hịa tấu đặc sắc mang linh hồn
văn hóa dân tộc.
Một điều thú vị là cồng chiêng hiện còn gắn bó với một vài cộng
đồng tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Dàn chiêng Xéc Bùa của
đồng bào Mường ở Hịa Bình với 12 chiếc do 12 cơ gái tân đại diện cho
12 tháng trong năm là một minh chứng sống động. Đồng bào quan niệm
cồng chiêng là hiện thân cho vịng tuần hồn của thời gian, của vũ trụ
cũng như 12 con giáp đại diện cho 12 tháng trong năm của người Kinh.
Trong khi đó, dàn chiêng 2‑3 cái của đồng bào Thái lại phổ biến trong
các lễ xuống đồng, lễ mừng hoa nở, lễ mừng măng mọc và trong múa
xịe tập thể. Sự gắn bó mật thiết của cồng chiêng trong đời sống tinh

thần các tộc người cho thấy cồng chiêng đã có mặt sớm trên đất nước
ta. Cồng chiêng là một đặc thù âm nhạc cả nước trong một thời kỳ dài
lịch sử, vừa là một đặc thù của âm nhạc Tây Nguyên hôm nay.
Trong mối tương quan giữa các nước ở khu vực Đông Nam Á, sự
gần gũi và giao thoa trong âm nhạc cồng chiêng là biểu hiện rõ nét nhất.
Từ vùng bán đảo và hải đảo Mã Lai cũng thấy có dàn Cha Nang gồm 2
đơn vị, ở Inđơnêxia có dàn Bo Nang 10 đơn vị, Philippin có dàn
Khlingban gồm 8 đơn vị. Mỗi đơn vị Cha Nang, Bo Nang hay Khlingban
đều có dáng cơi trầu có mõm kín hình chiêng. Ở Miến Điện, dàn Ky
Waing có thành phần lên tới 21 đơn vị cấu thành một chiêng duy nhất.
Đặc biệt ở Lào có bộ “Khơng Vong”, một bộ phận quan trọng trong hệ
thống nhạc khí cổ trang. Khơng Vong cũng có cái dáng cơi đựng trầu
bằng đồng, có nắp kín, có núm giữa và có hình dạng giống chiếc cồng.
Sự gần gũi này tạo nên sự liên tưởng về một kết quả liên kết, lai tạo giữa
chiêng và trống đồng trong một phát minh cải tiến nhạc khí thời xa xưa.
Ở Campuchia và Thái lan cũng có những dàn nhạc tương tự như bộ
“Không Vong”.
Đặc điểm chung của các bộ nhạc khí trên là cùng nằm trong một hệ
(bộ gõ), cùng có chất liệu chế tác là đồng, cùng một nguyên lý tổ chức
thành bộ hay dàn và tạo thành âm thanh phức hợp. Có ý kiến cho rằng
cồng chiêng cịn có mặt ở một số tộc người da đỏ ở Châu Mỹ La Tinh.
Rõ ràng là cồng chiêng có thể có mặt ở khắp nơi trên thế giới, tuy nhiên,
địa bàn phân bố rõ nét nhất là ở khu vực Đông Nam Á, những nơi khác
chỉ là trường hợp cá biệt.


Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập

239


Xét trong tổng thể địa bàn phân bố cồng chiêng ở nước ta nói chung
và khu vực Đơng Nam Á nói riêng thì cồng chiêng Tây Ngun mới là
hiện tượng âm nhạc đặc sắc. Theo thống kê sơ bộ thì “Tây Ngun cịn
hơn 2.000 bộ cồng chiêng”. Dàn chiêng cổ xưa bao gồm 3 chiếc chiêng
có núm, đây là dàn chiêng có thành phần ít nhất. Trong dạng phát triển
nhất, người ta thêm vào bộ chiêng cổ từ 12 đến 15 chiêng bằng (chiêng
khơng có núm). Sự bổ sung này cũng mang một dụng ý nghệ thuật sâu
sắc, chiêng cổ đi bè trầm, chiêng bằng đi bè giai điệu, khi dàn chiêng cất
lên tạo thành một hợp âm có sự cộng hưởng hồn hảo. Người xưa gọi
các chiêng trong dàn cổ có tên là chiêng bố mẹ. Các chiêng bằng cũng
được chia theo thứ tự với độ cao thấp khác nhau theo một nguyên lý
nhất định bao gồm 3 nhóm. Nhóm 3 chiêng có độ cao thấp nhất có tên
riêng, nhóm 3 chiêng tiếp theo có độ cao hơn nhóm trước được gọi là
con của nhóm trước, nhóm 3 chiếc sau nữa là cháu. Với cách ấy con
người đã chuyển quan hệ máu mủ vào dàn chiêng và đó là nguyên tắc
xây dựng cơ cấu âm thanh âm nhạc của dân tộc. Một nguyên tắc rất khoa
học, chưa thấy ở nơi nào.

2. Những giá trị của văn hóa cồng chiêng Tây Ngun
Nếu được ví nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam là một
vườn hoa rực rỡ thì văn hóa cồng chiêng Tây Ngun như một đóa hoa
mang trên mình vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của núi rừng hoang dã.
Tiếng cồng chiêng đâu đó có điểm giống tiếng đàn bầu “cung thanh là
tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha”; nhưng cồng chiêng cịn có điểm khác
nữa, đó là sự tích hợp của hồn thiêng sông núi, là âm vọng của trời và
đất gặp nhau. Trong tiếng cồng chiêng có sức mạnh của cha truyền lại,
có hơi ấm của mẹ và sự gửi gắm của tổ tiên từ ngàn năm trước với thế
hệ con cháu hãy giữ lấy truyền thống dân tộc.
Đi tìm vẻ đẹp của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chúng ta đã trở
về với cội nguồn văn hóa bản địa do chính đồng bào Tây Ngun sáng

tạo trong q trình thích ứng với mơi trường tự nhiên, trong q trình
lao động sản xuất. Hương sắc núi rừng đã tinh lọc về đây hội tụ nên một
di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Đồng bào các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên có mối quan hệ chặt chẽ với núi rừng. Rừng núi đã tạo cho
họ một tính cách mạnh mẽ, phóng khống và đơn hậu. Chính trong mơi
trường mà cái màu xanh thẳm như nhung của cỏ ây hoa lá, cái rắn rỏi


240

Lê Thị Kim Dung

của đất đá, cái mềm mại thanh thốt của những dịng suối tn chảy
mạch sống đêm ngày đã hịa quyện trong một khơng gian mang đầy
màu sắc huyền thoại, cồng chiêng Tây Nguyên ra đời.
Tiếng chiêng gắn với đời người như là tri âm tri kỷ, gắn với núi rừng
như là tất yếu của tạo hóa. Cồng chiêng khơng có sự gắn kết mật thiết
với đồng bằng, lại càng xa lạ với biển cả, vì biển cả chỉ thích hợp với
những điệu hị ra khơi tung lưới. Cồng chiêng là đặc trưng văn hóa gắn
với núi rừng, mang đậm yếu tố núi, chỉ có núi rừng mới sản sinh và ni
dưỡng mạch nguồn cho văn hóa cồng chiêng chảy mãi, chảy mãi vượt
qua mọi giới hạn của lịch sử và thời gian.
Nằm trong cái mạch chung của văn hóa phương Đơng, văn hóa cồng
chiêng Tây Ngun vừa là một mắt xích, đồng thời cũng là điểm nhấn.
Nếp sống nương rẫy phụ thuộc vào tự nhiên, mọi tín ngưỡng, văn hóa,
lối sống gắn với núi rừng nên có thể gọi văn hóa của họ là văn hóa rừng.
Tư duy của đồng bào còn ở dạng tư duy thần bí. Trong hồn cảnh con
người bất lực trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, nên cái tốt, điều
xấu đều trông vào điềm báo mộng. Sản sinh trong môi trường mang đầy
màu sắc tâm linh thần bí của thiên nhiên, cồng chiêng khơng chỉ có giá

trị vật chất lớn, mà cịn mang trong mình sức mạnh thiêng liêng. Bởi thế,
cồng chiêng khơng đơn thuần là nhạc khí thơng thường, âm thanh cồng
chiêng là lời đối thoại của quá khứ và hiện tại, con người và thần linh.
Trong sự giao hòa của đất trời và con người, cồng chiêng đảm nhận trách
nhiệm của một thiên sứ, là cầu nối để hiện thực và huyền thoại gặp
nhau. Theo tiếng chiêng, con người lớn dần lên cùng với quá trình hình
thành nhân cách. Nếu như “bản chất con người không phải là một cái
gì trừu tượng cố hữu cá nhân riêng biệt, trong tính cách hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng thể những quan hệ xã hội”, thì nhân cách
là sự tổng hịa những giá trị văn hóa để con người sống đúng với đạo lý
nhân văn. Văn hóa cồng chiêng đã thực hiện được chức năng vĩ đại ấy
bởi chính những giá trị nội tại của mình. Cơng trình vĩ đại nhất của đời
người là nhân cách vì nó là chuẩn mực của mọi hành vi ứng xử, nhân
cách có tốt mới có nền tảng để xây dựng lối sống đẹp.
Cồng chiêng có một vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ nhạc khí cổ
truyền ở Việt Nam nói riêng và Đơng Nam Á nói chung mà ít có loại
nhạc khí nào sánh kịp. Vị thế ấy của cồng chiêng không chỉ đơn thuần


Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập

241

bắt nguồn từ chất liệu chế tạo hay giá trị vật chất, cũng không đơn thuần
bắt nguồn từ việc sử dụng rộng rãi nhạc khí này trong các cộng đồng
dân cư ở Việt Nam. Rõ ràng, vị thế của cồng chiêng bắt nguồn từ sự tổng
hòa các giá trị văn hóa đa dạng bao chứa trong nó.
Thứ nhất, đó là giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng.
Trước hết, cồng chiêng là biểu hiện nổi bật của bản sắc văn hóa truyền
thống vùng Trường Sơn ‑ Tây Nguyên. Xét trong mối quan hệ tổng thể

với khu vực thì cồng chiêng Tây Nguyên lại là biểu thị đặc trưng và bản
sắc văn hóa âm nhạc khu vực Đông Nam Á. Rõ ràng, ở cả tầm vĩ mô và
vi mô, cồng chiêng đều là một nhạc khí quan trọng.
Thứ hai, mỗi cộng đồng dân tộc có thiết chế dàn chiêng và cách chơi,
cách phối hợp trang phục, cách bố trí khơng gian khác nhau, bởi vậy
cồng chiêng cịn có giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc
nhóm tộc người. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra chủ nhân của nền văn
hóa đó thơng qua cách quan sát bộ nhạc khí truyền thống hoặc lắng nghe
âm thanh đặc trưng từ sự phối hợp mang màu sắc riêng của mỗi cộng
đồng tộc người.
Thứ ba, bởi văn hóa cồng chiêng mang trên mình bản sắc văn hóa
tộc người nên nó thể hiện một cách sâu sắc nhân sinh quan, thế giới
quan, những quan niệm về tự nhiên và xã hội, về phong tục tập qn,
quan điểm thẩm mỹ… Tìm hiểu văn hóa cồng chiêng cho thấy cái nhìn
khách quan về nguồn gốc bản địa hay cả sự giao lưu và ảnh hưởng của
văn hóa âm nhạc giữa các dân tộc.
Thứ tư, đó là giá trị nhân văn sâu sắc. Tiếng chiêng gắn bó với mọi
nghi lễ quan trọng của đời người, chính tiếng chiêng chào đón con
người khi sinh ra, ni dưỡng nhân cách con người và cũng chính tiếng
chiêng tiễn con người khi về thế giới bên kia. Bởi vậy, từ trong văn hóa
cồng chiêng, con người được sống trọn vẹn với tinh hóa văn hóa của
cộng đồng mà mình đang thuộc về đó. Đó cũng là cách lưu giữ hệ thống
những giá trị văn hóa cổ truyền có mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa
cồng chiêng.
Thứ năm, cồng chiêng vừa là biểu tượng, vừa là chuẩn mực định
canh, định vị trong tiềm thức lẫn tâm thức của mỗi người. Đi ngang một
ngôi làng của đồng bào, đôi khi chỉ nghe qua âm thanh của cồng chiêng,


242


Lê Thị Kim Dung

người ta cũng có thể đánh giá ít nhiều sức mạnh theo hai nghĩa: tiềm
lực vật chất và sức sống của cộng đồng. Người ở điểm cư trú láng giềng
có thể âm thầm nể phục, kiêng dè; kẻ thù có thể nao núng khi có ý đồ
gây hấn. Như vậy, cồng chiêng cịn là vật dụng có giá trị vật chất lớn,
biểu thị cho sự giàu sang phú q, là tín hiệu phơ trương tiềm lực kinh
tế và sức mạnh tự thân của chủ nhân sở hữu cồng chiêng. Chính lẽ đó
mà cồng chiêng cịn đảm nhận một chức năng vô cùng quan trọng, là tô
điểm không gian kiến trúc thêm phần linh thiêng, bề thế.
Thứ sáu, cồng chiêng là nhạc khí có thể sử dụng một cách đa dạng.
người ta có thể dùng cồng chiêng để tập hợp mọi người trong cộng
đồng, có thể dùng để hỗ trợ hoạt động săn bắn, phương tiện tạo nên sự
cộng cảm và cố kết cộng đồng. Một trong những công dụng nổi bật của
cồng chiêng là cầu nối cho thế giới hiện thực và thế giới thần linh gặp
nhau. Bởi thế cồng chiêng là vật thiêng khơng gì sánh bằng. Với vai trò
sứ giả trong mối giao hảo giữa con người và thế giới thần linh thì những
quan niệm, tín ngưỡng đa thần vẫn được duy trì và giữ vai trò quan
trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào.
Thứ bảy, sinh hoạt cồng chiêng gắn với các câu chuyện thần thoại
được già làng truyền lại cho con cháu, cồng chiêng thể hiện được mọi
cung bậc của một nhạc khí để tạo nên sự huyền bí, oai hùng của những
đêm lung linh ánh lửa đưa con người về với thế giới xa xưa. Trong
những sinh hoạt cộng đồng thường nhật, cồng chiêng cũng có thể thể
hiện được các loại nhạc khác nhau. Điều đó chứng tỏ cồng chiêng là một
nhạc khí có khả năng đảm nhiệm mọi chức năng âm nhạc một cách hồn
hảo. Cồng chiêng khơng chỉ tham gia vào các lễ nghi quan trọng mà còn
là nhạc khí tạo nên men say, tạo sự hưng phấn cho đồng bào trong quá
trình lao động sản xuất.

Thứ tám, cồng chiêng có giá trị quan trọng trong việc cố kết cộng
đồng. Trong cuộc sống của đồng bào Tây Nguyên, những lễ hội, sinh
hoạt cồng chiêng diễn ra dày đặc và liên tục, là điều kiện để các mối
quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên
được cố kết chặt chẽ. Cồng chiêng là ngôn ngữ đặc biệt, trước hết để con
người hiểu và thông cảm với nhau, trên cơ sở ấy tính cộng đồng được
khẳng định và củng cố. Tiếng chiêng xoa dịu hận thù, gắn kết yêu
thương, tiếng chiêng xóa mờ khoảng cách, thứ bậc sang hèn, giàu nghèo.


Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập

243

Như vậy, trong sâu thẳm tiếng chiêng có tiếng của núi rừng, có tiếng
lịng người dạt dào sâu thẳm, có mưa tn suối nguồn, có những dịng
thác dựng đứng quanh năm nước dội từ trên cao xuống. Trong vang
vọng tiếng chiêng, người ta nghe có cả những tiếng hát thổ lộ tâm tình.

3. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trước thách thức của thời kỳ
hội nhập
Cồng chiêng hơm nay đang hịa nhập trong dịng cuốn của cuộc sống
hiện đại, cơ hội giao lưu, đối thoại và xung đột ngang nhau. Việc chuyển
sang nền kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng khơng ít đối với đời sống
văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số, nên văn hóa cồng chiêng
cũng đang có những biểu hiện rõ nét của những hiệu ứng tiêu cực đó.
Thứ nhất, bản sắc văn hóa dân tộc đang có nguy cơ bị suy giảm
nghiêm trọng cùng với quá trình mất rừng, mất sức sống truyền thống,
sự ra đi của tín ngưỡng đa thần khiến cho sinh hoạt văn hóa cồng chiêng
trở nên đơn điệu, mất đi sự độc đáo.

Thứ hai, ảnh hưởng của nền kinh tế cơ chế thị trường khiến cho cồng
chiêng mất dần vai trị của nhạc khí thiêng và đang bị biến thành những
hàng hóa trao đổi thơng thường. Vì lý do đó nên số lượng dàn cồng
chiêng bị giảm tới mức báo động. Cồng chiêng được “gạ gẫm” đem ra
bán và sau đó được vận chuyển ra nước ngồi mang lại nguồn thu nhập
kếch xù cho tư thương. Đánh mất cồng chiêng tức là đánh mất bản sắc
văn hóa dân tộc, một dân tộc tự đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc
mình thì dân tộc đó sẽ đánh mất tất cả.
Thứ ba, quá trình giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ theo xu thế hội
nhập khiến cho các trào lưu giải trí hiện đại xâm nhập ồ ạt vào đời sống
tinh thần của đồng bào. Đó là căn nguyên khiến cho lớp trẻ hiện nay có
thái độ hờ hững với văn hóa dân tộc. Khơng ít người sẵn sàng chối bỏ
văn hóa dân tộc mình để chạy theo những chuẩn mực mới trái ngược
với bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Thứ tư, tuổi già, nghèo đói và bệnh tật ln đe dọa cuộc sống hằng
ngày của đồng bào, ngày càng có nhiều nghệ nhân cao tuổi đi theo tiếng
gọi của “thế giới bên kia” mang theo bao tài sản văn hóa được cất giữ,
ấp ủ cả một đời vào lòng đất. Mỗi nghệ nhân tiêu biểu là một kho tàng


244

Lê Thị Kim Dung

văn hóa sống góp phần tạo nên sự đa sắc của văn hóa truyền thống. Sự
ra đi của họ khiến cho cồng chiêng có nguy cơ mai một, với sự biến mất
của các bài nhạc chiêng cổ, của sự lãng quên văn hóa truyền thống.
Thứ năm, hiện nay chúng ta bước vào thực hiện công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên mọi lĩnh vực, trên nền tảng ấy
văn hóa cũng đang từng bước được hiện đại. Cồng chiêng đã và đang

được cải tiến theo hướng hiện đại mà chúng ta quên rằng cồng chiêng
vốn dĩ gắn với lễ nghi, nghi thức dân gian. Bản chất của cồng chiêng
khơng đơn thuần là một trị diễn. Việc cải tiến cồng chiêng khiến cho
âm thanh của nó bị méo mó, biến dạng và trở nên xa lạ với những tâm
hồn tinh nhạy và cả chủ thể sáng tạo ra nó.
Thứ sáu, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi phương thức
sản xuất, sự áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật khiến con người ít phụ
thuộc vào tự nhiên, khiến cồng chiêng mất đi vai trò là nhạc cụ thiêng,
các lễ hội tơn giáo ít dần nên cồng chiêng khơng cịn mơi trường để tồn
tại. Thực tế này đang diễn ra phổ biến ở khắp nơi và trở thành bài tốn
khó cho chính quyền và đồng bào các dân tộc giữa một bên là phát triển
kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, một bên là nhiệm vụ bảo tồn giá trị
văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, việc nhận thức lại vai trị của di
sản văn hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội đang đặt ra bức thiết.
Di sản văn hóa là phương tiện hữu hiệu để giáo dục ý thức tự chủ, tự
cường của dân tộc, là nhân tố cấu thành trường sinh thái văn hóa, ni
dưỡng và tạo dựng nhân cách phù hợp với địi hỏi của thời đại. Di sản
văn hóa cịn là một tiềm năng kinh tế dồi dào nếu đặt nó vào đúng vị
trí kinh doanh của ngành du lịch. Mặt khác, di sản văn hóa cịn là
phương tiện để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, các mối quan hệ quốc
tế vì sự phát triển của các dân tộc và tồn xã hội. “Di sản văn hóa là
thành phần trọng yếu của văn hóa dân tộc. Vì vậy, muồn giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc thì phải xem việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân
tộc như một quốc sách”1.
1. Đàm Hoàng Thụ (1998), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở nước ta hiện nay, Viện
Văn hóa, NXB Văn hóa Thơng tin, Hà Nội, tr. 83.


Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập


245

Như vậy, đối với nhịp sống đi lên tất yếu của đồng bào Tây
Nguyên trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa chung của đất
nước, cũng như trong chiến lược đưa miền núi tiến kịp miền xi thì
cồng chiêng là thực tiễn sống động chứ khơng phải là hiện vật nằm
trong bảo tàng. Tìm về cội nguồn khơng có nghĩa là bước thụt lùi
trong nhận thức mà qua đó chúng ta có dịp lục tìm lại những vốn quý
của từng dân tộc để bảo lưu, gìn giữ và phát huy truyền thống trong
thời kỳ mới.
Xu hướng cái mới được đón nhận nồng nhiệt là điều dễ hiểu, nhưng
khi cái truyền thống đã sâu rễ bền gốc thì thiết nghĩ sự giao lưu văn hóa
trên nền tảng chọn lọc và tiếp thu là hướng tích cực. Trong đó, cái mới
được tiếp nhận, cái truyền thống được tơn vinh, vấn đề xung đột truyền
thống – hiện đại sẽ được giải quyết trên nền tảng văn hóa. Để rồi dù
dưới ánh điện, những cô gái Tây Nguyên vẫn duyên dáng trong điệu
múa uyển chuyển theo nhịp chiêng trống, những đêm nghe già làng kể
chuyện vẫn tiếp tục và các nghệ nhân dân gian còn mãi cơ hội thể hiện
tài năng điêu luyện của mình. Văn hóa cồng chiêng khơng chỉ kéo q
khứ về với hiện tại, nó cịn là định hướng văn hóa cho dân tộc trong
tương lai.
Đứng trước những biến động của cuộc sống cơng nghiệp, văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên cũng đang có những bước thay đổi theo cả hai
hướng tích cực và tiêu cực trong xu thế chung. Bản sắc, bản lĩnh văn hóa
các dân tộc đang được thử thách và kiểm nghiệm. Điều quan trọng là
chúng ta khơng nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân
tộc. Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi. Đối việc giữ gìn bản sắc
dân tộc cũng vậy, nhà lãnh đạo cần có cái nhìn sáng suốt, chủ động và
nhạy bén, ln ln xem xét giá trị nào lỗi thời cần xóa bỏ, những giá

trị nào cần bổ sung thêm vào, những giá trị nào cần kế thừa nhưng dưới
một hình thức mới và hình thức mới đó nên như thế nào? Thật vô lý khi
chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và hay đẹp của văn hóa bên ngồi
chỉ vì chúng là ngoại lai, nhưng cũng là vơ lý và sai lầm lớn nếu chúng
ta tiếp thu hàng loạt khơng có phê phán những yếu tố văn hóa nước
ngồi chỉ vì nó mới lạ và tân kỳ.
Một nhà nghiên cứu khi nói về văn hóa Việt Nam đã nhận định:
“Bản sắc dân tộc, văn hóa giống nịi chính là phần hồn. Các bạn phải


246

Lê Thị Kim Dung

giữ gìn hồn thiêng sơng núi chứ khơng chỉ giữ gìn núi sơng”. Lời
nhận định trên chứa đựng một ý nghĩa thật sâu sắc. Vì vậy, “sự ứng
xử văn hóa phải được thiết kế trên sức đề kháng mạnh mẽ của văn
hóa dân tộc”, và chỗ dựa duy nhất về mặt tinh thần cho tồn bộ cơng
cuộc đổi mới văn hóa hiện nay chính là cái gốc vững vàng của văn
hóa dân tộc. Gốc đã vững thì ai rung chẳng chuyển, ai lay chẳng rời.
Chúng ta có niềm tin mãnh liệt ấy bởi lẽ “ngay trong cuộc khủng
hoảng do những cơn lốc của văn minh và âm nhạc phương Tây tràn
vào một cách ồ ạt, đại bộ phận người Việt Nam vẫn giữ vững truyền
thống bảo vệ bản sắc dân tộc trong văn hóa nghệ thuật, kiên cường
chống lại những trào lưu Âu hóa trong âm nhạc và nhanh chóng xoay
chuyển tình thế từ bị động sang chủ động nhằm bản tồn những tinh
hoa âm nhạc cổ truyền”1.
Theo ánh điện sáng và những tuyến đường nhựa, văn minh hiện đại
đang len lỏi tới mọi ngõ ngách cuộc sống, thậm chí tới tận “giường ngủ”
của mọi nhà. Vấn đề là chúng ta có những ứng xử như thế nào để vừa

giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa
hiện đại. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước những
thách thức của buổi giao thời ấy. “Nhận diện được bức tranh văn hóa
tộc người hiện nay một cách xác thực sẽ rất hữu ích cho việc xây dựng
và thực thi các chính sách nhà nước một cách hiệu quả, rút ngắn thời
gian và các bước đi mang tính chất cảm tính, hoặc thử nghiệm một cách
chung chung”2.
Nhà văn Lỗ Tấn có câu nói nổi tiếng với vợ mình: “anh chỉ là một
con bò ăn cỏ và tiết sữa cho đời”. Cỏ như Lỗ Tân đối với chúng ta là
đường lối của Đảng, là cảm hứng hiện thực. Văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên là sản phẩm văn hóa sáng tạo của cư dân sống trên miền sơn
cước với những đặc thù về môi trường tự nhiên và phương thức sản
xuất truyền thống. Muốn giữ được nền văn hóa cồng chiêng phải giữ
được mơi trường sản xuất đó, để văn hóa cồng chiêng mãi là thức ăn

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Thường thức về âm nhạc cổ truyền Việt Nam và lịch sử
âm nhạc, Nxb Giáo dục, tr. 168
2. Nguyễn Hữu Thơng (cb) (2005), Văn hóa làng miền núi Trung bộ Việt Nam‑Giá trị
truyền thống và những bước chuyển lịch sử (dẫn liệu từ miền núi Quảng Nam), Nxb
Thuận Hóa, tr. 361.


Văn hóa cồng chiêng khu vực Tây Nguyên trước thách thức thời hội nhập

247

tâm hồn cho đồng bào. Và điều quan trọng nhất, thức ăn tâm hồn phải
như sữa mẹ, bởi vì “ngộ độc cơ thể đã khó cứu, ngộ độc tâm hồn càng
khó hơn”.
Pháp luật, biện pháp hành chính chỉ mang tính chất định hướng,

khơng thể giải phẫu được tâm hồn. Cái chính là chúng ta có thái độ trân
trọng đúng mực và tâm huyết với những giá trị văn hóa của dân tộc. Có
như thế, mỗi người mới tự ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng
liêng của mình trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp để
nền văn hóa dân tộc mãi hưng khởi hôm nay và mai sau.



×