Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

SÂU BỆNH hại một số cây CÔNG NGHIỆP KHU vực tây NGUYÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.3 MB, 42 trang )

CÂY CÔNG NGHIỆP KHU VỰC TÂY NGUYÊN
I. Cây Cà phê:
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới, chỉ đứng sau Brasil,
riêng đối với cà phê vối, nước ta là nước xuất khẩu đứng đầu thế giới.

Hiện nay, có một số loài sâu bệnh hại trên cây Cà phê gây thiệt hại lớn về
năng suất và chất lượng sản phẩm:
1. Rệp sáp hại quả:
_ Đặc tính gây hại và đặc điểm sinh học của rệp sáp hại quả:
 Rệp sáp thường chích hút các bộ phận non: lá non, quả non, chồi non.
 Rệp sáp hại quả thường xuất hiện từ khi cây cà phê ra hoa cho đến khi thu
hoạch. Rệp sáp hại quả có hình bầu dục, bên ngoài có lớp sáp trắng bao phủ.
 Khả năng sinh sản mạnh, sinh sản đơn tính, trứng đẻ thành từng bọc.
 Mỗi con rệp cái có thể đẻ từ 65-290 trứng có khi lên tới 1000 trứng, sau 3-5
ngày thì trứng nở.
 Rệp sáp có khả năng gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau như tiêu, điều.
Sự lây lan của rệp chủ yếu nhờ gió, mưa, đặc biệt là kiến.


_ Biện pháp phòng trừ:
 Tạo sự thông thoáng trong vườn cây, nhằm hạn chế sự phát sinh của rệp sáp.
 Vệ sinh vườn cà phê, cắt bỏ những cành bị sâu, hại nặng, đem tiêu hủy tưới
béc, rửa cành rửa lá ...
 Hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ tập đoàn thiên địch.
 Khi mật số rệp sáp cao có thể dùng vòi nước với áp suất cao xịt mạnh làm cho
sáp tơ trắng bung ra sau đó mới dùng thuốc.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Cần ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học, chế phẩm hữu cơ không độc hại
như DC-tron plus nấm ký sinh ... có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau:
Applaud-Bass 10wp, Supracide 40EC, Suprathion 40EC, Cymerin 5EC, 10EC
và 20EC, Mapy 400E. Nên phun trực tiếp vào chỗ có rệp, đúng nồng độ và liều


lượng theo khuyến cáo trên nhãn thuốc, phun lần 2 cách 5-7 ngày chỉ nên phun
những cây có rệp.
2. Rệp vảy xanh và rệp vảy nâu:
_ Tác hại:


 Rệp chích hút thân lá non, chồi non làm cây phát triển kém. Sự xuất hiện của
rệp kèm theo nấm muội đen loài nấm này che phủ cành lá làm cho cây quang
hợp kém dẫn đến cây sinh trưởng phát triển kém.

_ Đặc điểm hình thái:
 Rệp vảy xanh trưởng thành dài 2.5mm, rộng 1.8mm, màu xanh vàng, thân dẹt,
hình bầu dục.
 Rệp vảy nâu trưởng thành dài 2.2-2.5mm, rộng 1.5mm được bọc bởi một lớp
vỏ màu nâu, ở giữa phồng lên hình bán cầu.
_ Đặc điểm sinh học:
 Kiến cộng sinh với rệp, bảo vệ rệp, ăn chất thải của rệp tha rệp từ nơi này sang
nơi khác.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Vệ sinh đồng ruộng làm sạch cỏ để hạn chế sự phát triển của kiến.
 Bảo vệ thiên địch.
 Hóa học: dùng một trong các loại thuốc sau Dibamerin 5EC, Cymerin 5, 10EC,
Ofatox 40EC, Suprathion 40EC ... nồng độ 0.2-0.3%
3. Rệp sáp hại rễ:
_ Tác hại:


 Rệp chích hút ở phần cổ rễ và rễ cà phê.
 Rệp sáp kết hợp với nấm Polyporus sp. tạo ra một bộ phận gọi là măng xông
bao quanh rễ. Rệp sáp chích hút tạo ra nhiều vết thương trên rễ và các loại nấm

gây hại dễ dàng xâm nhập gây hiện tượng thối rễ.

_ Tập tính sinh hoạt:
 Tập tính sinh hoạt của chúng cũng giống như rệp sáp hại quả nhưng rệp sáp hại
rễ lại đẻ con trong khi rệp sáp hại quả đẻ trứng. Hiện nay vẫn chưa có khẳng
định được hai loại rệp này có phải là một hay không do chưa định danh được
loài của các loại rệp này.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Kiểm tra định kì phần cổ rễ (cách mặt đất 10cm) để phát hiện rệp.
 Đối với các cây bị nặng thì nên đào bỏ và đem đốt, những cây bị nhẹ có thể
dùng một trong các thuốc sau: Bi58 (0.3%), Supracid (0.1%), Basudin
(30gam/gốc) ... Các thuốc nước nên pha với 1% dầu lửa tưới vào cổ rễ. Đào
đất đến đâu tưới thuốc đến đó và lấp đất lại.
4. Mọt đục quả:
_ Cách phá hại:
 Mọt trưởng thành đục một lỗ nhỏ cạnh núm hay giữa núm quả để chui vào
trong nhân.


 Đục phôi nhũ tạo thành các rãnh nhỏ để đẻ trứng.
 Sâu non ăn phôi nhũ hạt. Mọt gây hại cà phê ngoài đồng và cả cả phê cất giữ
trong kho.

_ Đặc tính sinh học và tập tính sinh hoạt:
 Mọt thường sống trong các quả chin, các quả khô còn sót lại trên cây và rụng
dưới đất.
 Sauk hi thu hoạch, mọt sẽ sống trong các quả khô trên cây và dưới đất, sau đó,
chuyển sang các quả xanh già, quả chin đầu vụ. Vòng đời 43-54 ngày.
 Cây kí chủ phụ, muồng hoa vàng, cốt khi, keo dâu. Mọt xuất hiện và gây hại
trên cả ba giống cà phê: chè, vối, mít.

_ Biện pháp phòng trừ:
 Tận thu tất cả các quả khô và chin còn sót lại ở trên cây và dưới đất. Bảo quản
hạt ở độ ẩm dưới 13% hạt.
 Nếu mọt gây hại nặng, phun Basudin 0.2%, Thiodan 0.3% hoặc phun phòng
Basudin 0.2% giai đoạn quả xanh già. Sử dụng nấm Beauveria bassiana để
phòng trừ mọt đục quả.
5. Mọt đục cành:


_ Mọt xuất hiện chủ yếu trong các tháng mùa khô, bắt đầu phá hại từ tháng 9,
tháng10 và đạt đỉnh cao vào tháng 12, tháng 1.
_ Tỷ lệ cây bị mọt trên cà phê KTCB vào lúc cao điểm dao động từ 10 – 38%.

_ Tập tính sinh hoạt:
 Mọt đục một lỗ nhỏ bên dưới các cành tơ hay bên hông các chồi vợt thành một
tổ rỗng làm cành hay chồi khô héo và chết. Mọt đẻ trứng trong hang, ấu trùng
của một loài nấm có tên là Ambriosa do các bào tử nấm dính trên lưng con cái.
 Mọt còn sính ống trên một số loại cây trồng khác như cây bơ, ca cao, xoài …
_ Biện pháp phòng trừ:
 Hiện nay chưa có thuốc đặc trị đục cành. Do đó, cần phát hiện sớm và cắt đốt
các cành bị mọt vào giai đoạn cành vừa héo. Có thể sử dụng một trong các loại
thuốc sau để phòng trừ: Karate, Thiodan nồng độ 0.3-0.4% phun kết hợp với
cắt cành.
6. Bệnh rỉ sắt:


_ Tác hại:
 Đây là loại bệnh phổ biến và nghiêm trọng trên cà phê đặc biệt là cà phê chè.
 Bệnh làm rụng lá, cây kiệt sức, sản lượng kém. Nếu nặng có thể rụng hết lá
làm cho cây chết.

_ Triệu chứng:
 Đầu tiên ở mặt dưới là có những chấm nhỏ màu vàng lợt như những gioitj dầu
và chỉ thấy ở mặt dưới lá. Sau đó, các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiện
bột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm rỉ sắt. Bào tử chuyển dần sang màu
trắng từ trung tâm ra ngoài, cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy. Các
vết cháy có thể liên kết với nhau thành các vết cháy lớn dẫn đến việc cháy toàn
bộ lá và lá rụng.
_ Sự phát sinh , phát triển:
 Nhiệt độ và mưa là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát sinh, phát triển của
bệnh rỉ sắt. Tại Tây Nguyên thời gian bắt đầu mùa mưa quyết định đến sự phát
sinh sớm hay muộn của bệnh.


 Ngoài ra, sư phát sinh bệnh còn phụ thuộc vào số lá còn lại trên cây vào cuối
mùa bệnh năm trước.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Vệ sinh đồng ruộng: Dọn sạch tàn dư cây trồng, cỏ dại sau mỗi vụ thu hoạch.
 Dùng giống chống bệnh: Đối với cà phê chè thì dung giống kháng bệnh
CatiMor F4, CatiMor F6. Đối với cà phê vối thì áp dụng biện pháp ghép chồi.
 Biện pháp hóa học: Dùng Impact 125 SC 3cc/200cc nước/gốc, Anvil (o\0.2%),
Tilt (0.1%), phun khi bệnh mới xuất hiện.
7. Nấm hồng

_ Triệu chứng:
 Bệnh gây hại trên quả và cành.
 Đầu tiên, trên quả hay cành xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng, giống bụi
phấn. Những chấm nhỏ này phát triển tạo thành một lớp phấn mỏng sau này có
màu hồng đó là bào tử nấm bệnh.
_ Sự phát sinh phát triển:
 Bệnh thích hợp với điểu kiện ẩm độ cao nhưng lại nhiều ánh sáng .

 Bệnh phát triển rất nhanh trên cây. Nhưng lây lan từ cây này sang cây khác thì
chậm, thời gian phát triển của bệnh cũng không kéo dài.


 Tại Tây Nguyên, bệnh thường phát sinh từ tháng 6,7 phát triển mạnh từ tháng
7 đến tháng 9 cao điểm là vào tháng 9.
_ Biên pháp phòng trừ:
 Tạo hình thông thoáng cho vườn cây. Cắt đốt các cành bị bệnh.
 Dùng Validacin 3L (2%0 phun 2 lần cách nhau 15 ngày.
8. Bệnh khô cành khô quả:

_ Triệu chứng:
 Qủa bị bệnh bắt đầu từ vết chấm nhỏ màu nâu trên vỏ quả sau lan rộng ra và có
màu nâu sẫm. Phần bị bệnh bị lỏm sâu xuống.
 Lá bị bệnh: có nhiều đốm nâu sau đó lan rộng ra chuyển sang màu nâu sẫm hay
nâu đen.
 Trên cành đầu tiên là những đốt giữa cành. Đầu tiên là những vết nhỏ màu nêu
vàng sau đó nâu và nâu sẫm. Lá trên cành rụng dần, cành khô và chết.
_ Sự phát sinh phát triển:
Có nhiều nguyên nhân:
 Do nấm Collectrichum


 Do sinh lý
 Do vi khuẩn
Ở Tây Nguyên chủ yếu do nấm và sinh lý gây nên.
_ Phòng trừ:
 Bón phân cấn đối, hợp lý
 Trồng cây che bóng, cây chắn gió
 Sử dụng một trong các loại thuốc sau: Derosal 50SC, Viben C 50BTN,

Champion 77WP, Anvil 5SC, Titl 250ND … Nồng độ 0.2-0.3% phun vào đầu
mùa mưa 2-3 lần cách nhau 1 tháng.
9. Bệnh đốm mắt cua:

_ Bệnh gây hại trên lá, quả và cành. Cây bị bệnh nặng thường cằn cỗi, chậm phát
triền, lá vàng và rụng, quả vàng và chin ép.
_ Vết bệnh trên als và quả thường có hình tròn, trong có nhiều vòng đốm đồng
tâm, chính giữa màu xám có các chấm đen nhỏ, xung quanh nâu đỏ, ngoài
ucngf vàng. Trên cành vết bệnh chạy dọc theo chiều dài cành. Qủa bị nấm gây


hại nặng có thể bị thối đen từng phần hoặc toàn bộ. Bệnh phát triển quanh năm
đặc biệt là trên các vườn chăm sóc kém.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Bón phân cân đối, hợp lý. Bổ sung phân hữu cơ hang năm, tích cực chăm sóc
để vườn cây phát triển tốt.
 Đối với những cây bị nặng, phun Anvil 5SC(0.2%), Tilt 250EC (0.1%0.
10.

Bệnh thối nứt thân:

_ Bệnh xuất hiện trên đoạn thân đã hóa gỗ. Bệnh làm nứt và thối đen lớp vỏ
ngoài của thân cây, cây thiếu nước nên lá héo và khô từ đầu ngọn xuống.
_ Bệnh do nấm Fusarium sp. gây ra.
_ Biện pháp phòng trừ:


 Cần phát hiện bênh sớm dung dao cạo sạch phần vỏ thân bị bệnh, sau đó quét
Viben C 50BTN(0.3%), Bendazol 50 WP (0.3%) … Nếu cây đã bị khô ngọn
cần cưa ngang và đốt bỏ phần bệnh, quét thuốc lên trên mặt thân bị cưa và nuôi

chồi mới.
 Có thể dung vôi bột hòa nước rồi quét lên bộ phận bị bệnh.
11.

Tuyến trùng hại rễ:

_ Tác hại và triệu chứng:
 Đây là loại bệnh nguy hiêm và hiện đang rất phổ biến tại các vùng trồng cà phê
chính ở Tây Nguyên. Hằng nghìn ha cà phê đã phải thanh lý vì bệnh này. Nguy
hiểm hơn là không thể trồng lại cà phê sau khi đã nhổ bỏ cây bệnh.
 Tuyến trùng gây hại trên tất cả các loại tuổi cà phê, từ vườn ươm, KTCB đến
KD.
_ Sự phát sinh phát triển:
 Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do tuyến trùng Pratylenchus coffeae kết hợp
với nhiều loại nấm, chủ yếu là Fusarium solani … Fusarium oxysporum, trong
một số trường hợp còn có sự phối hợp với rệp sáp.


 Đối với các vườn cà phê kinh doanh. Bệnh thường xuất hiện ở những vườn cho
năng suất cao trong một thời gian dài nhưng không được bổ sung phân hữu cơ,
vôi.
 Tuyến trùng gây hại cây chủ yếu sống trong đất.
 Trứng của tuyến trùng có thể tồn tại rất lâu trong đất. Việc xới xáo, tưới tràn

trong các vườn bị bệnh cũng tạo điều kiện cho bệnh lây lan và phát triển
nhanh.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Trong vườn ươm: Không sử dụng đất có nguồn tuyến trùng để ươm cây.
 Nếu phát hiện có tuyến trùng trong vườn ươm sau khi đã ươm cây có thể dùng
một trong các loại thuốc sau: Mocap 10G, Vinoca 20ND (0.3%), Marshal 5G,

Oncol 20EC (0.3%) để diệt tuyến trùng.
12.

Bệnh lở cổ rễ:

_ Bệnh gây hại ở phần cổ rễ cây con trong vườn ươm và trong giai đoạn KTCB
_ Ở vườn ươm:
 Phần thân tiếp giáp với mặt đất (gọi là cổ rễ) bị thối đen và teo lại làm cho
nước không dẫn được từ rễ lên, vì thế phần lá phía trên bị héo và chết. Bệnh
thường xuất hiện ở các vườn ươm có ẩm độ đất cao, ít thoáng, đất trong bầu bị
dí chặt.
_ Biện pháp phòng trừ:


 Không tưới nước quá ẩm
 Không che vườn ươm quá dày (để khaongr 50% ánh sáng ngoài trời)
 Xới xáo, bóp bầu để tạo thông thoáng trong bầu.
 Nhổ bỏ các cây bệnh.
 Phu Validacin 3DD (2%), Viben C 50BTN (0.3%)

13.

Bệnh thối cổ rễ:

_ Thường xuất hiện vào giữa mùa mưa trên cà phê 1-2 năm tuổi. Triệu chứng đầu
tiên là cây bị long gốc sau đó, cổ rễ bị thối đen. Những cây bị bệnh nhẹ, lá còn
xanh một phần cổ rễ bị thối đen. Những cây bị bệnh nặng, lá vàng, toàn cổ rễ
thoisd den, nhỏ lại so với thân, phần gỗ bên trong bị khô. Bệnh phát triển và
lây lan rất nhanh.
_ Biện pháp phòng trừ:

 Trồng cây chắn gió tạm thời trong các vườn từ 1-3 năm tuổi.
 Nhổ và đốt các cây bị bệnh nặng.

 Đối với các cây bị thối cổ rễ nhẹ (cây xanh, long gốc) dùng Viben C 50BTN
(0.5%), Bendazol 50WP (0.5%), tới 2 lít dung dịch/gốc, 2-3 lần cách nhau 15
ngày.
14.

Bệnh nhũn cổ rễ:

_ Thường xuất hiện trong mùa mưa, trên cà phê kinh doanh nhất là các cây ở gần
cây muồng đen, cây ăn quả, cây rừng bị chết. Cây bị bệnh nhẹ thì còi cọc, sinh
trưởng kém, vỏ cổ rễ bong ra, cổ rễ mềm xốp hơn cây bình thường.


_ Cây bị bệnh nặng cổ rễ nhũn, xốp, phần gỗ bên trong khô, toàn bộ rễ bị thối đen
và khô. Lá héo và cây chết đứng cùng với bộ tán lá trên cây.
_ Nguyên nhân gây bệnh:
 Bệnh do các loài nấm Fomes sp. ,Rosellinia sp. ,Armillariella sp.

 Đây là bệnh xuất hiện không phổ biến như các bệnh rễ trên, tốc độ lây lan
chậm, mỗi năm chết dần một vài cây nhưng hiện nay vẫn chauw có thuốc đặc
trị để phòng trừ.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Biện pháp tốt nhất là phát hiện sớm các cây bị bệnh để đào đốt, kể cả các cây
dại rừng chắn gió ăn quả trồng xen bị bệnh hay đã chết xung quanh vùng đó.
 Xử lý các hố và các cây xung quanh vùng bệnh bằng Bayleton 250EC(0.1%),
Bayfidan 25ec(0.1%), Viben C 50BTN(0.5%), Bendazol 50WP (0.5%).
II.


Cây hồ tiêu:

1. Bệnh héo chết chậm:
_ Bệnh do tuyến trùng Meloidogyne incognita phối hợp với các loài nấm như
Fusarium sloani, Rhizoctonia solani gây ra.
_ Triệu chứng: cây sinh trưởng kém, lá vàng và rụng dần, rễ có những nố sưng.
Nếu bệnh nặng thì dây tiêu bị tháo đốt, rễ thối đen và cây chết.

_ Biện pháp phòng trừ:


 Không trồng tiêu trên các vườn cà phê đã nhổ bỏ do bệnh tuyến trùng. Trước
khi trồng xử lý hố bằng một trong các loại thuốc như Mocap 10G (20g/gốc),
Marshal 5G (50g/gốc), Oncol 20EC (0.3%, 2 lít dung dịch/ gốc) ...
 Bón phân cân đối và thường xuyên bổ sung phân hữu cơ cho cây.
 Trồng xen tiêu với cúc vạn thọ, muồng hao vàng.
 Các cây bị bệnh nhẹ dùng: Viben C 50BHN, Bendazol 50WP (0.3%, 5lít dung
dịch/gốc). Kết hợp với các loại thuốc trừ tuyến trùng như Furadan, Marshall,
mocap ... Nhưng vườn đã bị nặng cần nhổ bỏ và luân canh với các cây trồng
khác trước khi trồng lại tiêu.
2. Bệnh chết nhanh:
_ Bệnh do nấm Phytophthora sp. ,Pythium sp. ,Fusarium sp. ,Rhzioctonia sp.
Bệnh xuất hiện chủ yêu trong mùa mưa.

_ Tác hại: Đây là loại bệnh rất nguy hiểm, tốc độ lây lan nhanh, chỉ trong một
thời gian ngắn khoảng 10-15 ngày cây đã chết.
_ Triệu chứng: Cây bị bệnh có triệu chứng lá héo nhưng vẫn còn xanh. Sau đó, lá
úa vàng, héo rũ. Cây chết rất nhanh nên lá vẫn còn nhiều trên cây, chưa kịp
rụng. Đây là triệu chứng để phân biệt với bệnh héo chết chậm.
_ Biện pháp phòng trừ:

 Trồng giống kháng bệnh.


 Trồng tiêu trên đất thoát nước, tạo rãnh thoát nước trong mùa mưa.
 Tránh làm tổn thương rễ.
 Bón phân cân đối hợp lý, tăng cường phân hữu cơ, vôi.
 Xử lý hôm trước khi trồng bằng một trong các loại thuốc sau: Aliette 80WP
(0.1%), Ridomil 240EC (0.1%).
 Khi cây bị bệnh cần phải đào bỏ và xử lý đất bằng các loại thuốc sau: Aliette
80WP (0.1%), Ridomil 240EC (0.1%), Rovral 50WP (0.2%), Viben C 50BHN
(0.3%) với lượng 3-5 lít dung dịch/gốc. Đồng thời tưới các cây xung quanh
vùng bệnh bằng một trong những loại thuốc trên 2-3 lần cách nhau 1 tháng.
3. Bệnh tiêu điên:
_ Có nhiều nguyên nhân dẫn đến triệu chứng tiêu điên:
 Do cây mất cân bằng về dinh dưỡng.
 Do sự chích hút của côn trùng (rầy, rệp, bọ xít), nhện đỏ.
 Do sự phá hại của virus.
_ Biện pháp phòng trừ:
 Phun thuốc Bassa, Vibasa 50ND, Suprathion 40EC, nồng độ 0.2% để diệt mô
giới truyền bệnh.
 Bổ sung cho cây các nguyên tố vi lượng cho cây
 Không được lấy giống từ các vườn có cây bị bệnh virus
 Cần nhổ và hủy bỏ cây bệnh để hạn chế sự lây lan.
4. Các bệnh hại lá:
 Khô vằn: do nấm Rhizoctonia solani
 Đen lá: do nấm Lasiodiplodia theobromae
 Đốm lá: do nấm Colletotrichum sp. ,Phoma sp.
 Tảo đỏ: do Cephaleuros mycoides



_ Biện pháp phòng trừ:
 Đây là các loại bệnh gây hại tương đối phổ biến nhưng không gây nặng dễ
phòng trị.
 Có thể dùng Carbenzim 500FL, Derosal 50SC, Viben C 50HBN, Tilt 250EC
nồng độ 0,2% phun nhiều lần cách nhau 1 tháng.
5. Rệp sáp hại rễ:
 Thường xuất hiện trong mùa nắng hay mưa nắng xen kẽ nhau.
 Cây vàng lá, cằn cỗi, sau đó, cây rụng hết lá và chết.
 Cây bị rệp sáp thường có nhiều kiến.
 Rễ các cây bị rệp nặng thường có măng xông bao xung quanh bên trong có rất

nhiều rệp sáp.
 Lớp măng xông này có tác dụng bảo vệ rệp sáp.


_ Biện pháp phòng trừ:
 Nếu cây đã bị măng xông thì nhổ bỏ.
 Chỉ xử lý thuốc những cây chưa có măng xông.
 Dùng các loại thuốc: Pyrinex 20EC, Suprathion 40EC, Supracide 40EC,
Subatox 75EC, nồng độ 0.3% + 1% dầu lửa tới vào đất. Tưới với lượng 2 lít
dung dịch/gốc, tới 2-3 lần cách nhau 1 tháng.
6. Rầy rệp bọ xít hại thân quả:
 Các loại côn trùng thường chích hút các bộ phận non của cây làm lá biến dạng,
thâm đen, trái khô, rụng non. Ngoài ra, chúng còn là tác nhân lan truyền bệnh
virus.
 Để phòng trừ: sử dụng một trong các loại thuốc sau: Bassa 50EC, Vibasa
50ND, Suprathion 40EC nồng độ 0.2% …
7. Các loại bọ cánh cứng gây hại:
 Các loại bọ cánh cứng như Anomala sp. ,Apogonia sp. ,Oides sp. ,Lema
sp. ,Ceneorane elegans Baly, … thường gây hại lá và quả non. Bọ Anomala

sp.đẻ trứng trong đất. Bọ trưởng thành thường lên cây phá hại vào ban đêm.
_ Phòng trừ:
 Vệ sinh đồng ruộng.
 Có thể rải các thuốc sau đây quanh gốc tiêu khi đất ẩm để tiêu diệt sâu non
Padan 10H (30g/gốc), Basudin 10H (30g/gốc), Diaphos 10H (30g/gốc). Cũng


có thể phun lên cây một trong các loại thuốc sau vào lúc chiều tôí để diệt bọ
trưởng thành: Basudin 50ND(0.3%), Pyrinex 20EC (0.3%), Sherpa 10EC
(0.2%), Sevin 85WP (0.2%).
III.

Cây sầu riêng:

1. Bệnh thối vỏ chảy nhựa: do nấm Phytophthora palmivora

_ Đây là bệnh quan trọng nhất trên cây sầu riêng không chỉ ở nước ta mà còn trên
khắp vùng trồng sầu riêng trên thế giới. Nấm Phytophthora palmivora ngoài
tấn công trên vỏ thân gây triệu chứng thối vỏ chảy nhựa còn gây hại trên lá gây
triệu chứng cháy lá, trên quả gây thối quả, trên rễ gây thối rễ, trên ngọn non
gây hiện tượng chết ngọn. Trong đó, triệu chứng thối vỏ chảy nhựa là quan
trọng nhất.
_Trên vỏ thân bệnh khó phát hiện sớm mãi đến khi thấy hiện tượng chảy nhựa
(mủ) từ vết loét do nấm gây ra. Nếu phát hiện sớm vết loét còn nhỏ, việc phòng
trừ nhanh và hiệu quả. Nếu phát hiện muộn, vết loét lan rộng, nhiều vết loét
liên kết với nhau làm cho vỏ cây bị huỷ hoại việc phòng trừ sẽ tốn kém, vết
bệnh lâu lành, cây suy yếu. Nếu không phòng trừ, cây có thể chết khi nước và
chất dinh dưỡng không được chuyển lên cây.
_ Trên thân cành, quan sát khi thân cây khô ráo, tìm các vết nứt hoặc chảy nhựa,
dùng dao bén cạo bỏ phần mô mặt bị chết. Khi thấy bên trong mạch dẫn hoá

nâu, thâm đen và hư hại dần là triệu chứng đặc trưng của bệnh.
_ Trên lá, vết bệnh khởi đầu là những chấm đỏ màu nâu, sũng nước và lan rộng
nhanh. Vết bệnh sau cùng thường có dạng gần tròn màu nâu đen sũng nước với
rìa màu vàng nhạt nhỏ. Vết bệnh lan rộng nhanh trong điều kiện ẩm độ không
khí cao. Vết bệnh cũng có thể bắt đầu từ cuống lá, cành non làm phần phía trên
héo nhanh, rũ và chết dần.
_ Trên trái vết bệnh đầu tiên là một đốm đen nhỏ sũng nước lan rộng nhanh. Vết
thối có thể lan sâu làm hỏng phần trong của trái. Trên vết bệnh có thể thấy nấm
tạo thành một lớp trên bề mặt màu trắng xám với rất nhiều bào tử sẳn sàng lây
lan qua gió mưa.


_ Ngoài gây hại trên sầu riêng, nấm có nhiều ký chủ khác như cây cao su, mít…

* Phòng trừ:
_ Nguồn bệnh có thể có trong bầu đất và cây con. Do đó phải sử dụng cây giống
sạch bệnh.
_ Cần chăm sóc cây tốt, khoẻ mạnh để tăng sức đề kháng cho cây như cung cấp
nước phân bón hợp lý, phủ đất trong mùa khô ..…
_ Trồng cây trên mô, líp để thoát nước thuận lợi.
_ Mật độ cây trong vườn ươm vừa phải, tránh trồng xen quá dày.
_ Tỉa cành tạo tán để vườn cây thông thoáng.
_ Tỉa và tiêu huỷ các nguồn bệnh, ngăn ngừa lây lan. Bệnh có thể lây lan qua
dụng cụ chăm sóc, thu hái, giày dép, phương tiện vận chuyển….


_ Hạn chế gây thương tích cho cây khi chăm sóc, vận chuyển. Phòng trừ các côn
trùng gây vết thương cho cây. Vết cắt cần quét thuốc trừ nấm.
_ Diệt mối và kiến làm tổ lên cây.
_ Bón nhiều phân hữu cơ (100 kg phân hữu cơ hoai/cây/năm). Nên sử dụng phân

gà, phân rác vi sinh, phân bò... được ủ hoai.
_ Vết bệnh còn nhỏ có thể cạo bỏ phần mô chết, bôi thuốc Aliette 80 WP,
Ridomil, Metalaxyl pha 1%.
_ Phun tán cây với thuốc gốc đồng, Aliette 80 WP, Ridomil, Metalaxyl…
_ Dùng các chế phẩm sinh học là hướng đang được nghiên cứu áp dụng như bón
phân hữu cơ bổ sung vi sinh vật có ích như nấm Trichoderma.
_ Tiêm cây với thuốc Phosphonate là một kỹ thuật mới được Viện nghiên cứu cây
ăn quả miền Nam phát triển. Phương pháp này có hiệu quả và giảm được chi
phí khoảng 40% so với biện pháp phun thuốc.
2. Bệnh thán thư : do nấm Colletotrichum gloeosporioides

_ Bệnh thường gây hại trên cây bắt đầu đầu mùa khô, lúc trời mát, nhiều sương
mù trong buổi sáng. Bệnh gây hại nặng trên những vườn chăm sóc kém, thiếu
phân và tưới nước không đầy đủ. Bệnh cũng phổ biến trên sầu riêng trồng trên
đất xấu, ít chất hữu cơ, gió mạnh và không được che mát giữ ẩm thích hợp.

_ Bệnh thường gây hại trên lá, vết bệnh có thể thấy khi lá trưởng thành trở đi. Vết
bệnh thường bắt đầu từ mép lá, chót lá lan vào bên trong. Vết bệnh cũng có thể
bắt đầu từ vết thương trên lá do côn trùng, rách do gió hay do chăm sóc. Vết
bệnh lan rộng thành những sọc song song có màu nâu đậm trên nền mô chết có
màu nâu xám. Bệnh nặng làm lá khô cháy dần và rụng sớm, trơ cành. Bệnh


làm cho cây suy yếu dần. Triệu chứng bệnh thán thư thường đi kèm với triệu
chứng thiếu dinh dưỡng nhất là thiếu Kali.
*Phòng trừ:
- Chăm sóc cho cây khoẻ mạnh, bón phân tưới nước đầy đủ.
-Bón nhiều phân hữu cơ hoai mục.
-Giữ ẩm cho đất trong mùa khô bằng cỏ phủ đất. Phủ gốc với phân hữu cơ, rơm
rạ, cỏ khô trong mùa khô.

-Che mát cho cây con.
-Tỉa bỏ lá bị bệnh nặng và tiêu huỹ. Vệ sinh vườn cây.
-Chú ý phòng trừ một số loại côn trùng gây hại trên lá như câu cấu, bọ cánh cứng
hoặc một số côn trùng chích hút vì chúng có thể gây ra những vết thương và
mở đường cho nấm bệnh tấn công.
-Phun thuốc phòng trừ: Sử dụng các loại thuốc như Benomyl, Appencarb,
Carbendazim, Mancozeb, Antracol hoặc thuốc gốc đồng. Luân phiên các loại
thuốc để tránh gây ra hiện tượng kháng thuốc của nấm bệnh.
3. Bệnh cháy lá : (do nấm Rhizoctonia solani)

_ Bệnh thường gây hại cây sầu riêng con trong vườm ươm và cây mới trồng
những năm đầu. Bệnh cũng gây hại trên cây trưởng thành nơi có bộ tán lá rậm
rạp hay mọc gần mặt đất ẩm. Bệnh thuờng xuất hiện một nơi sau đó lan rộng
dần ra xung quanh.
_ Vết bệnh thường có màu xanh xám hay xám nâu. Lá non bị nhiễm bệnh giống
như bị luộc trong nước sôi, màu xanh nhợt nhạt sũng nước. Các lá được kết
dính với nhau do sự mọc lan của các sợi nấm. Do đó khi khô chúng dính với
nhau nhưng không rụng. Hiện tượng này nông dân gọi là “tổ kiến”. Bệnh có
thể tấn công lên các thân non làm khô chết phần ngọn phía trên và sau đó sẽ
chuyển màu trắng xám.
_ Nấm gây bệnh thường phát triển trong điều kiện ẩm độ cao, thiếu ánh nắng. Sự
lây lan có thể trực tiếp do sợi nấm mọc lan hoặc do hạch nấm di chuyển nhờ


dòng nước. Ngoài cây sầu riêng nấm này cũng còn tấn công các loại cây non
khác.
_ Mầm bệnh này thường phổ biến trong rơm rạ, cây cỏ…do vậy sử dụng các rơm
rạ, cây cỏ khô phủ đất cần lưu ý sự lây lan nguồn bệnh.

*Phòng trừ

_ Ngăn chặn nguồn bệnh lây lan từ bên ngoài vào trong vườn (từ rơm rạ, cỏ khô,
nguồn nước chảy..)
_ Mật độ trồng nên vừa phải để tạo độ thông thoáng và hạn chế lây lan.
_ Nên kiểm soát bệnh bằng chế đọ phun thuốc hoá học với các loại thuốc trừ
nấm như Anvil, Moncerene, Bonanza, …
Bệnh đốm rong đỏ: do rong (algae) Cephaleuros virescens gây bệnh

4.

_ Đốm bệnh thường xuất hiện ở phiến lá, đôi khi cũng xuất hiện trên cành non.
Đốm bệnh có màu đỏ rỉ sắt bề mặt như lớp nhung mịn, hơi nhô lên mặt lá.
Bệnh làm giảm khả năng quang hợp, cây sinh trưởng kém. Ngoài sầu riêng,
còn gây hại trên nhiều cây trồng khác.
_ Bệnh thường thấy trên lá đã trưởng thành. Bệnh phát triển trên cây già cỗi, sinh
trưởng kém. Vườn trồng trên đất xấu, vườn chăm sóc kém bệnh nhiều. Cây con
không che mát, chăm sóc kém, bệnh có thể gây hại trên thân cành non.


*Phòng ngừa:
_ Bón phân tưới nước đầy đủ cho cây, phòng trừ các loại sâu bệnh khác giúp cây
sinh trưởng tốt giúp hạn chế được bệnh.
_ Che mát cho cây con trong mùa khô
_ Bón nhiều phân hữu cơ giúp giữ ẩm tốt trong mùa khô.
_ Trường hợp bệnh nặng có thể sử dụng Bordeaux để phun trừ.
5. Bệnh nấm hồng : do nấm Erythricium salmonicolor

_ Bệnh thường xuất hiện trên các cành nhỏ mọc ngang ở nơi phân cành. Thời tiết
mưa ẩm kéo dài là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh phát sinh phát triển và lây
lan.
_ Đầu tiên những sợi nấm màu trắng phát triển bên trên vỏ cây. Sau đó hình

thành lớp nấm dạng phấn hồng bao phủ bên ngoài vỏ cây. Bên dưới lớp phấn phủ
mô vỏ cây bị thâm và thối làm cho phần trên vết bệnh không được cung cấp nước
và chất dinh dưỡng, sau đó lá vàng khô dần và chết. Vỏ cây có thể bị nứt ở vị trí
vết bệnh. Bệnh thường làm chết cành nếu không phòng trừ kịp thời.
_ Ở miền Đông Nam bộ bệnh phổ biến và nguy hại hơn so với miền Tây Nam bộ.
_ Nấm bệnh lây lan qua bào tử bay trong không khí do gió mưa, gặp điều kiện
thích hợp sẽ phát triển thành vết bệnh ở nơi mới.


×