Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Chương IV:
CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN
Giới thiệu kết cấu chương( đèn chiếu Audit IV/1)
I. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/2)
1. Chuẩn bò kiểm toán
(1)Tiền kế hoạch: giai đoạn xem xét để ký hợp đồng kiểm
toán
• Tiếp nhận khách hàng
• Thoả thuận sơ bộ
• Hợp đồng kiểm toán
(2)Lập kế hoạch : giai đoạn thiết lập chương trình kiểm toán
chi tiết
• Tìm hiểu khách hàng
• Kế hoạch tổng quát
• Chương trình chi tiết
2. Thực hiện kiểm toán
(1)Xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
• Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
• Đánh giá lại rủi ro
(2)Thực hiện các thử nghiệm cơ bản (là việc kiểm tra để
chứng minh số liệu kế toán của đơn vò là đúng)
Trang 1
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
• Thủ tục phân tích: xem xét sựï hợp lý về mặt tổng thể
• Thử nghiệm chi tiết: kiểm tra chi tiết trên các số liệu
3. Hoàn thành kiểm toán
(1)Đánh giá tổng quát kết quả kiểm toán
(2)Lập và phát hành báo cáo kiểm toán
Các cuộc kiểm toán thường được tiến hành ngay trong niên độ
kế toán, chỉ để lại những công việc không thể làm trong niên độ.
Ví dụ xác đònh công nợ phải thu, kiểm kê hàng tồn kho …
Việt Nam, mùa kiểm toán bắt đầu vào tháng 10, cao điểm
nhất là vào thời điểm sắp kết thúc niên độ kế toán(tháng 12) và
kết thúc vào khoảng tháng 4 hoặc tháng 5.
Một cuộc kiểm toán được xem là có hiệu quả khi:
• Giai đoạn kiểm toán thực hiện trước khi kết thúc niên độ kế
toán là lớn nhất
• Giai đoạn kiểm toán thực hiện sau khi kết thúc niên độ kế
toán là ngắn nhất
II. TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO
A.TRỌNG YẾU(MATERIALITY)
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/3)
Trang 2
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
1. Khái niệm:
Trong kế toán: thông tin được xem là trọng yếu khi sự trình bày
sai hoặc thiếu sót của nó sẽ gây ảnh hưởng đến quyết đònh của
người sử dụng báo cáo tài chính
Một báo cáo tài chính có 4 đặc điểm chất lượng:
• Có thể hiểu được
• Thích hợp
• Đáng tin cậy
• Có thể so sánh được
Trọng yếu trong kế toán nằm ở tiêu chuẩn thích hợp. Thích hợp
phải được thể hiện cả ở nội dung và số tiền
Trong kiểm toán: thông tin được gọi là trọng yếu khi sự sai lệch
hay bỏ sót nó có thể gây ảnh hưởng đến các quyết đònh của
người sử dụng báo cáo tài chính. Các yếu tố để xem xét tính
trọng yếu:
• Đònh lượng: số tiền sai phạm có ảnh hưởng đến quyết đònh
của người sử dụng báo cáo tài chính hay không
• Đònh tính: trọng yếu không chỉ đề cập đến số tiền mà còn xét
đến bản chất của sai phạm.
− Có những sai sót có số tiền nhỏ trong báo cáo tài chính
nhưng lại là sai sót trọng yếu khi đó là hành vi gian lận
− Có những gian lận không được biểu hiện ra thành tiền
những vẫn được coi là sai phạm trọng yếu. Ví dụ đơn vò
không khai báo phương pháp tính giá hàng tồn kho dẫn
Trang 3
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
đến người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về bảng
cân đối kế toán và từ đó có thể có những quyết đònh sai.
− Có những sai phạm nhỏ nhưng làm đơn vò chuyển từ trạng
thái này sang trạng thái khác vẫn được coi là sai phạm
trọng yếu. Ví dụ ngân hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải
duy trì vốn lưu động thuần là 10.000 USD. Nếu doanh
nghiệp vi phạm thì ngân hàng có quyền chuyển số nợ
doanh nghiệp vay của ngân hàng thành nợ đến hạn trả
và đòi món nợ này.
Trọng yếu là một vấn đề thuộc về sự xét đoán nghề nghiệp
2. Sự vận dụng khái niệm trọng yếu trong kiểm toán
Khái niệm trọng yếu được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng
của các sai sót và gian lận trong quá trình kiểm toán. Trong
quá trình kiểm toán, các kiểm toán viên có thể phát hiện rất
nhiều sai sót và gian lận nhưng có thể vẫn bỏ sót các sai sót
và gian lận quan trọng. Nhiệm vụ của kiểm toán viên trong
quá trình kiểm toán là phải phát hiện các sai sót và gian lận ,
xem xét các sai phạm đó có trọng yếu hay không. Nếu sai sót
là trọng yếu thì phải yêu cầu đơn vò điều chỉnh. Nếu là sai sót
không trọng yếu thì tùy mức độ mà có những biện pháp xử lý
khác nhau.
Khái niệm trọng yếu được sử dụng để xác đònh trọng tâm
trong kiểm toán. Do có sự hạn chế về thời gian, chi phí và
nhân lực nên kiểm toán viên không thể kiểm tra tất cả mọi
Trang 4
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
nghiệp vụ. Do đó, việc xác đònh trọng tâm để kiểm tra là rất
quan trọng, quyết đònh đến việc thành bại của cuộc kiểm
toán.
Ví dụ:
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/4)
Mức trọng yếu của các khoản mục tại tổng công ty XYZ được
xác đònh như sau:
Tổng công ty XYZ
Công ty Y(15%) Công ty X(80%) Nhà máy Z(5%)
Tiền(10%) Hàng tồn kho(70%) Nợ phải thu(20%)
SPDD (25%) NVL (60%) Thành phẩm(15%)
VLA (30%) VLB(25%) VLC(20%) Vlkhác(25%)
Trang 5
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Như vậy, trọng tâm kiểm tra ở công ty X là hàng tồn kho,
trong đó chú ý nhất đến nguyên vật liệu, đặc biệt là nguyên vật
liệu A và nguyên vật liệu B.
Khái niệm trọng yếu được sử dụng như là mức sai sót tối đa có
thể bỏ qua.
• Trong kiểm toán cổ điển: kiểm toán viên kiểm tra tất
cả(100%) các nghiệp vụ. Kiểm tra đến đâu, phát hiện có sai
sót chỗ nào, kiểm toán viên yêu cầu doanh nghiệp sửa chữa
đến đó.
• Trong kiểm toán hiện đại : kiểm toán viên áp dụng phương
pháp lấy mẫu
Ví dụ bài toán lấy mẫu: Tại một doanh nghiệp hiện có 10.000
khoản phải thu của khách hàng. Kiểm toán viên không thể gửi
thư xác nhận đến hết 10.000 khách hàng mà chỉ chọn ra 200
khoản phải thu để kiểm tra. Kiểm toán viên phát hiện trong
200 khoản phải thu có sai sót 2.000 USD
Bình quân một sai sót là 2000 :200 = 10 USD
⇒ Ước tính sai sót của tổng thể: 10000 x 10 = 100.000 USD
Như vậy, từ sai sót của mẫu, KTV đã ước lượng được sai sót
của tổng thể. Vấn đề đặt ra là kiểm toán viên chỉ có thể ước
lượng trong 10.000 khoản phải thu có sai sót khoảng 100.000
USD chứ không thể sửa chữa được nó.
Trang 6
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Vì vậy phải đặt ra một giới hạn sai sót tối đa( còn gọi là mức
trọng yếu) có thể bỏ qua hay chấp nhận được.
• Nếu sai sót ước tính > mức trọng yếu : kiểm toán viên
không chấp nhận sai sót đó
• Nếu sai sót ước tính < mức trọng yếu : kiểm toán viên có
thể bỏ qua sai sót này
Ví dụ: 10.000 khoản phải thu có trò giá là 10 triệu USD. Kiểm
toán viên cho rằng mức sai sót có thể chấp nhận (mức trọng
yếu) được khoảng 2% có nghiã là khoảng 200.000 USD. Như
vậy, sai sót ước lượng được ở trên (100.000 USD ) < mức trọng
yếu (200.000 USD ). Trong trường hợp, kiểm toán viên có thể
kết luận khoản phải thu không có sai sót trọng yếu, số liệu của
đơn vò vẫn hợp lý.
Trọng yếu là một tính từ chỉ sự vật này là quan trọng hơn sự
vật khác, sai sót này là nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến
báo cáo tài chính. Mức trọng yếu là danh từ chỉ số tiền mà
sai phạm dưới mức đó, kiểm toán viên có thể chấp nhận bỏ
qua, ngược lại kiểm toán viên sẽ không chấp nhận và yêu cầu
điều chỉnh.
3. Trình tự và phương pháp xác đònh, sử dụng mức trọng yếu
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/5)
Bước 1: Ước tính ban đầu về mức trọng yếu của báo cáo tài
chính_ PM (mức trọng yếu ban đầu)
Trang 7
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Mức trọng yếu ban đầu thường được tính trên cơ sở tài sản,
doanh thu hoặc lợi nhuận, không thể xác đònh mức trọng yếu
chung cho toàn bộ báo cáo tài chính mà chỉ có thể xác đònh mức
trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính. Dưạ vào
tiêu thức nào để xác đònh mức trọng yếu cũng có một tác dụng
nhất đònh.
• Tài sản: phản ánh năng lực về mặt tài chính
• Doanh thu: phản ánh quy mô hoạt động
• Lợi nhuận: phản ánh kết quả hoạt động. Đây là
tiêu thức có tính thuyết phục nhiều nhất vì nó
phản ánh kết quả cuối cùng của doanh nghiệp.
Tuy nhiên nếu doanh nghiệp lỗ thì căn cứ vào
đâu để xác đònh mức trọng yếu. Do đó trong
trường hợp này phải căn cứ vào tài sản hoặc
doanh thu.
Ngoài ra mức trọng yếu còn được căn cứ vào đặc
điểm của ngành nghề.
Ví dụ:
DN sản
xuất
Siêu thò Cty tài
chính
5% lợi nhuận bình quân
0,5% tổng tài sản
0,5% vốn chủ sỡ hữu
0,5% doanh thu
150
200
210
470
240
220
240
1310
3560
35760
2680
3730
Trang 8
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
tỷ số giữa số lớn nhất và
số bé nhất
3,1 6 13.3
Phương pháp nghiên cứu: phối hợp giữa doanh thu và tài sản.
Số lớn hơn giữa tổng TS và
DT
Từ Đến
Mức trọng yếu A là số
tiền
vượt khỏi
của
0
30.000
100.000
300.000
1.000.000
3.000.000
30.000
100.000
300.000
1.000.000
3.000.000
10.000.000
0
1780
3970
8300
18400
38300
+0,59 A
+0,031 A
+0,0214 A
+0,0145 A
+0,0100 A
+0,0067 A
0
30.000
100.000
300.000
1.000.000
3.000.000
Ví dụ: tổng tài sản của doanh nghiệp là 250.000 USD, doanh thu
là 750.000USD. vậy số lớn hơn giữa tài sản và doanh thu là
750.000 USD.
Mức trọng yếu:
8300 + 0,0145 x (750.000 - 300.000) = 14.825 USD (bằng 5%
tổng tài sản và 1% doanh thu)
Các số liệu tổng tài sản và doanh thu có thể là số liệu thực tế
hay số liệu dự kiến. Trong trường hợp việc kiểm toán được tiến
Trang 9
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
hành trước khi kết thúc niên độ thì phải lấy số liệu dự kiến, sau đó
điều chỉnh lại.
Bước 2: Xác đònh mức trọng yếu của từng khoản mục _ TE ( còn
gọi là sai sót tối đa có thể chấp nhận được )
Các phương pháp xác đònh TE
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/6)
(1)Phương pháp phân bổ PM cho TE
Ví dụ: bảng cân đối kế toán của công ty A vào 31/12/1999
Tài sản
Tiền mặt 10.000 ( 10% ∑ TS)
Nợ phải thu 40.000 ( 40% ∑ TS)
Hàng tồn kho 20.000 ( 20% ∑ TS)
Tài sản cố đònh 30.000 ( 30% ∑ TS)
Tổng tài sản 100.000
Giả sử PM = 5% tổng tài sản = 5% x 100.000 = 5.000 USD
Điều này có nghóa báo cáo tài chính không được sai
quá 5.000 USD hay tổng tài sản có thể giao động từ
95.001USD đến 104.999 USD.
Trang 10
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Mức trọng yếu được phân bổ cho từng khoản mục như sau:
Khoản mục TE
Tiền 500 ( 5000 X 10%)
Nợ phải thu 2.000 ( 5000 X 40%)
Hàng tồn kho 1.000 ( 5000 X 20%)
Tài sản cố đònh 1.500 ( 5000 X 30%)
Tổng 5.000
Nếu tất cả các sai sót trên các khoản mục đều thấp hơn
mức sai sót được phân bổ và tổng sai sót phát hiện < mức trọng
yếu thì kiểm toán viên vẫn chấp nhận sai sót này.
Trên logic thì phương pháp này khá hợp lý nhưng thường
thì các công ty kiểm toán không dùng phương pháp này.
2. Phương pháp xét đoán trực tiếp:
Trên thực tế:
• Sai sót không thể xảy ra đồng thời trên tất cả các
khoản mục. Do đó không nhất thiết mức phân bổ
bằng mức trọng yếu. Kiểm toán viên có thể phân
bổ cho các khoản mục lớn hơn mức trọng yếu.
• nh hưởng của các sai sót không phải lúc nào cũng
cùng chiều nhau. có sai sót làm tăng giá trò tài sản
những cũng có sai sót làm giảm giá trò tài sản
Trang 11
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Vì vậy, các công ty kiểm toán thường xác đònh mức
trọng yếu cho từng khoản mục bằng tỷ lệ % TE
Ví dụ: Khoản mục TE
Tiền mặt 10% PM = 10% x 5.000 = 500
Nợ phải thu 50% PM = 50% x 5.000 = 2.500
Hàng tồn kho 50% PM = 50% x 5.000 = 2.500
Tài sản cố đònh 50% PM = 50% x 5.000 = 2.500
Tổng 8.000(>PM)
Kiểm toán viên sẽ dưạ vào kinh nghiệm và sự xét đoán
nghề nghiệp để chọn tỷ lệ % TE. Nếu TE càng nhỏ thì đòi hỏi
phải kiểm toán thật chặt chẽ, không cho phép có sai sót.
• Đối với những khoản mục khó xảy ra sai sót: cho TE lớn
• Đối với những khoản mục dễ xảy ra sai sót: Cho TE nhỏ
Bước 3: Ước tính mức sai lệch trong từng khoản mục.
( Giới thiệu lại đèn chiếu Audit IV/5)
Có hai loại sai lệch
• Sai lệch đã xác đònh: là những sai lệch mà kiểm toán
viên phát hiện ra những đơn vò không chòu điều
chỉnh hoặc những sai lệch mà kiểm toán viên thấy
Trang 12
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
không trọng yếu nên không yêu cầu đơn vò điều
chỉnh.
• Sai lệch dự kiến: là những sai lệch của tổng thể mà
kiểm toán viên ước tính suy ra từ kết quả kiểm tra
mẫu
⇒ Tổng sai lệch chưa điều chỉnh = sai lệch đã xác đònh +
sai lệch dự kiến
Bước 4: Ước tính mức sai lệch tổng hợp trên báo cáo tài
chính.
Tổng hợp ảnh hưởng của tất cả những sai lệch
đến tài sản, doanh thu hay lợi nhuận. Tuỳ theo chỉ
tiêu lựa chọn để phân tích, xem xét ảnh hưởng của
chúng đến báo cáo tài chính, sau đó so sánh mức sai
lệch tổng hợp với mức trọng yếu.
5 Bước: Tuỳ theo kết quả so sánh để kiểm toán viên
đưa ra kết luận về báo cáo tài chính
• Chấp nhận toàn bộ
• Chấp nhận có loại trừ
• Không chấp nhận
• Từ chối đưa ra ý kiến
Trang 13
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Ví dụ: (tiếp theo ví dụ trên)
Sau khi kiểm tra, kiểm toán viên phát hiện được hai khoản
sai lệch và đã yêu cầu đơn vò điều chỉnh những đơn vò không
chòu điều chỉnh, bao gồm:
• Khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi: 500
• Doanh nghiệp hạch toán sai một tài sản cố đònh 500
Các sai sót dự kiến do kiểm toán viên xác đònh thông qua
phân tích mẫu như sau:
Tiền mặt 300
Nợ phải thu 1.000
Hàng tồn kho 2.000
Tổng 3.300
Tình huống 1:
Tổng hợp tình hình
Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã xác
đònh
SL dự
kiến
Tổng sai
lệch
Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
10%
50%
50%
500
2.500
2.500
-
500
-
300
1.000
2.000
300
1.500
2.000
Trang 14
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
TSCĐ 50% 2.500 500 - 500
Tổng 8.000 1.000 3.300 4.300
Kết luận: Vì tổng sai lệch (4.300 USD) < mức trọng yếu (5.000
USD ) và sai lệch từng khoản mục < mức phân bổ nên kiểm toán
viên có thể phát hành báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần
Tình huống 2:
Tổng hợp tình hình
Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã
xác đònh
SL dự kiến Tổng sai
lệch
Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
TSCĐ
10%
50%
50%
50%
500
2.500
2.500
2.500
-
500
-
1.500
300
1.000
2.000
-
300
1.500
2.000
1.500
Tổng 8.000 2.000 3.300 5.300
Kết luận: Vì tổng sai lệch (5.300 USD) > mức trọng yếu (5.000
USD ) nên kiểm toán viên có thể phát hành báo cáo kiểm toán
Trang 15
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
không chấp nhận vì sai sót đã vượt mức cho phép, báo cáo tài
chính của đơn vò không trung thực.
Tuy nhiên, trong thực tế, kiểm toán viên không làm theo
cách như trên. Họ sẽ tuỳ theo trường hợp mà chọn một trong hai
cách giải quyết sau:
• Thuyết phục đơn vò điều chỉnh lại những sai sót đã xác đònh
• Tăng cỡ mẫu với hy vọng sai lệch dự kiến sẽ giảm. Phương
án này không chắc chắn 100% sẽ mang lại kết quả như
mong muốn, lại phải tốn kém chi phí. Trong trường hợp
này, có thể hai bên sẽ phải thoả thuận lại phí kiểm toán.
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/8)
Tình huống 3:
Tổng hợp tình hình
Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã
xác đònh
SL dự
kiến
Tổng sai
lệch
Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
TSCĐ
10%
50%
50%
50%
500
2.500
2.500
2.500
-
200
1.000
-
300
1.000
2.000
-
300
1.200
3.000
-
Tổng 8.000 1.200 3.300 4.500
Trang 16
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Kết luận: Vì tổng sai lệch (4.500 USD) < mức trọng yếu (5.000
USD ) nhưng mức sai lệch hàng tồn kho (3.000 USD ) > mức
trọng yếu cho phép (2.500 USD ) nên kiểm toán viên có thể phát
hành báo cáo kiểm toán chấp nhận có loại trừ khoản mục hàng
tồn kho.
Tình huống 4:
Tổng hợp tình hình
Khoản mục Lập kế hoạch
xét đoán
Kết quả kiểm tra
SL đã
xác đònh
SL dự kiến Tổng sai
lệch
Tiền mặt
Nợ phải thu
Hàng tồn kho
TSCĐ
10%
50%
50%
50%
500
2.500
2.500
2.500
-
500
-
1.000
300
1.000
2.000
-
300
1.500
2.000
1.000
Tổng 8.000 1.500 3.300 4.800
Kết luận: Vì tổng sai lệch (4.800 USD) < mức trọng yếu (5.000
USD ) và mức sai lệch từng khoản mục < mức trọng yếu cho phép.
Tuy nhiên, ở trường hợp này rất nguy hiểm vì khoảng cách từ
4.800 USD đến 5.000 USD rất nhỏ, không đảm bảo an toàn cho
kiểm toán viên đưa ra một kết luận cụ thể. Vì vậy, để hạn chế rủi
Trang 17
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
ro, kiểm toán viên sẽ xử lý giống tình huống 2: phát hành báo cáo
kiểm toán không chấp nhận.
Khoảng cách an toàn cho phép tuỳ thuộc rất nhiều vào sự xét
đoán và kinh nghiệm của kiểm toán viên
A.RỦI RO KIỂM TOÁN
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/9)
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên có thể không phát
hiện được những sai sót trọng yếu có ảnh hưởng báo cáo tài chính,
do đó đưa ra nhận xét không đúng về báo cáo tài chính của đơn vò.
Vì kiểm toán luôn tồn tại những hạn chế tiềm tàng nên rủi ro là
không thể nào tránh khỏi. Nghiên cứu rủi ro để kiểm soát, giới
hạn rủi ro trong một mức độ chấp nhận được là nhiệm vụ cần thiết
của kiểm toán viên.
Rủi ro kiểm toán là khả năng kiểm toán viên đưa ra nhận xét
không xác đáng về báo cáo tài chính và sai sót này là trọng yếu.
Chú ý:
• Trường hợp báo cáo tài chính là trung thực, hợp lý mà kiểm
toán viên lại cho là không trung thực, không hợp lý thì không
phải lả rủi ro kiểm toán.
• Trường hợp báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu nhưng kiểm
toán viên không phát hiện được, do đó đã đưa ra ý kiến cho
rằng báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý. Đó mới chính
là rủi ro kiểm toán.
Trang 18
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
** Có hai mức độ rủi ro:
Rủi ro ở mức độ báo cáo tài chính
Rủi ro ở mức độ từng khoản mục
1. Rủi ro kiểm toán ở mức độ báo cáo tài chính (còn gọi là rủi
ro chung của hợp đồng )
Người ta nghiên cứu loại rủi ro này trên các vụ kiện trong lòch
sử mà các kiểm toán viên đã từng thua kiện và người ta nhận thấy
rằng rủi ro loại này thường gắn liền với mỗi đặc điểm của cuộc
kiểm toán. Có cuộc kiểm toán có rủi ro rất cao, có cuộc kiểm toán
rủi ro rất thấp, thậm chí không có rủi ro.
Do đó, để đối phó với rủi ro loại này, các kiểm toán viên phải
nhận diện ra những đơn vò, loại hình doanh nghiệp và hoạt động có
rủi ro cao căn cứ trên một số dấu hiệu. Khi đã có dấu hiệu nhưng
chưa chắc rủi ro sẽ xảy ra. Tuy nhiên việc nghiên cứu chúng sẽ
lưu ý cho kiểm toán viên thận trọng hơn
Trang 19
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro :
(1)Nhân tố về quản lý:
• những đơn vò, người quản lý không trung thực, có tai
tiếng xấu về sự trung thực, có tiền sử gian lận
• những đơn vò mà quyền lực tập trung vào tay vào 1
người hay một nhóm người rất nhỏ và những người này
có thể khuynh đảo, chi phối hệ thống kiểm soát nội bộ,
làm cho nó mất tác dụng.
• những đơn vò mà có sự thay đổi thường xuyên về cán
bộ quản lý, nhất là cán bộ chủ chốt về kế toán bởi vì sự
thay đổi thường xuyên về cán bộ quản lý sẽ làm cho hệ
thống kiểm soát nội bộ bò rối loạn. Hơn nữa cán bộ chủ
chốt về kế toán, đặc biệt là kế toán trưởng rất nhạy cảm
với những hành vi gian lận. Sự thay đổi thường xuyên kế
toán trưởng là dấu hiệu cho thấy đơn vò đang có những
hành vi gian lận nghiêm trọng.
(2)Các nhân tố về hoạt động
• những đơn vò có khả năng sinh lợi không tương xứng
với đặc điểm ngành nghề hoặc với các doanh nghiệp
khác.
Trang 20
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
• những đơn vò thuộc ngành nghề đang có sự chuyển
biến nhanh chóng. Phát triển quá nhanh mà quy chế
kiểm soát không theo kòp, hơn nữa lợi nhuận tăng nhanh
cũng đồng nghiã với rủi ro cao.
• những đơn vò đang có những vấn đề đặt ra về sự tồn tại
(giải thể, phá sản)
(3)Các nhân tố về kế toán, kiểm toán:
• những đơn vò đang có tranh chấp, kiện tụng, tài sản và
công nợ không rõ ràng
• những đơn vò chưa bao giờ hoặc không được kiểm toán
đònh kỳ. Do đó, sai sót và gian lận không được phát hiện
kòp thời, trở thành hệ thống, rất khó xác minh và xử lý
Mục đích của việc xác đònh rủi ro ở mức độ báo cáo tài
chính:
Quyết đònh xem có nên nhận lời kiểm toán hay không? Nếu
rủi ro của đơn vò là rất cao thì tốt hơn hết là không nên nhận
lời.
Quyết đònh thời gian chiến lược và nhân sự cho cuộc kiểm
toán. Nếu rủi ro được đánh giá là cao thì phải chuẩn bò
• Thời gian: dài hơn các cuộc kiểm toán khác
• Nhân sự: huy động các kiểm toán viên có bản lónh, kinh
nghiệm nghề nghiệp
• Chiến lược: không kiểm theo kiểu thông thường mà phải
kiểm chính xác và dựa vào những bằng chứng có độ tin
cậy cao nhất
Trang 21
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
2. Rủi ro kiểm toán ở mức độ từng khoản mục
Ví dụ: bài toán ôn thi
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/10)
Môn học có 20 chương. Thầy giáo cho biết 80% khả năng
đề sẽ nằm trong 10 chương. Anh Tư Chăm đã học hết 10
chương đó và học kỹ thêm 6 chương nữa cho chắc ăn. Ngoài ra,
anh Tư còn ráng xem lướt qua 4 chương còn lại. Vì chỉ xem lướt
qua nên nếu đề ra trúng vào 4 chương này thì xác suất làm được
chỉ khoảng20%. Hỏi rủi ro thi rớt của anh Tư Chăm?
Xác suất để đề ra ngoài 10 chương: 20%
Xác suất để đề ra ngoài 6 chương: 40%
Xác suất anh Tư không làm được bài: 80%
⇒ Xác suất thi rớt: 20% x 40% x 80% = 6,4%
Anh Tư Chăm cho rằng, rủi ro thi rớt chỉ nên dừng lại ở 5%. Do
đó anh tiến hành tính lại số chương cần phải học thêm:
5% x 20 chương = 31,25% x 20 chương ≈ 7 chương
20% x 80%
Vậy anh Tư sẽ phải học thêm 7 chương nữa để xác suất thi
rớt chỉ còn 5%
Sai sót muốn xuất hiện trên báo cáo tài chính phải lọt qua một
số thủ tục:
Trang 22
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
• Lọt qua được hệ thống kiểm soát nội bộ. Vì hệ thống kiểm
soát nội bộ luôn tồn tại những hạn chế vốn có, do đó không
thể ngăn chặn hết tất cả các sai sót.
• Lọt qua được các thủ tục kiểm toán. Vì kiểm toán cũng có
những hạn chế tiềm tàng nên cũng không thể ngăn chặn hết
sai sót.
Do đó, kiểm toán viên sẽ có thể mắc phải rủi ro kiểm toán khi
không phát hiện được những sai sót trọng yếu.
Các sai sót xuất hiện trên báo cáo tài chính nhiều hay ít phụ
thuộc vào:
( Giới thiệu đèn chiếu Audit IV/11)
(1)Sai sót vốn có trong các khoản mục: phụ thuộc vào
• Tính chất mỗi khoản mục:
− Tính nhạy cảm của tài sản(tài sản nhạy cảm là những tài
sản dễ thúc đẩy lòng tham của con người và dễ có gian
lận). Đối với những tài sản có tính nhạy cảm cao thỉ rủi
ro rất lớn, làm tăng khả năng xảy ra gian lận và sai sót.
− Tính phức tạp của nghiệp vụ. Việc xử lý nghiệp vụ
càng phức tạp bao nhiêu thì rủi ro gian lận và sai sót
càng lớn. Các nghiệp vụ ít xảy ra cũng tăng khả năng
có gian lận và sai sót.
− Việc tính toán đòi hỏi phải có các ước tính chủ quan như
các khoản dự phòng, trích trước.
• Ngành nghề kinh doanh:
Trang 23
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
Ví dụ:
• Xem xét khoản mục tiền mặt tại quỹ ở 2 doanh nghiệp
− Công ty sản xuất thép: bán hàng có giá trò lớn, thanh toán
qua ngân hàng → khả năng sai sót nhỏ
− Công ty thương mại bán lẻ: mỗi ngày phải thu chi một
lượng tiền khổng lồ tại quỹ → khả năng sai sót lớn
• Xem xét khoản mục hàng tồn kho ở 2 doanh nghiệp
− Doanh nghiệp bán đồ hộp: phải lập dự phòng cho sự giảm
giá của đồ hộp hết date
− Doanh nghiệp bán máy vi tính: : phải lập dự phòng cho
sự giảm giá của máy tính do sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật.
(2)Các thủ tục kiểm soát nội bộ có liên quan
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì khả năng xảy ra sai
sót và gian lận giảm và ngược lại.
(3)Các thủ tục kiểm toán của kiểm toán viên
Chủ yếu là các thử nghiệm cơ bản. Nếu kiểm toán viên tăng
cường các thủ tục kiểm toán thì khả năng xảy ra các sai sót giảm
Các loại rủi ro kiểm toán ở mức độ từng khoản mục
• Rủi ro tiềm tàng: là khả năng có những sai lệch trọng yếu
trên báo cáo tài chính mà chưa xét đến các thủ tục kiểm soát
nội bộ có liên quan. Rủi ro tiềm tàng phản ánh sai sót vốn có
của khoản mục. Vì vậy rủi ro tiềm tàng cũng phụ thuộc vào
tính chất của khoản mục và đặc điểm ngành nghề kinh doanh.
Trang 24
Chương IV: Chuẩn bò kiểm toán
• Rủi ro kiểm soát: là khả năng xảy ra những sai sót trọng yếu
trên các báo cáo tài chính mà hệ thống kiểm soát nội bộ
không phát hiện được. Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ
thống kiểm soát nội bộ. Nếu kiểm soát nội bộ yếu kém thì
rủi ro kiểm soát sẽ cao và ngược lại, nếu kiểm soát nội bộ
hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát thấp
• Rủi ro phát hiện: là khả năng xảy ra các sai sót trọng yếu
trên báo cáo tài chính mà những thủ tục kiểm toán của kiểm
toán viên không phát hiện được. Rủi ro phát hiện phụ thuộc
vào thủ tục kiểm toán. Nếu tăng cường thủ tục kiểm toán thì
rủi ro phát hiện sẽ giảm và ngược lại.
Công thức xác đònh rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán = rủi ro tiềm tàng x rủi ro kiểm soát x rủi ro phát hiện
Ví dụ: Tại một doanh nghiệp
• Do trình độ kế toán còn yếu nên khả năng có sai sót trên
các khoản mục là 50%
• Hệ thống kiểm soát nội bộ tương đối tốt nên khả năng có sai
sót là 20%
• Xác suất để các kiểm toán viên mắc sai sót là 10%
⇒ Rủi ro kiểm toán = 50% x 20% x 10% = 1%
Bài tập:
Trang 25