Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
LỜI TỰA
Chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 11 – Tập I có đề cập tới Nguyễn Tuân và Chữ
người tử tù. Vì niên đại và hoàn cảnh của chúng ta hiện nay khác xa với thời kì tác phẩm ra
đời nên hiểu kỹ , hiểu sâu về nội dung mà tác giả muốn truyền tải quả thực là việc không dễ
dàng. Nhưng nếu cứ né tránh, ta sẽ càng ngày càng chai sạn mà vô tình quên đi mảng màu vốn
rất đẹp trong “bức tranh văn học”.
Vậy hãy để tài liệu bạn đang cầm trên tay trở thành chiếc chìa khóa thần kì mở ra
những đam mê, những thú vị, những tinh tế của thi ca; để bàn tay mình chạm vào ngòi bút của
tác giả, để tim mình đập theo nhịp đập của nhân vật, để một lần thực sự sống cùng tác phẩm.
Qua bài viết này, chúng tôi hy vọng mang đến cho bạn đọc sự thích thú, những bài
học , nhưng kinh nghiệm học và làm văn cũng như cảm nhận, hiểu biết nhất định về đoạn
trích. Bên cạnh đó, chúng tôi muốn thể hiện sự tích cực, năng động, sáng tạo của bản thân,
thổi vào tác phẩm một làn gió mới trẻ trung hơn, cá tính hơn.
Chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến gia đình, thầy cô và bạn bè – những người
đã tận tình giúp đỡ, hỗ trợ trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, công việc tìm hiểu và cảm thụ văn chương luôn là một công đầy hứng thú
những cũng gặp phải không ít khó khăn. Chính vì vây, cuốn tài liệu này không tránh khỏi
thiếu sót. Nhóm học văn chúng tôi mong nhận được những ý kiến phản hồi từ bạn đọc để
khiến cuốn tài liệu tham khảo dần được hoàn thiện.
Xin cảm ơn!
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
1
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
A. TÌM HIỂU CHUNG.
I. TÁC GIẢ.
1. Họ tên, năm sinh năm mất, quê quán, gia đình.
Nguyễn Tuân (1910- 1987) người xã Nhân Mục, thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân
Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán
học đã tàn.
Ông là người có tính tình phóng khoáng và giàu lòng yêu nước.
2. Đôi nét về cuộc đời.
a, Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam( 1917- 1945)
-thời kì 1919- 1930
(từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi Đảng ra đời năm 1930)
+ Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929) của Pháp đã làm chuyển biến tình
hình kinh tế - xã hội Việt Nam, tạo cơ sở xã hội (giai cấp) và điều kiện chính trị (phong tràoy
êu nước) để tiếp thu luồng tư tưởng cách mạng vô sản.
+ Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của một bộ phận tiểu tư sản chuyển sang
lập trường vô sản, cùng với phong trào công nhân chuyển sang tự giác, đòi hỏi phải có Đảng
của giai cấp vô sản lãnh đạo. Ba tổ chức là Đảng cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930) đã đáp
ứng yêu cầu đó.
-thời kì 1930- 1945
+ Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929- 1933) cùng với sự tăng áp
bức, bóc lột và cuộc “khủng bố trắng” của thức dân pháp sau khởi nghĩa Yên bái (9- 2- 1930),
đã làm bùng nổ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng
trong những năm 1930- 1931, với đỉnh cao Xô Viết Nghệ- Tĩnh.
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
2
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
+ Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 (1939- 1945) tác động đến toàn thế giới. Cuộc chiến
đấu của nhân dân Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới chống phát xít thắng lợi đã tạo
điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta và nhiều nước tiến lên giải phóng dân tộc.
Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nho học đã tàn trong thời kì văn hóa phương Tây
đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến con người ông.
b, Cuộc đời.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện
nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người
Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới không có giấy phép. Ở tù ra,
ông bắt đầu viết báo, viết văn.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các
tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi...
Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt
động chính trị.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng
và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1958, ông
giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.
Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông Đà (1960), một số
tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước.
Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học phong phú với
những trang viết độc đáo và tài hoa. Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).
c, Con người.
Nét nổi bật ở Nguyễn Tuân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Sinh ra giữa thời buổi
loạn lạc, là một trí thức, Nguyễn Tuân đă thể hiện tinh thần dân tộc của mình theo một cách
riêng.
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
3
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha
thiết tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản
Đà..., yêu những phong cảnh đẹp của quê hương, những thú chơi tao nhã như uống trà, chơi
hoa, chơi chữ, đánh thơ, thả thơ,… những nhạc điệu hoặc đài của các lối hát ca trù hoặc dân
dã mà thiết tha, những nét đẹp rất riêng của Việt Nam.
Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá
tính độc đáo của mình, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là "chủ nghĩa xê dịch". Lối sống
tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần bị tù).
Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều
môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Ông còn là một diễn viên kịch
nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Ông thường vận dụng con mắt của
nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật
văn chương.
Nguyễn Tuân nổi tiếng là người sành ăn. Với ông, Ăn là một nghệ thuật, một giá trị thẩm
mỹ, một sự khám phá cái ngon mà tạo hóa đã ban cho. Ông viết về các món ăn dân tộc bằng
tất cả sự quan sát tinh tế và niềm trân trọng.
Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ
thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí "khổ hạnh" và ông đã lấy chính cuộc đời
cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy.
3. Sự nghiệp văn học.
Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã
thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu
năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một
chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua...
Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: "chủ
nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vang bóng một thời", và "đời sống truỵ lạc".
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
4
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
“Chủ nghĩa xê dịch” là chủ trương ddi không mục đích, luôn luôn thay đổi chỗ để tìm những
cảm giác mới lạ và thoát ly mọi trách nhiệm với gia đình và xã hội. Trên thực tế, đây là một lý
thuyết sống ít nhiều có nét tiêu cực. Nguyễn Tuân tìm đến lí thuyết này khi chưa gặp lí tưởng
cách mạng. Ông đến với lí thuyết "chủ nghĩa xê dịch" này trong tâm trạng bất mãn và bất lực
trước thời cuộc. Dù là một lí thuyết có phần tiêu cực, song viết về “chủ nghĩa xê dịch”, dương
như đúng cái tạng văn cũng như tạng phong cách, Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn
bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng
một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi).
Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn "vang
bóng một thời". Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu
dao hưởng lạc lành mạnh tao nhã và lịch thiệp. Tất cả được thể hiện thông qua những con
người thuộc lớp người nhà nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm
lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tử tù). Ở tập truyện “Vang bóng một
thời”, nét hào hoa cũng như cá tính mạnh mẽ của Nguyễn Tuân còn thể hiện rất rõ qua tác
phẩm như: Chém treo ngành, Những chiếc ấm đất, Thả thơ,…
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở
những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật "tôi" hoang mang bế tắc, tìm cách
thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện.. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy,
người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới
tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua).
Như một dòng máu nóng vẫn không Nguyễn Tuân ngừng chảy trong huyết quản, lòng yêu
nước và thái độ bất mãn với xã hội thực dân đưa Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng
chiến, cũng đồng thời mở ra một trang mới trong sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn
Tuân. Hào hứng, náo nức và nhiệt thành, Nguyễn Tuân đem hết sức mình phục vụ cuộc chiến
đấu của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị củ đất nước. Hình tượng chính trong sáng tác
của Nguyễn Tuân sau Cách mạng là nhân dân lao động và người chiến sĩ trên mặt trận vũ
trang. Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời
vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
5
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân
dân lao động trong chiến đấu và sản xuất.
Từ trước đến sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân vẫn giữ được những nét bút tài hoa,
độc đáo. Sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là người nghệ sĩ Nguyễn Tuân sau Cách mạng không
còn bi quan, cao ngạo, cực đoan như trước. Vẫn giàu cá tính nhưng con người Nguyễn Tuân
trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ là con người của chính nghĩa, của khí
phách anh hùng; con người của tư thế sang trọng và hào hoa- đại diện của một dân tộc ngàn
năm văn hiến.
- Những tác phẩm nổi tiếng
Ngọn đèn dầu lạc (1939)
Vang bóng một thời (1940)
Một chuyến đi (1941)
Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
Tàn đèn dầu lạc (1941)
Một chuyến đi (1941)
Tùy bút (1941)
Thiếu quê hương (1943)
Tóc chị Hoài (1943)
Tùy bút II (1943)
Nguyễn (1945)
Chùa Đàn (1946)
Đường vui (1949)
Tình chiến dịch (1950)
Thắng càn (1953)
Chú Giao làng Seo (1953)
Đi thăm Trung Hoa (1955)
Tùy bút kháng chiến (1955)
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
6
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Tùy bút kháng chiến và hòa bình (1956)
Truyện một cái thuyền đất (1958)
Tùy bút Sông Đà (1960)
Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)
Ký (1976)
Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981, tập II: 1982)
Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988)
Truyện Kiều (tiểu luận văn học)
Tú Xương
Yêu ngôn (2000, sau khi mất).
4. Phong cách nghệ thuật.
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong
một chữ "ngông".
Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa
uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được quan sát chủ yếu ở
phương diện văn hóa, mỹ thuật.
Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại và ông gọi
là Vang bóng một thời. Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.
Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại.
Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch". Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi
thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió,
bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội...
Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều phát hiện hết sức
tinh tế và độc đáo về núi sông cây cỏ trên đất nước mình. Phong cách tự do phóng túng và ý
thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tuỳ bút như một điều tất
yếu.
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
7
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân còn có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách Nguyễn Tuân có những thay đổi quan trọng. Ông
vẫn tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diện văn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ
đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sỹ ở cả nhân dân đại chúng. Còn giọng khinh bạc thì
chủ yếu chỉ là để ném vào kẻ thù của dân tộc hay những mặt tiêu cực của xã hội.
5. Nguyễn Tuân và tự lực văn đoàn.
Có thể nói văn chương Nguyễn Tuân có những nét độc đáo hơn các văn hữu đương thời
của ông, ở đây chúng tôi xin được so sánh so sánh nghệ thuật Nguyễn Tuân và Tự Lực văn
đoàn.
Về hình thức, Nguyễn Tuân viết theo thể tùy bút mà đối với thời ấy, thập niên 30, 40 thật
là mới lạ, trong khi hầu hết các tác giả đương thời viết truyện theo lối mới của Tây phương
như Tự Lực văn đoàn. Về hình thức tùy bút của Nguyễn Tuân khác hẳn với lối viết truyện của
Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam. . đó là những truyện không có kết thúc hoặc những ký sự
của một người muốn gửi vào trong ấy một mớ tâm tình.
Về nội dung, những tùy bút, ký sự, truyện ấy trừ Vang Bóng Một Thời, chẳng ít thì nhiều,
thể hiện diễn đạt những tâm sự u uẩn, sâu kín của cái tôi Nguyễn Tuân về cuộc đời, trước
cuộc đời, về cái thú ăn chơi hưởng lạc. . thoát ly cuộc sống.
Trái lại Tự Lực văn đoàn trước tác những cuốn tiểu thuyết, những đoản thiên với Loan,
Dũng với Lan Ngọc bằng những truyện ngắn dài có mở đầu và kết thúc với những tình tiết éo
le ngang trái. . những lời đối thoại tế nhị tự nhiên. Truyện ngắn, tiểu thuyết được viết theo lối
Tây phương, chịu ảnh hưởng của Tây phương về bố cục, kỹ thuật nhưng nội dung vẫn mang
nhiều sắc thái Á Đông, giữ được bản sắc dân tộc.
Về nội dung, truyện của Khái Hưng Nhất linh có khuynh hướng, lãng mạn, xã hội, tâm lý.
. mặc dù chịu ảnh hưởng của phong trào lãng mạn Tây phương song tính chất lãng mạn ấy lại
mang nhiều lý tưởng cao thượng trong không khí thanh cao của một nền văn minh tinh thần
nay đã vang bóng một thời. Một ưu điểm rất lớn của Tự Lực văn đoàn mà Nguyễn Tuân
không có là công cuộc cải cách xã hội bằng văn chương qua Đoạn Tuyện, Nửa Chừng Xuân,
Trống Mái, Lạnh Lùng, Đôi Bạn. . . những truyện ấy đã tả chân hiện thực những cái hủ lậu, tệ
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
8
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
hại của xã hội ta để cổ võ cho phong trào canh tân đổi mới. Khái Hưng, Thạch Lam. . chú
trọng đến nghệ thuật hướng nội, mô tả tâm lý nhân vật sâu sắc, đó là những ưu điểm mà ta
không thấy có ở Nguyễn Tuân.
Văn chương Nguyễn Tuân và Tự Lực văn đoàn khác biệt nhau nhiều nhất ở quan điểm
sáng tác: một bên là nhân sinh quan cái tôi và một đằng là tập thể, là xã hội cộng đồng, một
đằng là tinh thần vị kỷ suy tôn cái tôi, bên kia vị tha. Văn chương Nguyễn Tuân có đóng góp
cho nền văn học của nước ta song nền văn chương ấy không có tính cộng đồng, xây dựng ân
cần chia xẻ với mọi người mà chỉ thể hiện một cái tôi ích kỷ, một lối nhìn, sự thoát ly của cái
tôi cũng như cái lối hưởng thụ cá nhân, phiêu lưu không hạn định, nó không đóng góp gì cho
xã hội mà chỉ là lối sống của một kẻ ăn hại, vô tích sự như Nguyễn Tuân đã tự công nhận như
thế.
Về mặt nghệ thuật, giá trị văn chương, chúng ta thấy tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh,
Thạch Lam... có những nết đa dạng hơn, cốt truyện lôi cuốn hơn, có chú trọng về diễn tả tâm
lý nhân vật như trong Sợi Tóc, Hạnh hay Đôi Bạn... để làm cho tác phẩm có hồn, diễn tả
những khía cạnh éo le, bi thảm của xã hội... đó là những ưu điểm mà văn chương Nguyễn
Tuân không có, văn chương Nguyễn Tuân chỉ hạn hẹp trong lối nhìn đời của cái tôi khinh bạc,
ngạo mạn. Như vậy ta lại càng thấy rõ hơn hai khuynh hướng trái ngược nhau của văn chương
Nguyễn Tuân và Tự Lực văn đoàn: một bên là vị tha, một đằng là vị kỷ.
Vang Bóng Một Thời là tác phẩm được chú ý nhiều nhất trong sự nghiệp văn chương
Nguyễn Tuân. Các nhà phê bình cũng như độc giả từ hơn nửa thế kỷ qua đều phải công nhận
giá trị vô song của nó qua những áng văn độc đáo, thi vị, tàn bạo. . ông đã làm sống lại cả một
nền văn minh tinh thần đã vang bóng một thời. Nó cũng thể hiện đầy đủ những cá tính và sắc
thái của truyền thống dân tộc cũng như những phong vị tinh hoa của quê hương đất nước.
Song giá trị văn chương Nguyễn Tuân xem ra lại không đồng đều như ta thấy ở Khái
Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam . . trong Tự Lực văn đoàn. Tác phẩm của Khái Hưng như tuồng
kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn. . .có nhiều truyện đặc sắc, hay, một số ít vào loại trung bình,
Thạch Lam cũng vậy, Nhất Linh có một số truyện bị các nhà phê bình chê là kém nghệ thuật,
giả tạo như Nắng Thu, Đoạn Tuyệt. . nhưng ở Nguyễn Tuân ngoài một số tác phẩm đặc sắc
như Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn, Phu Nhân Họ Bồ, Cái Ca vát Đen. . còn nói chung,
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
9
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
truyện dài ký sự, túy bút. . của ông phần lớn chỉ có giá trị nghệ thuật trung bình như Một
Chuyến Đi, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Ngọn Đèn Dầu Lạc, thậm chí có nhiều túy bút, truyện
ngắn, dài nghệ thụât phải nói là dưới trung bình như Quê Hương, Tùy Hút I, II, Nguyễn, Đôi
Tri Kỷ Gượng. . . Ở đấy Nguyễn Tuân cứ nhồi nhét cho thật nhiều chi tiết vụn vặt của chính
mình, của những ngày phiêu bạt, giang hồ, của cái tôi ngang tàng, kiểu cách. . nó đã không tạo
được hứng thú cho người đọc mà chỉ làm cho họ bối rối phân vân. .
Nguyễn Tuân được nhiều người thán phục, ca ngợi, hâm mộ nhưng so với Tự Lực văn
đoàn tác phẩm của ông không được phổ biến mạnh như ta thấy ở Khái Hưng, Nhất Linh,
Thạch Lam. . mặc dù văn ông có những nét độc đáo đi trước thời đại.
II.TÁC PHẨM.
1.Hoàn cảnh xã hội:
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
10
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Đây là thời phong trào Cần Vương đã tắt, thực dân Pháp đã đặt xong nền đô hộ. Tầng lớp
nho sĩ khí phách tài hoa nhưng bất lực trước thời cuộc đành gng gỏi giữ gìn lấy cái thiên
lương, giữ gìn cách sống, cách nghĩ, cách làm kể cả cách tiêu khiển mang chất văn hóa và
đậm sắc màu dân tộc, xem đó như một thái độ quay lưng, khước từ và chối bỏ chế độ thực dân
cùng với lối sống thô lậu, xu thời.
2.Hoàn cảnh sáng tác:
Chữ người tử tù được sáng tác trên cơ sở những câu chuyện mà Nguyễn Tuân nghe được
từ người cha – cụ Tú Nguyễn An Lan, về nhà nho tài hoa – anh hùng Cao Bá Quát.
Trước năm 1945, Nguyễn Tuân quan niệm cái đẹp, sự tài hoa chỉ có thể có ở thời xưa, nay
còn vương sót lại ở một số ít người ông gọi là “ sinh lầm thế kỉ” . Ông cho rằng thời hiện đại
là cái thời của văn minh vật chất, văn minh cơ khí, làm cho đầu óc con người trở nên máy
móc, thời của đồng tiền phàm tục, vì thế cái đẹp không thể tồn tại được. Ông phải tìm về quá
khứ, cố gắng dựng lại vẻ đẹp của cảnh cũ, người xưa. Mọi sự vật ông đều gọi bằng cái tên của
thời ấy. Mọi nhân vật đều được ông mô tả theo tính cách, tâm lí, theo tập quán, cách ăn nói
của người xưa. Ông cố dựng lại cả cái không khí trầm lặng, yên tĩnh và cái nhịp sống từ tốn
khoan thai của con người thời ấy…….. Ông làm được như vậy nhờ am hiểu sâu sắc xã hội,
văn hóa, con người thời ấy ; và quan trọng hơn nữa, nhờ yêu mến thật sự những điều mình
thuật kể, khiến cho mỗi nét vẽ, mỗi câu văn đều có linh hồn ông gửi lại.
- Trong những tác phẩm sáng tác trước cách mạng, nhìn chung, thế giới nhân vật của Nguyễn
Tuân gồm hai loại người đối lập nhau:
+ Loại thứ nhất vừa có thiên lương trong sáng lại vừa có tài năng xuất chúng
+ Loại thứ hai gồm những kẻ tiểu nhân phàm tục
Loại thứ nhất thì hiếm hoi còn loại thứ hai thì đầy rẫy trong xã hội.
- Từ xa xưa, ở Trung Quốc cũng như một số nước lân cận ít nhiều đã từng dùng chữ Nho như
Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên, trong giới trí thức có thói quen chơi chữ. Người có chữ đẹp
thường rất được quý trọng, người ta thường nói “ văn hay chữ tốt”. Chữ Nho là một thứ văn
tự tượng hình, viết bằng bút lông mềm mại. Không ít chữ nếu viết đẹp nhìn tựa hồ như một
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
11
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
bức tranh có nét đậm, nét nhạt. Do đó, cá tính người viết cũng thường được thể hiện qua nét
bút.
- Người ta thường mua chữ hoặc xin chữ. Người cho chữ hoặc bán chữ viết lên bức tranh, bức
lụa, tờ giấy…..để chủ nhân làm vật trang trí trong nhà. Chữ không phải viết rất đẹp mà ý
nghĩa của chữ cũng phải sâu sắc, phải hợp tình, hợp cảnh. Đây thực chất là một tác phẩm mĩ
thuật của ngườ nghệ sĩ, vừa có tài vẽ chữ, vừa có khả năng thấu hiểu ý nghĩa của chữ. Bộ môn
nghệ thuật này gọi là thư pháp.
3. Xuất xứ.
“Chữ người tử tù” là truyện ngắn đặc sắc nhất trong số 11 truyện của
“ Vang bóng một thời”. Truyện được in lần đầu năm 1939 trên tạp chí Tao Đàn với nhan đề “
Dòng chữ cuối cùng”, đến năm 1940 được đưa vào tập “ Vang bóng một thời”.
“Vang bóng một thời” là tập truyện tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân trước cách mạng, khi
in lần đầu năm 1940 gồm 11 truyện, viết về một thời đã qua nay chỉ còn “vang bóng”.
Nhân vật chính trong “ Vang bóng một thời” chủ yếu là những nho sĩ cuối mùa, dường
như mỗi người đều có cái tài riêng. Nhưng gặp lúc hán học suy vi, “Tây tàu nhố nhăng, làm
lạc mất quan niệm cũ, làm tiêu hao bao giá trị tinh thần ”, họ cảm thấy mình “chọn nhầm thế
không ”, Những con người này, mặc dù buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với
xã hội đương thời. Họ không chịu a dua theo thói đời, chạy theo danh lợi mà vẫn cố giữ “
thiên lương ” và “ sự trong sạch của tâm hồn ” . Họ dường như cố ý lấy “ cái tôi tài hoa ”,
ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục ; phô diễn lối sống đẹp, thanh cao của
mình như một thái độ phản ứng trật tự xã hội đương thời.Họ thực hiện “ cái đạo của người
quân tử” với những thú chơi cầu kì, tao nhã như: thưởng thức chén trà buổi sớm với tất cả
nghi lễ thiêng liêng; làm một chiếc đèn trung thu mà công phu như làm một công việc trọng
đại của cuộc đời; uống rượu “ thạch lan hương”, “chơi hoa”, “ thả thơ ”……
Qua “vang bóng một thời ”, Nguyễn Tuân đã:
+ Thể hiện niềm nuối tiếc vẻ đẹp của một thời quá vãng;
+ Bộc lộ sự đối lập giữa cái tôi tài hoa, kiêu bạc đối với xã hội phàm tục’ nhơ bẩn đương
thời;
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
12
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
+ Thể hiện niềm trân trọng, tự hào về truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc;
+ Bày tỏ sự căm phẫn đối với bọn cướp nước và bán nước.
4. Thể loại: truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại văn học. Nó thường là các câu truyện kể bằng văn xuôi và có
xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết. Thông
thường truyện ngắn có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất
khó dừng lại ở con số đó. Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của
nghệ thuật truyện ngắn.
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định. Trong khi
đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được một diện rộng lớn của đời sống. Do
đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện
ngắn cũng không trải dài như tiểu thuyết. Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của
cuộc sống.
5. Tóm tắt tác phẩm:
Truyện kể về Huấn Cao - một người có tài viết chữ đẹp và có khí phách hiên ngang, vì
chống lại triều đình mục nát nên bị kết án tử tù bị giam ở nhà ngục tỉnh Sơn Tây. Ông được
một viên quan coi ngục đối đãi tử tế và tha thiết xin chữ vì cảm phục vẻ đẹp tài hoa và nhân
cách.Hiểu được tấm lòng yêu và trọng cái đẹp chân chính của quan ngục, Huấn Cao đã cho
chữ và cho lời khuyên quản ngục trước khi bị tử hình.Ngục quan nhận chữ và lời khuyên
trong tâm trạng xúc động và kính nể người tử tù.
6. Bố cục
Căn cứ vào mạch truyện có thể phân chia tác phẩm làm ba đoạn.
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
13
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
- Đoạn một : “từ đầu…….rồi sẽ liệu ” : Quản ngục được lệnh tiếp nhận sáu tử tù, trong đó có
Huấn Cao và tính cách hai nhân vật chính bước đầu được giới thiệu
- Đoạn hai : “ Sớm hôm sau….trong thiên hạ ” : Huấn Cao nhập ngục. Sự biệt đãi của quản
ngục đối với ông Huấn trước sự ngạc nhiên của bọn lính giải tù
- Đoạn ba : Cảnh cho chữ cuối cùng : Mâu thuẫn kịch đạt tới kịch điểm
7. Nhận xét chung.
a) Nội dung : Tác phẩm chỉ khoảng 2.500 chữ nhưng hàm chứa một dung tư tưởng sâu sắc.
Thông qua việc khắc họa thành công hình tượng Huấn Cao – một người tài hoa, có cái tâm
trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất, Nguyễn Tuân khẳng định sự chiến thắng của
cái tốt đẹp, cao thượng đối với cái xấu xa, thấp hèn. Đồng thời nhà văn gửi gắm tấm lòng yêu
nước thầm kín : vừa trân trọng, vừa mong muốn những nét đẹp văn hóa truyền thống được lưu
truyền và mãi mãi bất tử trong lòng người và thời gian.
Truyện còn gợi ra một triết lí nhân sinh sâu sắc : dù con người xa cách, khác biệt thế nào,
nhưng nếu cùng yêu cái đẹp, cùng hướng vào điều thiện thì có thể trở thành bạn bè, tri kỉ.
b) Nghệ thuật :
Kết hợp hài hòa giữa bút pháp tả thực và lãng mạn, trong đó bút pháp lãng mạn là chính.
Sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình.
Nhịp điệu cấu văn khoan thai, chừng mực nhưng góc cạnh sắc sảo.
Từ Hán Việt dùng xen những từ nôm na tạo không khí vừa cổ điển vừa hiện đại, ngôn ngữ
trang trọng, ngợi ca.
Nghệ thuật dựng cảnh, khắc họa tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng, tình
huống mang tính kịch, gây ấn tượng mạnh.
- Tình huống truyện độc đáo, mang tính kịch, gây ấn tượng mạnh.
=> Có thể coi Chữ người tử tù là một tác phẩm “ gần đạt tới sự hoàn mĩ”
8. Các từ khó trong bài:
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
14
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Phiến trát ( phiến chỉ đơn vị một tấm, một mảnh ; trát : công văn của cấp trên yêu cầu cấp
dưới thực hiện) : tờ lệnh của cấp trên truyền xuống cấp.
Đốc bộ đường : dinh quan Tổng đốc ( Tổng đốc là chức quan đứng đầu một tỉnh lớn thời
xưa )
Thơ lại : người trông coi việc giấy tờ ở cửa quan.
Đề lao : nhà lao
Thầy bát : người được phong hàn bát phẩm ( bậc thứ tám) trong chín phẩm trật
(cửu phẩm ; cao nhất là nhất phẩm ) của triều đình phong kiến.
Huấn Cao : Huấn đạo họ Cao ( Huấn đạo là chức quan coi việc học ở một huyện).
Ngục tốt : lính coi ngục.
Thập : trong quân đội nhà Nguyễn, mười lính gọi là một thập ; thằng thập chỉ người đứng
đầu mười người lính đó.
Hèo hoa ( hèo : gậy làm bằng thân cây hèo ) : cái gậy có cuốn tua trên đầu cho đẹp.
Án thư : bàn để sách vở, giấy bút để đọc và viết.
Đĩa dầu sở : đĩa đựng dầu ép tư hạt quả sở, đặt tim bấc để thắp sáng.
Ti Niết ( Niết : pháp luật ) : dinh Án sát, nơi coi việc pháp luật ở một tỉnh.
Tư lự : lo nghĩ.
Thuần khiết : hoàn toàn trong sạch.
Tâm điền : bụng dạ con người.
Khí phách : sức mạnh tinh thần được biểu hiện cụ thể hành động ; ở đây chỉ tinh thần mạnh
mẽ, cao cả.
Biệt đãi : đối xử đặc biệt quý trọng.
Cáo giác : tố giác, báo cho chính quyền biết để kết tội.
Gông : vật làm bằng gỗ hoặc tre có then đóng mở, dùng để đeo vào cổ người phạm tội nặng
Thước : đơn vị đo chiều dài khaong 4,2 mét.
Biệt nhỡn : cái nhìn thể hiện sự kính trọng đặc biệt.
Thủ xướng : đứng đầu nêu ra ; ở đây chỉ người cầm đầu hô hào “nổi loạn”
Ngạo ngược : ngang ngạnh, bất chấp lẽ phải.
Hứng sinh bình : hứng trong cuộc sống bình thường ( ngoài nhà tù)
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
15
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Khinh bạc : khinh bỉ, rẻ rúng.
Tiểu nhân : kẻ tầm thường, hèn hạ.
Thị oai : phô trương uy lực để làm người khác khiếp sợ.
Lĩnh ý : nghe theo, vâng theo ý bề trên ( nói theo lối trang trọng, cung kính )
Hậu : đầy đặn đầy đủ hơn mức bình thường ; đối xử tốt hơn mức bình thường.
Lời cung : lời khai của người bị bắt trước cơ quan pháp luật.
Tiểu lại : viên chức nhỏ trong cơ quan hành chính nhà nước thời xưa.
Mãn nguyện : thỏa mãn mong ước.
Sách thánh hiền : sách của Khổng Tử và các bậc danh nho ngày xưa.
Sở nguyện : điều hằng mong ước.
Khoảnh : làm cao ; ở đây có thể hiểu là khó tính, khó gần trong giao tiếp.
Tri kỉ : người hiểu mình.
Hành hình : thi hành án tử hình.
Hình bộ Thượng thư : chức quan đứng đầu bộ hình
Kinh : kinh đô ; thời nhà Nguyễn, kinh đô ở Huế.
Nhất sinh : một đời.
Tứ bình : bộ tranh hoặc chữ có bốn bức, khổ chữ nhật, treo dọc và song song nhau.
Bức trung đường : thường làm bằng gỗ ; hình chữ nhật, viết chữ Hán cỡ lớn treo ở gian giữa
nhà.
Liên tài : quý trọng người có tài.
B. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM.
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
16
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
I. CỐT TRUYỆN.
1. Khái niệm “cốt truyện”
Cốt truyện là hệ thống hoàn chỉnh các sự việc và hành động chính trong tác phẩm tự sự và
kịch .Cốt truyện hình thành từ những quan hệ phức tạp , chồng chéo giữa nhân vậnt và hoàn
cảnh, nhân vật và nhân vật, vừa bộ lộ tính cách các nhân vật,vừa phẩn ánh các mối quan hệ xã
hội. Cơ sở của cốt truyện là những mâu thuẫn và xung đột trong đời sống xã hội mà nhà văn
đã nhận thức, lý giải và thuật lại theo một dụng ý nhất dịnh.
Đơn vị cấu thành cốt truyện là một cảnh tức là sự thể hiện mâu thuẫn trong một thời gian
nhất định ,ở một địa điểm nhất định. Chị Dậu bán chó , bán con ở nhà Nghị Quế là một cảnh
trong cốt truyện Tắt đèn . Mâu thuẫn và xung đột trong đời sống không đứng yên , các cảnh
cũng thay đổi và phát triển. Cốt truỵen có một quá trình diễn biến : trình bày, khai đoan, phát
triển , đỉnh điểm và kết thúc.
Trình bày : giới thiệu thời kì lịch sử, khung cảnh cụ thể của sự việc . Khai đoan hoặc thắt
nút : vấn đề nảy sinh , buộc người đọc phải chú ý theo dõi. Phát triển : nói rõ sự tiến triển của
hành động, của tính cách , của mâu thuẫn xung đột. Đỉnh điểm hoặc điểm cao hoặc cao trào là
sự phát triển của hành động , của tính cách lên đến giai đoạn cao nhất . Kết cục hoặc mở nút là
phần sự kiện,hành động kết liễu , kết thúc một quá trình phát triển của mâu thuẫn. Tất nhiên
không phải trong bất cứ một tác phẩm tự sự nào , ta cũng tìm thấy đầy đủ , rõ ràng các thành
phần, nhất là theo đúng trình tự kể trên .
Ngoài việc phản ánh chân thực cuộc sống với độ sâu về tư tưởng , một cốt truyênh hay còn
pảhi có sức hấp dẫn như chính cuộc sống sinh động biến hóa muôn màu nghìn vẻ
Theo Nguyễn Xuân Nam – Từ điển văn học
2. Cốt truyện của “chữ người tử tù”
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
17
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám là một nhà văn duy mĩ. Ông yêu đến say đắm
cái đẹp, ngợi ca cái đẹp, tôn thờ cái đẹp. Theo ông mĩ là đỉnh cao của nhân cách con người.
Ông săn lùng cái đẹp không tiếc công sức. Ông miêu tả cái đẹp bằng kho ngôn ngữ giàu có
của riêng ông. Những nhân vật hiện lên trong tác phẩm của Nguyễn tuân phải là hiện thân của
cái đẹp. Đó là những con người tài hoa hoạt động trong những hoàn cảnh, môi trường đặc
biệt, phi thường. Ông phát hiện, miêu tả cái đẹp bên ngoài và bên trong của nhân vật. Trong
cái đẹp của ông bao gồm cái chân và thiện. Ông lại còn kết hợp mĩ với dũng. Truyện ngắn
“Chữ người tử tù” (1939) trong tập “Vang bóng một thời” là áng văn hay nhất, tiêu biểu nhất
của Nguyễn Tuân. Giá trị tư tưởng và dụng công nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện
chủ yếu trong đoạn văn tả “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, cảnh tượng một người tử
tù cho chữ một viên cai ngục.
Vẻ đẹp rực rỡ của Huấn Cao hiện lên trong đêm viết chữ cho viên quản ngục. Chính
trong tình tiết này, cái mĩ và cái dũng hòa hợp. Dưới ánh đuốc đỏ rực của một bó đuốc tẩm
dầu, “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng
tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất
những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ trên phiến lụa óng”. Hình ảnh người tử tù trở nên lồng
lộng. Viên quản ngục và viên thư lại trở nên nhỏ bé, bị động, khúm núm trước người tử tù.
Cảnh cho chữ được tác giả gọi là ''một cảnh tượng xưa nay chưa từng có''. Mà đúng là chưa
từng có thật. Bởi vì từ trước đến giờ, việc cho chữ, vốn là 1 hình thức của nghệ thuật viết thư
pháp tao nhả và có phần đài các thường chỉ diễn ra trong thư phòng, thư sảnh, thế nhưng ở đây
nó lại được diễn ra nơi ngục tối chật hẹp, bần thỉu, hôi hám ''tường...gián''. Không chỉ thế,
người cho chữ lại là 1 người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng .Và với bút pháp tương phản
bậc thầy NT đã làm bật lên sự đối lập về nhiều mặt. Trong bối cảnh chật hẹp của nhà tù vẫn
có bó đuốc cháy đỏ rực thể hiện chí hướng cao cả của những con người, trong cái mùi hôi của
không gian lại có mùi thơm của mực, đặc biệt là sâu trong trái tim của con người tưởng như là
độc ác, tàn nhẫn đó lại là ''một tấm lòng trong thiên hạ''.Vẻ đẹp rực rỡ của Huấn Cao hiện lên
trong đêm viết chữ cho viên quản ngục. Chính trong tình tiết này, cái mĩ và cái dũng hòa hợp.
Dưới ánh đuốc đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu, “một người tù cổ đeo gông, chân vướng
xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
18
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ trên
phiến lụa óng”. Hình ảnh người tử tù trở nên lồng lộng, uy nghi. Viên quản ngục và thầy thư
lại, những kẻ đại diện cho xã hội đương thời thì bỗng trở nên nhỏ bé, bị động, khúm núm
trước người tử tù. Điều đó cho thấy rằng: trong nhà tù tăm tối không phải những gì hiện thân
cho cái ác, cái tàn bạo, cái xấu đang thống trị mà chính là cái Đẹp, cái Dũng, cái Thiện, cái
cao cả đang làm chủ. Với cảnh cho chữ này, cái nhà ngục tăm tối đã đổ sụp, bởi vì không còn
kẻ phạm tội tử tù, không có quản ngục và thư lại, mà chỉ có người nghệ sĩ tài hoa đang sáng
tạo nên cái đẹp trước đôi mắt ngưỡng mộ sùng kính của những kẻ liên tài, tất cả đều thấm
đẫm ánh sáng thuần khiết của cái đẹp,cái đẹp của thiên lương và khí phách.
Cũng với cảnh này, người tử tù đang đi vào cõi bất tử. Chỉ sáng mai Huấn Cao sẽ bị tử
hình, nhưng chắc chắn rằng những nét chữ vuông vắn, tươi đẹp hiện lên cái hoài bão tung
hoành cả một đời của ông trên lụa bạch sẽ mãi còn đó. Và nhất là lời khuyên của ông đối với
viên quản ngục có thể coi là lời di huấn của ông về đạo lí làm người trong thời đại nhiễu
nhương đó. Quan niệm của Nguyễn Tuân là cái Đẹp gắn liền với cái Thiện. Người say mê cái
đẹp trước hết phải là người có thiên lương. Cái Đẹp của Nguyễn Tuân còn gắn với cái Dũng.
Hiện thân của cái Đẹp là hình tượng Huấn Cao với khí phách lừng lẫy đã sáng rực cả trong
đêm cho chữ trong nhà tù.
Bên cạnh hình tượng Huấn Cao lồng lộng, ta còn thấy một tấm lòng trong thiên hạ. Trong
đêm cho chữ, hình ảnh viên quản ngục cũng cảm động. ''Đó là âm thanh trong trẻo chen vào
giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ''. Cái tư thế khúm núm, giọng nói nghẹn
ngào, cái cúi đầu xin bái lĩnh và cử chỉ run run bưng chậu mực không phải là sự quỵ lụy hèn
hạ mà là thái độ chân thành khiến ta có cảm tình với con người đáng thươngnày.
“Chữ người tử tù” không còn là “chữ” nữa, không chỉ là Mỹ mà thôi, mà “những nét chữ
tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời người”. Đây là sự chiến thắng của
ánh sáng đối với bóng tối. Đấy là sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng, đối với sự phàm
tục nhơ bẩn, cũng là sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ. Sự
hòa hợp giữa Mỹ và Dũng trong hình tượng Huấn Cao là đỉnh cao nhân cách theo lí tưởng
thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, theo triết lí “duy mĩ” của Nguyễn Tuân.
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
19
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Đoạn truyện ông Huấn Cao cho chữ là đoạn văn hay nhất trong truyện ngắn “Chữ
người tử tù”. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo trong việc tạo dựng hình tượng nhân vât chi tiết nào
cũng gợi cảm, gây ấn tượng. Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân góc cạnh, sáng tạo và giàu tình cảm,
cảm xúc dã mang người đọc đến với một không khí cổ kính trang nghiêm đầy xúc động, có
phần bi tráng- một khung cảnh cổ xưa.
II. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT.
1. Đánh giá chung về hình tượng nhân vật trong “Chữ người tử tù”
Chữ người tử tù viết về một thời đã qua. Đấy là thời phong trào Cần Vương đã tắt, thực
dân Pháp đã đặt xong nền đô hộ. Tầng lớp nho sĩ khí phách tài hoa nhưng bất lực trước thời
cuộc đành gắng gỏi giữ gìn lấy cái thiên lương, giữ gìn cách sống, cách nghĩ, cách làm kể cả
cách tiêu khiển mang chất văn hóa và đậm sắc màu dân tộc, xem đó như một thái độ quay
lưng, khước từ và chối bỏ chế độ thực dân cùng với lối sống thô lậu, xu thời. Nằm trong mạch
ca ngợi một nét đẹp của văn hóa dân tộc, Chữ người tử tù thể hiện một thú tiêu khiển độc đáo
– việc xin chữ cho chữ cũng như thú chơi chữ của người xưa đã khơi dậy trong thẳm sâu tâm
linh người đọc vấn đề về con người, về bản chất và thân phận con người trong xã hội…
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
20
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Xuất hiện ở ngay đầu tác phẩm, ta có thể thấy nhân vật thầy thơ lại là một con người sắc
sảo và có tâm điền tốt. Mới đọc công văn và nghe ngục quan nói về Huấn Cao, y đã biểu lộ
lòng khâm phục: “thế ra y văn võ đều có tài cả, chà chà!”. Sau đó lại bày tỏ lòng thương tiếc:
“… phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy thương tiếc”. Sau nhiều lần thăm dò,
thử thách, ngục quan đánh giá viên thơ lại: “Có lẽ lão bát này cũng là một người khá đây. Có
lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi. Một kẻ biết yêu mến khí phách, một kẻ biết
tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình”, Suốt nửa tháng, tử tù ở
trong buồng tối vẫn được viên thư lại gầy gò “dâng rượu và đồ nhắm”. Y đã trở thành kẻ tâm
phúc của ngục quan. Sau khi nghe tâm sự của ngục quan “muốn xin chữ tử tù”, viên thư lại sốt
sắng nói: “Dạ bẩm, ngài cứ yên tâm, đã có tôi” rồi y chạy ngay xuống trại giam đấm cửa thùm
thùm gặp Huấn Cao. Nhờ y mà ngục quan xin được chữ tử tù. Trong cảnh cho chữ, viên thơ
lại run run bưng chậu mực. Đúng y là một người biết yêu mến khí phách, biết tiếc biết trọng
người có tài. Nhân vật thơ lại chỉ là một nét vẽ phụ nhưng rất thần tình, góp phần làm rõ chủ
đề.
Nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân vốn làm cái nghề như
Huấn Cao nói “khó giữ vững được thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc
mất cả đời lương thiện đi” lại là người yêu cái đẹp, biết quý trọng người ngay. Quản Ngục đã
chọn nhầm nghề. Giữa bọn người tàn nhẫn, lừa lọc thì ngục quan lại có “tính cách dịu dàng và
lòng biết giá người, biết trọng người ngay” chẳng khác nào “một thanh âm trong trẻo chen vào
giữa một bàn đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Lần đầu gặp Huấn Cao trong cảnh nhận
tù, ngục quan có “lòng kiêng nể”, lại còn có “biệt nhỡn” đối riêng với Huấn Cao. Suốt nửa
tháng trời, ngục quan bí mật sai viên thơ lại dâng rượu và đồ nhắm cho tử tù - Huấn Cao và
các đồng chí của ông. Lần thứ hai, y gặp mặt Huấn Cao, nhẹ nhàng và khiêm tốn bày tỏ
“muốn châm chước ít nhiều” đối với tử tù, nhưng đã bị ông Huấn miệt thị nặng lời, gần như
xua đuổi, nhưng ngục quan vẫn ôn tồn, nhã nhặn “xin lĩnh ý” rồi lui ra. Ngục quan là một nhà
nho “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” suốt đời chỉ ao ước một điều là “có một ngày kia treo
ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết”. Ngục quan đang sống trong bi kịch:
y tâm phục Huấn Cao là một người chọc trời khuấy nước nhưng lại tự ti “cái thứ mình chỉ là
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
21
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
một kẻ tiểu lại giữ tù”. Viên quản ngục khổ tâm nhất là “có một ông Huấn Cao trong tay
mình, không biết làm thế nào mà xin được chữ”. Là quản ngục nhưng lại không can đảm giáp
mặt tử tù vì y cảm thấy Huấn Cao “cách xa y nhiều quá?”. Tử tù thì ung dung, trái lại, ngục
quan lại lo “mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà chưa xin được mấy chữ thì ân hận suốt
đời”. Bi kịch ấy cho thấy tính cách quản ngục là một con người biết phục khí tiết, biết quý
trọng người tài và rất yêu cái đẹp. Y yêu chữ Huấn Cao, chứng tỏ y có một sở thích cao quý.
Vì thế khi nghe viên thơ lại nói lên ước nguyện của ngục quan, Huấn Cao cảm động nói: “Ta
cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết đâu một người như thầy quản
đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong
thiên hạ”. Như vậy, trong vị thế xã hội, ngục quan và tử tù là đối địch, còn trên lĩnh vực nghệ
thuật, họ là tri âm. Huấn Cao đã tri ngộ một kẻ biệt nhỡn liên tài là ngục quan. Trong cảnh cho
chữ có một hình ảnh kỳ diệu: “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba đầu người
đang chăm chú trên một tấm lục bạch còn nguyên vẹn lần hồ”. Ánh sáng bó đuốc ấy chính là
ánh sáng của thiên lương mà tử tù đang chiếu lên và lay tỉnh ngục quan. Chi tiết ngục quan
“khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu cô chữ đặt trên phiến lụa óng”, chi tiết ngục
quan vái tử tù một vái, nước mắt rỉ vào kẽ miệng nghẹn ngào nói: “kẻ mê muội này xin bái
lĩnh” là những chi tiết thú vị. Lúc sở thích nghệ thuật đã mãn nguyện cũng là lúc ánh sáng
thiên lương soi tỏ, chiếu rọi tâm hồn. Một cái vái lạy đầy nhân cách, hiếm có. Có thể, sau khi
Huấn Cao bị giải vào Kinh thụ hình thì cũng là lúc ngục quan trả áo mũ, “tìm về nhà quê mà
ở” để giữ lấy thiên lương cho lành vững và thực hiện cái sở thích chơi chữ bấy nay? Nguyễn
Tuân đã xây dựng ngục quan bằng nhiều nét vẽ có thần. Ngoại hình thì “đầu đã điểm hoa râm,
râu đã ngả màu”. Một con người ưa sống bằng nội tâm; cái đêm hôm trước đón nhận tử tù,
ông sống trong trạng thái thanh thản, gương mặt ông ta “là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín
đáo và êm nhẹ”. Trong một xã hội phong kiến suy tàn, chốn quan trường đầy rẫy kẻ bất lương
vô đạo, nhân vật ngục quan đúng là một con người vang bóng. Nhân vật này đã thể hiện sâu
sắc chủ đề tác phẩm.
Đã là tử tù và quản ngục tất có sự đối lập gay gắt. Nhưng Nguyễn Tuân từ sự đối lập như
một định kiến của xã hội đó lại muốn xây dựng hai nhân vật này như một cặp song trùng trong
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
22
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
sự tương liên đặc biệt nơi sâu thẳm tâm hồn con người. Đó là sự gặp gỡ, là tiếng nói tri kỷ rất
nhân bản giữa Huấn Cao và viên quản ngục trước cái đẹp. Ý đồ nghệ thuật ấy buộc thiên
truyện tập trung vào một tình huống độc đáo đến bất ngờ: Cuộc gặp gỡ giữa người viết chữ
đẹp với người yêu chữ đẹp.
Cuộc gặp gỡ giữa hai con người này diễn ra trong một hoàn cảnh đặc biệt: quản tù tiếp nhận
tù nhân. Với bút pháp miêu tả mang phong cách tùy bút, cách sử dụng ngôn ngữ chọn lọc, tác
giả để sáu phạm nhân xuất hiện với chiếc gông nặng đến bảy, tám tạ đè trên sáu đôi vai gầy.
Hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ bởi vẻ đẹp kiêu hùng của những con người coi thường gian
truân khổ ải, tuy vất vả nhưng không hề bi lụy. Huấn Cao càng khí khái, cương trường, coi
khinh quyền lực bao nhiêu trong hành động “rỗ gông” thì quản ngục càng nhẫn nhịn, kiêng nể,
kính phục bấy nhiêu trong thái độ hiền lành, lời nói ung dung khi mắng bọn lính canh tù. Huấn
Cao nhận sự chăm sóc của quản ngục một cách thản nhiên, coi đó là việc làm tự nhiên trong
“cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”. Lời miệt thị quản ngục của Huấn Cao chỉ nhấn
mạnh thêm khí phách hiên ngang, bất khuất trong chờ chết vẫn ung dung thanh sạch của ông.
Trước sự coi khinh của Huấn Cao, quản ngục chỉ lễ phép lui ra mà không một lời trách cứ,
thái độ đó gây cho Huấn Cao ít nhiều băn khoăn. Huấn Cao càng tuyệt vời trong vẻ khí khái,
khinh thế ngạo vật bằng lời nói khoảnh: “Ta chỉ muốn một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân
vào đây”, quản ngục càng cam chịu, khép nép, nhún nhường “xin lĩnh ý”, chỉ vì một sở
nguyện “được treo ở nhà riêng đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”(8), chỉ vì xót xa một tài
năng bị vùi dập, bị mất đi vĩnh viễn. Mạch ngợi ca tăng dần từ hai phía đối lập của hai thế
đứng, hai tâm trạng, hai thái độ ứng xử… trong hoàn cảnh gặp gỡ dè dặt, dò hỏi tưởng chừng
như đối địch quyết liệt đó. Đoạn độc thoại nội tâm mang phong cách tùy bút vừa ngợi ca
Huấn Cao, vừa xót thương quản ngục – một người biết tôn trọng cái tài cái đẹp tuy có “Huấn
Cao trong tay mình, dưới quyền mình nhưng lại cách xa nhiều quá”. Chính công việc, môi
trường trại giam đã ràng buộc quản ngục vào một giới hạn nghiệt ngã. Con người này hàng
ngày là công cụ, là người máy, còn sâu trong cõi lòng kia chứa chất một nỗi cô đơn không kẻ
tỏ bày, không người tri âm, tri kỷ, để mỗi khi đêm về giật mình mình lại thương mình xót xa
(Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nhờ sự xuất hiện của Huấn Cao mà hai cái tâm “kể rõ tâm sự
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
23
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
mình” “cảm động nghe”, xích lại gần nhau, tìm thấy nhau, đó chính là nhờ uy quyền của cái
đẹp tỏa ra từ Huấn Cao. Khi nghe tỏ rõ nỗi lòng của quản ngục, Huấn Cao “lặng nghĩ”, rồi
đồng ý cho chữ. Lời đồng ý xen lẫn một chút tự hào về bản thân, đồng thời hàm ý tạ lỗi khéo
léo, tế nhị “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ…
Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy
quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy.
Đọc “Chữ người tử tù” trong tương quan với cảm hứng chủ đạo để thấy ý nghĩa giá trị của cặp
nhân vật song trùng Huấn Cao – viên quản ngục cũng là một cách tiếp cận có cơ sở để khai
thác các tầng nghĩa ẩn sâu bên trong tác phẩm. Từ đó có thể tránh được sự máy móc một chiều
chỉ đánh giá cao người tử tù mà bỏ qua người quản ngục, như vậy cấu trúc thẩm mỹ của tác
phẩm sẽ không còn chặt chẽ, ý đồ nghệ thuật của tác giả phần nào không được khai thác hết.
* Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Trong tác phẩm “Chữ người tử tù”, Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài
viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu, đến
tấm lòng trong sáng của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp.
Trước hết, vẻ đẹp tài hoa khác thường của Huấn Cao thể hiện ở cái tài viết chữ. Nghệ
thuật viết chữ là một nghệ thuật cao quý mang tính truyền thống văn hoá dân tộc mà chỉ có
những trí thức tài năng mơi có được cái tài thiên phú ấy. Cái tài viết chữ đẹp của Huấn Cao
lan rộng đến cả vùng, danh tiếng của ông ai ai cũng biết. Chữ của Huấn Cao “đẹp lắm, vuông
lắm”, nó bộc lộ cái khí phách hiên ngang, tung hoành bốn bể của một con người. Tài viết chữ
của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao
đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục phải ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất
ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao, vì dường như đối với
viên quản ngục đó quả là “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ
nhân của những chữ đó cũng phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết
tinh của mọi tinh hoa, khí phách hơn người, tâm hồn cao đẹp. Dân gian ta vẫn có câu: “Nét
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
24
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
chữ nết người” . Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì chắc hẳn nhân cách của ông cũng
sáng tựa sao Khuê. Quả thật, ông là con người tài tâm vẹn toàn.
Không chỉ có cái tài viết chữ, Huấn Cao còn có cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một
bậc trượng phu. Ông theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù
quáng. Nhưng ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội
“đại nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương cho
nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát.
Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé
họng”. Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa
phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác : con đường đấu tranh giành
quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ
đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản
ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn
Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành
án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng dù “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ
được khí phách hiên ngang, kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn
hoàn toàn tự do bằng hành động “dỗ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một
cái” và “lãnh đạm” không thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn kia chỉ
là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn
tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu gông, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị
lãnh đạo. Người anh hùng ấy dù cho thất thế nhưng vẫn giữ được uy quyền của mình. Thật
đáng khâm phục !
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong
hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần
gì thì ông trả lời: “Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào
Nhóm văn lớp 11I – Tổ 3 & 4 biên soạn (năm 2009 – 2010)
25