Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

LUẬN văn tốt NGHIỆP HOÀN CHỈNH (KINH tế THƯƠNG mại) công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (394.17 KB, 34 trang )

MỤC LỤC

Trang
3

MỞ
ĐẦU
Phần 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HĨA
ĐẤT

NƯỚC



CÁCH

MẠNG

CƠNG

NGHIỆP LẦN
THỨ TƯ
1.1. Một
vấn
số
đề

5


lý luận
về

cơng nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước và cách mạng cơng nghiệp lần
thứ tư
5
1.2. Thực trạng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
thời gian qua
14
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CƠNG NGHIỆP
MỘT
SỐ

Phần
2

HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRONG ĐIỀU
KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ 21
2.1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả
2.2. Đẩy mạnh hoạt động liên kết vùng kinh tế
2.3. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào

21
23

tạo, nâng cao năng lực sáng tạo, chất lượng nguồn
nhân

lực
2.4. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện
thể

25
chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.5. Đổi mới quản
nhà nước, xây dựng chính phủ
trị
KẾT LUẬN

điện tử, quản trị thơng minh

26

28
28


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

30


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT
tắt

1
2
2
3
4

Chữ viết

Chữ viết đầy đủ

CNH
CNH, HĐH
KHCN
KT XH
KTCN

Cơng nghiệp hóa
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khoa học cơng nghệ
Kinh tế xã hội
Kỹ thuật công nghệ

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp
thiết
Kể từ khi Đảng ta đề ra đường lối CNH và lãnh đạo việc tiến
hành công cuộc CNH trong thực tiễn đường lối đó nhằm đưa đất nước ra

khỏi tình trạng một nước nơng nghiệp lạc hậu và kém phát triển về cơng
nghiệp tính đến nay đã trên nửa thế kỷ. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh vô
cùng ác liệt và kéo dài không những đã làm gián đoạn cơng cuộc CNH, mà
bom đạn Mỹ cịn phá huỷ hầu hết những gì mà nhân dân ta đã làm được
trong thời kỳ hồ bình ở miền Bắc trước đó. Đồng thời, sau khi chiến tranh
kết thúc, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan,
nên đất nước đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nặng nề về KT XH.
Hơn thế nữa, quan niệm cũ về CNH đã trở nên quá lạc hậu trước sự
biến đổi mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại. Những thành tựu
mà nhân dân ta thu được trong quá trình đổi mới, sự nhận thức mới về
thời đại, về vai trị của khoa học,
cơng
nghệ

và vai trị của con người trong phát triển KT XH đương đại,

cũng như những khó khăn và cả những sai lầm khó tránh... đã được Đảng
ta đúc kết thành những bài học có giá trị trong việc chỉ đạo công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước. Cơng nghiệp hố theo hướng hiện đại được
coi là nhiệm vụ trọng tâm để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp. Sự đánh giá khách quan kinh nghiệm của các nước xung
quanh nước ta đã CNH thành cơng đã góp phần giúp Đảng ta, qua các kỳ


đại hội, đúc kết thành lý luận CNH đầy đủ hơn ở một đất nước kém
phát triển trong điều


kiện tồn cầu hố, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và kinh tế tri
thức ngày càng đóng vai trị quan trọng.

Hiện nay, cuộc cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất
mạnh mẽ, tạo cơ hội phát triển cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang
phát triển. Đối với nước ta, nếu tận dụng được những thành tựu của cuộc
cách mạng này có thể “đi tắt, đón đầu”, đẩy mạnh và rút ngắn thời gian
tiến hành CNH, HĐH đất nước; đồng thời cũng có thể làm n cho chúng ta
sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn nếu không tận dụng được cơ hội này. Thực tế
đó đang đặt ra vấn đề cần phải có những giải pháp phù hợp đối với quá
trình CNH, HĐH đất nước hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn vấn
đề:

Cơng

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện cách mạng cơng nghiệp
lần thứ tư làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu, nội dung nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH
đất nước, cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong điều kiện cách mạng công
nghiệp lần thứ tư.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về CNH, HĐH đất nước, cách mạng
công nghiệp lần thứ tư.
- Phân tích, đánh giá thực trạng q trình CNH, HĐH đất nước thời gian
vừa qua.
- Đề

xuất một
số


giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong

điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu


Quá trình CNH, HĐH đất nước.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: từ năm 2010 đến nay.
- Về không gian: trên phạm vi cả nước.
4. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu,
đề

tài gồm 2 phần (7 tiết), kết luận và danh

mục tài liệu tham khảo.

Phần 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠNG
NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HĨA ĐẤT NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG
CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
1.1. Một số vấn đề lý luận về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất
nướ
1.1.1.1. Quan niệm về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
c

Cơng nghiệp hố có lịch sử phát triển khoảng ba trăm năm nay, bắt
đầu từ nước Anh vào cuối thế kỷ XVIII, sau đó lan sang các nước ở Tây
Âu, Bắc Mỹ... và ngày nay ở các nước đang phát triển. Theo đó, có nhiều
cách hiểu khác nhau về cơng nghiệp hố như: cơng nghiệp hố tư bản chủ
nghĩa, cơng nghiệp hố xã hội chủ nghĩa, cơng nghiệp hố của các nước
đang phát triển. Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
(UNIDO) đã tổng kết hiện có 128 khái niệm về cơng nghiệp hố. Các khái
niệm này xét về mục đích, phương pháp tiến hành, về điều kiện KT XH


là khác nhau; CNH có tính lịch sử gắn với những điều kiện của mỗi nước
trong các thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, theo nghĩa chung nhất, cơng nghiệp
hố là q trình chuyển một nền kinh tế lạc hậu, nơng nghiệp là chủ yếu
thành một nước có nền kinh tế cơng nghiệp.
Hội
nghị

đại biểu tồn quốc giữa nhiệm kỳ khố VII của Đảng (1

1994) tiếp tục coi cơng nghiệp hố là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan
trọng hàng đầu, là con đường khả dĩ duy nhất có thể đưa đất nước thoát
khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa so với các nước xung quanh, là cách thức
để ổn định
chính trị, xã hội, bảo
vệ
hướng phát triển xã hội
chủ

độc lập,
giữ


vững
chủ

nghĩa. Hội
nghị

quyền quốc gia và định
một lần nữa khẳng định:

“chúng ta tiến hành cơng nghiệp hố khơng theo kiểu cũ, khơng lặp lại
sai lầm nóng vội, chủ quan mà Đại hội VI đã phê phán. Cơng nghiệp hố
thực chất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó
khơng chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công
nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi
mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu
quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân” [7, tr. 27].
Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương khoá VII đã ra NQ số 07NQ/HNTW về phát triển công
nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại
hố đất nước và
xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong
đó

ch rõ “Cơng
ỉ :

nghiệp hố, hiện đại hố là q trình chuyển đổi căn bản, tồn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử



dụng sức lao động thủ cơng là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động với
công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên
sự

phát


triển của công nghiệp và tiến bộ KHCN, tạo ra năng suất lao động xã
hội cao” [8, tr. 4].
1.1.1.2. Nội dung cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một là, đổi mới, nâng cao trình độ kỹ thuật cơng nghệ của nền kinh
tế theo hướng hiện đại
Cơng nghiệp hố, hiện đại hoá trước hết là cuộc cách mạng về
lực lượng sản xuất nhằm chuyển nền kinh tế dựa trên trình độ KTCN thủ
công,
năng suất lao động thấp thành nền kinh
tế

công nghiệp dựa trên trình độ

KTCN hiện đại, năng suất lao động cao. Để thực hiện sự cải biến này
phải đổi mới và nâng cao trình độ KTCN của nền kinh tế theo hướng
hiện đại; thực hiện cơ khí hố, điện khí hố, tự động hố sản xuất.
Đối tượng đổi mới KTCN là tất cả các ngành, các lĩnh vực của
nền kinh tế quốc dân. Trong đó, cần chú trọng các ngành sản xuất tư
liệu sản xuất, các ngành công nghiệp chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất
khẩu, một số ngành công nghiệp mới, công nghiệp dựa trên công nghệ cao.
Phải đổi mới công nghệ ở các khâu của quá trình tái sản xuất nhằm bảo

đảm tính đồng bộ, cân đối của q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
Tuy nhiên, cần đột phá vào những khâu có ý nghĩa quyết định đến nâng
cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, các lĩnh vực phục vụ cho
phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Hai là, xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu
qu


Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, các yếu

tố đó có vai trị, tỷ trọng khác nhau, song quan hệ chặt chẽ với nhau, phản
ánh tình trạng phân cơng lao động xã hội và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Dưới những góc độ khác nhau có các dạng cơ cấu kinh tế


như: cơ cấu kinh tế ngành (công nghiệp nông nghiệp dịch vụ); cơ cấu
kinh tế vùng; cơ cấu thành phần kinh tế... trong đó cơ cấu kinh tế ngành có
tầm quan trọng đặc biệt trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hoá.
Xây dựng cơ cấu kinh
tế

là nội dung cơ bản của q trình cơng

nghiệp hố, hiện đại hố. Điều quan trọng là phải tạo ra được một cơ cấu
kinh tế hợp lý. Đó là một cơ cấu kinh tế phản ánh đúng các quy luật khách
quan mà trước hết là quy luật kinh tế; phù hợp với xu thế tiến
bộ

của


KHCN; cho phép khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước; thực
hiện tốt sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Cơng
nghiệp hố, hiện đại hố là q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc
hậu, mất cân đối, ít hiệu quả sang một cơ cấu kinh tế phù hợp với nền sản
xuất lớn hiện đại dưới tác động của cách mạng KHCN và xu thế mở cửa,
hội nhập.
Đối với nước ta, Đảng ta chủ trương phải từng bước xây dựng cơ
cấu kinh tế công nghiệp nông nghiệp dịch vụ

hiện đại gắn với phân

công lao động và hợp tác quốc tế sâu rộng. Khi cơ cấu kinh tế này được
được hình thành, nước ta sẽ kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về cách mạng công nghiệp lần thứ

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bắt đầu xuất hiện từ thập niên
đầu tiên của thế kỷ XXI. Khác với các cuộc cách mạng trước kia, cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự gắn quyện giữa các nền công nghệ
làm xóa đi ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới số hóa và thế giới sinh
học. Đó là các cơng nghệ internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, người máy, xe
tự lái, in ba chiều, máy tính siêu thông minh, công xưởng thông minh, công
nghệ nano, công nghệ sinh học...
Internet vạn vật (Internet of Things IoT) là hệ thống mạng điện tử


mới dựa trên công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, không chỉ kết
nối con người với vật thể, con người với con người mà còn kết nối cả vật
thể với vật thể, làm cho máy móc có thể giao tiếp với máy móc trong mơi
trường chung đa tầng nấc, đa chiều cạnh thông qua việc sử dụng các công
cụ hiện đại: website, email, điện thoại thông minh, mạng truyền thơng xã

hội, thiết bị điện tử, thiết bị
số

hóa, thiết bị cảm biến siêu cao... Với

internet vạn vật, không gian thực (real sphere) và không gian ảo (virtual
sphere); hệ thống vật thể (physical system) và hệ thống số (digital system)
giao hòa với nhau ngày càng hữu cơ, làm thay đổi căn bản phương thức tổ
chức và vận hành đời sống xã hội cũng như nền sản xuất dịch vụ kinh
doanh.
Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence AI) là công nghệ mô phỏng
các quá trình tư duy, nhận thức của con người, trong đó có các q trình học
tập, phân tích, xử lý, lập luận, dịch thuật, sáng tác, dự báo, tự điều chỉnh...
Hơn nữa, trí tuệ nhân tạo cịn mơ phỏng được cả một số hành vi của con
người, trong đó chứa đựng trạng thái tinh thần, cảm xúc, khả năng ứng xử
phù hợp với từng cảnh huống. Trên nền tảng của trí tuệ nhân tạo, các thiết
bị tự động sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trong quá trình sản xuất vật chất
hoạt động kinh doanh, tác chiến quân sự, an ninh và nhiều loại hình lao
động khác cũng như trong đời sống thường nhật của con người.
Công nghệ in 3 chiều (3D Printing) hay còn được gọi là chế tạo cộng
(Additive Manufacturing), là công nghệ tạo ra một sản phẩm vật chất bằng
cách bồi đắp dần các lớp vật liệu từ một bản vẽ hay một mơ hình 3D có
trước. Khác với công nghệ chế tạo truyền thống chế tạo trừ (Reductive
Manufacturing), đây là mơ hình sản xuất mới, hết sức tùy biến sản xuất ra
những sản phẩm theo “số đo” của từng người, theo nhu cầu của từng
khách hàng; ngồi ra, q trình sản xuất những phụ tùng thay thế sẽ rất


tiện lợi: các yêu cầu và thông số kỹ thuật được chuyển cho các tổ chức
m

ẹ,
kh
âu
ch
ế
tạ
o
sả
n
ph

m
sẽ
đư
ợc

c

ng
ty
co
n
th
ực
hi
ện
tại


chỗ nhờ hệ thống máy tính dữ

liệu lớn (big data) kết nối đa
chiều. Đây thật sự là
điểm
hình thành các cơng
khởi đầu xưởng, nhà máy thông
cho sự minh

engineering) đã phát triển lên tận
dụ
tầm cao của lực lượng sản
ng
xuất trực tiếp. Công nghệ gen đư
ợc
bao gồm các

(Smart Factory) triển khai một

kỹ thuật thực hiện trên axit
nucleic nhằm nghiên cứu cấu
trúc của gen;

nền sản xuất được cá tính hóa

điều chỉnh và biến đổi gen;

(individualized mass production)

tách, tổng hợp và chuyển các

mà các nhà tư tưởng kinh tế


gen mong muốn vào các tế bào

xuất sắc của nhân loại đã dự

sinh vật chủ mới tạo ra các cơ

báo cách đây gần 170 năm. Với

thể mới (thực vật, động vật,

mơ hình sản xuất 3D ở các nhà

vi sinh vật) mang đặc tính

máy thơng minh, lợi thế cạnh

mới. Ngồi ra, cơng nghệ sinh

tranh sẽ dịch chuyển từ chi phí,

học hiện đại cịn bao gồm

quy mơ

cơng nghệ tế bào, công nghệ

đầu tư...
sang các
yếu tố


khác (ý tưởng, thiết
kế, chức năng riêng
biệt,

enzym và protein, công nghệ vi
sinh vật, công nghệ lên men,

công nghệ môi trường...
chuỗi cung ứng, dịch vụ...). Khi
1.1.3. Tác động của cách mạng
nền sản xuất này trở thành phổ
công nghiệp lần thứ tư đến
biến, chắc chắn các quy luật của
kinh tế thị trường và sản xuất

cơng nghiệp hóa, hiện đại

hàng hóa sẽ phải biểu hiện

hóa đất nước

dưới hình thức mới, khác nhiều

Cách mạng công nghiệp

so với thời kỳ kinh điển từ

lần thứ tư tạo ra cơ hội phát


trước tới nay.

cũng như thách thức cho mọi

Công nghệ sinh học hiện

quốc gia, nhất là các nước

đại (modern biotechnology) với

đang phát triển trong q trình

hạt nhân là cơng nghệ gen hay

cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Việt

cơng nghệ di truyền (genetic

Nam có
thể

n
h

n
g


thành tựu khoa học cơng nghệ mới, có thể “đi tắt, đón đầu”; đồng thời

cũng có thể làm sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn nếu không tận dụng được cơ
hội này.
1.1.3.1. Về thời cơ
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở ra nhiều cơ hội cho các
nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Đây có thể coi là
một cơ hội vàng nhằm thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam, tiến tới thu
hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Cụ thể là:
Cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 có thể tạo ra lợi thế của những
nước đi sau như Việt Nam so với các nước phát triển do không bị hạn chế
bởi quy mô cồng kềnh; tạo điều kiện cho Việt Nam bứt phá nhanh chóng,
vượt qua các quốc gia khác cho dù xuất phát sau.
Việc đi sau và thừa hưởng những thành tựu từ cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 giúp Việt Nam tiết kiệm được thời gian nghiên cứu để phát huy
tối đa các tiềm năng và lợi thế sẵn có.
Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh nền kinh tế tri thức, đi tắt, đón
đầu, tiến thẳng vào lĩnh vực cơng nghệ mới, tranh thủ thành tựu khoa học
và công nghệ, đẩy nhanh tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, hội nhập quốc tế.
Các
chủ

thể trong nền kinh
tế

có điều kiện tiếp thu


ứng dụng

những tiến bộ, thành tựu công nghệ của nhân loại, trước hết là công

nghệ thông tin, công nghệ số, cơng nghệ điều khiển và tự động hóa để
nâng cao năng suất, hiệu quả trong tất cả các khâu của nền sản xuất xã
hội. Điều này
đã tạo ra
khả

năng nâng cao mức thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc

sống cho người dân.
Với ưu thế dân
số

trẻ, tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh và


Internet cao, mức độ tiếp cận ứng dụng khoa học công nghệ tốt, cuộc cách


mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra cho doanh nghiệp Việt Nam những cơ
hội lớn trong việc xây dựng và phát triển dữ liệu lớn. Tại sự kiện ngày
Internet 2017 do Hiệp hội Internet Việt Nam tổ chức ngày 22 tháng 11 năm
2017 thì Việt Nam hiện có 64 triệu người dùng Internet, xấp xỉ 67% dân số,
đạt mức số lượng người dùng Internet đứng thứ 6 châu Á và thứ 12 trên
thế giới. Ngoài ra, Việt Nam là nước có kết nối internet bằng điện
thoại di động cao, có đến 55% người Việt sở hữu điện thoại thông minh,
trong khi
chỉ có 46% người sở hữu máy tính cá nhân. Đến năm 2020 cứ 10 người
Việt sẽ có 8 người dùng điện thoại di động, hoạt động kinh doanh online
sẽ tăng trưởng 40%. Theo bà Tammy Phan Giám đốc đối tác chiến lược
và kênh bán hàng Việt Nam của Google thì sử dụng dụng điện thoại di

động giúp phát triển 11 kinh tế. Cứ tăng thêm 1% số người dùng sẽ đóng
góp hơn 100 triệu USD và GDP năm 2020, và tạo thêm 140.000 việc làm
mới. Như vậy, có thể thấy, Việt Nam đang có cơ hội trong việc xây dựng
dữ liệu lớn, làm nền tảng triển khai các trụ cột khác của nền công nghiệp
4.0.
1.1.3.1. Về thách thức
Một là, thách thức trong lĩnh vực giải quyết việc làm: chuyển dịch cơ
cấu lao động trong gần 30 năm qua của Việt Nam rất chậm và chậm hơn
nhiều nếu so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam hiện
nay vẫn dựa nhiều vào các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khai thác tài
nguyên thiên nhiên. Trình độ lạc hậu của người lao động và của
cả

nền

kinh tế chính là trở ngại lớn nhất để chúng ta bắt kịp với các thành tựu
khoa học, công nghệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Trong
tương lai, nhiều lao động trong các ngành nghề của Việt Nam có thể thất
nghiệp, ví dụ như lao động ngành dệt may, giày dép.
Hai là, chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam còn rất nhiều hạn


chế. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp. Theo số liệu
thống kê điều tra lao động việc làm q
2 năm 2017 thì có tới 78.4% lao động
khơng có trình độ chun mơn kỹ thuật;
9.48% lao động có trình độ đại học trở
lên; 3.17% lao động có trình độ cao
đẳng; 5.42% lao động có trình độ trung
cấp; 3.53% lao động có trình độ sơ cấp.

Thêm vào đó, những người lao động có
trình độ đại học trở lên vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu
củ trường lao
a động. Vì vậy
thị tỷ

lệ thất nghiệp đang
có xu hướng gia

tăng trong số lao động có trình độ cao.
Theo Bản tin Thị trường lao động số 15,
tại thời điểm quí 3 năm 2017 số người
thất nghiệp có trình độ từ đại học trở
lên tăng 53,9 nghìn người so với q 2
năm 2017 ở mức 237 nghìn người,
tương đương 4,51%6 .
Ba là, năng suất lao động còn thấp
so với khu vực. Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê, năng suất lao động tồn nền
kinh tế theo giá hiện hành
năm ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao
201 động (tương đương 4.166
7
USD/lao động). Tính theo năng suất lao
động theo sức mua tương đương năm
2011, năng suất lao động của Việt Nam


năm 2016

của
năn
đạt 9.894
Philig
pin. suấ
USD, chỉ
Đáng t
báo
bằng lao
động độn
7,0%

g
chênh
mức giữ
lệch a
năng suất
về
của XinViệt Nam
gapo;
với các
17,6%
nước vẫn
của Matiếp tục
laixia;
gia tăng.
36,5%
Điều này
của Thái
cho thấy

Lan;
khoảng
42,3%
cách và
của Inđôthách
nêxia và
thức nền
bằng
kinh
tế
56,7%
Việt Nam
năng suất
phải đối
lao động
mặt trong
việc

bắt

kịp

mức

năng suất
lao động
của
nước.

các


Bốn

là,

trình độ khoa
học cơng nghệ
của nước ta
đang ở vị trí
thấp
mức

so

với
trung

bình của thế
giới.

Theo

thống kê của
Bộ Khoa học
và Cơng nghệ
năm 2015, thì
hiện

nay


cả

nước có gần
600

nghìn

doanh nghiệp,
với
hơn
90%

doan
h
nghi
ệp
nhỏ


vừa.
Phần
lớn
đều
đang
sử

d

n
g

c
ơ
n
g

nghệ tụt hậu so
với mức trung
bình của thế
giới từ 23 thế
hệ. Trong đó,


có đến 76% máy móc, dây chuyền cơng nghệ nhập thuộc thế hệ những
năm
60
70
của
thế
kỷ
trư
ớc,
75%
số
thiế
t bị
đã
hết
khấ
u
hao,

50
%
thiế
t bị

đồ
tân
tran
g...,
chỉ



20% là nhóm ngành sử dụng cơng nghệ cao.

các cơng ty, tập

triể

Một khảo sát khác từ Chương trình phát triển

đồn

n.

của Liên hợp quốc cho thấy, tỷ lệ giá trị nhập

quốc

khẩu công nghệ, thiết bị mỗi năm tại Việt

Nam chưa đến 10%
tổng kim ngạch nhập
khẩu, trong khi tỷ lệ

tại các nước đang
phát triển

khác lên đến 40%. Báo cáo năng lực cạnh
tranh toàn cầu 2017 2018, Việt
Nam được xếp hạng chung là 55/137
quốc gia, trong khi các chỉ số phần liên

cấ
u

xun
gia

vào

Đây

doanh

nghiệp

cũn

trong


nước.

g

đó

chín

độ

sẵn

h là

cho

nền

áp

Thêm

vào

mức
sàng

sản xuất tương

lực


lai.

lớn
Sáu

quan đến đổi mới sáng tạo lại thấp hơn

là,

cho

các nước công

Việt

nghiệp mới nổi

Na

quá nhỏ bé, số doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu

và nhiều nước

m

nhỏ chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp

đang phát triển


tron

của cả nước, phần lớn doanh nghiệp chưa

đều cạnh tranh

g

đạt được quy mô tối ưu (50 99 lao động) để

quyết liệt, tìm

q

có được mức năng suất lao động cao nhất. Số

cách

trìn

lượng doanh nghiệp lớn cịn ít

hợp tác để có

h

( chiếm 2,1%), doanh nghiệp chưa xâm trườ
c nhập được vào các thị
ng,
h



đầu tư, chuyển

côn

giao công nghệ,

g

nhanh

nghi

trung tâm công nghệ của thế giới, do đó,

ứng

chưa thực hiện được chức năng cầu nối về

những thành tựu

hóa,

cơng nghệ tri thức của thế giới vào thị trường

công nghệ từ

hiện


trong nước. Doanh nghiệp tham gia các hoạt

cuộc

Cách

đại

động liên quan đến sáng tạo còn hạn chế,

mạng

cơng

hóa

chưa tham gia sâu trong chuỗi cung ứng tồn

nghiệp thứ tư

đất

cầu nên chưa tận dụng được tính lan tỏa của

đem lại để giành

nướ

tri thức, công nghệ và năng suất lao động từ


lợi

c.

nhiều.
Năm là, quy mơ doanh nghiệp Việt Nam

thu

hút,

chóng
dụng

thế

phát

ệp


triển nền kinh tế thị trường nhất là thị trường khoa học công nghệ, cải
thiện đổi mới môi trường đầu tư kinh doanh, tích lũy đầu tư để thu hút
chuyển giao, ứng dụng nhanh những thành tựu khoa học công nghệ vào
phát triển nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Bảy là, quản trị nhà nước cũng là một trong những thách thức lớn
nhất đối với nước ta. Sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
sẽ gặp
nhiều khó khăn nếu cơng cuộc cải cách



cấu kinh tế, đổi mới mơ hình

tăng trưởng được Nhà nước đề ra trong thời gian qua thực hiện khơng
thành cơng. Bên cạnh đó, những thách thức về an ninh phi truyền thống sẽ
tạo ra áp lực lớn nếu Nhà nước khơng đủ trình độ về cơng nghệ và kỹ
năng quản lý để ứng phó.

1.2. Thực trạng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời
gian
qua 1.2.1. Một số thành tựu cơng nghiệp hóa, hiện đại

đất nước thời

hóa gian qua
1.2.1.1. Về khoa học công nghệ
* Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập
kỷ qua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học
và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14
nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu cơng nhân kỹ thuật;
trong đó, có khoảng 34 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực
KHCN thuộc khu vực nhà nước. Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho
hoạt
động

KHCN của đất nước. Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả



năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện
đại trong một số ngành và lĩnh vực.


Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KHCN
với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh
tế, trong đó có gần 500 tổ chức ngồi nhà nước; 197 trường đại học và cao
đẳng, trong đó có 30 trường ngồi công lập. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của
các viện, trung tâm nghiên cứu, các phịng thí nghiệm, các trung tâm thông
tin khoa học công nghệ, thư viện, cũng được tăng cường và nâng cấp. Đã
xuất hiện một
số

loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát

triển công nghệ với sản xuất kinh doanh.
Mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhưng với sự nỗ lực rất
lớn của Nhà nước, từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KHCN đã
đạt 2%, đánh dấu một mốc quan trọng trong q trình thực hiện chính sách
đầu tư phát triển KHCN của Đảng và Nhà nước.
* Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lý nhà nước về KHCN được tổ chức từ trung
ương
đến địa phương đã đẩy mạnh phát
triển

KHCN , góp phần thực hiện các

mục tiêu phát triển KT XH của ngành và địa phương.
Thực hiện Luật Khoa học và cơng nghệ, các chương trình, đề tài, dự

án KHCN đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển KT XH. Cơ chế tuyển
chọn
tổ

chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KHCN đã bước đầu được thực

hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai.
Hoạt động của các tổ chức KHCN đã mở rộng từ nghiên cứu phát
triển đến sản xuất và dịch vụ KHCN . Quyền tự chủ của các tổ chức, cá
nhân trong hoạt động KHCN bước đầu được tăng cường. Quyền tự chủ về
hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN được mở rộng.
Vốn huy động cho KHCN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản


xuất kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác,


×