Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (262.65 KB, 10 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<i>1. Trình bày được mục đích của phát hiện bệnh trong cộng đồng, tiêu chuẩn về bệnh để</i>
<i>có thể thực hiện phát hiện bệnh; </i>
<i>2. Trình bày được giá trị của một test phát hiện bệnh; </i>
<i>3. Nêu ra được các tiêu chuẩn cần thiết để tiến hành một chương trình phát hiện bệnh. </i>
<b>I. ĐẠI CƯƠNG </b>
<i><b>1. M</b><b>ụ</b><b>c </b><b>đ</b><b>ích c</b><b>ủ</b><b>a phát hi</b><b>ệ</b><b>n b</b><b>ệ</b><b>nh trong c</b><b>ộ</b><b>ng </b><b>đồ</b><b>ng </b></i>
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Bằng cách sử dụng các test, các thử
nghiệm hoặc các phương pháp phát hiện nhanh, vv... để có thể biết được những người bị một
bệnh nào đó, hoặc một sự bất thường mà cho tới lúc đó (lúc tiến hành phát hiện, lúc làm test)
vẫn chưa có ai biết. Các kỹ thuật phát hiện bệnh trong cộng đồng phải phân chia quần thể
thành 2 nhóm: Nhóm những người hình như là khỏe mạnh nhưng có thể bị bệnh, và nhóm
người khơng bị bệnh đó. Mục đích của phát hiện bệnh khơng đặt ra cơ sở cho chẩn đốn, mà
những người có kết quả dương tính sẽ được gửi tới thầy thuốc của họ để chẩn đoán xác định
và nếu cần thiết thì điều trị.
Để tiến hành một chương trình phát hiện bệnh trong cộng đồng thì phải xác định được:
- Bệnh nào cần phát hiện.
- Bệnh hay xảy ra ở nhóm người nào.
- Dùng kỹ thuật nào để tiến hành phát hiện bệnh.
Phương pháp phát hiện bệnh thường được sử dụng trong các cuộc điều tra DTH, tìm tỷ
lệ hiện mắc (Taux de prévalence) một bệnh nào đó trong quần thể, trong các cuộc khảo sát có
- Đơn giản: Chỉ dùng một test để phát hiện một bệnh.
- Đa dạng: dùng một test phát hiện hơn một bệnh.
- Nhiều giai đoạn: Dùng hơn một test để phát hiện một bệnh, hoặc tiến hành nhiều giai
đoạn.
- Bất kỳ (cơ hội): Thực hiện ở các cơ sở y tế mỗi khi có người tới khám. (Ví dụ: Phát
hiện bệnh ung thư cổ tử cung ở khoa phụ sản).
- Có hệ thống: thực hiện trên toàn bộ quần thể.
- Chọn lọc: Tiến hành trên nhóm có nguy cơ cao.
- Phát hiện sớm: Ở giai đoạn bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng.
- Phát hiện muộn: Những trường hợp bị bỏ quên trong cộng đồng.
- Nhiều lần và liên tục: Nằm trong công tác giám sát dịch tễ từng bệnh.
<i><b>2. Tiêu chu</b><b>ẩ</b><b>n v</b><b>ề</b><b> b</b><b>ệ</b><b>nh </b><b>để</b><b> ti</b><b>ế</b><b>n hành phát hi</b><b>ệ</b><b>n b</b><b>ệ</b><b>nh </b></i>
- Là căn bệnh có mối đe dọa thực sự cho sức khỏe cộng đồng (tỷ lệ bị bệnh cao chưa
chắc là đe dọa lắm - vấn đề ưu tiên).
- Bệnh có khả năng điều trị được, điều trị theo phác đồ, có hiệu quả rõ rệt.
- Phải có đầy đủ các điều kiện cần thiết để xác lập các phương tiện chẩn đóan và điều trị
hữu hiệu (nhất là các nước chậm phát triển).
- Phương pháp phát hiện bệnh có hiệu quả khơng? thuận lợi không, nhanh không ?, rẻ
không... Nhằm chọn phương pháp có hiệu quả cao, đỡ tốn kém.
<b>II. GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN BỆNH </b>
- Giá trị cúa một phương pháp chẩn đốn ln ln liên quan tới phương pháp đối chiếu
(thường là phương pháp tốt nhất hiện có dùng để chẩn đốn xác định).
- Chất lượng của phương pháp phát hiện bệnh không hồn tồn cố định mà có sự thay
đổi, tùy thuộc vào tỷ lệ hiện mắc bệnh của quần thể; nó cịn thay đổi, tùy thuộc vào sự phối
hợp của các test khác nhau.
- Các nhà nghiên cứu ngày càng tìm ra các phương pháp mới có giá trị chẩn đoán tốt
hơn. Chúng ta phải biết rõ giá trị của mỗi phương pháp chẩn đoán, giá thành của nó và khả
năng áp dụng của nó trong chẩn đoán cộng đồng.
<i><b>1. Giá tr</b><b>ị</b><b> c</b><b>ủ</b><b>a ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp ch</b><b>ẩ</b><b>n </b><b>đ</b><b>oán tùy thu</b><b>ộ</b><b>c vào ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp </b><b>đố</b><b>i chi</b><b>ế</b><b>u </b></i>
- Trong lâm sàng cũng như trong sức khỏe cộng đồng, cần phải hài lòng chấp nhận
những phương pháp chẩn đốn được thực hiện bằng các phương tiện đang có. Các phương
pháp này có thể là kém hiệu quả hơn so với các test đối chiếu, ví dụ như các chẩn đoán tổ
chức học, tế bào học, sinh thiết, mổ thăm dò,vv...
- Trong một quần thể, ở những người khỏe mạnh cũng như ở những người bị bệnh, một
phương pháp chẩn đốn có thể đưa lại kết quả thật, kết quả giả, các kết quả này được kiểm tra
lại bằng các phương pháp đối chiếu.
<i>+ Khái niệm vềđộ nhạy, độđặc hiệu, và các giá trị tiên đoán: </i>
Dùng một thử nghiệm định tính để phát hiện một bệnh trong quần thể, khi đối chiếu với
TEST ĐỐI CHIẾU
<i>Có bệnh Khơng bệnh Tổng </i>
TEST
NGHIÊN CỨU
(+)
(-)
a (thật)
c (giả)
b (giả)
d (thật)
a + b
c + d
Tổng a + c b+ d a + b + c + d
<b>1.1. Độ nhạy </b>(Sensibilité)
Độ nhạy của một thử nghiệm là tỷ lệ giữa các kết quả dương tính thật so với tổng số
người bị bệnh thật sự, hay chính là khả năng phát hiện bệnh của thử nghiệm đó.
<b>1.2. Độ đặc hiệu</b> (Spécifilité)
Độ đặc hiệu của một thử nghiệm là tỷ lệ giữa các kết quả âm tính thật so với tổng số
Giá trị tiên đoán của kết quả dương tính là tỷ lệ giữa các kết quả dương tính thật so với
tổng số các kết quả dương tính, hay chính là xác suất bị bệnh của một cá thể có kết quả dương
tính qua thử nghiệm.
<b>1.4. Giá trị tiên đóan của kết quả âm tính </b>(Valeur prédictive du résultat négatif)
Giá trị tiên đoán của kết quả âm tính là tỷ lệ giữa các kết quả âm tính thật so với tổng số
các kết quả âm tính, hay chính là xác suất khơng bị bệnh của một cá thể có kết quả âm tính
qua thử nghiệm.
<b>1.5. Giá trị tổng quát</b> (Valeur globale)
Giá trị tổng quát của một thử nghiệm là tỷ lệ giữa các kết quả thật so với toàn bộ các
kết quả của thử nghiệm đã được thực hiện.
Tất cả các chỉ số nói trên đều được biểu thị dưới dạng %.
Dựa vào các định nghĩa trên ta có các cơng thức:
<i> - Độ nhạy: </i> ×100
+
=
<i>c</i>
<i>a</i>
<i>a</i>
<i>Se</i>
<i> - Độđặc hiệu: </i> ×100;
+
=
<i>b</i>
<i>d</i>
<i>d</i>
<i>Sp</i> <i> </i>
<i> - Giá trị tiên đoán của kết quả dương tính: </i> ×100;
+
=
<i>b</i>
<i>a</i>
<i>a</i>
<i>Vp</i> <i> </i>
<i> - Giá trị tiên đốn của kết quả âm tính: </i> ×100;
+
=
<i>c</i>
<i>d</i>
<i>d</i>
<i>Vn</i>
<i> - Giá trị tổng quát: </i> ×100;
+
+
+
+
=
<i>d</i>
<i>c</i>
<i>b</i>
<i>a</i>
<i>d</i>
<i>a</i>
<i>Vg</i>
<i> Ví dụ A Ví dụ B </i>
<i>Thiếu </i>
<i>máu </i>
<i>Bình </i>
<i>thường</i>
<i>Tổng </i> <i>Thiếu </i>
<i>máu </i>
<i>Bình </i>
<i>thường </i>
<i>Tổng </i>
( + ) 19 10 29 ( + ) 15 5 20
Test
Hb ≤ 12g% ( − ) 1 70 71
Test
Hb ≤ 10g% ( − ) 2 78 80
20 80 100 17 83 100
Se = (19/20) × 100 = 95%
Sp = (70/80) × 100 = 88%
Vp = (19/29) × 100 = 66%
Vn = (70/71) × 100 = 99%
Vg = [(19+70)/ (19+10+1+70)] × 100 = 89%
= (15/17) × 100 = 88%
= (78/83) × 100 = 94%
= (15/20) × 100 = 75%
= [(15+78)/(15+5+2+78)] × 100 = 93%
Phương pháp lý tưởng thì phải có độ nhạy, độ đặc hiệu, và các giá trị tiên đoán cao gần
100%; nhưng đó chỉ là một sự chấp nhận về nguyên tắc, cịn trên thực tế thì khó được như
vậy. Cho nên, khi áp dụng trong thực tiễn cần phải lựa chọn và phải phối hợp các thử nghiệm
trong các chương trình phát hiện bệnh.
<i><b>2. Bi</b><b>ế</b><b>n s</b><b>ố</b><b> liên t</b><b>ụ</b><b>c - c</b><b>ơ</b><b> s</b><b>ở</b><b> c</b><b>ủ</b><b>a vi</b><b>ệ</b><b>c ch</b><b>ẩ</b><b>n </b><b>đ</b><b>oán </b></i>
PHÂN PHỐI “HAI ĐỈNH”
<i>Bình thường </i>
A
<b> </b>
B
E <b> </b>
<i>Ranh giới </i>
PHÂN PHỐI “MỘT ĐỈNH”
<i>Bình thường </i>
C
D
<i>Mắc bệnh </i>
<i>Ranh giới </i>
<b>Biểu đồ 3.1. Phân phối của một biến số trong quần</b> <b>thể</b>
Kiểu một đỉnh thì người bị bệnh sẽ nằm phía này hoặc phía kia của đường biểu diễn
bình thường. Ví dụ: huyết áp động mạch, cholestérol máu, đường máu, áp lực nhãn cầu,vv...
Nếu như các biến số liên tục phân phối kiểu 2 đỉnh thì nhóm các trường hợp nghi ngờ bị bệnh
hoặc khơng bị bệnh (nhóm ranh giới) sẽ cùng nằm trong một khoảng: xem biểu đồ 3.1.
- Vạch ranh giới A và C chỉ ra một thử nghiệm có độ nhạy cao hơn độ đặc hiệu.
- Vạch ranh giới B và D chỉ ra một thử nghệm có độ đặc hiệu cao hơn độ nhạy.
- Vạch E đồng thời đưa tới những kết quả dương tính giả và âm tính giả.
hiệu nhưng kém nhạy; hay Hb máu (trong thiếu máu): vạch ranh giới càng cao thì càng nhạy
nhưng vạch ranh giới càng thấp thì càng đặc hiệu.
<i><b>3. Giá tr</b><b>ị</b><b> c</b><b>ủ</b><b>a ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp ch</b><b>ẩ</b><b>n </b><b>đ</b><b>oán tùy thu</b><b>ộ</b><b>c t</b><b>ỷ</b><b> l</b><b>ệ</b><b> hi</b><b>ệ</b><b>n m</b><b>ắ</b><b>c c</b><b>ủ</b><b>a b</b><b>ệ</b><b>nh nghiên c</b><b>ứ</b><b>u </b></i>
Giá trị tiên đốn của một test khơng hồn tồn hằng định, mà có sự thay đổi, bị ảnh
hưởng bởi tỷ lệ hiện mắc của bệnh. Nếu như một bệnh có tỷ lệ hiện mắc (p) nhỏ, thì ngay cả
một test rất đặc hiệu cũng sẽ đem lại nhiều kết quả dương tính sai.
Hay: p càng nhỏ thì Vp càng thấp và Vn càng cao, và ngược lại: p càng lớn thì Vp càng
cao và Vn càng thấp.
<i><b>4. Giá tr</b><b>ị</b><b> c</b><b>ủ</b><b>a ph</b><b>ươ</b><b>ng pháp tùy thu</b><b>ộ</b><b>c vào s</b><b>ự</b><b> ph</b><b>ố</b><b>i h</b><b>ợ</b><b>p c</b><b>ủ</b><b>a các nghi</b><b>ệ</b><b>m pháp khác nhau </b></i>
Đôi khi phải sử dụng cùng một lúc 2 nghiệm pháp để phát hiện một bệnh để làm tăng độ
nhạy và độ đặc hiệu của viêc phát hiện bệnh.
Ví dụ: Để phát hiện bệnh giang mai:
<i>Tổng số người được kiểm tra qua thử nghiệm: </i>
<i>Giai đoạn 1:</i> Test có độ nhạy cao _________ RPR
(-) (+)
<i>Giai đoạn II: </i> Test có độ đặc hiệu cao ____________ FTA - ABS
Các cas (+) sai ở giai đoạn I (-) (+)
<b>III. LỰA</b> <b>CHỌN THỬ NGHIỆM TRONG PHÁT HIỆN BỆNH </b>
Về nguyên tắc thì vạch ranh giới khơng cố định . Một test có độ nhạy, độ đặc hiệu
<80% là khơng tốt. Nếu để phát hiện một bệnh nặng có thể chết, phải được điều trị bằng mọi
giá, người ta phải nghiên cứu một test có độ nhạy thật cao (nhằm tránh bỏ sót). Các quyết
<i><b>1. M</b><b>ộ</b><b>t test có </b><b>độ</b><b> nh</b><b>ạ</b><b>y cao ph</b><b>ả</b><b>i </b><b>đượ</b><b>c </b><b>ư</b><b>u tiên </b></i>
- Một bệnh nặng, khơng thể khơng biết
- Bệnh có thể điều trị được.
- Khi kết quả dương tính sai không gây nên thương tổn về tâm lý hoặc kinh tế cho người
được khám nghiệm.
Ví dụ: Bệnh Phéocromocytome chết nếu khơng biết, kiểm sốt được 100% (nếu được
can thiệp), bệnh Phénylcétonurie, bệnh hoa liễu, các bệnh nhiễm trùng khác có thể điều trị
được .
<i><b>2. Ph</b><b>ả</b><b>i s</b><b>ử</b><b> d</b><b>ụ</b><b>ng test có </b><b>độ</b><b>đặ</b><b>c hi</b><b>ệ</b><b>u cao </b></i>
- Một bệnh nặng nhưng khó điều trị hay nan y .
- Kết quả dương tính sai gây thương tổn tâm lý và kinh tế cho người được khám
nghiệm. Ví dụ: bệnh xơ cứng rải rác (Sclérose en Plaques).
<i><b>3. Ph</b><b>ả</b><b>i dùng t</b><b>ớ</b><b>i test có giá tr</b><b>ị</b><b> tiên </b><b>đ</b><b>ốn c</b><b>ủ</b><b>a k</b><b>ế</b><b>t qu</b><b>ả</b><b> (+) cao </b></i>
Khi điều trị cho người dương tính sai sẽ gây ảnh hưởng nặng nề. Ví dụ: phóng xạ liệu
pháp hoặc cắt phần phổi là xấu cho những người được chẩn đoán sai là ung thư phổi.
<i><b>4. Giá tr</b><b>ị</b><b> t</b><b>ổ</b><b>ng quát cao c</b><b>ủ</b><b>a test dùng cho </b></i>
- Bệng nặng nhưng có thể chăm sóc tốt.
- Khi kết quả dương tính sai, âm tính sai đều gây các thương tổn nặng nề.
Ví dụ: Nhồi máu cơ tim, có thể chết nếu khơng được điều trị, nhưng cũng gây thương
tổn nặng nề khi kết quả dương tính sai; hay vài dạng Leucémie, Lymphome, Đái đường.
<b>IV. LỰA CHỌN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT HIỆN BỆNH </b>
Để tiến hành thực hiện một chương trình phát hiện bệnh trong một quần thể nào đó, cần
phải dựa vào 3 tiêu chuẩn sau:
<i><b>1. B</b><b>ệ</b><b>nh </b></i>
- Một hiện tượng bệnh lý liên quan tới nhiều người, ảnh hưởng trầm trọng đến
sức khỏe cộng đồng.
- Người bị bệnh được phân biệt rõ ràng với người bình thường; quá trình phát triển tự
nhiên của bệnh đã được hiểu biết đầy đủ và đã được mô tả một cách tường tận, giai đoạn tiền
lâm sàng phải được phân biệt rõ ràng với giai đoạn lâm sàng.
- Điều trị ở thời kỳ tiền lâm sàng có tác dụng làm giảm tính nặng của bệnh, làm giảm tỷ
lệ chết của bệnh so với điều trị ở giai đoạn lâm sàng.
- Dĩ nhiên, bệnh phải điều trị được và giám sát được trên mức độ cộng đồng.
- Với các trường hợp đã được chẩn đoán là bị bệnh thì phải đủ điều kiện, phương tiện để
điều trị.
- Chương trình phát hiện bệnh chỉ được tiến hành sau khi đã có sự kiểm tra các chương
trình y tế ưu tiên khác (nhằm cân nhắc vấn đề tài chính).
Ngồi các tiêu chuẩn trên, vấn đề chọn lựa bệnh còn tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế
địa phương và tính chất bệnh tật của xã hội.
<i><b>2. Test: </b></i>
Trước khi đưa một test phát hiện bệnh vào sử dụng trong cộng đồng, sự hiểu
biết của chúng ta về giá trị của test đó vẫn chưa hồn tồn đầy đủ. Hơn nữa, test này
sử dụng tốt cho quần thể này nhưng chưa chắc đã tốt cho quần thể khác. Trong thực tế,
sử dụng nghiệm pháp phát hiện bệnh, là một sự hướng dẫn cần thiết cho chẩn đoán sau
đó.
Thử nghiệm phát hiện bệnh và thử nghiệm chẩn đoán khác nhau cơ bản như sau:
<b>Test chẩn đoán </b> <b>Test phát hiện bệnh </b>
<i> - Áp dụng cho người có một sự rối loạn nhất định; </i>
<i> -Thực hiện trên từng cá nhân; </i>
<i> -Tốn kém hơn.- Chính xác hơn; </i>
<i> -Là cơ sở của điều trị; </i>
<i>- Áp dụng cho người có vẻ ngồi khỏe mạnh; </i>
<i>- Thực hiện trên từng nhóm ; </i>
<i>- Ít chính xác, ít tốn kém; </i>
<b> Ví dụ: + </b>
<b>Đối với bệnh Lao: </b>
<i>- Xét nghiệm VSV. trong đờm - Chụp hình phổi (X quang) </i>
<i>- Sinh thiết vùng tổn thương - Phiến đồ âm đạo </i>
Trên thực tế, người ta dựa vào độ nhạy và độ đặc hiệu của nghiệm pháp để sử dụng khi
tiến hành phát hiện bệnh trong cộng đồng.
+ Test có độ nhạy cao nhưng kém đặc hiệu sẽ đem lại nhiều kết quả dương tính sai,
các trường hợp này sẽ được chẩn đóan xác định lại sau đó. Người ta dùng phương pháp có độ
nhạy cao để phát hiện bệnh.
+ Test có độ đặc hiệu cao nhưng kém nhạy sẽ đem lại nhiều kết quả âm tính giả, và sẽ
bỏ sót nhiều trường hợp bị bệnh. Nhưng những trường hợp dương tính là bị bệnh thực sự, nên
sẽ sử dụng tốt trong các nghiên cứu thực nghiệm, có thể thử một lọai thuốc mới hay một
phương pháp chẩn đốn mới.
<i><b>3. Qu</b><b>ầ</b><b>n th</b><b>ể</b><b>đ</b><b>ích </b></i>
- Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn những quần thể khác.
- Nguy cơ bị bệnh cao hơn nhóm người khác (có thể do tiếp xúc, do một đặc tính nào đó
mà dễ bị bệnh hơn...)
- Mối liên hệ, tương quan trong cộng đồng và sự hợp tác ở mọi mức độ phải tốt.
- Có đầy đủ các dữ kiện về dân số học cần thiết.
- Cộng đồng phải cảm thấy họ có nhu cầu thực sự cần thiết đối với chương trình y tế này.
Những người chịu sự phát hiện bệnh có thể là tồn bộ một quần thể, có thể chỉ là một
nhóm có nguy cơ cao, có thể chỉ là một mẫu được lựa chọn trong quần thể ...
Dựa trên cơ sở của việc phát hiện bệnh đó mà thiết lập nên một chương trình y tế.
<b>V. ĐỊNH LÝ BAYES </b>
Bayes (thế kỷ XVIII) đã nêu lên cơ sở toán học để xác định giá trị tiên đoán của một test
trong y học.
<i><b>1. C</b><b>ơ</b><b> s</b><b>ở</b><b> toán h</b><b>ọ</b><b>c </b></i>
Ta dùng kí hiệu <i>B</i> để nói lên sự có mặt của một bệnh nào đó, và <i>B</i> là sự khơng có mặt
của bệnh đó, và đưa vào các khái niệm sau đây:
(1) <i>P (B)</i> là xác suất có bệnh trong quần thể (chính là tỷ lệ hiện mắc <i>p</i>).
(2) <i>P ( B )</i> là xác suất vắng bệnh đó trong quần thể, chính là <i>p</i> khơng bệnh trong quần
thể, và <i>P ( B ) = 1 - P (B)</i>;
(3) - <i>dt </i>là kết quả dương tính của test.
- <i>at </i> là kết quả âm tính của test.
(4) <i>P(dt/B)</i>: Xác suất của kết quả dương tính từ người bị bệnh, hay là độ nhạy của test,
được ước lượng bằng:
<i>c</i>
<i>a</i>
<i>a</i>
+ , và được tính bằng %.
(5) <i>P(at/B)</i> : Xác suất của kết quả âm tính từ người bị bệnh, hay là xác suất của kết quả
(6) <i>P(at/ B</i>): Xác suất của kết quả âm tính từ người khơng bị bệnh, hay là độ đặc hiệu
của test, được ước lượng bằng:
<i>b</i>
<i>d</i>
<i>d</i>
+ và được tính bằng %.
(7) <i>P(dt/ B</i>): Xác suất của kết quả dương tính từ người khơng bị bệnh, hay là xác suất
của kết quả dương tính sai, và <i>P</i>
<i><b> B </b></i> <i><b><sub>B </sub></b></i> <b>Tổng </b>
<i>P</i> . +<i>P</i>
<i>P</i> . +<i>P</i>
Tổng
<i>P</i> <i>P</i>
1
Ta cũng có:
(8) <i>P(B/dt)</i> : Xác suất bị bệnh trước kết quả dương tính, hay là giá trị tiên đốn của kết
quả dương tính:
<i>b</i>
<i>a</i>
<i>a</i>
+ , được tính bằng %.
(9) <i>P( B</i>/at) : Xác suất không bị bệnh trước kết quả âm tính, hay là giá trị tiên đốn của
kết qủa âm tính:
<i>c</i>
<i>d</i>
<i>d</i>
+ , được tính bằng %.
Cơng thức của Bayes chính là sự tương quan giữa các xác suất nêu trên:
(10)
(11)
<i>P</i>
<i>B</i>
<i>at</i>
<i>P</i>
<i>B</i>
<i>P</i>
<i>B</i>
<i>at</i>
<i>P</i>
<i>B</i>
<i>P</i>
<i>at</i>
<i>B</i>
<i>P</i>
.
.
.
+
=
Hay: (12)
)
1
)(
1
(
<i>Sp</i>
<i>P</i>
<i>Vn</i>
−
+
−
−
=
1
.
.
1
.
của nó và phụ thuộc vào tỷ lệ hiện mắc của bệnh đó trong quần thể.
<i><b>2. </b><b>Ứ</b><b>ng d</b><b>ụ</b><b>ng </b><b>đị</b><b>nh lý Bayes </b></i>
Một test phát hiện bệnh có độ nhạy <i>Se =</i> 100%, độ đặc hiệu . Muốn dùng
test đó để phát hiện bệnh trong quần thể mà tỷ lệ hiện mắc <i>p</i> là chưa biết.. Hãy phân tích các
giá trị tiên đoán của test tùy vào <i>p</i>; <i>p = P(B)</i>.
%
85
=
<i>Sp</i>
Sau một vài biến đổi đơn giản, ta có:
- Giá trị tiên đoán của kết quả dương tính:
15
,
0
.
75
,
0
.
90
,
0
<i>Vp</i> ;
- Giá trị tiên đoán của kết quả âm tính:
<i>p</i> <i><sub>Vp</sub></i> <i><sub>Vn</sub></i>
100
1
200
1
300
1
500
1
000
.
1
1
000
.
10
1
000
.
100
1
Như vậy, độ nhạy và độ đặc hiệu <100% thì giá trị tính đốn của kết quả dương tính sẽ
giảm cùng với sự giảm của tỷ lệ hiện mắc của bệnh; và khi độ nhạy của test gần thì
cơng thức (10) có thể được viết:
%
100
(14)
Chia tử số và mẫu số của (14) cho <i>P(B)</i> ta có:
(15)
Hay: khi độ nhạy cao thì giá trị tiên đốn của kết quả dương tính chỉ phụ thuộc vào <i>p</i>
và xác suất của kết quả dương tính sai. Nếu như cho xác suất của kết quả dương tính sai là cố
định thì có thể vẽ được một đồ thị của <i>Vp</i> tùy thuộc vào <i>P</i>
<i>Ví dụ1: </i>Nếu: Ước chừng một người có xác suất bị bệnh là 10%, nếu một test chẩn đốn
có độ nhạy cao gây nên khoảng 10% dương tính sai; người ta sử dụng test đó như thế nào
trong thực tiễn.
Từ điểm 0,1 trên trục hồnh vạch một đường thẳng góc với trục hồnh, gặp đường cong
tương ứng 0,01; tại giao điểm đó vạch một đường song song với trục hoành, gặp trục tung tại
một điểm; điểm đó tương ứng với giá trị tiên đốn của kết quả dương tính là 0,53.
<i>Ví dụ 2: </i>Xác suất bị bệnh của một người trong một quần thể là 0,20, một test có
dương tính sai, tiến hành tương tự như ở ví dụ 1, ta sẽ có
%
3
90
,
0
=
Một ứng dụng khác: Trong một lần xuống cộng đồng, một người thầy thuốc gặp một
triệu chứng trên một bệnh nhân, người thầy thuốc đó có thể nhận biết được bệnh nhân đó bị
bệnh <i>X</i> ?
Nếu như biết được : - Tỷ lệ hiện mắc <i>p</i> của bệnh <i>X</i> trong quần thể;
- Tỷ lệ của triệu chứng đó trong quần thể;
Thì người thầy thuốc đó có thể biết được xác suất bị bệnh <i>X</i> của bệnh nhân nêu trên: <i> </i>
<i>p</i>
<i>Se</i>.
<i>Xác xuất bị bệnh </i>
<i>Tỷ lệ của triệu chứng/ quần thể</i>
04 08 12 16 20 24 28 32 36 40 44 48
<i><b> T</b><b>ỷ</b><b> l</b><b>ệ</b><b> hi</b><b>ệ</b><b>n m</b><b>ắ</b><b>c (%) </b></i>
<b>Biểu đồ 3.2: Tương quan giữa Vp và Sp khi Se của test cao </b>
Ví dụ: khi gặp một trường hợp co giật ở một đứa trẻ, người thầy thuốc có thể biết xác
suất bị u não ở đứa trẻ đó khơng?
Biết rằng: - Xác suất bị co giật ở trẻ bị u não là 30%
- Tỷ lệ hiện mắc u não trong vùng đó là
000
.
100
16
;
- Tỷ lệ co giật trong quần thể đó là
000
.
1
4
;
Thì xác suất bị u não ở đứa trẻ co giật là:
0,012
004
,
0
16
.
000
,
0
30
,
0
=
×
<b> </b>
Theo ước lượng này thì, trong 100 đứa trẻ bị co giật sẽ có một đứa trẻ bị u não.
ZW XY