1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS xuất hiện từ năm 1981, kể từ khi 5 bệnh nhân AIDS
đầu tiên được phát hiện ở Mỹ. Trải qua 30 năm, mặc dù các nước đã có nhiều
giải pháp phịng, chống tích cực nhưng dịch vẫn gia tăng nhanh chóng, có những
diễn biến phức tạp. HIV/AIDS không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe và giống nòi
mà còn gây tác hại lớn đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội [1], [97].
Theo báo cáo của Chương trình phối hợp Liên hợp quốc về phịng chống
HIV/AIDS, đến 12/2011 thế giới có khoảng 40,8 triệu người nhiễm
HIV/AIDS, trong đó phụ nữ 16,2 triệu; trẻ em dưới 15 tuổi 2,8 triệu và hàng
năm có khoảng 4,5 triệu người tử vong do AIDS, 95% người nhiễm HIV ở
các nước đang phát triển. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong phịng
chống nhưng bức tranh tồn cầu về HIV/AIDS vẫn còn hết sức ảm đạm [120].
Ở Việt Nam sau hơn 20 năm, phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên
12/1990, HIV/AIDS vẫn đang trong giai đoạn tập trung, song tại một số tỉnh/
thành phố đã lan ra cộng đồng. Đến 30/6/2012 số lũy tích: nhiễm HIV là
204.019 trường hợp, 58.569 bệnh nhân AIDS còn sống và 61.856 trường hợp
đã tử vong do AIDS. Tỷ suất nhiễm HIV trên toàn quốc 218/100.000 dân,
100% tỉnh/thành phố, 98,7% quận/huyện và 78,0% xã/phường có người
nhiễm HIV/AIDS [27], [28].
Nhiều tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đặc biệt là các tỉnh
Miền núi phía Bắc, đã cảnh báo về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trên
người dân tộc thiểu số. Các tỉnh có đường biên giới dài, có nhiều dân tộc
thiểu số sinh sống, nhiều tập tục lạc hậu, kinh tế nghèo nàn, quan hệ tình dục
cởi mở, giao thơng đi lại khó khăn, hoạt động bn bán chất ma tuý phát
triển, kéo theo tệ nạn nghiện chích ma t khó ngăn chặn. Dẫn đến tình hình
HIV/AIDS ở các tỉnh này không ngừng gia tăng và diễn biến rất phức tạp đối
tượng nhiễm không chỉ là người nghiện chích ma tuý, gái mại dâm mà đã lan
2
ra cộng đồng, đặc biệt là những phụ nữ 15-49 tuổi. Sơn La có tỷ suất nhiễm
HIV/AIDS 659/100.000 dân, Yên Bái (416/100.000 dân), Cao Bằng
(394/100.000 dân) và Lai Châu (250/100.000 dân), cả 100% số huyện/thị
xã/thành phố ở 4 tỉnh này có người nhiễm HIV/AIDS. Các biện pháp phịng,
chống HIV/AIDS hiện nay vẫn mang tính gián tiếp, tác động đến sự thay đổi
hiểu biết, hành vi nhằm dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS [21], [28], [38].
Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống HIV/AIDS của đồng bào
dân tộc thiểu số nói chung, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số 15-49 tuổi rất hạn
chế, tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS thấp dưới 20,0%, thậm chí dưới 10,0%
ở dân tộc Tày, Nùng, H’Mơng, Dao. Đặc thù về trình độ văn hố, trình độ hiểu
biết, hành vi và các biện pháp can thiệp nhóm dân tộc thiểu số rất khác với
nhóm người Kinh. Do đó cần có những nghiên cứu để tìm ra được những
thơng tin đặc thù nhằm phục vụ cho cơng tác phịng, chống phù hợp và hiệu
quả hơn [21], [85]. Phần đông đồng bào dân tộc sử dụng ngơn ngữ phổ thơng
kém nên gặp khó khăn trong tiếp thu các thông điệp truyền thông bằng tiếng
phổ thông trên ti vi, đài, tờ rơi hay sách báo. Do đó, truyền thơng phịng chống
HIV/AIDS cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ người dân tộc thiểu số tại cộng đồng càng
trở lên cấp thiết [72], [97].
Xuất phát từ những lý do trên, trong khn khổ Dự án phịng chống
HIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài trợ chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống
HIV/AIDS của phụ nữ dân tộc thiểu số từ 15-49 tuổi tại 4 huyện của 4 tỉnh
Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu và Yên Bái, năm 2009.
2. Đánh giá hiệu quả giải pháp truyền thông nâng cao kiến thức, thái độ
và thực hành phòng, chống HIV/AIDS cho phụ nữ dân tộc thiểu số từ 15-49
tuổi tại hai xã của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, 2009-2011.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI DỊCH HIV/AIDS VÀ NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV/AIDS ĐỐI VỚI ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ
- HIV là những chữ viết tắt từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency Virus)
là vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm
khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh [10].
- AIDS là những chữ viết tắt từ tiếng Anh (Acquired Immune Deficiency
Syndrome), hay SIDA là những chữ viết tắt từ tiếng Pháp (Syndromede
Immuno Deficiency Acquise), nghĩa là “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải” do nhiễm HIV, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ
hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong [10].
- Hành vi nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình
dục khơng an tồn, dùng chung bơm kim tiêm, nghiện chích ma túy. [10].
- Dân tộc thiểu số là các dân tộc trong số 54 dân tộc Việt Nam, trừ dân
tộc Kinh, dân tộc thiểu số hay trước đây còn gọi là dân tộc ít người [21], [97].
- Kiến thức (knowledge): Theo Random House (1990), kiến thức là
những kinh nghiệm, những sự kiện có thực phản ánh trí thơng minh của con
người, được hình thành trong học tập, quan sát và kinh nghiệm, kiến thức của
con người được tích luỹ trong suốt cuội đời. Kiến thức về HIV/AIDS của phụ
nữ dân tộc thiểu số 15-49 tuổi là mức độ hiểu biết về HIV/AIDS, đường lây
truyền, cách phòng, chống HIV/AIDS của họ [9], [119].
- Thái độ (attiude): Theo Ajzen (1988) và Ford (1992) thái độ là biểu
hiện sự bằng lòng hoặc phản đối một vấn đề nào đó, nó là một cấu trúc tương
đối bền vững của các niềm tin, kinh nghiệm tích luỹ trong cuộc sống hoặc
những người sống và làm việc gần gũi xung quanh chúng ta như ông bà, cha
4
mẹ, họ hàng, đồng nghiệp. Thái độ về HIV/AIDS của phụ nữ dân tộc thiểu số
là thái độ đối với nguy cơ họ bị lây nhiễm HIV và đối với người bị nhiễm
HIV trong cộng đồng, thái độ về phòng, chống HIV/AIDS của họ [9], [119].
- Thực hành (practice): Là công việc thực tế đã đạt được qua thực hiện
các kỹ năng, kỹ xảo. Thực hành phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ dân tộc
thiểu số 15-49 tuổi là việc thực hiện các biện pháp phịng, chống HIV/AIDS
như khơng QHTD với nhiều người, sử dụng BCS trong QHTD, không dùng
chung bơm kim tiêm, khun bạn tình nên đi xét nghiệm, khơng cho con bú
khi mẹ nhiễm HIV, không mang thai sinh con nếu mẹ nhiễm HIV [9], [119].
- Hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS: Là hiểu biết đồng thời cả 3 phương
pháp phòng tránh lây truyền HIV/AIDS (QHTD với 1 bạn tình chung thuỷ, sử
dụng BCS trong tất cả các lần QHTD, không dùng chung BKT). Đồng thời
không hiểu sai về 2 hình thức lây truyền (muỗi đốt có thể bị nhiễm HIV, ăn
uống chung hay tiếp xúc thông thường với người nhiễm HIV có thể bị lây
nhiễm HIV) [96], [26].
1.1.2. Một số đặc điểm của đại dịch HIV/AIDS
1.1.2.1. Nhiễm HIV là nhiễm trùng suốt đời
Khác với các nhiễm trùng khác, mầm bệnh chỉ tồn tại một thời gian ngắn
trong cơ thể, khi bị nhiễm HIV tích hợp vào bộ gen của tế bào chủ tồn tại với
vật chủ cả đời, do vậy người nhiễm HIV có thể truyền bệnh cho người khác
suốt cả đời mình [8], [15].
1.1.2.2. Dịch HIV/AIDS là một dịch ẩn
Từ khi nhiễm HIV đến khi diễn biến thành AIDS trung bình từ 5 đến 8
năm. Trong thời gian này, mặc dù khơng có dấu hiệu nào trên lâm sàng, song
người nhiễm HIV vẫn ln có khả năng lây nhiễm cho người khác. Đến khi
có biểu hiện của AIDS thì đã gây bệnh cho nhiều người. Do đó mà HIV/AIDS
là một dịch ẩn rất khó phịng, chống [8], [15].
5
1.1.2.3. Dịch HIV/AIDS là đại dịch toàn cầu
Những ca bệnh đầu tiên được phát hiện ở Mỹ vào năm 1981, từ sau năm
1985, khi các sinh phẩm chẩn đoán được bán rộng rãi trên thị trường, việc xét
nghiệm phát hiện HIV trở nên dễ hơn, người ta thấy HIV đã xuất hiện ở khắp
nơi, khơng có nơi nào trên thế giới thốt khỏi hiểm hoạ HIV/AIDS [111].
1.1.2.4. Các mơ hình dịch tễ học
Dựa vào thời điểm xuất hiện và các phương thức lây truyền, người ta
thấy có 3 mơ hình dịch tễ học trong nhiễm HIV như sau [40], [96], [119].
- Mơ hình 1: Gặp chủ yếu ở Châu Mỹ, Úc và các nước Tây Âu. Dịch
được phát hiện sớm từ đầu những năm 1980, lây truyền chủ yếu qua quan hệ
tình dục đồng giới và tiêm chích ma t, sau đó mới lây qua quan hệ tình dục
khác giới, do vậy mà tỷ lệ nhiễm ở nam cao hơn ở nữ .
- Mơ hình 2: Gặp ở Châu Phi, nhất là vùng cận sa mạc Sahara. Dịch lây
truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục khác giới và qua các dụng cụ xun
chích khơng vơ trùng, nên tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ là như nhau.
- Mơ hình 3: Xuất hiện ở các vùng còn lại trên thế giới. Dịch xuất hiện
muộn hơn vào những năm 1990 do lây truyền từ các nơi khác đến qua du lịch.
Ban đầu dịch bùng nổ trong các nhóm người có hành vi nguy cơ cao như gái
mại dâm, người tiêm chích ma tuý sau đó lây truyền mạnh mẽ vào cộng đồng
qua đường tình dục và đường máu [40], [48], [107].
1.1.2.5. Dịch HIV/AIDS lan rộng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống
kinh tế, xã hội và giống nòi
Diễn biến dịch được các nhà kinh tế học phân chia ra thành 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Xuất hiện người nhiễm HIV, do tính chất nguy hiểm của
dịch, nhiều người sợ hãi, xa lánh và phân biệt đối xử với những người nhiễm
HIV. Do đó phải triển khai cơng tác giám sát dịch, truyền thơng-giáo dục và
các biện pháp can thiệp phịng chống HIV/AIDS rất tốn kém.
6
- Giai đoạn 2: Xuất hiện người bị AIDS và chết vì AIDS, cần nâng cấp
các cơ sở y tế địi hỏi nhiều kinh phí. Khi bệnh nhân tử vong sẽ làm đảo lộn
cuộc sống, tâm lý gia đình và cộng đồng (Việt Nam đang ở giai đoạn này).
- Giai đoạn 3: Đa số người trẻ nhiễm HIV và chết trung bình ở 48 tuổi.
Khi HIV/AIDS lan vào cộng đồng sẽ làm cho nhiều người ốm và chết, bố mẹ
và con cái của họ khơng cịn người giúp đỡ, làm tăng gánh nặng xã hội.
- Giai đoạn 4: Dịch đã lan tràn mạnh mẽ vào cộng đồng làm chết nhiều
người có kỹ năng lao động, phải đầu tư đào tạo lớp người mới để thay thế,
song lớp người này cũng bị HIV/AIDS đe doạ.
- Giai đoạn 5: Là giai đoạn ảnh hưởng lâu dài của dịch HIV/AIDS đối
với giống nòi [40], [120].
1.1.3. Nguy cơ tiềm tàng lây nhiễm HIV tại Việt Nam và nguy cơ lây
nhiễm HIV đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.3.1. Các nguy cơ tiềm tàng lây truyền HIV/AIDS tại Việt Nam
Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường: Sự phân hóa giầu nghèo, di cư từ
nông thôn ra thành phố và các khu kinh tế. Việt Nam gần “Tam giác vàng„ là
nơi diễn ra hoạt động sản xuất, buôn bán và vận chuyển ma túy hết sức phức
tạp và kéo theo tệ nạn NCMT, gái mại dâm, người buôn bán khác, dẫn đến lây
nhiễm HIV qua biên giới các nước. Gia tăng các BLTQĐTD, ước tính có
800.000-1.200.000 bệnh nhân/năm [42], [74], [108].
Hành vi nguy cơ cao: Nhóm TCMT dùng chung BKT (24%-44%).
Nhóm gái mại dâm có TCMT (35%) và có sử dụng BCS (40%-70%) [81].
Nhóm TCMT nhiễm HIV có dùng chung BKT (48%) và QHTD khơng
dùng BCS (10%-55%). Thanh, thiếu niên: QHTD sớm trung bình 19,6 tuổi,
có 21,5% nam thanh niên độc thân và 1,2% đã lập gia đình QHTD với gái
mại dâm, có 20% nạo hút thai tuổi vị thành niên. Số lượng người cho máu
ngày càng nhiều, nguy cơ lây nhiễm HIV càng cao [71], [98] [99].
7
1.1.3.2. Một số đặc điểm kinh tế-văn hóa- xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số
có liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và sức khỏe sinh sản
Việt nam có 54 dân tộc, dân tộc Kinh chiếm đơng nhất. Dân tộc thiểu số
chiếm 13% dân số cả nước. Hầu hết các dân tộc thiểu số đều cư trú ở các
vùng Trung du và Miền núi (chiếm 2/3 lãnh thổ) từ Bắc vào Nam [82], [83].
Bảng 1.1. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất ở Việt Nam (2009)
Dân tộc (thiểu số)
Tày
Nùng
Thái
Mường
H’Mông
Số lượng
1.190.000
706.000
1.040.000
914.000
558.000
Dân tộc (thiểu số)
Dao
Hoa
Khmer
Gharai
Eđê
Số lượng
474.000
900.000
895.000
242.000
195.000
* Nguồn: Niên giám thống kê 2010 [83]
Hiện tại có khoảng 10,8% số hộ gia đình được xếp vào loại thiếu ăn,
theo chuẩn nghèo quốc tế (75% dân tộc thiểu số, 25% dân tộc Kinh). Các dân
tộc thiểu số chiếm tới 30% tổng số người nghèo của cả nước và sinh sống chủ
yếu ở vùng cao xa xôi, hẻo lánh, đặc biệt bị ảnh hưởng bởi nghèo đói [62]. Tỷ
lệ tốt nghiệp phổ thông trung học trong các dân tộc thiểu số và đặc biệt các
em gái còn quá thấp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở trẻ
em, 32% số trẻ em không đủ cân nặng cần thiết [5], [102].
Phụ nữ dân tộc thiểu số luôn phải gánh vác công việc nặng nhọc, quyền
ra quyết định trong gia đình rất hạn chế, đặc biệt là liên quan đến vấn đề sinh
sản và ít có cơ hội học tập, nâng cao kiến thức [80]. Phần lớn khu vực dân tộc
thiểu số sinh sống lại có nhiều nguy cơ tiềm tàng làm lây lan HIV/AIDS như
trồng và sử dụng cây thuốc phiện, bn bán vận chuyển ma t, tình hình
NCMT trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số đang gia tăng nhanh trong
những năm gần đây [61], [62]. Theo truyền thống, thanh niên được tự do tìm
bạn tình theo tục lệ “Chọc sàn” và “Ngủ thăm”. Tại một số vùng còn cho phép
bạn trai được ngồi trong màn tại buồng ngủ của người con gái để tâm sự,
8
người Thái có phong tục "ở rể" [76]. Một nghiên cứu ở Sơn La cho rằng khi
đi “chọc sàn” hay trong thời gian “ở rể”, tình trạng “vượt rào” (QHTD) được
coi là phổ biến [76]. Trên thực tế, tập tục kết hôn sớm vẫn tồn tại, nữ dân tộc
thường thôi học từ lớp 7-8 và kết hơn, trung bình là 16-18 tuổi, đôi khi từ 13
tuổi. QHTD trước hôn nhân hoàn toàn cởi mở, nam nữ tự do QHTD từ khi
đến tuổi dậy thì, có thể sau đó thành vợ chồng và có thể khơng, nam giới cịn
đi QHTD ở các thôn/bản hoặc xã khác [94], [110].
Các phong tục trong hơn nhân nói trên của dân tộc thiểu số tiềm ẩn
những nguy cơ về SKSS, dẫn tới hành vi QHTD khơng an tồn nếu họ khơng
được trang bị kiến thức về tránh thai, HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD [26].
Hiện nay “cơn bão” ma tuý đang tràn qua Miền núi phía Bắc, dọc biên giới, làm
cho tệ nạn nghiện ma tuý ngày càng gia tăng và chủ yếu là TCMT [5], [31].
1.1.3.3. Đặc điểm dịch HIV/AIDS tại một số tỉnh Miền núi phía Bắc
Bảng 1.2. Tình hình HIV/AIDS tại một số tỉnh Miền núi phía Bắc (6/2012)
Nội dung
Cao Bằng Sơn La Lai Châu Yên Bái Chung
Dân số
511.815 1.096120 378.468 748.536 2.734939
Số người nhiễm HIV
2.015
7.220
948
3.112
13.295
Số bệnh nhân AIDS
602
655
186
617
2.060
Số người chết do AIDS
522
570
451
392
1.935
Tỷ suất nhiễm/100.000 dân
394
659
250
416
486
Số huyện/thị có người
13/13
11/11
7/7
9/9
40/40
nhiễm HIV/AIDS
Số xã/phường có người
173/199 189/206
63/98
142/180 567/683
(85,9%) (89,8%) (64,3%) (76,7%) (81,6%)
nhiễm HIV/AIDS
* Nguồn: Cục Phòng, chống HIV/AIDS [28]
Báo cáo của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS 4 tỉnh [88], [89], [90], [91].
Tỷ suất nhiễm chung là 486 trường hợp/100.000 dân, trong đó cao nhất
Sơn La (659), thấp nhất Lai Châu (250). Có 100% số huyện/thị và 81,6% số
xã/phường có người nhiễm HIV.
9
Bảng 1.3. Phân bố nhiễm HIV ở các nhóm đối tượng
tại một số tỉnh Miền núi phía Bắc đến 6/2012
Nhóm đối tượng
Tiêm chích ma tuý
Cao Bằng Sơn La Lai Châu Yên Bái Chung
TL (%) TL (%) TL (%) TL (%) TL (%)
75,8
78,5
74,8
75,6
76,2
Gái mại dâm
4,5
4,6
4,2
4,0
4,3
Bệnh nhân STIs
3,8
4,2
4,1
3,9
4,0
Bệnh nhân lao
6,7
5,6
4,8
6,4
5,9
Phụ nữ có thai
3,7
3,4
3,6
3,8
3,6
Nhóm khác
5,5
3,7
8,5
6,3
6,0
* Nguồn: Cục Phịng, chống HIV/AIDS [28].
Báo cáo của Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS 4 tỉnh [88], [89], [90], [91].
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở các nhóm đối tượng, cao nhất nhóm tiêm chích
ma t 76,2% và thấp nhất nhóm phụ nữ có thai (3,6%), các nhóm cịn lại có
tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS không khác biệt lắm (4,0%- 6,0%).
1.2. KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TRÊN
THẾ GIỚI, TẠI VIỆT NAM VÀ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.2.1. Tình hình HIV/AIDS và hiểu biết về HIV/AIDS trên thế giới
1.2.1.1. Tình hình HIV/AIDS trên thế giới
Theo báo cáo của Chương trình phối hợp Liên hợp quốc về phịng,
chống HIV/AIDS (UNAIDS), đến 12/2011 thế giới có khoảng 40,8 triệu
người đang sống chung với HIV/AIDS, trong đó phụ nữ 16,2 triệu (47,9%);
trẻ em dưới 15 tuổi 2,8 triệu (6,8%) và hàng năm có khoảng 3,5 đến 4,5 triệu
người tử vong do AIDS, 95% người nhiễm HIV sống ở các nước đang phát
triển. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong phịng, chống HIV/AIDS,
nhưng bức tranh tồn cầu về HIV/AIDS vẫn còn hết sức ảm đạm. [1], [120].
Cận Sahara- Châu Phi vẫn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với
25,8 triệu người sống chung với HIV/AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ mang
thai tại Châu Phi rất cao: Swaziland là 42%, Nam Phi là 32,7% [109], [114].
10
Tại Châu Á: Tính đến 12/2011 có 11,7 triệu người nhiễm HIV/AIDS cịn
sống trong đó có 2,5 triệu là phụ nữ trưởng thành (15-49 tuổi). Các nước như
Camphuchia, Thái Lan và Myanma được đánh giá là những nước có tỷ lệ
nhiễm HIV cao nhất trong khu vực, tiếp theo là Indonesia, Nepal, Việt Nam
và Trung Quốc. Hình thái lây nhiễm HIV ở hầu hết các khu vực là qua đường
quan hệ tình dục khác giới và tiêm chích ma túy. Nam giới mắc nhiều hơn nữ
giới, ngoại trừ vùng Cận Sahara có số nữ mắc nhiều hơn nam.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chương trình phối hợp phịng, chống
AIDS của Liên Hợp Quốc (UNAIDS) và Bộ Y tế Trung Quốc cho biết tình
trạng lây nhiễm HIV/AIDS qua đường tình dục tại Trung Quốc đang ở mức
báo động. Năm 2011 có khoảng 72% trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở Trung
Quốc là do lây qua đường tình dục [28], [100], [112].
1.2.1.2. Hiểu biết về HIV/AIDS trên thề giới
Tại nhiều nước, phần lớn người nhiễm mới là thanh, thiếu niên. Khoảng
1/3 số người nhiễm HIV/AIDS ở độ 15-24 tuổi và phần lớn trong số đó khơng
biết mình đang mang vi rút HIV. Hàng triệu người khơng biết gì hoặc biết rất
ít về HIV/AIDS và cách phòng, chống [105].
Qua nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau đều cho rằng, nhận thức của
người dân về HIV/AIDS và biện pháp phòng, chống là khá cao, có thể nói cơng
tác truyền thơng và giáo dục về HIV/AIDS đã có kết quả tốt. Tuy nhiên, vẫn cịn
một tỷ lệ đáng kể (20,7%-50,3%) đối tượng có hành vi khơng an tồn như dùng
chung BKT trong TCMT, khơng sử dụng BCS trong QHTD, vẫn tiếp tục mang
thai khi mẹ bị nhiễm HIV và QHTD với nhiều người [103].
Theo UNAIDS, tỷ lệ gái mại dâm sử dụng BCS là 75%-90% nhưng trong
QHTD vợ chồng lại sử dụng BCS rất thấp (20%-25%), mà chủ yếu dùng BCS
với mục đích tránh thai. Xu hướng thanh niên có QHTD sớm và QHTD trước
hơn nhân ngày càng tăng ở đa số các nước ở vùng cận Sahara, hơn 40% phụ nữ
20-24 tuổi có QHTD trước hôn nhân và đặc biệt là QHTD trước tuổi 20 [118].
11
Trên thế giới, sau 30 năm chịu ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS, nhiều
phụ nữ vẫn e ngại khi tiếp cận với các thơng tin về tình dục, sức khỏe sinh sản
và HIV/AIDS [100].
Các cuộc điều tra từ 40 quốc gia trên Thế giới chỉ ra rằng 64% phụ nữ trong
độ tuổi 15-49 có nhận thức sai về cách lây truyền HIV (cho là do tiếp xúc thông
thường, do muỗi hoặc côn trùng đốt). Tại 40 quốc gia trên, phụ nữ 15- 49 tuổi có
tỷ lệ hiểu đúng về các phương pháp phòng tránh HIV/AIDS là 48,8%- 50,4%;
hiểu đúng đủ về HIV/AIDS (hiểu đúng về cách phịng chống và khơng hiểu sai
về đường lây nhiễm) là 45,5%- 51,5%; tỷ lệ hiểu sai về HIV/AIDS là 9,5%12,2%. Nghiên cứu cũng cho biết 6,5%-7,8% đã xét nghiệm HIV [116], [117].
1.2.2. Tình hình HIV/AIDS và kiến thức, thái độ, thực hành về phòng,
chống HIV/AIDS tại Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam
Kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam 12/1990. Số lũy
tích đến 30/6/2012 là: nhiễm HIV 204.019 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là
58.569 trường hợp, số tử vong do AIDS là 61.856 trường hợp.
Bảng 1.4. Tại Việt Nam: 10 tỉnh có số trường hợp nhiễm HIV/AIDS
hiện cịn sống cao nhất trên tồn quốc tính đến 6/2012
Tỉnh/ Thành phố
Số người nhiễm Tỉnh/ Thành phố
Số người nhiễm
TP. Hồ Chí Minh
42.615
Nghệ An
4.282
Hà Nội
17.020
An Giang
3.905
Hải Phịng
6.710
Thanh Hóa
3.685
Thái Ngun
5.702
Quảng Ninh
3.652
Sơn La
5.351
Bà Rịa-Vũng Tàu
3.633
* Nguồn: Cục Phòng, chống HIV/AIDS- Bộ Y tế [28]
Trong 10 tỉnh có số trường hợp nhiễm HIV hiện cịn sống, cao nhất là TP
Hồ Chí Minh, tiếp đến là Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La, Nghệ An,
An Giang, Thanh Hóa, Quảng Ninh và thấp nhất là Bà Rịa-Vũng Tàu.
12
Phân bố dịch theo địa bàn được thể hiện tại biểu đồ 1.1:
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ tỉnh/thành phố, quận/huyện và xã/phường
có người nhiễm HIV/AIDS (6/2012)
* Nguồn: Cục Phịng, chống HIV/AIDS-Bộ Y tế [28]
Tính đến 6/2012 tồn quốc đã phát hiện tại 78,0% xã/ phường, 98,7%
quận/ huyện và 63/63 (100%) tỉnh/ thành phố có người nhiễm HIV/AIDS.
Phân bố trường hợp nhiễm theo giới được thể hiện tại biểu đồ 1.2:
Biểu đồ 1.2. Phân bố trường hợp nhiễm HIV theo giới (6/2012)
* Nguồn: Cục Phòng, chống HIV/AIDS- Bộ Y tế [28]
Phân bố trường hợp nhiễm HIV/AIDS theo giới, có 70,4% là nam giới
cao gần gấp 2,5 lần so với nữ giới, nữ giới chỉ chiếm 29,6% số người nhiễm.
13
Phân bố nhiễm HIV theo đường lây được thể hiện tại biểu đồ 1.3:
Biểu đồ 1.3. Phân bố trường hợp nhiễm HIV/AIDS theo đường lây
(6/2012)
* Nguồn: Cục Phòng, chống HIV/AIDS- Bộ Y tế [28]
Phần lớn lây nhiễm qua đường máu (47,8%), tiếp đến qua đường tình dục
(40,1%), lây truyền từ mẹ sang con thấp (3,4%), cịn 8,7% khơng rõ đường lây.
Phân bố nhiễm HIV theo nhóm tuổi được thể hiện tại biểu đồ 1.4:
Biểu đồ 1.4. Phân bố trường hợp nhiễm HIV theo nhóm tuổi (6/2012)
* Nguồn: Cục Phịng, chống HIV/AIDS- Bộ Y tế [28]
14
Các trường hợp nhiễm HIV/AIDS chủ yếu chiếm tỷ lệ lớn ở độ tuổi sinh
đẻ: 20- 29 tuổi (39,2%) và 30-39 tuổi (42,8%).
1.2.2.2. Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về HIV/AIDS tại Việt Nam
Cả 63 tỉnh, thành trên tồn quốc đều có người nhiễm HIV/AIDS và ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống gia đình, xã hội. Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên
cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phịng, chống HIV/AIDS, nhằm mục đích
đưa ra những biện pháp thích hợp giúp cộng đồng hiểu biết và tự mình phịng,
chống HIV/AIDS [2], [25].
Nghiên cứu các chỉ số liên quan đến HIV/AIDS trong nhóm quần thể
dân cư 15-49 tuổi ở vùng thành thị và nông thôn Việt Nam (2009) cho thấy:
Tuổi QHTD lần đầu của vùng thành thị và nông thôn là tương tự nhau (nam
22, nữ 20). Khoảng 51,6%-69,5% phụ nữ trả lời có QHTD trong 12 tháng
qua, trong đó 3,7%-4,5% có QHTD ngồi hơn nhân và có 4,0%-4,7% có
nhiều hơn một bạn tình, chỉ có 15,9%-16,2% có dùng BCS trong lần QHTD
gần nhất. Trong số những người có QHTD ngồi hơn nhân và bạn tình khơng
sống cùng trong 12 tháng qua, có 2,5%-13,8% ln sử dụng BCS [31], [78].
Phụ nữ 15-49 tuổi có tỷ lệ hiểu đúng về các phương pháp phịng tránh
HIV/AIDS (ln sử dụng BCS trong QHTD, chung thuỷ, không sử dụng
chung BKT) là 53,8%-55,4%; hiểu đúng đủ về HIV/AIDS (hiểu đúng về cách
phòng, chống và không hiểu sai về đường lây nhiễm) là 52,2%-62,5%; tỷ lệ
hiểu sai về HIV/AIDS là 7,6%-9,3% và chỉ có 8,1%-8,6% đã từng xét nghiệm
HIV [30], [67].
Nghiên cứu can thiệp Cộng đồng phòng chống AIDS tại Lai Châu, Quảng
Trị, An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp do Cục Y tế Dự phịng, Bộ Y tế thực
hiện: Tỷ lệ nhóm thanh thiếu niên hiểu sai về cách phòng chống lây nhiễm HIV
giảm từ 33% xuống còn 28% sau can thiệp. Tỷ lệ sau can thiệp, thanh thiếu niên
cho biết sẵn sàng chăm sóc thành viên trong gia đình bị nhiễm HIV rất cao là
97,1% nhưng chỉ có 84,3% trong số họ dám bắt tay người bệnh và có 65% dám
15
ngồi ăn chung mâm với người bệnh. Cũng chỉ có 71,3% thanh thiếu niên đồng ý
giáo viên bị nhiễm HIV tiếp tục giảng dạy. Tỷ lệ thanh thiếu niên dùng BCS
trong lần QHTD đầu tiên tăng từ 25% lên 38%. Tỷ lệ nhóm nam thanh thiếu
niên đã có QHTD ln sử dụng BCS trong 12 tháng qua với gái mại dâm, bạn
tình bất chợt và người yêu tương ứng tăng mạnh từ 10,0%; 4,0% và 8,0% lên
đến 21,0%; 12,0% và 23,0% [13].
Nghiên cứu của Trương Tấn Minh và cộng sự về kiến thức, thái độ, thực
hành trên người dân 15-49 tuổi tại Khánh Hịa cho thấy cịn có tới 39,6% đối
tượng hiểu sai về đường lây truyền HIV (cho là muỗi đốt hay ăn uống chung với
người nhiễm HIV sẽ bị lây nhiễm HIV). Cũng nghiên cứu này trên nhóm nghiện
chích ma túy cho thấy tỷ lệ đối tượng NCMT hiểu sai là (11,8%) [67], [68].
Hành vi nguy cơ cao dẫn đến lây nhiễm HIV thường được chia thành 2
nhóm có vai trị quan trọng là: dùng chung BKT trong TCMT và không dùng
BCS trong QHTD: Năm 2009, trong các cuộc điều tra của Ngân hàng Phát
triển châu Á, các tác giả đã cho thấy: tỷ lệ dùng lại BKT của nhóm người
nhiễm HIV/AIDS đã từng TCMT rất cao (Đồng Tháp: 61,5%, Kiên Giang
55,2%, Lai Châu: 54,8% và An Giang: 25,0%). Cũng trong năm 2009, điều
tra lượng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của Ngân hàng Thế giới cũng cho
thấy: tỷ lệ đối tượng còn TCMT trong tháng trước điều tra cao (Thanh Hố:
93,0%, Nghệ An 81,7%, Hà Tĩnh: 77,8%, Bình Dương 88,9%, Long An
86,8%, Sóc Trăng 38,8%). Tỷ lệ đối tượng dùng lại bơm kim tiêm trong tháng
trước điều tra cao (Thanh Hoá: 97,5% , Nghệ An: 47,6%, Hà Tĩnh 55,6%,
Bình Dương: 67,5%, Long An: 32,9% và Sóc Trăng 10,0%) [20], [29], [49].
Nghiên cứu hành vi QHTD của 396 người TCMT có HIV dương tính tại
7 tỉnh thành Miền Bắc Việt Nam: có 48,6% sử dụng BCS trong quan QHTD,
nhưng chỉ có 71,7% trong số này sử dụng BCS đúng cách [59]. Nghiên cứu
của Nguyễn Văn Kính (2008): 96,0% các đối tượng TCMT có HIV dương
tính đã từng dùng chung BKT, chỉ có 5,0% biết làm sạch BKT đúng cách và
16
18,9% người nhiễm HIV dùng BKT sạch [57]. Hội thảo về nguy cơ lây nhiễm
HIV trên đối tượng TCMT tại Việt Nam (2003) cho biết: tỷ lệ sử dụng BCS
trong lần QHTD gần đây nhất của đối tượng tại Lai Châu: 50,0%, An Giang:
50,0%, Kiên Giang: 34,7%, Đồng Tháp: 23,0% [51].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long, Hồng Đình Cảnh và cộng sự ở
nhóm phụ nữ mại dâm Thành phố Cần Thơ (2007): tỷ lệ sử dụng BCS thấp, có
(23%-41%) gái mại dâm sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất và (12%21%) gái mại dâm luôn sử dụng BCS trong QHTD trong 12 tháng qua [64].
Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy: có sự đan xen, giao
thoa giữa hai nhóm hành vi nguy cơ cao: Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng chỉ ra
rằng: Những hành vi đan xen có thể có những nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS đặc
biệt cao. Gái mại dâm đồng thời TCMT có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn rất
nhiều so với những gái mại dâm không TCMT. Người TCMT có QHTD với gái
mại dâm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn rất nhiều so với những đối tượng
TCMT khơng có QHTD với gái mại dâm do họ khơng thường xun sử dụng BCS,
có nhiều bạn tình hơn và dùng chung BKT thường xuyên [23]. Theo nhận định của
UNAIDS: Sự kết hợp giữa TCMT và mại dâm là một sự phối hợp chết người và
đang châm ngòi cho một vụ dịch nghiêm trọng ở Việt Nam [75], [100].
1.2.3. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống HIV/AIDS của đồng
bào dân tộc thiểu số
Kiến thức phòng chống HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD: Theo nghiên
cứu tại một trường nội trú tỉnh Sơn La, tỷ lệ học sinh không biết về các đường
lây truyền HIV/AIDS chiếm 35,4%, trong đó hiểu sai là 13,6% [13]. Điều đáng
quan tâm là mức độ hiểu biết thấp về HIV lại thuộc nhóm dân tộc thiểu số, chỉ
có 5,5% dân tộc thiểu số hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS [7], [52]. Thanh thiếu
niên dân tộc thiểu số có sự hiểu biết thấp hơn về các bệnh LTQĐTD, cũng một
nghiên cứu tại trường dân tộc nội trú tỉnh Sơn La cho thấy tỷ lệ hiểu nhầm một số
bệnh khác là bệnh LTQĐTD là 53% [39]. Gần đây, thanh thiếu niên có xu
17
hướng QHTD trước hôn nhân: Thanh, thiếu niên cho rằng QHTD trước hơn
nhân có thể chấp nhận được nếu biết cách tránh thai 23,6% ở lứa tuổi 14-17;
30,3% ở lứa tuổi 18-21 và 36,3% ở lứa tuổi 22-25; nếu cả hai đồng ý 25,2% ở
lứa tuổi 14-17; 35,0% ở lứa tuổi 18-21 và 39,7% ở lứa tuổi 22-25 [5].
Vấn đề QHTD trước hơn nhân của các nhóm dân tộc thiểu số là cao
hơn hẳn nhóm dân tộc Kinh. Có 39,8% nam thanh niên và 26,1% nữ thanh
niên ở nhóm dân tộc thiểu số đã từng QHTD và tỷ lệ này ở nhóm dân tộc
Kinh là 11,1% ở nam và 4% ở nữ [5]. Nghiên cứu nhóm học sinh dân tộc ở
các trường dân tộc nội trú tại Sơn La công bố 32,8% học sinh đã có QHTD,
trong đó 21,4% nam cho biết người mà các em có QHTD là bạn bè và tỷ lệ
này ở nữ học sinh là 23,8%; đặc biệt có 50% các em khơng xác định được
mình QHTD vì lý do gì [13]. Điều này cho thấy dân tộc thiểu số quan niệm
khá “thoáng” về hành vi QHTD trước hôn nhân [59]. Một số nghiên cứu cho
thấy tỷ lệ QHTD trước hôn nhân của thanh niên dân tộc thiểu số đã lập gia đình
15-24 tuổi có 39,8% nam và 26,1% nữ, đây được coi là hành vi bình thường
theo phong tục tập quán của một số dân tộc thiểu số. Có 5,3% số thanh niên
dân tộc thiểu số trả lời đã có QHTD với gái mại dâm và trong số đó có 14,9%
nam thanh niên nơng thơn [5], [35], [69].
Kết quả điều tra của Ngân hàng Thế giới và Cục Phòng chống
HIV/AIDS (2007) cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người dân tộc Thái
15-49 tuổi tại tỉnh Thanh Hố là 2,8% và các tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV là
Khánh Hoà (1,1%), Đồng Nai (0,8%), Lai Châu (0,6%), Thái Nguyên và Hậu
Giang (0,5%), Kiên Giang (0,2%) và An Giang (0,1%).
Đã có sự lây nhiễm HIV trong cộng đồng, gặp nhiều ở nhóm người
đang trong độ tuổi sinh đẻ và lao động. Lứa tuổi nhiễm nhiều nhất là 20- 29
(53,4%), rồi đến tuổi 30-39 (31,06%). Nam giới nhiễm cao hơn nữ (80,65%).
Thành thị cao hơn nông thơn. Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm người có gia đình
chiếm tỷ lệ 38,41%; những người khơng nghề nghiệp 21,25% [31].
18
Kiến thức về HIV/AIDS được đánh giá là vẫn còn một tỷ lệ đáng kể chưa
"hiểu" về cách phòng tránh HIV/AIDS (6,3% nhóm 20-24 tuổi và 10% nhóm
15-19 tuổi hồn tồn khơng có kiến thức phịng tránh; 28,6% trả lời sai ít nhất
một câu hỏi trắc nghiệm mang thơng tin sai lệch) [31]. Vẫn cịn một tỷ lệ khơng
nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số hiểu sai về đường lây như: ăn, ở chung, giao tiếp
thông thường với người nhiễm HIV và muỗi đốt có thể lây nhiễm HIV.
Nghiên cứu định tính và định lượng về dân tộc thiểu số cịn cho thấy quan
hệ tình dục (QHTD) trước hơn nhân là khá phổ biến (69,7%), nhưng chỉ có 7,9%
có sử dụng bao cao su (BCS) trong lần QHTD lần đầu tiên, đặc biệt có tới 39,3%
có QHTD với nhiều hơn một bạn tình [53], [58].
Nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ nữ dân tộc Dao tại Yên Bái có quan hệ với bạn
tình bất chợt trong 12 tháng qua cao nhất (3%) và tỷ lệ luôn sử dụng BCS chỉ là
10%. Người H’mơng Lai Châu có tỷ lệ sử dụng ma tuý trong nhóm 15-49 tuổi
rất cao (10,5%) nhưng trong đó tỷ lệ TCMT thấp (3,4%). Khi đó Thái
Ngun, Thanh Hố và Yên Bái có tỷ lệ sử dụng ma tuý thấp khoảng 2%,
nhưng tỷ lệ TCMT tại Thanh Hoá cao (93,3%). Đồng bào H’mông ở Lai
Châu: Tỷ lệ đi làm xa nhà hơn một tháng trong 12 tháng qua là 11,2%, tỷ lệ
không tiếp cận với với ti vi, đài và báo hàng tuần là 33,4%, trung bình tuổi
QHTD lần đầu là 17, rất hiếm sử dụng BCS trong QHTD, tỷ lệ đã từng sử
dụng ma tuý 10,5% [49], [50], [58].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và cộng sự trên nhóm vợ, bạn tình
người NCMT tại Lai Châu (2009): chỉ có 10,9% đối tượng hiểu biết đầy đủ về
HIV/AIDS, trong khi đó tỷ lệ đối tượng là người dân tộc H’Mông hiểu biết đầy
đủ về HIV/AIDS rất thấp (2,4%) [63].
Mặc dù nguy cơ tiềm ẩn lây nhiễm HIV cao song đồng bào dân tộc thiểu số
rất ít tiếp cận với các dịch vụ Tư vấn xét nghiệm tự nguyện, trong một nghiên
cứu của Lê Hữu Sơn và cộng sự tại Huế (2009) chỉ có 2,0% người dân tộc thiểu
19
số đến với phòng Tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại Trung tâm Y tế dự phòng
huyện hay Bệnh viện huyện [75].
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Cục Phòng, chống HIV/AIDS
năm 2007 về kiến thức, thái độ và thực hành phòng, chống HIV/AIDS của
phụ nữ dân tộc thiểu số tại 11 tỉnh cho thấy:
Kiến thức về HIV/AIDS thể hiện tại biểu đồ 1.5:
Biểu đồ 1.5. Kiến thức đầy đủ về HIV/AIDS của phụ nữ tại 11 tỉnh (2007)
* Nguồn Cục Phòng, chống HIV/AIDS [30]
Tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số hiểu biết đầy đủ các biện pháp phòng tránh
lây truyền HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (28,6% cho nhóm 15-24 tuổi
và 24,4% cho nhóm 15-49 tuổi). Lai Châu phụ nữ không ai hiểu biết đầy đủ
về các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV/AIDS.
Thái độ về HIV/AIDS được thể hiện tại biểu đồ 1.6:
Biểu đồ 1.6. Thái độ về phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ 11 tỉnh (2007)
* Nguồn Cục Phòng, chống HIV/AIDS [30]
Tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số cho rằng người nhiễm HIV phải thấy xấu
hổ về bản thân mình và người nhiễm HIV là người có lỗi vì mang bệnh về cho
20
cộng đồng: Cao nhất tại Lai Châu (87,2% và 81,6%); thấp nhất tại Kiên Giang
(47,1% và 47,3%).
Thực hành về phòng, chống HIV/AIDS được thể hiện tại biểu đồ 1.7:
Biểu đồ 1.7. Thực hành phòng chống HIV/AIDS của phụ nữ 11 tỉnh (2007)
* Nguồn Cục Phòng, chống HIV/AIDS [30]
Trong số những phụ nữ có quan hệ tình dục với chồng/bạn tình đang
chung sống trong 12 tháng qua, tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số ở Đồng Nai, Bắc
Giang và Thái Nguyên sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất tương ứng là
11,6%; 10,9% và 10,5%. Tỷ lệ luôn sử dụng BCS trong 12 tháng qua khi
QHTD với chồng/bạn tình đang chung sống của tỉnh Đồng Nai, Thái Nguyên,
An Giang và Hậu Giang tương ứng là 6,4% ; 3,3% ; 3,2% và 3,2%.
1.3. TRUYỀN THƠNG PHỊNG, CHỐNG HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM VÀ CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ, MỘT SỐ MÔ HÌNH TRUYỀN THƠNG
1.3.1. Khái niệm về truyền thơng và truyền thơng thay đổi hành vi
1.3.1.1. Truyền thơng (hay q trình giao tiếp)
Là một q trình trao đổi thơng tin hai chiều giữa người cung cấp thông
tin và người nhận thông tin hay nói cách khác là q trình trao đổi qua lại
giữa người làm giáo dục sức khỏe (GDSK) và đối tượng GDSK.
21
Có thể nói một cách ngắn gọn rằng truyền thơng là một q trình truyền
đạt thơng tin. Truyền thơng (communication) là một dạng hoạt động căn bản
của bất cứ một tổ chức nào mang tính chất xã hội.
Qua thơng tin ngược (thông tin phản hồi) người làm GDSK thấy được
các phản ứng tốt, xấu… để điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương pháp
GDSK cho phù hợp với từng đối tượng [6], [46].
NGI
LM
GDSK
Nội dung GDSK
Thông tin phản hồi
I
TNG
GDSK
S 1.1. Truyn thơng (2 chiều)
Trong xã hội lồi người, truyền thơng là một điều kiện tiên quyết để
hình thành nên một “xã hội” hoặc “cộng đồng”. Sở dĩ người ta có thể sống
được, giao tiếp và tương tác được với nhau là nhờ vào hành vi truyền thông.
Người ta gọi đây là truyền thông liên cá nhân (interpersonal communication),
nghĩa là truyền đạt thông tin giữa người này với người khác. Sự truyền thơng
trước hết thơng qua lời nói hoặc chữ viết, tức là ngơn ngữ, nhưng cũng có thể
thơng qua cử chỉ, điệu bộ, hay hành vi để biểu tỏ thái độ hoặc cảm xúc. Vì
thế, có thể có hai cách thức truyền thơng : truyền thơng bằng lời nói (verbal),
và truyền thơng khơng bằng lời nói (non-verbal). Người ta thường phân biệt
ba loại truyền thông như sau: Truyền thông liên cá nhân (giữa người này với
người khác); Truyền thông tập thể (tức là truyền thông trong nội bộ một cơ
quan, một tổ chức đồn thể, nhóm xã hội) và truyền thơng đại chúng [6], [93].
1.3.1.2. Truyền thông thay đổi hành vi
Là biện pháp tiếp cận ở nhiều cấp độ nhằm khuyến khích và duy trì việc
thay đổi hành vi làm giảm nguy cơ lây nhiễm cho mỗi cá nhân và cộng đồng
bằng cách phổ biến các thông điệp về sức khỏe qua nhiều kênh truyền thông
khác nhau. Trên thực tế, một số người chỉ muốn biết những điều mới (tiếp thu
22
thơng điệp), một số khác có dự định thay đổi hành vi, trong khi một số đã
thực sự thay đổi. Hiện tượng này được gọi là các bậc thang của hiệu quả, bao
gồm các bậc thang.
Các bậc thang hiệu quả, được minh hoạ theo sơ đồ 1.3 dưới đây:
Sơ đồ 1.2. Thang bậc hiệu quả của truyền thông thay đổi hành vi
(Trung tâm truyền thông-Trường Y tế công cộng John Hopkins) [9].
Giả sử từ bước này đến mỗi bước tiếp theo sẽ giảm đi 20% điểm thì với
một thơng điệp (nội dung truyền thông GDSK) đưa ra, chỉ khoảng 80% đối
tượng chịu ảnh hưởng. Trong số đó, chỉ có 60% nhận được thơng điệp chính
xác, 40% đồng ý với thơng điệp, 20% dự định thay đổi hành vi và chỉ 3-7%
thực sự thay đổi hành vi. Tuy nhiên, số người chịu tác động của thông tin theo
từng bậc thang hiệu quả sẽ tăng lên nếu việc thiết kế các thông điệp (nội dung
truyền thông GDSK) đạt được hiệu quả một cách tối đa [6], [46], [92].
1.3.2. Công tác truyền thông phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam và
cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.3.2.1. Cơng tác truyền thơng phịng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
Mục tiêu đề ra cho công tác truyền thơng phịng, chống HIV/AIDS tại
Việt Nam là nâng cao hiểu biết của người dân về dự phòng lây nhiễm
HIV/AIDS: 100% nhân dân khu vực thành thị và 80% ở khu vực nông thôn,
Miền núi hiểu đúng và biết cách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS; 90% người
23
dân trong độ tuổi 15-49 hiểu biết đúng về dự phịng lây nhiễm HIV/AIDS; Có
phản đối những quan niệm sai lầm, phổ biến về lây nhiễm HIV/AIDS và có
thái độ tích cực đối với người bị nhiễm HIV; Giảm 50% số ca nhiễm mới do
lây truyền HIV qua đường tình dục vào năm 2015 và 80% vào năm 2020, bao
gồm giảm ca nhiễm mới trong thanh thiếu niên, người quan hệ tình dục đồng
giới nam và người bán dâm; Giảm 50% số trường hợp nhiễm mới trong nhóm
nghiện chích ma túy vào năm 2015 và 80% số nhiễm mới trong nhóm này vào
năm 2020; Giảm kỳ thị phân biệt đối xử trong cộng đồng và tiến tới xóa bỏ
tình trạng kỳ thị phân biệt đối xử vào năm 2020 [7], [97].
Đến nay công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi
được triển khai trên toàn quốc với sự tham gia của các bộ, ngành, đoàn thể và
các địa phương bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp đặc điểm
văn hóa của địa phương và đặc thù các nhóm đối tượng như phong trào “Tồn
dân tham gia phịng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư”, mơ hình câu
lạc bộ đồng cảm, mơ hình các nhóm tự lực. Kết quả đã góp phần nâng cao
nhận thức phịng, chống HIV/AIDS trong cộng đồng, có tác động khơng nhỏ
đến sự thay đổi kiến thức và hành vi trong các nhóm nguy cơ cao. Nhiều
nghiên cứu, đánh giá cho thấy kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về
phòng, chống HIV/AIDS đã được tăng lên đáng kể trong những năm qua [95].
Các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thơng trong giai đoạn qua đã
có tác động khơng nhỏ đến sự thay đổi về kiến thức phòng, chống HIV/AIDS
trong các nhóm nguy cơ cao và trong các nhóm cộng đồng dân cư: Theo kết
quả điều tra quốc gia về hành vi kết hợp với các chỉ số sinh học cho thấy kiến
thức phịng, chống HIV/AIDS trong nhóm nguy cao đã tăng lên, tỷ lệ người
được điều tra trả lời đúng tất cả biện pháp dự phòng lây truyền HIV và từ chối
những quan điểm sai lầm về đường lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích
ma túy tăng từ 45% năm 2006 lên 47,6% năm 2009, trong nhóm gái mại dâm
tăng từ 45% năm 2006 lên 54,7% năm 2009 [113]. So sánh điều tra trong
24
nhóm thanh niên 15-24 tuổi cho thấy thanh niên độ tuổi 15-24 hiểu đầy đủ
đường lây truyền HIV và phản đối những quan niệm sai lầm về đường lây
truyền HIV đã tăng từ 46% năm 2005 lên 57% năm 2009 [111].
Thơng qua các số liệu điều tra hiện có, chúng ta thấy rằng mặc dù công
tác truyền thông được triển khai mạnh và đa dạng trên phạm vi toàn quốc, kết
quả bước đầu cho thấy đã tác động đến làm giảm tình dịch HIV nói chung,
tuy nhiên do kết quả mong đợi về kiến thức phòng, chống HIV/AIDS trong
cộng đồng dân cư,vẫn chưa đạt được so với mục tiêu đề ra [6], [7], [115].
Trong năm 2009 và những năm tiếp theo, tiếp tục đẩy mạnh và duy trì
các hình thức truyền thông trực tiếp thông qua đội ngũ cán bộ làm cơng tác
phịng, chống HIV/AIDS tuyến xã/phường và tun truyền viên đồng đẳng
cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao. Các diễn đàn tuyên truyền viên đồng
đẳng toàn quốc được tổ chức, các cuộc thi, hội thi cộng tác viên, tuyên truyền
viên được tổ chức theo các khu vực, hội nghị biểu dương cán bộ, cộng tác
viên cơ sở tiêu biểu trong cơng tác phịng, chống HIV/AIDS đã được tổ chức
góp phần động viên đội ngũ cán bộ cơ sở tiêu biểu trong các hoạt động [11],
[19]. Mục đích của chương trình này là làm cho mọi người hiểu biết đầy đủ về
HIV/AIDS và thay đổi hành vi nguy cơ, nhằm tự bảo vệ mình và bảo vệ cho
người khác. Hoạt động này đạt hiệu quả với khoảng 70% người dân ở độ tuổi
sinh sản hiểu biết cơ bản về đường lây và các biện pháp phòng lây nhiễm
HIV/AIDS. Tuy nhiên, cịn 30% dân chúng thì chương trình chưa thể tác động
(đặc biệt là dân chúng ở vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số Miền núi phía
Bắc), vẫn cịn số khá nhiều người nói HIV có thể lây do mặc chung quần áo,
tiếp xúc thông thường, muỗi đốt, hơn nhau [2], [7], [84].
1.3.2.2. Truyền thơng phịng chống HIV/AIDS cho đồng bào dân tộc thiểu
số và sự ảnh hưởng của kinh tế-văn hóa-xã hội đến cơng tác truyền thơng
* Cơng tác truyền thơng phịng chống HIV/AIDS cho đồng bào dân tộc
thiểu số: Trong Luật Phòng chống HIV/AIDS và Chiến lược quốc gia phòng
25
chống HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đều khẳng định [72]: Nhóm
đối tượng được ưu tiên trong tiếp cận dịch vụ về phòng chống HIV/AIDS là
người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, trên
thực tế hoạt động này cịn gặp nhiều khó khăn. Phòng chống HIV/AIDS phải
là giải pháp đồng bộ nhưng công tác truyền thông vẫn hết sức quan trọng, mà
trong đó, một trong những nhiệm vụ của truyền thơng là cần làm tốt việc
tuyên truyền giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV trong cộng
đồng. Muốn chống phân biệt đối xử thì phải làm cho người dân hiểu đúng căn
bệnh này, phải tuyên truyền giải thích cho người dân hiểu thật rõ là
HIV/AIDS lây lan như thế nào, qua những con đường nào. Tuyên truyền tốt
trên các phương tiện thông tin đại chúng, đã giúp cho người dân có cách nhìn
nhận đúng hơn về HIV/AIDS, họ tin tưởng vào các biện pháp phòng, chống
HIV/AIDS và họ sẽ phòng, chống tốt hơn. Giúp người nhiễm HIV hòa nhập
tốt với cộng đồng, biện pháp trước mắt vẫn là truyền thơng [2], [7], [106].
Dự án Phịng chống HIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài
trợ, sau 7 năm triển khai tại các tỉnh đã đạt được một số kết quả như: Công tác
giáo dục, truyền thông của Dự án đã nâng cao sự hiểu biết về HIV/AIDS của
cộng đồng dân cư ở các xã triển khai Dự án, trong đó có đồng bào dân tộc
thiểu số, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Miền núi phía Bắc.
Chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại đã giúp cho trên 80% người
NCMT ở các xã có dự án nhận được bơm kim tiêm sạch đạt 100% mục tiêu
đề ra, góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT. Tỷ lệ người
nhiễm HIV trong nhóm TCMT giảm dần qua từng năm, từ 40,3% (năm 2007)
xuống cịn 25,9% (năm 2010) [7], [65].
Để duy trì những kết quả đạt được sau khi Dự án kết thúc, Ban Chỉ đạo
Dự án Phòng chống HIV/AIDS ở tỉnh tiếp tục triển khai các hoạt động truyền
thông trực tiếp cung cấp kiến thức về HIV/AIDS trong vùng đồng bào dân tộc
thiểu số với các hình thức phù hợp.