BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
-----------***-----------BAN ĐIỀU HÀNH
CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
LÊ THỊ HẬU
QUYỀN RIÊNG TƢ CỦA CÔNG DÂN
TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Hành chính – Nhà nƣớc
Niên khóa: 2012 - 2016
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Phạm Thị Phƣơng Thảo
Ngƣời thực hiện: Lê Thị Hậu
MSSV: 1253801010103
Lớp: CLC – 37D
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2016
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………………1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN RIÊNG
TƢ CỦA CÔNG DÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ…………………………...6
1.1.
Khái qt về quyền riêng tƣ của cơng dân…………………………………..6
1.1.1. Khái niệm quyền riêng tƣ của công dân……………………………………..6
1.1.2. Nội dung quyền riêng tƣ của công dân………………………………………9
1.2.
Cơ sở lý luận về quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí…...…15
1.2.1. Khái niệm, loại hình và đặc điểm của báo chí hiện nay…………………….15
1.2.2. Khái niệm, nội dung quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí....19
1.2.3. Mối quan hệ giữa quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí và
quyền tự do ngơn luận, tự do báo chí của cơng dân………………………...23
1.2.4. Mối quan hệ giữa quyền riêng tƣ của công dân và quyền tiếp cận thơng tin
của cơng dân trong lĩnh vực báo chí……………………………………..…25
1.2.5. Cơ sở pháp lý về quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí ở Việt
Nam…………………………………………………………………………27
1.2.6. Quy định của một số quốc gia về việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân
trong lĩnh vực báo chí…………………………………...………………….42
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN RIÊNG TƢ
CỦA CÔNG DÂN, THỰC TIỄN ĐẢM BẢO QUYỀN RIÊNG TƢ CỦA CÔNG
DÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN…………………………………………………………………..…48
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực
báo chí…………………………………………………………………………...…48
2.2. Thực tiễn việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí..58
2.2.1. Những kết quả đã đạt đƣợc trong việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân
trong lĩnh vực báo chí……………………………………………………………..58
2.2.2. Những điểm hạn chế trong việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong
lĩnh vực báo chí…………………………………………………………………….61
2.3. Ngun nhân……………………………………...………………………….74
2.4. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực
báo chí……………………………………………………………………………...77
KẾT LUẬN………………………………………………………………………...84
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quyền riêng tƣ là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con ngƣời,
đƣợc ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới,
trong đó có Việt Nam. Các khía cạnh về mặt nội dung quyền riêng tƣ lần đầu tiên
đƣợc quy định trong Hiến pháp 1946 và đƣợc kế thừa, mở rộng trong Hiến pháp
năm 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992. Hiến pháp 2013 đã chính thức quy
định việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân tại Điều 21. Ngồi ra, quyền riêng
tƣ của công dân cũng đƣợc ghi nhận và bảo vệ trong các văn bản pháp luật chuyên
ngành nhƣ Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự….
Hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin của ngƣời dân
ngày càng cao, báo chí khơng ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tại
Việt Nam, báo chí đƣợc xem là cơ quan “quyền lực thứ tƣ1” sau lập pháp, hành
pháp và tƣ pháp, có sức tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội. Sức mạnh quyền
lực đó góp phần rất lớn cho sự nghiệp phát triển đất nƣớc về mọi mặt kinh tế - chính
trị, văn hóa - xã hội. Dƣới góc độ khác, nếu quyền lực đó khơng đƣợc sử dụng đúng
cách, khơng có cơ chế quản lý chặt chẽ sẽ dễ dàng xâm phạm đến quyền công dân,
đặc biệt là quyền riêng tƣ của cơng dân. Mặc dù Luật Báo chí đƣợc ban hành từ
năm 1989 và đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã có những quy định nhằm đảm bảo
quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí, nhƣng trong nhiều năm gần
đây, quy định của pháp luật hiện hành thể hiện nhiều hạn chế, gây khó khăn trong
việc áp dụng dẫn đến việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo
chí trên thực tế không đạt hiệu quả. Điều này đƣợc thể hiện qua sự gia tăng các
hành vi xâm phạm quyền riêng tƣ của công dân trong nhiều vụ việc thực tiễn. Việc
thông tin các câu chuyện riêng tƣ của các cá nhân diễn viên, nghệ sĩ trên phƣơng
tiện báo chí khiến bí mật cá nhân của nhiều ngƣời trở thành đề tài thảo luận của cả
cộng đồng, quyền riêng tƣ của công dân không đƣợc đảm bảo. Gánh nặng tâm lý, áp
lực xã hội gây ảnh hƣởng tiêu cực đến cuộc sống của những ngƣời bị xâm phạm
1
Giang Lân (2012), “Báo chí quyền lực thứ tƣ?”. Link nguồn (truy cập ngày 8/6/2016)
1
quyền riêng tƣ và những ngƣời thân của họ khi danh dự và nhân phẩm của họ bị xúc
phạm nghiêm trọng.
Quyền riêng tƣ của công dân là một trong những quyền nhạy cảm, khó xác
định, do đó rất dễ bị xâm phạm. Đặc biệt là trong lĩnh vực báo chí, do tính chất
quần chúng và chức năng thơng tin về mọi mặt của đời sống nên quyền riêng tƣ của
công dân đƣợc xem là dễ bị xâm phạm nhất. Để có đƣợc cái nhìn tồn diện về các
quy định pháp luật hiện hành về quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí,
đồng thời tìm hiểu về thực tiễn đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực
báo chí, tác giả chọn đề tài “Quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo
chí”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nƣớc ngồi, có thể kể đến một số cơng trình nghiên cứu về quyền riêng tƣ
nhƣ: Samuel Warren and Louis Brandeis (1890), The Right to Privacy, 4 Harvard
Law Review; Jill Marshall (2009), Personal Freedom through Human Rights Law,
Martinus Nijhoff Publishers; Thomas I. Emerson (1979), The Right of Privacy and
Freedom of the Press; Report of the Committee on Privacy and Related Matters,
Chairman David Calcutt QC, 1990, Cmnd.1102, London: HMSO, at 7.
Ở nƣớc ta, trong những năm gần đây, vấn đề đảm bảo quyền riêng tƣ của
công dân đã bắt đầu nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Có thể kể
đến một số cơng trình nhƣ: Đỗ Hải Hà (2010), “Quyền riêng tƣ của ngƣời lao
động”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 03 (52); Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền
tiếp cận thông tin và quyền riêng tư, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh; Thái Thị Tuyết Dung (2012), “Quyền riêng tƣ trong thời đại cơng nghệ thơng
tin”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9 (212); Thái Thị Tuyết Dung (2010), Cơ sở lý
luận pháp lý về quyền riêng tư của công dân ở Việt Nam và một số quốc gia, đề tài
nghiên cứu khoa học, thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Giang Phƣợng Thƣ (chủ
nhiệm) (2013), Quyền riêng tư của cơng dân trong hoạt động báo chí tại Việt Nam,
đề tài nghiên cứu khoa học trƣờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, chƣa có cơng trình nào nghiên cứu quyền riêng tƣ của công dân
trong lĩnh vực báo chí. Tại trƣờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, cơng trình
2
nghiên cứu khoa học “Quyền riêng tƣ của công dân trong hoạt động báo chí tại Việt
Nam” đã có những nghiên cứu về quyền riêng tƣ trong lĩnh vực báo chí. Nhƣng đề
tài chỉ dừng lại ở mức độ phân tích, đánh giá các hành vi xâm phạm quyền riêng tƣ
trong lĩnh vực báo chí thơng qua các vụ việc thực tiễn, chƣa tiếp cận sâu từ góc độ
phân tích cơ sở lý luận và các quy định pháp luật, chỉ ra những hạn chế của quy
định pháp luật hiện hành về việc đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh
vực báo chí.
Tóm lại, đề tài này sẽ tiếp cận dƣới góc độ phân tích cơ sở lý luận và các quy
định pháp luật, chỉ ra những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành về việc đảm
bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí. Đồng thời đề tài liên hệ với
thực tiễn để thấy đƣợc thực trạng việc đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong
lĩnh vực báo chí hiện nay.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này đƣợc thực hiện với hai mục đích chính:
Thứ nhất, đề tài làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của quyền riêng tƣ
của công dân nhƣ khái niệm và nội dung quyền quyền tƣ của cơng dân trong lĩnh
vực báo chí, cơ sở pháp lý cho quyền riêng tƣ của công dân ở Việt Nam.
Thứ hai, đề tài phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện nay, thực tiễn
đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí; qua đó cho thấy những
điểm tích cực, những hạn chế cịn tồn tại trong các quy định pháp luật hiện nay và
việc đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí trong thực tiễn. Từ
đó đƣa ra những kiến nghị góp phần hồn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu
quả quản lý Nhà nƣớc nhằm đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực
báo chí.
Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về quyền riêng tƣ của công dân
trong lĩnh vực báo chí.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chủ yếu phân tích những quy định pháp luật về
quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí ở nƣớc ta. Đồng thời có sự liên
hệ với thực tiễn thơng qua việc phân tích, đánh giá các tình huống thực tế xảy ra
3
trong những năm gần đây (từ năm 2011 – 2016). Bên cạnh đó, cơng trình cũng đƣa
ra một số kinh nghiệm nƣớc ngoài làm giá trị tham khảo cho Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp duy vật biện chứng của triết
học Mác – Lê nin. Tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ: phƣơng pháp
phân tích, tổng hợp, diễn dịch và so sánh để làm rõ khái niệm và nội dung quyền
riêng tƣ của cơng dân nói chung, trong lĩnh vực báo chí nói riêng, làm rõ những ƣu
điểm, hạn chế trong quy định pháp luật hiện nay đối với việc đảm bảo quyền riêng
tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí và thực tiễn việc đảm bảo quyền riêng tƣ của
cơng dân trong lĩnh vực báo chí. Ngồi ra, tác giả còn sử dụng biện pháp thống kê,
so sánh trong việc chỉ ra số vụ việc vi phạm thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Về mặt lý luận: đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ khái niệm quyền riêng tƣ
của công dân, quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí dựa trên cơ sở lý
luận và quy định của pháp luật hiện hành; làm rõ những hạn chế của quy định pháp
luật hiện nay đối với việc đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo
chí.
Về mặt thực tiễn: từ việc làm rõ những hạn chế của quy định pháp luật hiện
nay đối với việc đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực bào chí, đề tài
đƣa ra một số kiến nghị góp phần hồn thiện quy định pháp luật; đồng thời làm tài
liệu tham khảo cho các sinh viên và các nhà nghiên cứu để nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề đảm bảo quyền riêng tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí nói riêng và các
lĩnh vực khác nói chung.
6. Bố cục đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm các phần chính nhƣ sau:
Phần mở đầu
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về quyền riêng tƣ của cơng dân
trong lĩnh vực báo chí
4
Chƣơng 2. Thực trạng quy định pháp luật về quyền riêng tƣ của công dân,
thực tiễn đảm bảo quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí và một số
kiến nghị
Kết luận
5
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN
RIÊNG TƢ CỦA CÔNG DÂN TRONG LĨNH VỰC BÁO CHÍ
1.1.
Khái qt về quyền riêng tư của cơng dân
1.1.1. Khái niệm quyền riêng tư của công dân
Quyền riêng tƣ là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời, có nguồn
gốc từ rất lâu trong lịch sử. Buổi đầu của nền văn hóa Hebrew, thời Hy Lạp cổ điển
và thời kỳ Trung Quốc cổ đại đã có những nội dung bảo vệ quyền riêng tư2. Quyền
riêng tƣ đƣợc chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên ngôn quốc tế về Nhân
quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights). Điều 12 Tuyên ngôn
Nhân quyền viết: “Không một ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc
sống riêng tƣ, gia đình, nhà ở hay thƣ tín cũng nhƣ bị xúc phạm về nhân phẩm hoặc
uy tín cá nhân. Mọi ngƣời đều đƣợc pháp luật bảo vệ chống lại sự xúc phạm và can
thiệp nhƣ vậy”. Ngoài ra, quyền riêng tƣ cũng đƣợc ghi nhận trong các Điều ƣớc
quốc tế khác. Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định
khơng ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc
hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, khơng ai có thể bị sử dụng làm thí nghiệm y học hoặc
khoa học mà khơng có sự đồng ý tự nguyện của ngƣời đó (Điều 7). Cơng ƣớc cũng
khẳng định không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống
riêng tƣ, gia đình, nhà ở, thƣ tín hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy
tín; mọi ngƣời đều có quyền đƣợc pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc
xâm phạm nhƣ vậy (khoản 1, khoản 2 Điều 17).
Quyền riêng tƣ còn đƣợc thừa nhận trong các công ƣớc quốc tế khu vực nhƣ
Điều 8 Công ƣớc Nhân quyền châu Âu (European Convention on Human Rights
1950) và quy định việc thành lập Ủy ban Nhân quyền châu Âu và Tòa án Nhân
quyền châu Âu để giám sát việc thực hiện. Điều 11 Công ƣớc Nhân quyền châu Mỹ
cũng đƣa ra các quyền riêng tƣ với nội dung tƣơng tự nhƣ bản Tuyên ngôn năm
1948. Năm 1965, Tổ chức các nƣớc châu Mỹ ban hành Tuyên bố châu Mỹ về
2
Privacy and Human Rights An International Survey of Privacy Laws and Practice
(truy cập ngày 25/4/2016)
6
Quyền và trách nhiệm của con ngƣời, trong đó kêu gọi bảo vệ quyền con ngƣời bao
gồm bảo vệ quyền riêng tƣ.
Cho đến nay, quyền riêng tƣ đã đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là việc định nghĩa quyền riêng tƣ theo cách đƣa ra nội
dung cụ thể để phân biệt quyền riêng tƣ với các quyền công dân khác. Khái niệm
quyền riêng tƣ đƣợc hiểu khác nhau, có phạm vi khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm
văn hóa, phong tục, tập quán và pháp luật của mỗi nƣớc theo từng thời kỳ. Chính vì
thế có nhiều quan điểm khác nhau về quyền riêng tƣ.
Alan Westin, tác giả của tác phẩm “Quyền riêng tƣ và quyền tự do” năm
1967, đã định nghĩa quyền riêng tƣ nhƣ một sự mong muốn của ngƣời dân đƣợc tự
do lựa chọn dƣới bất kỳ hoàn cảnh nào và đến mức độ nào họ sẽ bộc lộ bản thân,
thái độ và hành vi của họ cho ngƣời khác3. Một quan điểm khác của Giáo sƣ Milton
Konvitz định nghĩa quyền riêng tƣ theo hƣớng phân định phạm vi quyền riêng tƣ.
Theo đó, Giáo sƣ cho rằng quyền riêng tƣ nhƣ là tuyên bố rằng cá nhân có một
phạm vi khơng gian mà ở đó họ khơng bị kiểm sốt và cộng đồng cũng khơng đƣợc
sử dụng4.
Hội đồng Calcutt ở Anh cho rằng: “Khơng nơi nào chúng ta có thể tìm thấy
một định nghĩa hồn tồn thỏa đáng về quyền riêng tư”. Nhƣng họ đã chấp nhận
một khái niệm về quyền riêng tƣ nhƣ sau: “Quyền riêng tư là các quyền của cá
nhân được bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc
của mình (hoặc những người trong gia đình) bằng các phương tiện vật lý trực tiếp
hoặc bằng cách công bố thông tin”5.
3
Privacy and Human Rights An International Survey of Privacy Laws and Practice
(truy cập ngày 25/4/2016)
4
Konvitz (1966), Privacy and the Law, 31 L. & CONTEMP. PROB. 272, 279-80
5
Jill Marshall (2009), Personal Freedom through Human Rights Law, Martinus Nijhoff Publishers,
page 51. Link nguồn:
/>+Committee+on+Privacy+and+Related+Matters,+Chairman+David+Calcutt+QC,+1990,+Cmnd.11
02,+London:+HMSO,+at+7.&source=bl&ots=QdItqQI_rT&sig=VHjd4_iSz0iGHX04529MZ3m7x
oc&hl=en&sa=X&redir_esc=y#v=onepage&q=Report%20of%20the%20Committee%20on%20Pri
vacy%20and%20Related%20Matters%2C%20Chairman%20David%20Calcutt%20QC%2C%2019
7
Theo quan điểm của Tiến sĩ Thái Thị Tuyết Dung: “Quyền riêng tư là quyền
của các cá nhân được phép giữ kín những thơng tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với
cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, về thư
tín, điện thoại, điện tín và các thơng tin điện tử khác mà khơng một chủ thể nào có
quyền tiếp cận, cơng khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc được
bằng quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”6.
Theo các khái niệm và cách tiếp cận trên, quyền riêng tƣ là quyền của cá
nhân đƣợc giữ kín những thơng tin trong phạm vi những vấn đề liên quan đến bản
thân nhƣ: thân thể, nhà ở, tài sản, suy nghĩ, cảm xúc, bí mật, thơng tin, điện thoại,
điện tín và những thơng tin khác tƣơng tự. Điều này có nghĩa là khơng ai đƣợc phép
truy cập, xâm phạm những vấn đề riêng tƣ của cá nhân nếu khơng đƣợc chính cá
nhân đó cho phép hay có quyết định của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền. Nhƣ
vậy, ý nghĩa thực tế của quyền riêng tƣ là tạo nên sự lựa chọn để "kiểm soát" và
"quản lý" ranh giới giữa bản thân chúng ta và những ngƣời khác.
Từ những quan điểm, định nghĩa về quyền riêng tƣ ở trên, có thể đƣa ra khái
niệm về quyền riêng tƣ của công dân nhƣ sau: “Quyền riêng tư của công dân là
quyền của mỗi cơng dân được phép giữ kín những thông tin gắn liền với cuộc sống
riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về đời sống riêng tư, bí
mật đời tư của mình, về thông tin liên lạc mà không một chủ thể nào có quyền tiếp
cận, cơng khai nếu khơng được cơng dân đó đồng ý hoặc được sự cho phép bằng
quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quyền riêng tư của công dân
cũng cho phép công dân lựa chọn những phần nào trong các khía cạnh trên của đời
tư có thể được truy cập bởi những người khác và cho phép cơng dân kiểm sốt mức
độ, cách thức và thời gian của việc sử dụng những khía cạnh mà cơng dân đó đã
chọn để tiết lộ hay cơng bố”.
90%2C%20Cmnd.1102%2C%20London%3A%20HMSO%2C%20at%207.&f=false (truy cập
ngày 25/4/2016).
6
Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư, NXB Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, tr. 115
8
1.1.2. Nội dung quyền riêng tư của công dân
Quyền riêng tƣ là một trong những quyền quan trọng của công dân. Về bản
chất, quyền riêng tƣ đƣợc công nhận nhằm bảo vệ cuộc sống riêng tƣ của từng công
dân thông qua việc đánh dấu một phạm vi mà ở đó những công dân khác không
đƣợc phép xen vào hay can thiệp vào ý chí cá nhân của cơng dân đó. Do đó, nội
dung quyền riêng tƣ của cơng dân sẽ thay đổi theo thời gian và thay đổi từ xã hội
này sang xã hội khác.
Năm 2004, Tổ chức và Trung tâm Bảo mật Thơng tin điện tử có báo cáo
“Quyền riêng tƣ và nhân quyền” với nội dung công bố về sự phát triển của pháp luật
về bảo vệ sự riêng tƣ ở 50 quốc gia từ năm 1997. Theo đó, quyền riêng tƣ có liên
quan đến các vấn đề phổ biến sau:
Thứ nhất, sự riêng tƣ về thông tin cá nhân7
Nội dung này bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập,
xử lý và sử dụng các dữ liệu cá nhân nhƣ thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ
của chính quyền lƣu trữ về cơng dân đó (hay cịn đƣợc gọi là “bảo vệ dữ liệu”8).
Bảo vệ dữ liệu cá nhân liên quan đến một số hạn chế về sự kiểm tra, thu thập, truy
cập và khai thác thông tin bởi ngƣời khác. Bảo vệ dữ liệu cá nhân có thể được áp
dụng trong nhiều cách thức khác nhau, bao gồm sự mã hóa, xác thực và bảo vệ dữ
liệu9. Tất cả những cách thức trên đều nhằm đảm bảo thông tin chỉ dành cho những
ngƣời đƣợc phép truy cập. Những biện pháp bảo vệ đều hƣớng tới sự ngăn chặn
khai thác dữ liệu và sử dụng thông tin cá nhân một cách bất hợp pháp.
7
Privacy and Human Rights An International Survey of Privacy Laws and Practice
(truy cập ngày 25/4/2016)
Đinh Tiến Dũng (2015), “Quyền riêng tƣ trong Hiến pháp 2013 và các biện pháp bảo đảm bằng
pháp luật (P1)”. Link nguồn (truy cập ngày 21/4/2016)
8
9
/>cập ngày 25/4/2016)
9
(truy
Thứ hai, sự riêng tƣ về cơ thể10
Sự riêng tƣ về cơ thể liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất) của ngƣời
dân đối với hình thức xâm hại nhƣ xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử
nghiệm lâm sàng trên cơ thể. Mọi ngƣời dân đều có quyền bất khả xâm phạm về
thân thể, đƣợc pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra
tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm
thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Khơng ai bị bắt nếu khơng có
quyết định của các cơ quan có thẩm quyền. Việc bắt, giam, giữ ngƣời phải tn theo
luật định. Mọi cơng dân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể ngƣời và hiến xác theo
quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dƣợc học, khoa học hay bất kỳ hình thức
thử nghiệm nào khác trên cơ thể ngƣời phải có sự đồng ý của ngƣời đƣợc thử
nghiệm. Bên cạnh đó, xuất phát từ quyền đƣợc bảo đảm an tồn về tính mạng, sức
khoẻ, thân thể của mọi công dân, sự riêng tƣ về cơ thể còn bao gồm cả vấn đề khi
thực hiện phƣơng pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một ngƣời, việc gây mê, mổ, cắt
bỏ, cấy ghép bộ phận của cơ thể phải đƣợc sự đồng ý của ngƣời đó. Nếu ngƣời đó
chƣa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải
đƣợc cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc ngƣời giám hộ của ngƣời đó đồng
ý; trong trƣờng hợp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân mà khơng chờ
đƣợc ý kiến của những ngƣời trên thì phải có quyết định của ngƣời đứng đầu cơ sở
y tế.
Thứ ba, sự riêng tƣ về thông tin liên lạc11
Thông tin liên lạc đóng một vai trị rất lớn trong cuộc sống của con ngƣời,
giúp con ngƣời xây dựng mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm với nhau và
cũng là cách thức để con ngƣời chia sẻ những khoảnh khắc tình cảm riêng tƣ của
mình thơng qua những tin nhắn, hình ảnh. Do đó, bất kỳ ai khi biết đƣợc sự riêng tƣ
về thông tin liên lạc của mình bị xâm phạm đều tỏ ra bức xúc, khó chịu bởi điều đó
khiến họ phải do dự, cân nhắc khi muốn chia sẻ bất kỳ điều gì.
10
Privacy and Human Rights An International Survey of Privacy Laws and Practice
(truy cập ngày 25/4/2016)
11
Tài liệu đã dẫn
10
Sự riêng tƣ về thông tin liên lạc bao gồm sự bảo mật và riêng tƣ về thƣ từ,
bƣu phẩm, điện thoại, thƣ điện tử và các hình thức truyền thơng khác. Theo đó, thƣ
tín, điện thoại, điện tín của cơng dân đƣợc đảm bảo an tồn và bí mật tuyệt đối;
không ai đƣợc chiếm đoạt thƣ từ, điện thoại, thƣ điện tử, fax và các hình thức truyền
thơng khác hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an tồn thƣ tín,
điện thoại, điện tín của ngƣời khác. Các cơ quan nhà nƣớc, ngƣời thi hành cơng vụ
khơng đƣợc tự ý khám xét, bóc, mở thƣ tín, điện tín, bƣu phẩm. Khơng ai đƣợc
phép nghe trộm điện thoại của cơng dân. Tất cả thƣ tín, điện tín, điện thoại, bƣu
phẩm đƣợc thu thập một cách bất hợp pháp thì khơng đƣợc dùng làm tài liệu, chứng
cứ buộc tội cơng dân. Cơng dân có quyền cự tuyệt khơng ký vào biên bản, thƣ tín,
điện tín, điện thoại mà cơ quan nhà nƣớc, ngƣời thi hành công vụ đã thu thập một
cách bất hợp pháp hoặc không theo đúng qui định của pháp luật.
Thƣ tƣ, sự riêng tƣ về không gian12
Sự riêng tƣ về không gian liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với
sự xâm nhập vào môi trƣờng sống của công dân, nơi làm việc hoặc không gian công
cộng. Điều này bao gồm các hoạt động tìm kiếm thơng tin, theo dõi bằng video và
kiểm tra giấy tờ tùy thân. Nhƣ vậy, không gian riêng tƣ ở đây khơng chỉ nói riêng
về nơi ở của cơng dân mà cịn bao gồm nơi làm việc và khơng gian cơng cộng mà
cơng dân đó hiện diện. Sự riêng tƣ về không gian đƣợc hiểu là quyền của một ngƣời
dân nhằm xác định khi nào và nhƣ thế nào cá nhân, tổ chức khác đƣợc phép xâm
phạm vào khơng gian cá nhân của mình. Khơng gian của công dân đƣợc xem là một
không gian riêng của công dân đó đƣợc giới hạn bởi đƣờng ranh giới cụ thể. Cách
truyền thống để phân định ranh giới không gian cá nhân là xây dựng một ranh giới
vật lý, nhƣ những bức tƣờng hay cửa ra vào của một căn phịng hoặc một ngơi nhà
thì khơng cịn phù hợp trong xã hội ngày nay. Hiện nay, không gian cá nhân đƣợc
mở rộng vƣợt ra ngoài ranh giới vật lý trên. Điều này có nghĩa là ngồi chủ thể trực
tiếp hiện diện tại khơng gian của một ngƣời thì một chủ thể từ xa, có quyền truy cập
ảo vào khơng gian cá nhân nhƣ việc giám sát, theo dõi nhà ở của một cá nhân thông
12
Privacy and Human Rights An International Survey of Privacy Laws and Practice
(truy cập ngày 25/4/2016)
11
qua hệ thống camera cũng đƣợc xem là hành vi xâm phạm sự riêng tƣ về không
gian.
Đối với sự riêng tƣ về chỗ ở của công dân, đây là vấn đề đƣợc nhắc đến và
đƣợc pháp luật bảo vệ từ rất lâu. Theo đó, khơng ai có quyền xâm phạm bất hợp
pháp vào nhà ở của ngƣời dân, trừ khi đƣợc sự cho phép của ngƣời dân đó hoặc Nhà
nƣớc cần thực hiện những biện pháp chế tài theo quy định của luật. Nhà nƣớc đảm
bảo cho mọi ngƣời dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở thơng qua một hệ
thống pháp luật chặt chẽ. Không một ngƣời nào, bao gồm cả cảnh sát, an ninh, các
quan chức chính quyền đƣợc phép vào nhà cơng dân nếu khơng đƣợc chủ nhà đồng
ý. Họ chỉ đƣợc phép vào nhà ngƣời dân khi đƣợc chủ nhà cho phép hoặc họ phải
tuân theo qui định của pháp luật.
Tƣơng tự với sự riêng tƣ về chỗ ở, công dân cũng cần đƣợc đảm bảo sự riêng
tƣ ở nơi làm việc và không gian cơng cộng. Theo đó, khơng một chủ thể nào đƣợc
xâm nhập trái phép vào nơi làm việc, không gian cơng cộng của một cơng dân để
khám xét, tìm kiếm, kiểm tra hay thu thập thông tin cá nhân mà khơng có sự cho
phép của ngƣời đó.
Ngồi những nội dung trên, quyền riêng tƣ của công dân theo tác giả có thể
bao gồm nội dung sự riêng tƣ về quyền tự chủ của công dân - quyền tự do cá nhân
trong vấn đề lựa chọn có hay khơng việc thực hiện một số hành vi nhất định. Nói
cách khác, quyền tự chủ của công dân là khả năng một công dân đƣợc lựa chọn
những phần nào trong khía cạnh đời tƣ của họ có thể đƣợc truy cập bởi những ngƣời
khác và cho phép cơng dân này kiểm sốt mức độ, cách thức, thời gian của việc sử
dụng những khía cạnh đời tƣ đã đƣợc chính họ chọn lựa để tiết lộ hay cơng bố.
Ngồi ra, quyền tự chủ cịn là khả năng lựa chọn của công dân trong bất kỳ hoàn
cảnh nào và ở mức độ nào họ sẽ bộc lộ bản thân, thể hiện thái độ và hành vi của họ
cho ngƣời khác biết.
Tuy nhiên, không phải mọi trƣờng hợp quyền riêng tƣ của công dân đều
đƣợc pháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối. Bởi lẽ quyền riêng tƣ ln có một sự hạn
chế để “phù hợp với pháp luật” và “cần thiết trong một xã hội dân chủ”. Điều này
có nghĩa là quyền riêng tƣ của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ khi bản thân nó phù
hợp với pháp luật, nghĩa là nếu một cơng dân có hành vi vi phạm pháp luật thì
12
quyền riêng tƣ của họ có thể khơng đƣợc đảm bảo khi chúng phục vụ cho nhiệm vụ
điều tra, xử lý tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền. Quyền riêng tƣ của công
dân bị hạn chế trong trƣờng hợp “cần thiết trong một xã hội dân chủ”, nghĩa là trong
một số trƣờng hợp quyền riêng tƣ – đại diện cho lợi ích cá nhân - sẽ nhƣờng chỗ
cho lợi ích cộng đồng hay nói cách khác lợi ích cộng đồng sẽ đƣợc đặt lên trên lợi
ích cá nhân.
Một điểm cần lƣu ý, “quyền riêng tƣ của công dân” khơng đồng nhất với
“quyền bí mật đời tƣ của cơng dân”. Quyền riêng tư và quyền bí mật đời tư đều liên
quan đến cá nhân nhưng không phải vấn đề nào thuộc về riêng tư cũng được xem là
bí mật mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này13.
Hiện nay có hai quan điểm về quyền bí mật đời tƣ của cơng dân. Quan điểm
thứ nhất cho rằng bí mật đời tƣ của công dân đƣợc hiểu là những gì gắn với nhân
thân con ngƣời, bao gồm những thơng tin, tài liệu, hình ảnh về cá nhân, việc làm,
tình yêu, gia đình và các mối quan hệ xã hội khác… gắn liền với một công dân mà
ngƣời này giữ kín, khơng muốn tiết lộ cho ngƣời khác biết. Những bí mật đời tƣ này
chỉ có bản thân ngƣời đó biết hoặc những ngƣời thân thích, ngƣời có mối liên hệ với
ngƣời đó biết và họ chƣa từng cơng bố ra ngồi cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư” có thể
hiểu là “chuyện trong nhà” của một cơng dân nào đó. Ví dụ: con ngồi giá thú, di
chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, các loại thƣ tín, điện thoại…. Do đó,
bất cứ ai thu thập, cơng bố thông tin, tƣ liệu về đời tƣ cá nhân của công dân khác,
không phân biệt những thông tin, tƣ liệu trên đang đƣợc cơng dân đó giữ bí mật hay
đã đƣợc tiết lộ mà không đƣợc sự đồng ý của cơng dân đó đều đƣợc xem là xâm
phạm bí mật đời tƣ của công dân. Quan điểm thứ hai cho rằng bí mật đời tƣ là
những thơng tin, tƣ liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã
hội hoặc những thông tin khác mà liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng nhƣ
hiện tại, đƣợc pháp luật bảo vệ và những thông tin đó đƣợc bảo mật bằng những
biện pháp mà pháp luật thừa nhận.
13
Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư, NXB Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, tr. 115
13
Mặc dù Điều 38 Bộ Luật Dân sự 200514 không đƣa ra khái niệm bí mật đời
tƣ, nhƣng có thể hiểu bí mật đời tƣ là những thơng tin, tƣ liệu liên quan đến cá nhân
mà cá nhân đó khơng muốn cho ngƣời khác biết. Trong khi pháp luật hiện nay chƣa
có quy định rõ ràng về khái niệm và phạm vi “bí mật đời tư” thì khi xem xét dƣới
góc độ nghĩa của từ ngữ theo từ điển Tiếng Việt, bí mật đời tƣ của cá nhân đƣợc
hiểu là những gì thuộc về đời sống riêng tƣ của cá nhân (thơng tin, tƣ liệu…) đƣợc
giữ kín, khơng cơng khai, không tiết lộ. Điều này đồng nghĩa với việc nếu các thông
tin, tƣ liệu cá nhân đã đƣợc công dân đó cơng khai, tiết lộ thì những thơng tin đó
khơng cịn đƣợc xem là bí mật đời tƣ nữa. Do đó, cần hiểu bí mật đời tƣ của cá nhân
là những thông tin, tƣ liệu mà chỉ mỗi cá nhân đó biết và quyết giữ bí mật15.
Quyền bí mật đời tƣ gồm các đặc điểm sau16: (1) Là quyền đƣợc phép giữ
kín những thơng tin, tƣ liệu, sự kiện, hồn cảnh liên quan đến đời tƣ của mình và
khơng có nghĩa vụ phải công khai. (2) Quyền bất khả xâm phạm về thƣ tín, điện
thoại, điện tín và các thơng tin điện tử khác. (3) Cá nhân và các chủ thể khác không
đƣợc tiếp cận và công bố các thông tin về đời tƣ cũng nhƣ khơng đƣợc kiểm sốt
thƣ tín, điện thoại, điện tín, các thơng tin điện tử khác của cá nhân khi chƣa có sự
đồng ý của “chủ sở hữu” hoặc sự cho phép của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền.
Nhƣ vậy, qua sự phân tích trên, nội dung khái niệm quyền bí mật đời tƣ hẹp
hơn khái niệm quyền riêng tƣ.
14
Điều 38 Bộ luật Dân sự 2005:
1. Quyền bí mật đời tƣ của cá nhân đƣợc tôn trọng và đƣợc pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tƣ liệu về đời tƣ của cá nhân phải đƣợc ngƣời đó đồng ý;
trong trƣờng hợp ngƣời đó chết, mất năng lực hành vi dân sự, chƣa đủ mƣời lăm tuổi thì phải
đƣợc sự đồng ý của cha me, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc ngƣời đại diện của cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền.
3. Thƣ tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân đƣợc đảm bảo an
tồn và bí mật.
Việc kiểm sốt thƣ tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thơng tin điện tử khác của cá nhân
đƣợc thực hiện trong trƣờng hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền.
15
Lê Văn Sua (2016), “Quyền bí mật đời tƣ theo quy định của pháp luật dân sự: Cần đƣợc hƣớng
dẫn” Link nguồn />(truy cập ngày 26/6/2016)
16
Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư, NXB Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, tr. 116
14
1.2.
Cơ sở lý luận về quyền riêng tư của công dân trong lĩnh vực báo chí
1.2.1. Khái niệm, loại hình và đặc điểm của báo chí hiện nay
1.2.1.1.
Khái niệm và các loại hình báo chí
Hiện nay, xu thế tồn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ, hoạt động
thơng tin nói chung và báo chí nói riêng ngày càng đóng vai trị quan trọng trong
đời sống xã hội. Báo chí đã có những chuyển biến tích cực, đi vào chiều sâu cả về
lƣợng lẫn chất. Trong những năm qua, thơng tin trên báo chí đã có sự đóng góp
đáng kể cho sự phát triển của đất nƣớc về mọi mặt, góp phần thực hiện mục tiêu dân
giàu, nƣớc mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh. Báo chí đã thực sự trở thành
một trong những kênh tuyên truyền chính sách, chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nƣớc; phản ánh đƣợc tâm tƣ, nguyện vọng của ngƣời dân, phản
ánh kịp thời những vấn đề “nóng” gây xôn xao dƣ luận, gây bức xúc trong nhân
dân. Đồng thời báo chí cịn đƣợc xem là một trong những cơng cụ đắc lực phục vụ
cho việc phịng chống tham nhũng, đấu tranh phịng chống tội phạm. Báo chí là một
mặt của đời sống xã hội. Từ khi ra đời đến nay, báo chí đã tồn tại song hành cùng
quá trình phát triển của lồi ngƣời. Do vậy, việc nhận thức vai trị của báo chí là
một vấn đề thiết yếu trong mọi thời đại, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều hòa các
mối quan hệ xã hội theo định hƣớng của chung của Đảng và Nhà nƣớc.
Về khái niệm báo chí, Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngơn ngữ học định nghĩa
báo chí truyền thơng hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tƣợng nhất là quá trình
truyền dữ liệu của các đơn vị chức năng17. Trong khi đó, khái niệm báo chí đã đƣợc
nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra dƣới nhiều góc độ khác nhau. Có quan điểm cho rằng
“báo chí truyền thơng là một q trình truyền đạt, tiếp nhận, trao đổi thông tin
nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người và con người”18. Quan điểm khác lại
cho rằng: “báo chí là tập hợp tất cả các tổ chức thơng tin thuộc những loại hình
khác nhau (xuất bản, radio, vơ tuyến truyền hình…) và ở các cấp độ khác nhau từ
17
18
Hoàng Phê chủ biên (2000), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, tr. 1053
Trần Hữu Quang (2006), Xã hội học truyền thông đại chúng, NXB Trẻ, tr. 3
15
trung ương đến địa phương với ý nghĩa là tất cả các phương tiện thơng tin đại
chúng”19.
Nhìn chung các tác giả đều tiếp cận khái niệm báo chí với đặc điểm là một
phƣơng tiện truyền đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội.
Tuy nhiên, trong một phạm vi nhất định, khái niệm này tƣơng đối rộng khiến ngƣời
đọc khó nhận biết đƣợc các loại hình báo chí trong xã hội. Do đó, Luật Báo chí
1989 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 1999 trong phần định nghĩa khái niệm báo chí
khơng tập trung vào nội hàm báo chí mà sử dụng phƣơng pháp liệt kê giúp ngƣời
đọc dễ dàng xác định các loại hình báo chí hiện nay. Điều 3 Luật Báo chí 1989
đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định: “Báo chí nói trong Luật này là báo chí
Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thơng tấn), báo nói
(chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử
(được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc
thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài". Với cách quy định liệt kê trên sẽ giúp ngƣời
dân biết đƣợc những loại hình nào đƣợc Nhà nƣớc cơng nhận là báo chí, những loại
hình nào khơng đƣợc Nhà nƣớc cơng nhận là báo chí. Điều này góp phần giúp cơng
tác quản lý của Nhà nƣớc trong hoạt động báo chí dễ dàng, hiệu quả hơn.
Theo quy định tại Điều 3 Luật Báo chí 1989 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 1999
thì báo chí gồm những loại hình sau:
-
Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng
phƣơng tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in. Báo in là loại hình
báo chí xuất hiện sớm nhất trong lịch sử. Nhờ vận dụng các thành tựu khoa học, báo
in đã có những bƣớc tiến trong kỹ thuật cũng nhƣ quy trình làm báo.
-
Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, đƣợc truyền dẫn,
phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng cơng nghệ khác nhau, ví dụ nhƣ
chƣơng trình phát thanh, truyền thanh.
-
Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói,
âm thanh, chữ viết, đƣợc truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng
Dƣơng Xuân Sơn (1945), Cơ sở lý luận báo chí truyền thơng, NXB Văn hóa thơng tin Hà Nội, tr.
47.
19
16
cơng nghệ khác nhau, ví dụ nhƣ các chƣơng trình truyền hình, chƣơng trình nghe –
nhìn thời sự.
-
Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đƣợc
truyền dẫn trên môi trƣờng mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. Tuy báo điện
tử là loại hình báo chí xuất hiện muộn nhất nhƣng từ khi ra đời đến nay đã chiếm
đƣợc vị trí nhất định, thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của độc giả. Hơn thế nữa,
trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay, báo điện tử
đang ngày càng khẳng định vị trí so với những loại hình báo truyền thống với
những ƣu điểm đƣợc phân tích ở mục 1.2.1.2.
1.2.1.2.
Đặc điểm của báo chí
Mặc dù các khái niệm báo chí chƣa hồn chỉnh nhƣng dựa trên hoạt động
báo chí, nhìn chung báo chí có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, báo chí mang tính lịch sử.
Báo chí tồn tại và phát triển song hành cùng xã hội, chịu sự ảnh hƣởng, tác
động bởi nhu cầu, suy nghĩ của con ngƣời nên báo chí ln thay đổi nhằm đáp ứng
tốt hơn yêu cầu thực tại. Do đó, qua mỗi thời kỳ, báo chí lại biểu hiện dƣới những
hình thức khác nhau cùng với nội dung truyền tải khác nhau. Cụ thể, khi mới hình
thành báo chí chỉ là những trang giấy chép tay rất sơ khai với nội dung tường thuật
các lễ hội, chiến trận phục vụ nhu cầu của một bộ phận nhất định trong xã hội20.
Ngày nay, khi các quốc gia trên thế giới đều có xu hƣớng hội nhập, tồn cầu hóa
nhiều mặt trong đời sống xã hội, báo chí lại có những bƣớc đi riêng để thích nghi,
đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Báo chí khơng chỉ đơn thuần tƣờng thuật các
lễ hội hay chiến trận mà báo chí cung cấp thông tin về tất cả các lĩnh vực kinh tế chính trị, văn hóa - xã hội. Đặc biệt, những thơng tin văn hóa giải trí, thơng tin về
những ngƣời nổi tiếng luôn thu hút sự quan tâm của ngƣời xem. Báo chí cũng phát
triển với nhiều loại hình mới nhƣ báo nói, báo hình và báo điện tử.
Hiện nay, báo điện tử đang ngày càng phổ biến, thu hút sự quan tâm của
nhiều bạn đọc với những đặc tính riêng vƣợt trội hơn những loại hình báo chí khác
“Quản lý Nhà nƣớc đối với báo chí”. Link nguồn (truy cập ngày 22/4/2016)
20
17
nhƣ: tiện lợi, có thể truy cập ở bất kỳ đâu khi có internet; cập nhật thơng tin nhanh
chóng, kịp thời bất kể ngày đêm vì tốc độ truyền tin nhanh của internet và hình thức
đăng tải bài dễ dàng hơn báo in, báo truyền hình, báo phát thanh (các loại hình này
khi thực hiện gồm nhiều khâu và bị kiểm duyệt chặt chẽ, gắt gao); hấp dẫn bởi sự
tác động vào nhiều giác quan giúp ngƣời đọc có thể vừa đọc, vừa nghe, vừa xem
clip kèm theo bài báo; có khả năng lƣu trữ thơng tin: thơng tin dù cũ hay mới đều
đƣợc lƣu giữ lại trên báo điện tử. Khi ngƣời đọc muốn tra cứu, tìm hiểu về sự kiện,
tin tức đã xảy ra rất lâu đều hoàn tồn có thể thực hiện đƣợc bằng các thao tác rất
đơn giản; có tính tƣơng tác cao: báo điện tử khơng chỉ đƣa ra cá bài viết của nhà
báo, phóng viên mà ngay lập tức có thể nhận đƣợc phản hồi của bạn đọc thơng qua
những dịng “comment” bên dƣới. Điều này khiến báo mạng trở thành một diễn đàn
công khai để các phóng viên và bạn đọc có thể chia sẻ, trao đổi thông tin với nhau
về các vấn đề xã hội một cách thẳng thắn.
Thứ hai, báo chí mang tính quần chúng.
Tính quần chúng ln đóng vai trị quan trọng, là yếu tố chủ chốt trong suốt
quá trình tồn tại và phát triển của báo chí. Báo chí sinh ra nhằm mục đích đáp ứng
nhu cầu chia sẻ và truyền thơng tin của con ngƣời. Báo chí cần đến quần chúng làm
cơ sở tồn tại cho mình. Bởi lẽ báo chí mà khơng có quần chúng thì sự tồn tại của
báo chí khơng có ý nghĩa. Ngƣợc lại, con ngƣời cũng cần đến báo chí nhƣ một món
ăn tinh thần đáp ứng nhu cầu thông tin và chia sẻ thông tin về các sự kiện, sự việc
về mọi mặt của đời sống – chính trị, văn hóa, thể thao, du lịch, kinh tế…, đã và
đang diễn ra khắp nơi trên thế giới. Trong thời đại “bùng nổ” cách mạng thơng tin
nhƣ hiện nay, tính quần chúng của báo chí thể hiện ngày càng rõ. Các thơng tin mà
báo chí cung cấp ngày càng có sức lan tỏa rộng, tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến
các mối quan hệ trong xã hội và thực tiễn điều hành, quản lý của Nhà nƣớc.
Thứ ba, báo chí mang tính kinh tế.
Báo chí tuy ra đời nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu truyền tin và chia sẻ
thông tin giữa mọi ngƣời với nhau nhƣng với nhiều tờ báo hiện nay các mục tiêu
thƣơng mại lại đƣợc quan tâm hàng đầu.
18
Nguồn lợi mà các tập đồn báo chí mang lại cho giới chủ thông qua hai dạng
thức chủ yếu là trực tiếp và gián tiếp. Trong đó, nguồn lợi trực tiếp thu đƣợc qua
việc bán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ báo chí truyền thơng và đặc biệt là hoạt
động quảng cáo. Khi lƣợng ngƣời đọc, ngƣời xem càng cao thì chi phí quảng cáo
trên phƣơng tiện báo chí đó càng lớn, lợi nhuận cơ quan báo chí đó thu đƣợc càng
nhiều. Đây là một trong những lý do khiến cơ quan báo chí tìm mọi cách nhằm thu
hút số lƣợng lớn độc giả. Nguồn lợi gián tiếp là việc tạo ra những ảnh hƣởng chính
trị, làm thay đổi các chính sách của Nhà nƣớc, hình thành những điều kiện đầu tƣ
thuận lợi. Đây là nguồn lợi to lớn mà giới chủ các tập đồn báo chí hƣớng tới, là lý
do quan trọng nhất dẫn tới sự liên kết giữa báo chí truyền thơng với cơng nghiệp, tài
chính, dịch vụ để hình thành những tập đồn độc quyền khổng lồ. Điều này cũng
giải thích tại sao các tập đồn cơng nghiệp, tài chính khổng lồ ở Mỹ và các nƣớc
phƣơng Tây ln đóng vai trị to lớn và tích cực trong các cuộc bầu cử21.
1.2.2. Khái niệm, nội dung quyền riêng tư của công dân trong lĩnh vực báo chí
1.2.2.1.
Khái niệm quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí
Báo chí với tƣ cách là một phƣơng tiện truyền thơng đại chúng có khả năng
cơng khai hóa, xã hội hóa thơng tin22. Nhà báo có trách nhiệm thu thập, điều tra và
cơng bố sự thật vì quyền lợi của cơng chúng mặc dù sự thật đó đơi khi liên quan đến
thông tin cá nhân riêng tƣ của một hoặc một số cá nhân nào đó. Tuy nhiên, nói nhƣ
thế khơng có nghĩa là nhà báo đƣợc quyền công khai mọi thông tin cá nhân của
ngƣời khác. Một nhà báo với tƣ cách là một công dân, do đó trách nhiệm và nghĩa
vụ tuân thủ pháp luật là điều tiên quyết, thêm vào đó yếu tố đạo đức nghề nghiệp
buộc nhà báo phải cân nhắc kỹ lƣỡng trƣớc khi quyết định công bố một thông tin cá
nhân của ngƣời khác nhằm phục vụ cho bài báo của mình. Ngày nay, khi xã hội
ngày càng phát triển, lƣợng nhu cầu thông tin của con ngƣời ngày càng tăng, ranh
giới mỏng manh giữa quyền riêng tƣ của công dân và quyền tự do báo chí, tự do
ngơn luận của cơng dân càng dễ bị xâm phạm. Trong khi đó, hiện nay pháp luật vẫn
Phạm Thu Phong (2013), “Tập đoàn báo chí thế giới: xu hƣớng khó cƣỡng…”, link nguồn:
(truy cập ngày 25/4/2016).
21
22
(truy cập ngày 15/5/2016)
19
chƣa có một quy định cụ thể về khái niệm cũng nhƣ nội dung quyền riêng tƣ của
công dân trong lĩnh vực báo chí.
Tuy nhiên, trên cơ sở quy định pháp luật về báo chí và khái niệm quyền riêng
tƣ đƣợc đề cập ở mục 1.1.1, tác giả đƣa ra khái niệm về quyền riêng tƣ của công
dân trong lĩnh vực báo chí nhƣ sau:
Quyền riêng tư của cơng dân trong lĩnh vực báo chí là quyền của mỗi cơng
dân được phép giữ kín những thơng tin gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình,
quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật đời tư của mình, về thơng tin
liên lạc mà khơng một nhà báo, phóng viên nào có quyền tiếp cận, cơng khai trên
các loại hình báo chí nếu khơng được cơng dân đó đồng ý hoặc được sự cho phép
bằng quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quyền này cũng cho phép
công dân lựa chọn những phần nào trong các khía cạnh trên của đời tư có thể được
báo chí khai thác, sử dụng và cho phép công dân kiểm soát mức độ, cách thức và
thời gian của việc thu thập, sử dụng những khía cạnh mà cơng dân đó đã chọn để
tiết lộ hay công bố.
1.2.2.2.
Nội dung quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí
Hiện nay, Việt Nam chƣa có một quy định pháp luật về nội dung quyền riêng
tƣ của công dân trong lĩnh vực báo chí. Tuy nhiên, dựa trên khái niệm quyền riêng
tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí và nội dung quyền riêng tƣ của công dân
trong báo cáo “Quyền riêng tƣ và nhân quyền” của Tổ chức và Trung tâm bảo mật
Thông tin điện tử với nội dung công bố sự phát triển của pháp luật về bảo vệ sự
riêng tƣ ở 50 quốc gia đã đề cập ở mục 1.1.2 thì quyền riêng tƣ của cơng dân trong
lĩnh vực báo chí có liên quan đến những vấn đề sau:
Thứ nhất, sự riêng tƣ về thông tin cá nhân của cơng dân trong lĩnh vực báo
chí
Nội dung này bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập,
xử lý và sử dụng các dữ liệu cá nhân nhƣ thơng tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ
của chính quyền lƣu trữ về cơng dân đó, bao gồm cả những thơng tin liên quan đến
hình ảnh của cơng dân đó. Sự riêng tƣ về thông tin cá nhân của công dân trong lĩnh
20
vực báo chí liên quan đến một số hạn chế về sự thu thập, truy cập và khai thác thông
tin bởi các nhà báo.
Theo đó, trong q trình tìm kiếm thông tin, nhà báo không đƣợc xâm phạm
vào quyền riêng tƣ của cơng dân. Các cơ quan báo chí nên xem xét cẩn trọng khi
công khai những thông tin đƣợc thu thập bằng các phƣơng tiện không công bằng
hay trái pháp luật, trừ những trƣờng hợp đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết. Đối
với việc sử dụng thông tin và tiết lộ thông tin, thông tin cá nhân đƣợc thu thập bởi
nhà báo, phóng viên ảnh phải đƣợc sử dụng đúng mục đích ban đầu. Các cơ quan
báo chí phải đảm bảo rằng những thơng tin cá nhân mà họ thu thập đƣợc là chính
xác, đầy đủ và kịp thời. Đồng thời cơ quan báo chí cần đảm bảo rằng những thơng
tin mà họ có đều đƣợc bảo vệ khỏi sự lạm dụng, mất mát hay truy cập trái phép. Khi
một cá nhân trở thành tâm điểm của các bài báo tin tức hay bài bình luận thì việc
công khai thông tin liên quan đến họ cần đảm bảo tính cơng bằng và sự cân đối
ngay trong bài viết gốc. Nếu khơng thực hiện đƣợc điều đó thì tổ chức truyền thơng
cần tìm một cơ hội hợp lý và nhanh chóng đăng tải thơng tin đính chính ở một mục
nào đó trong bài báo đăng tiếp theo. Đồng thời, các tổ chức truyền thông nên thực
hiện các biện pháp nhằm khắc phục hậu quả khi công khai thông tin khơng chính
xác, thơng tin gây nhầm lẫn. Tổ chức truyền thơng cũng cần sửa đổi những bài viết
có chứa đựng nguồn thông tin sai lệch ấy nhằm hạn chế việc lặp lại vi phạm. Đặc
biệt đối với những thông tin nhạy cảm nhƣ tôn giáo, hôn nhân hay những vấn đề về
sức khỏe nhƣ bệnh tật, khuyết tật thì cơng dân có quyền khơng để ngƣời khác khai
thác thơng tin. Chẳng hạn một nạn nhân trong một vụ án có quyền từ chối hoặc
chấm dứt một cuộc phỏng vấn, một buổi chụp ảnh bất cứ lúc nào23.
Thứ hai, sự riêng tƣ về thông tin liên lạc của công dân trong lĩnh vực báo chí
Sự riêng tƣ về thơng tin liên lạc của cơng dân trong lĩnh vực báo chí bao gồm
sự bảo mật và riêng tƣ về thƣ từ, bƣu phẩm, điện thoại, thƣ điện tử và các hình thức
truyền thơng khác. Theo đó, thƣ tín, điện thoại, điện tín của cơng dân đƣợc đảm bảo
an tồn và bí mật tuyệt đối; nhà báo không đƣợc chiếm đoạt thƣ từ, điện thoại, thƣ
điện tử, fax và các hình thức truyền thơng khác hoặc có hành vi trái pháp luật xâm
23
(truy cập ngày 25/4/2016)
21
phạm bí mật hoặc an tồn thƣ tín, điện thoại, điện tín của cơng dân nhằm phục vụ
cho bài báo của mình. Đặc biệt, với sự xuất hiện của các trang mạng xã hội nhƣ
facebook, zalo, instagram thì việc nhiều ngƣời đăng tải hình ảnh, thơng tin cá nhân
của mình trên mạng xã hội trở nên rất phổ biến trong xã hội hiện nay. Sự riêng tƣ về
thông tin liên lạc của cơng dân trong lĩnh vực báo chí khơng cho phép các nhà báo
chụp hình hay sử dụng những câu “status”, những lời bình luận trên các trang mạng
xã hội đó để đăng bài hay phát sóng trên các phƣơng tiện báo chí nếu khơng đƣợc
sự đồng ý của cơng dân đó.
Thứ ba, sự riêng tƣ về khơng gian của cơng dân trong lĩnh vực báo chí
Sự riêng tƣ về không gian của công dân trong lĩnh vực báo chí liên quan đến
việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập của báo chí vào mơi trƣờng sống
của công dân, nơi làm việc và không gian công cộng. Điều này bao gồm các hoạt
động tìm kiếm thơng tin và theo dõi bằng video của các nhà báo, phóng viên.
Đối với sự riêng tƣ về chỗ ở, khơng một nhà báo, phóng viên nào có quyền
xâm phạm bất hợp pháp vào nhà ở của cơng dân nhằm tìm kiếm, thu thập thông tin;
trừ khi đƣợc sự cho phép của cơng dân đó hoặc có văn bản của cơ quan Nhà nƣớc
có thẩm quyền. Nói cách khác, các nhà báo chỉ đƣợc phép vào nhà ngƣời dân để
điều tra, thu thập thông tin chỉ khi đƣợc chủ nhà cho phép hoặc họ phải tuân theo
qui định của pháp luật.
Tƣơng tự, công dân cũng cần đƣợc đảm bảo sự riêng tƣ ở nơi làm việc và
không gian công cộng trong lĩnh vực báo chí. Theo đó, khơng một nhà báo nào
đƣợc xâm nhập trái phép vào nơi làm việc, không gian cơng cộng của một cơng dân
để tìm kiếm, thu thập thông tin cá nhân hay chụp ảnh mà không có sự cho phép của
cơng dân đó.
Bên cạnh đó, quyền riêng tƣ của cơng dân trong lĩnh vực báo chí cũng bao
gồm quyền đƣợc lựa chọn những phần nào trong khía cạnh đời tƣ của họ có thể
đƣợc nhà báo truy cập, thu thập, đồng thời cơng dân này có quyền kiểm soát mức
độ, cách thức, thời gian của việc sử dụng những khía cạnh đời tƣ đã đƣợc chính họ
để tiết lộ hay cơng bố cho báo chí.
22