UBND TỈNH NAM ĐỊNH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
Tác giả: ....................
Trình độ chun mơn: Thạc sĩ
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT ................-Sở GD&ĐT Nam Định
Nam Định, Tháng 4 năm 2017
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “ TẬP KÍCH NÃO” TRONG DẠY HỌC
MƠN CƠNG NGHỆ 11 ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠOCHO
HỌC SINH.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng trong lĩnh vực dạy học để bồi dưỡng cho người
học năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ các năm học: 2014- 2015; 2015- 2016; 2016- 2017
4. Tác giả:
Họ và tên: ....................
Năm sinh: 12/07/1987
Nơi thường trú: Trực Đại- Trực Ninh- Nam định
Trình độ chun mơn: Thạc sĩ
Chức vụ cơng tác: Giáo viên Công nghệ
Nơi làm việc: THPT ................
Địa chỉ liên hệ: ....................- THPT ................- tp Nam Định
Điện thoại:
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị:Trường THPT ................
Địa chỉ:
2
MỤC LỤC
Nội dung
Thông tin chung về sáng kiến
Trang
1
…………………………………….…..
Danh mục chữ viết tắt
3
……………………………………………
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
4
………………………………
II. Mô tả giải pháp
6
……………………………………………………
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
6
…………………….
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
7
………………………
III. Hiệu quả do sáng kiến mang lại
19
………………………………….
IV. Đề xuất, kiến nghị
23
V.Cam kết
23
……………………………………………………………
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3
GV
HS
TDST
PPCG1
THPT
Giáo viên
Học sinh
Tư duy sáng tạo
Phương pháp chiếu góc 1
Trung học phổ thơng
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. Điều kiện hồn cảnh tạo ra sáng kiến:
4
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra ngày càng sâu rộng và
mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, mở ra một
thời kỳ phát triển mới của nhân loại. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học cơng
nghệ địi hỏi người lao động khơng chỉ cần có kiến thức và kỹ năng về chun
mơn mà cịn cần phải có năng lực sáng tạo, tư duy sáng tạo. Đặc biệt, sự chuyển
hóa từ nền kinh tế cơng nghiệp sang nền kinh tế tri thức càng địi hỏi nguồn
nhân lực có tri thức và trình độ tay nghề cao. Vì vậy nhà trường phải trang bị
cho người học kỹ năng không ngừng tự mình bổ sung và đổi mới tri thức, phát
triển kỹ năng tích cực học tập, biết tự mình thu thập tri thức và vận dụng tri thức
một cách sáng tạo, có bản lĩnh để thích nghi với những biến đổi của xã hội. Thực
tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách là phải đổi mới giáo dục, nhà trường phải đổi
mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
Môn Công nghệ là mơn học trong chương trình giáo dục phổ thơng có
nhiệm vụ cung cấp những kiến thức ban đầu và rèn luyện các kĩ năng lao động
kỹ thuật tối thiểu trong cuộc sống tự lập, làm cơ sở cho việc định hướng và lựa
chọn nghề nghiệp về sau cho học sinh. Nội dung của môn Công nghệ bao gồm
các lĩnh vực lao động thường gặp như lao động thủ công, lao động kĩ thuật đơn
giản, lao động dịch vụ sinh hoạt, lao động nơng nghiệp, lao động gia đình v.v...
Trong quá trình học tập học sinh được giới thiệu làm quen với thực tiễn về các
quan hệ giữa người với người, giữa người với các công cụ lao động, với các đối
tượng lao động, với công nghệ sản xuất – dịch vụ, với mơi trường thiên nhiên,....
qua đó hình thành thói quen và kĩ năng lao động tự phục vụ, tiến tới tự lập
nghiệp khi trưởng thành.
Một trong những đặc điểm đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ là
“tính đa chức năng và đa phương án”. Đặc điểm này vừa là yêu cầu vừa là điều
kiện để trong dạy học có thể phát triển tư duy sáng tạocho học sinh. Trong dạy
học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thơng, ngồi việc đáp ứng mục tiêu
mơn học giáo viên cần xác định các biện pháp phát triển tư duy sáng tạovà khơi
dậy niềm ham mê sáng tạo cho học sinh giúp các em có thể vận dụng kiến thức
một cách sáng tạo vào cuộc sống lao động. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng tư duy
5
sáng tạocho học sinh trong dạy học môn Công nghệ ở các trường trung học phổ
thông hiện nay vẫn chưa được chú trọng và quan tâm nghiên cứu để có được
những biện pháp hữu hiệu cụ thể.
Có khá nhiều biện pháp để phát triển tư duy nói chung và tư duy sáng tạo
nói riêng cho học sinh trong q trình dạy học. Ở đây, tôi chỉ tập trung vào một
biện pháp là vận dụng phương pháp “Tập kích não” để hướng dẫn học sinh cách
phát hiện ra vấn đề. Tất nhiên, vấn đề do học sinh phát hiện ra không phải là mới
mà chỉ là mới đối với chính học sinh mà thơi.
Theo quan điểm của tâm lí học sáng tạo, phát hiện ra vấn đề đơi khi cịn
quan trọng hơn là giải quyết vấn đề nếu xét dưới góc độ sáng tạo. Einstein đã
viết về tầm quan trọng của việc thiết lập (hoặc nêu hoặc đề xuất) vấn đề trong
khoa học như sau: “Việc thiết lập vấn đề thường quan yếu hơn việc giải quyết
vấn đề đó vì giải quyết chỉ là cơng việc của kỹ năng tốn học hay kinh nghiệm.
Nêu lên được vấn đề mới, những khả năng mới, nhìn nhận những vấn đề cũ dưới
một góc độ mới địi hỏi phải có trí tưởng tượng và nó đánh dấu bước tiến bộ
thực sự của khoa học”.
Quan điểm trên được chứng minh và cụ thể hóa trong giáo dục khoa học là
“việc giáo dục khoa học phải chuyển từ chỗ nhớ những nội dung khoa học sang
những quá trình khoa học”. Quá trình quan sát, ghi nhận quan sát, phân tích tổng
hợp, khái qt hóa, hình thành giả thuyết, điều tra, nghiên cứu có phê phán và sử
dụng thông tin, thu nhận những kiến thức mới và áp dụng kiến thức phải dùng
để phát triển trí tuệ.
Điều thiết yếu trong phương pháp giáo dục về khoa học và công nghệ là
phải giúp rèn luyện và nâng cao khả năng xác minh và xác định được vấn đề và
sử dụng hữu hiệu kiến thức và khả năng giải quyết vấn đề.
Chọn phương pháp “ tập kích não” vào dạy học mơn Cơng nghệ 11 trên cơ
sở phân tích kiến thức bài dạy, căn cứ vào đặc điểm của phương pháp, dựa vào
nội dung cụ thể của bài dạy để lựa chọn những nội dung vận dụng phương pháp
tập kích não phù hợp.
II. Mơ tả giải pháp
6
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Qua thăm dò ý kiến của một số giáo viên dạy môn Công nghệ thuộc địa
bàn tỉnh Nam Định cho thấy: 100% giáo viên đang sử dụng các phương pháp
dạy học truyền thống và một số các phương pháp dạy học tích cực để phát triển
tư duy sáng tạocho học sinh. Tuy nhiên việc phát triển tư duy sáng tạocho HS chủ
yếu vẫn cịn tự phát, chưa mang tính hệ thống; hầu hết tất cả giáo viên chưa chú ý
đến việc vận dụng các phương pháp luận sáng tạo trong dạy học, thậm chí chưa
nghe, chưa biết về nó. Vì vậy tôi đã đề xuất sử dụng phương pháp tập kích não
nhằm phát triển tư duy sáng tạocủa học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11
nhằm nâng cao chất lượng dạy học mơn học. Vì trong bối cảnh khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ, lượng tri thức ngày càng nhiều, con người không thể
tiếp thu hết tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên người học cần phải
được trang bị cách học tập, cách nghiên cứu, sự độc lập trong suy nghĩ, trong tư
duy tự giành lấy kiến thức cho mình. Phát triển tư duy sáng tạocho học sinh
trong quá trình dạy học là một trong những nhiệm vụ cần thiết của giáo dục nói
chung và dạy học mơn Cơng nghệ nói riêng, góp phần cung cấp cho học sinh
cách thức tư duy, bước đầu có những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo tiền đề cho
những ý tưởng lớn trong tương lai gần. Ngoài những đặc điểm vốn có của tư
duy, tư duy sáng tạo cịn có những đặc điểm riêng biệt. Cần tìm các biện pháp
tác động phù hợp với đặc điểm môn học cũng như đặc điểm tâm – sinh lý của
học sinh để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Nội dung môn Công nghệ 11
gồm nhiều lĩnh vực kĩ thuật, kiến thức trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên
ngành, nhiều hình vẽ phức tạp. Do đó phát triển tư duy sáng tạocho học sinh
trong q trình học khơng những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn
nâng cao hiểu biết vấn đề, tăng hứng thú học tập, tăng cường niềm tin và thúc
đẩy động lực học tập đúng đắn cho học sinh. Để hình thành và phát triển tư duy
sáng tạocho học sinh cần phải làm cho các em có lịng mong muốn lĩnh hội kiến
thức và vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống.
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
7
Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo đã bắt đầu hình thành từ khi lồi
người biết suy nghĩ và được quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ thứ 19. Có thể
nói kể từ khi Alex Osborn đưa ra phương pháp “Tập kích não” vào năm 1941 thì
từ đó có nhiều biện pháp phát triển tư duy sáng tạo đời.
a. Bản chất và qui trình vận dụng của phương pháp tập kích não:
* Bản chất: Đây là một phương pháp dùng để xây dựng nhiều giải pháp
sáng tạo cho một vấn đề. Khi thực hiện phương pháp này cần tập trung sự suy
nghĩ vào vấn đề đó; các ý niệm và hình ảnh về vấn đề được nêu ra một cách rất
tự do và ngẫu nhiên, càng nhiều ý kiến càng tốt. Rồi vấn đề được xem xét từ
nhiều khía cạnh và theo nhiều cách (góc nhìn) khác nhau. Cuối cùng, các ý kiến
sẽ được phân nhóm, đánh giá và tổng hợp thành các giải pháp cụ thể cho vấn đề
đã nêu. Phương pháp này phù hợp với hoạt động nhóm trong q trình dạy học.
* Qui trình vận dụng: Đã từ lâu người ta nhận thấy sự phê bình là cản trở
đáng kể trong tư duy sáng tạo. Người phát minh ra ý tưởng mới rất ngại bị phê
bình nên khi ý tưởng mới chưa được kiểm nghiệm thì người phát minh thường
ngại ngùng cơng bố. Ban đầu tập kích não là một thủ thuật sáng tạo trong cơng
nghệ sản xuất nhằm tìm ra những giải pháp, quy trình cơng nghệ mới, giải quyết
những vấn đề gay cấn trong sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ. Ngày nay tập
kích não được coi là một phương pháp hữu hiệu để phát triển tư duy sáng tạo
trong dạy học. Phương pháp tập kích não được vận dụng vào dạy học theo tiến
trình sau:
Bước 1: Chia học sinh trong lớp thành hai nhóm:
- Nhóm 1 gồm những học sinh có phản ứng nhanh, ln đề xuất ý tưởng mới.
- Nhóm 2 gồm những học sinh thường có khả năng phân tích, phê phán.
Bước 2: Xác định vấn đề hay đề tài cần được tập kích. GV nêu vấn đề cần giải
quyết cho cả hai nhóm. Có thể ghi lên bảng dưới dạng một tình huống, một bài
tốn để học sinh cùng suy nghĩ.
Bước 3: Bắt đầu tập kích não.
Yêu cầu từng em trong nhóm 1 đưa ra những ý tưởng, phương án giải quyết
(càng nhiều càng tốt) trong một thời gian ngắn. Trong khi đó nhóm 2 chỉ nghe
8
và ghi chép lại tất cả những đề xuất của nhóm 1 (khơng cần ghi tên người đề
xuất). Sau đó từng em trong nhóm 2 nêu nhận xét, phân tích những ý kiến mình
ghi được, có thể kèm theo đánh giá cho mỗi ý kiến được nhận xét trên. Trong
khi đó nhóm 1 chỉ nghe và ghi chép mà khơng được có ý kiến cắt ngang.
Bước 4: Tổng kết
GV và học sinh cùng tập hợp các ý kiến (giống nhau, khác nhau,... theo
cách bình chọn số đơng; khơng bỏ qua ý kiến nào) nhận xét, chọn lọc các ý
tưởng, phương án phù hợp (tối ưu).
b. Vận dụng cụ thể
Ví dụ 1: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học bài “Hình
chiếu vng góc”, phần vẽ kĩ thuật, mơn Cơng nghệ 11.
Theo qui trình thiết kế bài dạy đã nêu ở trên, ta thực hiện như sau:
* Nghiên cứu nội dung bài dạy
Thực hiện Công của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc điều chỉnh nội dung
dạy học, thực hiện chương trình giảm tải, bài hình chiếu vng góc chỉ dạy
phương pháp chiếu góc thứ nhất. Nội dung của phương pháp chiếu góc thứ nhất
được tóm tắt như sau:
- Vật thể được đặt trong góc tạo bởi 3 mặt phẳng hình chiếu vng góc, vật
thể đặt giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu:
+ Mặt phẳng thẳng đứng gọi là mặt phẳng hình chiếu dứng
+ Mặt phẳng nằm ngang gọi là mặt phẳng hình chiếu bằng
+ Mặt phẳng đồng thời vng góc với mặt phẳng hình chiếu đứng và mặt
phẳng hình chiếu bằng gọi là mặt phẳng hình chiếu cạnh.
9
Hình 2.2. Phương pháp chiếu góc thứ nhất
- Dùng phép chiếu vng góc lần lượt chiếu vật thể lên 3 mặt phẳng hình
chiếu ta thu được 3 hình chiếu vng góc tương ứng (hình 2.2)
+ Hướng chiếu từ trước vào thu được hình chiếu đứng (A)
+ Hướng chiếu từ trên xuống thu được hình chiếu bằng (B)
+ Hướng chiếu từ trái sang thu được hình chiếu cạnh (C)
- Xoay mặt phẳng hình chiếu bằng xuống dưới một góc 90 o; xoay mặt
phẳng hình chiếu cạnh sang phải một góc 90 o ta có 3 hình chiếu cùng nằm trên
một mặt phẳng, đó chính là mặt phẳng bản vẽ. Vị trí của các hình chiếu như hình
2.3
Hình 2.3. Vị trí các hình chiếu theo phương pháp chiếu góc thứ nhất
* Xác định nội dung dạy học có thể vận dụng phương pháp tập kích não
Như vậy khi học xong PPCG1 học sinh chỉ thuần túy biết nội dung của
phương pháp chiếu vng góc và cách thể hiện các hình chiếu vng góc trên
bản vẽ mà chưa biết làm thế nào để có được hình chiếu vng góc tối ưu nhất:
Thể hiện đầy đủ, chính xác hình dạng, kết cấu và kích thước của vật thể cũng
như lựa chọn số lượng các hình chiếu vng góc trên bản vẽ, tức là chưa phát
triển được tư duy sáng tạo. Vì vậy ở bài này GV có thể vận dụng phương pháp
10
tập kích não sau khi học xong PPCG1 để tăng cường việc phát triển tư duy sáng
tạo cho học sinh, đồng thời củng cố và khắc sâu kiến thức về hình chiếu vng
góc.
* Vận dụng vào bài dạy
Sau khi nghiên cứu xong phương pháp hình chiếu vng góc, thực hiện vận
dụng phương pháp tập kích não theo qui trình sau:
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: Những HS có phản ứng nhanh, hay đề xuất ý tưởng mới.
- Nhóm 2: Những HS có khả năng phân tích, phê phán
Giáo viên nêu vấn đề với 3 nội dung cần giải quyết:
Nội dung thứ nhất: Trong PPCG1 phải đặt vật thể ở vị trí như thế nào đối
với các mặt phẳng hình chiếu để các hình chiếu thu được phản ánh chính xác bề
mặt của vật thể?
Nội dung thứ hai: Để hình chiếu đứng là hình chiếu chính của bản vẽ và thể
hiện rõ nhất hình dạng của vật thể thì việc lựa chọn các bề mặt vật thể theo các
hướng chiếu cần đảm bảo nguyên tắc gì?
Nội dung thứ ba: Với 3 mặt phẳng hình chiếu đã đủ thể hiện thơng tin về
hình dạng, kết cấu và kích thước của vật thể chưa? Có cần thêm hay bớt hình
chiếu hay không?
Học sinh nắm bắt vấn đề và bắt đầu tập kích não:
- Từng HS nhóm 1 đưa ra phương án, ý tưởng của mình về cách giải quyết
các vấn đề nêu trên.
- Các HS nhóm 2 nghe, ghi lại những đề xuất do nhóm 1 nêu ra. Sau khi
nhóm 1 nêu hết các phương án thì nhóm 2 bắt đầu phân tích, nhận xét từng ý
tưởng, phương án đã ghi được của nhóm 1. Trong lúc này nhóm 1 nghe nhóm 2
phân tích đồng thời kết hợp cùng phân tích các ý tưởng, phương án đã đề xuất.
GV cùng HS tổng hợp các ý kiến giải quyết từng vấn đề:
Ở nội dung thứ nhất: GV có thể nêu câu hỏi gợi mở: Trong phép chiếu
vng góc, đặt các hình phẳng có vị trí như thế nào để hình chiếu thu được
không bị biến dạng? HS dễ dàng thấy được là phải đặt hình phẳng song song với
11
mặt phẳng hình chiếu. Từ đó HS rút ra kết luận thứ nhất: Trong PPCG1, cần
phải đặt vật thể sao cho đa số các bề mặt của vật thể song song với các mặt
phẳng hình chiếu để hình chiếu thu được ít bị biến dạng.
Ở nội dung thứ hai: GV chọn lọc các ý kiến rồi đưa ra kết luận: Để hình
chiếu đứng là hình chiếu chính của bản vẽ thì cần lựa chọn bề mặt nào phản ánh
hình dạng đặc trưng của vật thể để đặt hướng chiếu từ trước vào, đồng thời phải
đảm bảo ngun tắc có ít nét kht nhất trên các hình chiếu.
Ví dụ: Vật thể hình chữ L có 2 phương án thể hiện hình chiếu như sau:
Hình 2.4 a. Phương án 1
Hình 2.4 b. Phương án 2
Qua hai phương án thể hiện vật thể hình chữ L học sinh dễ dàng nhận thấy
phương án thứ nhất tối ưu hơn phương án thứ hai vì ở phương án thứ nhất khơng
có nét khuất trên hình chiếu cạnh, trong khi đó ở phương án thứ hai hình chiếu
nào của vật thể cũng có nét khuất.
Nội dung thứ ba: Giáo viên gợi ý bằng một số tình huống nhỏ sau: Cho 2
vật thể sau (hình vẽ 2.5 a, b), hãy vẽ hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của
chúng rồi nêu nhận xét?
a)
b)
Hình 2.5
Học sinh dễ dàng vẽ được hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của 2 vật thể
và nhận xét được hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của chúng giống nhau.
12
Như vậy cần phải vẽ thêm hình chiếu cạnh mới xác định đủ thơng tin của vật thể
(hình 2.6 a, b).
a)
b)
Hình 2.6
Giáo viên tiếp tục hỗ trợ bằng câu hỏi: Ở hai ví dụ trên có thể bớt đi hình
chiếu nào mà vẫn thể hiện đủ thông tin của vật thể?
Học sinh cũng dễ dàng nhận thấy: Hình chiếu đứng và hình chiếu bằng
giống hệt nhau, do đó có thể bỏ đi hình chiếu bằng mà vẫn thể hiện đủ thông tin
vật thể.
Giáo viên giới thiệu thêm, nếu vận dụng tiêu chuẩn ghi kích thước ta có thể
tiếp tục bỏ đi một hình chiếu nữa mà vẫn thể hiện đủ thơng tin vật thể bằng cách
sử dụng kí hiệu ghi kèm với con số kích thước (hình 2.7 a, b)
a)
b)
Hình 2.7
Quay lại trường hợp vật thể trong phương pháp chiếu góc thứ nhất học sinh
sẽ xác định được chỉ cần hình chiếu đứng và hình chiếu cạnh là đủ biểu diễn
thơng tin vật thể (hình 2.8).
13
Hình 2.8
Hình 2.9
Tuy nhiên trong trường hợp nếu có thêm 1 kết cấu rãnh ở phần đế nằm
ngang thì buộc phải dùng cả 3 hình chiếu mới thể hiện đầy đủ hình dạng kết, cấu
của vật thể (hình 2.9).
Giáo viên kết luận: Tuỳ theo hình dạng và vị trí, kết cấu trên vật thể mà ta
lựa chọn số lượng hình chiếu cho phù hợp với nguyên tắc: Số lượng hình chiếu
ít nhất nhưng phải thể hiện đủ thơng tin vật thể. Nếu vật thể phức tạp có thể phải
vẽ thêm hình chiếu phụ để thể hiện rõ kết cấu của vật thể.
Ví dụ 2: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học bài: “Cơ cấu
phân phối khí”, phần động cơ đốt trong, sách giáo khoa Công nghệ 11.
* Nghiên cứu nội dung bài dạy
Bài cơ cấu phân phối khí nghiên cứu về nhiệm vụ, cấu tạo chung và nguyên
lí làm việc của cơ cấu phân phối khí.
Nội dung có thể tóm tắt như sau:
- Cơ cấu phân phối khí có nhiệm vụ đóng, mở cửa nạp, cửa thải đúng lúc
để thực hiện q trình đưa khí mới vào trong xi lanh và thải khí đã cháy ra
ngồi.
- Đặc điểm cấu tạo cơ cấu phân phối khí dùng xu páp (hình 2.10)
14
a)
b)
Hình 2.10. Cơ cấu phân phối khí dùng xu páp
a) Cơ cấu phân phối khí xu páp treo; b) Cơ cấu phân phối khí xu páp đặt
1. Trục cam và cam; 2. Con đội; 3. Lò xo xu páp; 4. Xu páp; 5. Nắp máy
6. Trục khuỷu ; 7. Đũa đẩy; 8. Trục cò mổ; 9. Cò mổ;
10. Bánh răng phân phối
+ Bánh răng phân phối trên trục cam có đường kính lớn gấp hai lần bánh răng
phân phối trên trục khuỷu.
+ Mỗi xu páp được dẫn động bởi một cam, con đội, đũa đẩy và cò mổ riêng.
+ Trục cam được dẫn động từ trục khuỷu thông qua cặp bánh răng phân phối.
- Nguyên lí làm việc: Động cơ làm việc, trục khuỷu dẫn động trục cam
thông qua cặp bánh răng phân phối làm trục cam quay để dẫn động đóng, mở
các xu páp nạp, thải. Khi vấu cam 1 tác động làm con đội 2 đi lên, qua đũa đẩy 7
làm cò mổ 9 xoay cùng chiều kim đồng hồ quanh trục 8. Kết quả là xu páp 4 bị
ép xuống, xu páp nạp mở để khí nạp vào xi lanh hoặc cửa thải mở để khí cháy
trong xi lanh thốt ra ngồi. Khi vấu cam 1 quay qua vị trí của con đội 2, lị xo
xu páp 3 dãn ra, các chi tiết của cơ cấu trở về vị trí ban đầu làm cho cửa nạp
hoặc cửa thải được đóng kín.
* Xác định nội dung có thể vận dụng phương pháp tập kích não
Sau khi học về cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo, ta thấy để dẫn động
từ trục khuỷu lên trục cam và tác động đến xu páp phải nhờ hàng loạt các chi tiết
phối hợp với nhau do đó kết cấu cồng kềnh, phức tạp. Trước khi sang phần cơ
15
cấu phân phối khí dùng xu páp đặt, có thể cho HS tập kích não tìm cách đưa kết
cấu của cơ cấu phân phối khí xu páp treo đơn giản hơn mà vẫn đáp ứng nhiệm
vụ của cơ cấu, qua đó làm phát triển tư duy sáng tạo cho HS.
* Vận dụng vào bài dạy
Sau khi sử dụng các phương pháp dạy học thông thường học sinh đã biết
được nhiệm vụ, cấu tạo và nguyên lí làm việc của cơ cấu phân phối khí dùng xu
páp treo, ta có thể vận dụng tập kích não tạo điều kiện phát triển tư duy sáng
tạocho học sinh. Cụ thể thực hiện tập kích não như sau:
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: Những HS có phản ứng nhanh, hay đề xuất ý tưởng mới.
- Nhóm 2: Những HS có khả năng phân tích, phê phán
Giáo viên nêu vấn đề: “Từ cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo hãy cải
tiến cơ cấu theo hướng giảm bớt một số chi tiết để kết cấu đơn giản hơn mà vẫn
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ cấu phân phối khí?”
Học sinh lắng nghe, nắm bắt vấn đề và bắt đầu tập kích não:
- Từng học sinh nhóm 1 đưa ra phương án, ý tưởng của mình giải quyết vấn
đề.
- Các HS nhóm 2 nghe, ghi lại tất cả những ý tưởng đề xuất của nhóm 1.
Sau đó từng HS nhóm 2 phân tích, nhận xét những ý kiến mình ghi được, lúc
này nhóm 1 nghe, ghi những phân tích, nhận xét của nhóm 2 và cùng phân tích
các ý tưởng đã nêu.
Trong lúc kích não giáo viên có thể hỗ trợ học sinh thông qua các câu hỏi:
“Căn cứ vào nguyên lí làm việc của cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo có
thể để vấu cam tác động trực tiếp vào đầu bên trái của cò mổ được khơng? Khi
đó những chi tiết nào trong cơ cấu được bớt đi?”
Học sinh dễ dàng nhận thấy rằng: Có thể bố trí trục cam sao cho vấu cam tỳ
trực tiếp vào đầu bên trái của cị mổ, khi đó khơng cần con đội và đũa đẩy, đồng
thời dùng xích cam hoặc dây đai dẫn động từ trục khuỷu lên trục cam. Tức là kết
cấu của cơ cấu phân phối khí giảm được 2 chi tiết: con đội và đũa đẩy mà vẫn
thực hiện được nhiệm vụ của cơ cấu.
16
Giáo viên tiếp tục gợi ý cho HS suy nghĩ tìm ý tưởng mới. Có thể dùng câu
hỏi: “Có cách nào bố trí để khơng dùng cị mổ mà cơ cấu vẫn hoạt động được
bình thường và đảm bảo nhiệm vụ của cơ cấu hay không?”
HS dễ dàng tưởng tượng và nhận thấy: Có thể bố trí trục cam sao cho vấu
cam tác động trực tiếp vào đuôi xu páp, khơng cần tới con đội, đũa đẩy và cị
mổ, đồng thời dùng xích cam hoặc dây đai dẫn động từ trục khuỷu lên trục cam.
Như vậy kết cấu của cơ cấu đã giảm đáng kể số lượng các chi tiết, làm cho cơ
cấu gọn nhẹ hơn, đơn giản hơn mà vẫn đáp ứng nhiệm vụ của cơ cấu.
Giáo viên tập hợp các ý kiến, nhận xét và đưa ra kết luận: Trên thực tế hiện
nay một số động cơ đốt trong có cơ cấu phân phối khí được cải tiến theo hướng
khơng dùng con đội, đũa đẩy và cị mổ làm cho cơ cấu đơn giản hơn mà vẫn
hiệu quả đồng thời nâng cao hiệu suất cho động cơ. Đây cũng chính là vấn đề
mà nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã quan tâm cải tiến làm cơ cấu đơn giản mà
nâng cao được hiệu quả của động cơ đốt trong. Trên hình 2.11 là một trong
những cơ cấu phân phối khí xu páp treo đã được cải tiến.
Trục cam và vấu
cam
Lị xo xu
páp
Xu páp
Pít tơng
Đai truyền
Thanh truyền
Trục khuỷu
Hình 2.11. Cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo đã được cải tiến
Ví dụ 3: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học phần: “Cấu tạo
của hệ thống bôi trơn cưỡng bức”, bài 25, sách giáo khoa Công nghệ 11.
* Nghiên cứu nội dung bài dạy
Bài dạy gồm các nội dung: nhiệm vụ, cấu tạo, nguyên lí làm việc của hệ
thống bôi trơn cưỡng bức. Các nội dung này mang tính thực tiễn cao nhưng cũng
17
rất trừu tượng, nhất là khi dạy phần nguyên lí làm việc của hệ thống. Do đó ngay
từ khi dạy phần cấu tạo cần tạo điều kiện để học sinh hiểu rõ chức năng của từng
bộ phận đáp ứng được nhiệm vụ của hệ thống.
* Xác định nội dung có thể vận dụng phương pháp tập kích não
Khi dạy cấu tạo của hệ thống bơi trơn cưỡng bức, ngồi việc sử dụng
tranh vẽ (hình 2.12) để giới thiệu, giáo viên có thể vận dụng phương pháp tập
kích não giúp học sinh hiểu rõ hơn: Tại sao trong hệ thống phải có các bộ phận
như vậy, tác dụng của các bộ phận chính ấy như thế nào?
Các nội dung này đồng thời làm cơ sở để nghiên cứu nguyên lí làm việc
của hệ thống bôi trơn cưỡng bức.
* Vận dụng phương pháp tập kích não vào bài dạy
Sau khi học sinh quan sát tranh vẽ hệ thống bôi trơn cưỡng bức, giáo viên
tiến hành vận dụng phương pháp tập kích não như sau:
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Những học sinh có phản ứng nhanh, hay đề xuất ý tưởng mới.
Nhóm 2: Những học sinh có khả năng phân tích, phê phán
Giáo viên nêu vấn đề thơng qua hệ thống câu hỏi:
Câu hỏi 1: Việc bôi trơn động cơ đốt trong có thể sử dụng cách bơi trơn
như tra dầu bơi trơn ở quạt điện khơng? Vì sao?
Học sinh lắng nghe, nắm bắt vấn đề và bắt đầu tập kích não. Sau khi các
nhóm đã hồn tất việc tập kích, giáo viên tập hợp ý kiến của học sinh và đưa ra
kết luận: Động cơ đốt trong khi hoạt động có rất nhiều bề mặt ma sát, làm việc
với tốc độ cao, cường độ lớn, nhiệt độ tăng nhanh vì vậy việc bơi trơn bằng cách
tra dầu như ở quạt điện không đảm bảo cho động cơ làm việc bình thường. Do
đó cần phải sử dụng một lượng dầu bôi trơn rất lớn.
Giáo viên tiếp tục đưa ra các câu hỏi tiếp theo của vấn đề:
Câu hỏi 2: Người ta dùng bộ phận nào để chứa dầu bôi trơn?
Học sinh tiến hành tập kích não và xác định phải có các te dầu để chứa dầu
bơi trơn. Giáo viên kết luận: Lượng dầu bôi trơn rất lớn phải được chứa ở các te.
18
Câu hỏi 3: Để đưa dầu bôi trơn từ các te tới các bề mặt ma sát phải cần có
bộ phận nào?
Học sinh tiến hành tập kích não, cuối cùng học sinh xác định được bộ phận
tiếp theo là bơm dầu để hút dầu từ các te lên ống dẫn dầu đi bôi trơn các bề mặt
ma sát.
Câu hỏi 4: Sau khi dầu đi qua các bề mặt ma sát dầu đem theo các mạt kim
loại do bề mặt ma sát sinh ra nên dầu bị bẩn. Phải khắc phục như thế nào?
Học sinh tiến hành tập kích não, cuối cùng học sinh xác định được cần có
bầu lọc dầu, lưới lọc dầu để lọc sạch cặn bẩn trong dầu.
Câu hỏi 5: Khi dầu đi qua các bề mặt ma sát sẽ thu nhiệt từ các bề mặt này
và các chi tiết khác làm nó nóng lên gây giảm chất lượng bơi trơn. Cần xử lí
hiện tượng này như thế nào?
Học sinh tiếp tục tập kích não, cuối cùng học sinh xác định cần có két làm
mát dầu để giảm nhiệt độ của dầu bôi trơn.
Câu hỏi 6: Lúc đầu động cơ mới làm việc nhiệt độ dầu bôi trơn chưa cao,
nếu dầu đi qua két làm mát ngay có ảnh hưởng đến chất lượng bơi trơn khơng?
Có cách nào khắc phục được hiện tượng này?
Học sinh tiếp tục tập kích não, cuối cùng xác định cần phải có van khống
chế lượng dầu qua két làm mát để cho dầu bôi trơn đi qua khi nhiệt độ dầu chưa
cao quá mức cho phép.
Câu hỏi 7: Kể tên các bề mặt ma sát cần phải bôi trơn trong động cơ đốt
trong?
Học sinh tiếp tục tập kích não, thảo luận vấn đề và đưa ra câu trả lời cho
vấn đề: các mặt ma sát cần phải bôi trơn là bề mặt ma sát giữa pít tơng với xi
lanh, cổ trục khuỷu, cổ trục cam, vấu cam, xu páp, …
Câu hỏi 8: Để đưa dầu bôi trơn tới từng bộ phận, hệ thống phải có kết cấu
nào?
Học sinh tiếp tục tập kích não, thảo luận vấn đề và xác định phải có đường
ống chính và các đường ống nhánh dẫn tới bơi trơn từng bộ phận.
19
Câu hỏi 9: Khi động cơ làm việc để biết được hệ thống bơi trơn có hoạt
động hay khơng hoặc bị rị rỉ dầu bơi trơn trên đường ống ta làm như thế nào?
Học sinh tiếp tục tập kích não, cuối cùng xác định cần có đồng hồ đo áp
suất dầu để kiểm tra hệ thống bôi trơn khi làm việc.
Câu hỏi 10: Khi bơm dầu làm việc nếu lượng dầu được bơm lên quá nhiều
có thể làm vỡ đường ống dẫn dầu gây hư hỏng hệ thống bôi trơn. Vậy phải khắc
phục hiện tượng này như thế nào để đảm bảo an toàn cho hệ thống làm việc?
Học sinh tiếp tục tập kích não, cuối cùng xác định phải có thêm van an tồn
đưa dầu trở về trước bơm để đảm bảo an toàn cho hệ thống.
Câu hỏi 11: Sau khi bôi trơn các bề mặt ma sát, dầu được dẫn đi đâu?
HS tiếp tục tập kích não, thảo luận và cuối cùng xác định dầu phải được
dẫn trở về các te để tiếp tục theo chu kì mới đi bôi trơn các bề mặt ma sát.
III. Hiệu quả do sáng kiến mang lại
* Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tập kích
não vào bài hình chiếu vng góc.
Ngồi việc vận dụng các phương pháp dạy học thông thường vào bài 2,
nhờ vận dụng phương pháp tập kích não mà học sinh thấy được trong mỗi
trường hợp vật thể khác nhau tuỳ theo sự sáng tạo của học sinh mà có thể chọn
hướng nhìn cũng như số lượng hình chiếu để hình vẽ đơn giản mà vẫn thể hiện
đủ thông tin của vật thể. Có nghĩa là tư duy sáng tạocủa học sinh được phát
triển.
Một vấn đề khác đó là trong dạy học cần phải tạo cho học sinh tâm thế
không được tự bằng lịng với những cái đã có sẵn, mà ln cần có những câu hỏi
mang tính thắc mắc như: Tại sao? Vì sao lại như vậy? Nếu khác đi có được
khơng? hoặc từ kết cấu kỹ thuật đã có này có thể cải tạo nó như thế nào để có lợi
hơn khơng?... Những câu hỏi này chính là xuất phát điểm để nảy sinh những ý
tưởng mới đem lại những lợi ích thực sự trong cuộc sống. Như chúng ta đã biết
chính sự tị mị và nhu cầu thực tiễn đã nảy sinh biết bao ý tưởng hay trong cuộc
sống lao động kỹ thuật, những ý tưởng này còn được ghi nhận dưới dạng những
20
giải thưởng “sáng tạo kỹ thuật”. Vậy tại sao trong dạy học ta lại không tận dụng
điều này để phát triển tư duy sáng tạo HS. Thực tế ngày nay khoa học phát triển
tốc độ nhanh như vũ bão thì kết cấu, giải pháp kỹ thuật không tránh khỏi lỗi thời
hay khơng cịn phù hợp hiện tại. Do đó cần tạo cho HS có thói quen tìm kiếm tri
thức để cải tạo kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Thật vậy, tư duy
sáng tạo của HS được phát triển nếu trong quá trình dạy học giáo viên tác động
đúng lúc và kịp thời.
* Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tập kích
não vào bài cơ cấu phân phối khí.
Vận dụng phương pháp tập kích não vào bài dạy phù hợp với tư duy của
học sinh, có tính thực tiễn cao, có tác động tích cực đến việc học tập và nghiên
cứu kiến thức mới của học sinh. Ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy học
thông thường, nhờ vận dụng phương pháp tập kích não học sinh nắm bài chắc
hơn, tích cực hơn trong tư duy, liên hệ thực tế hơn và sáng tạo hơn trong nghiên
cứu kỹ thuật tức là tư duy sáng tạocủa học sinh được kích thích phát triển.
* Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tập kích
não vào bài hệ thống bơi trơn.
Với phương pháp tập kích não, qua hệ thống các câu hỏi, phối hợp với
phương pháp trực quan giúp học sinh có thể hiểu sâu và tự vẽ dần hệ thống bơi
trơn cưỡng bức dưới dạng sơ đồ hố vào vở (ví dụ như hình 2.13), từ đó có thể
liên hệ với hệ thống bôi trơn trong thực tiễn cũng như ý thức được phải chăm
sóc, bảo dưỡng động cơ đúng định kì để nâng cao hiệu quả làm việc cũng như
tăng tuổi thọ cho động cơ. Từ việc tự vẽ được sơ đồ hố hệ thống bơi trơn cưỡng
bức học sinh cũng dễ dàng tìm hiểu được ngun lí làm việc của hệ thống bơi
trơn qua sơ đồ hố đã vẽ được. Qua đó cho thấy tư duy sáng tạocủa học sinh
được kích thích phát triển.
21
Các bề mặt ma sát
Két
làm
mát
dầu
Van
khống
chế
dầu
qua
két
Van an toàn
Bầu lọc dầu
Bơm dầu
Các te dầu
Hình 2.13. Sơ đồ hố hệ thống bơi trơn cưỡng bức
Tóm lại, trong dạy học cũng như trong cuộc sống hàng ngày, phát triển tư
duy sáng tạolà điều rất cần thiết. Trong trường học, nó là một trong những yếu tố
thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục. Trong xã hội nó cũng là yếu tố thúc đẩy
xã hội phát triển đem đến chất lượng cuộc sống cao hơn.
Trên cơ sở phân tích đặc điểm nội dung kiến thức và đặc điểm, điều kiện
dạy học môn Công nghệ 11 ở trường THPT . Qua thực hiện biện pháp đã đề xuất
có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Trong mơn học Cơng nghệ 11, có khá nhiều nội dung kiến thức cần vận
dụng linh hoạt vào thực tế mà khả năng tư duy của học sinh lại có hạn chế nhất
định, gây khó khăn cho q trình nhận thức của học sinh. Biện pháp này đơn
giản, dễ vận dụng, phù hợp với trình độ, khả năng của giáo viên và học sinh
cũng như cơ sở vật chất của các trường THPT nói chung, tạo điều kiện thuận lợi
phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn.
2. Qua việc vận dụng phương pháp tập kích não để phát triển tư duy sáng
tạocho học sinh cho thấy biện pháp đề xuất là khá hợp lí, có thể vận dụng vào
q trình dạy học môn Công nghệ 11 ở trường THPT.
3. Việc vận dụng phương pháp trên để dạy cho học sinh khơng chỉ đem lại
những ích lợi trong q trình dạy học mơn Cơng nghệ 11 mà cịn có tác dụng gợi
22
ý cho việc áp dụng trong quá trình dạy học các mơn khoa học kĩ thuật khác.
Tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất được kiểm nghiệm, đánh
giá. Cụ thể như sau:
- Tính đúng đắn và khả thi của các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho
học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 do đề tài đề xuất.
- Mức độ phù hợp với trình độ tư duy của học sinh khi sử dụng các biện
pháp đề xuất.
- Khả năng và mức độ phát triển tư duy sáng tạo của học sinh khi vận dụng
các biện pháp do đề tài đề xuất.
- Khả năng đáp ứng cơ sở vật chất phục vụ q trình dạy học có vận dụng
các biện pháp đề xuất.
Theo kết quả thống kê của phiếu xin ý kiến giáo viên và các ý kiến trao đổi trực
tiếp với giáo viên của các trường THPT khác nhau thuộc địa bàn tỉnh Nam Định,
có thể rút ra một số điểm chung sau:
- Việc vận dụng các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
trong quá trình dạy học bộ môn Công nghệ 11 là cần thiết và khả thi.
- Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho HS đã đề xuất có thể vận
dụng trong hầu hết chương trình mơn học Cơng nghệ 11, nhìn chung đảm bảo
tính khoa học, khả thi; có thể coi như là các biện pháp có thể vận dụng vào dạy
học mơn Cơng nghệ nói chung.
- Các biện pháp đề xuất hầu như phù hợp với khả năng tư duy của HS.
- Mức độ phát triển tư duy sáng tạo cho HS khi vận dụng các biện pháp do
đề tài đề xuất là tương đối tốt.
- Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho HS do đề tài đề xuất đã góp
phần khơng nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
- Việc đáp ứng cơ sở vật chất khi sử dụng các biện pháp đề xuất của các
trường THPT là rất cao.
23
Trong điều kiện hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang
rất cần thiết đối với bất cứ cơ sở giáo dục nào. Chỉ có đổi mới phương pháp
dạy học mới tạo cơ hội cho học sinh được phát huy tính độc lập sáng tạo
trong học tập, tạo điều kiện cho các em được làm chủ kiến thức và vận
dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Khi sử dụng các biện pháp phát
triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 nói
riêng, mơn Cơng nghệ nói chung cần phối hợp các phương pháp dạy học
tích cực một cách hài hồ, có như vậy kết quả dạy học mới đem lại hiệu
quả cao. Hơn nữa cần khai thác việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học để nâng cao chất lượng sử dụng mơ hình trực quan, chiếu các hình
vẽ cấu tạo phức tạp trong sách giáo khoa, vẽ sơ đồ đơn giản trên bảng, thiết
kế các mơ hình động và trình chiếu trên máy chiếu Projector để thuận tiện
cho việc theo dõi nghiên cứu.
IV.Đề xuất, kiến nghị
Để nâng cao chất lượng dạy học mơn Cơng nghệ phổ thơng, góp phần đào
tạo người lao động tích cực, chủ động và sáng tạo, cần tiếp tục nghiên cứu vận
dụng các biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạocho học sinh. Cụ thể là:
- Tiếp tục triển khai việc vận dụng phương pháp luận sáng tạo khoa học kĩ
thuật vào quá trình dạy học bộ mơn nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát
triển tư duy sáng tạocho học sinh và phục vụ tốt cho việc nâng cao chất lượng
giảng dạy bộ môn.
- Sau khi thực hiện vận dụng các biện pháp phát triển tư duy sáng tạocho
học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 cần nghiên cứu quá trình thực hiện để
hồn thiện và vận dụng chung cho môn Công nghệ.
- Các trường THPT cần tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị giảng
dạy tạo điều kiện cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học để
vận dụng các biện pháp đề xuất được hiệu quả hơn.
V.CAM KẾT:
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này không sao chép, vi phạm bản
quyền và chịu trách nhiệm về cam kết của mình.
24
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
....................
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………...
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………...............................................................................................................
25