Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

giá trị của phương pháp time up and go và bộ câu hỏi prisma 7 trong chẩn đoán suy yếu tại phòng khám lão khoa bệnh viện nhân dân gia định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.86 MB, 122 trang )

.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỮU ẤN

GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP
TIME-UP-AND-GO VÀ BỘ CÂU HỎI
PRISMA-7 TRONG CHẨN ĐOÁN SUY YẾU
TẠI PHÒNG KHÁM LÃO KHOA
BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
.


.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỮU ẤN



GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG PHÁP
TIME-UP-AND-GO VÀ BỘ CÂU HỎI
PRISMA-7 TRONG CHẨN ĐOÁN SUY YẾU
TẠI PHÒNG KHÁM LÃO KHOA
BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NỘI KHOA (LÃO KHOA)
MÃ SỐ: 8720107
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THANH HUÂN

HỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
.


.

MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANG MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .....................................................................................3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................4
1.1. Đại cương về suy yếu ...........................................................................................4

1.2. Đánh giá suy yếu trong thực hành lâm sàng ........................................................8
1.3. Tổng quan những nghiên cứu về suy yếu có liên quan đến đề tài .....................16
1.4. Tổng quan về phòng khám lão khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định ................22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................24
2.1. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................24
2.2. Thời gian nghiên cứu .........................................................................................24
2.3. Địa điểm nghiên cứu ..........................................................................................24
2.4. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................24
2.5. Cỡ mẫu ...............................................................................................................24
2.6. Phương pháp chọn mẫu ......................................................................................25
2.7. Định nghĩa biến số nghiên cứu...........................................................................26
2.8. Các biến số nghiên cứu ......................................................................................37
2.9. Kiểm soát sai lệch ..............................................................................................40
2.10. Quản lý và xử lý số liệu ...................................................................................41
2.11. Mơ hình nghiên cứu .........................................................................................42
2.12. Đạo đức trong nghiên cứu ................................................................................42

.


.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................44
3.1. Đặc điểm dân số xã hội ......................................................................................44
3.2. Tỷ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried ...................................................................50
3.3. Giá trị của BCH PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu ......................................52
3.4. Giá trị của phương pháp TUG trong chẩn đoán suy yếu ...................................55
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ......................................................................................59
4.1. Đặc điểm dân số xã hội ......................................................................................59
4.2. Tỷ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried ...................................................................69

4.3. Giá trị của BCH PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu ......................................74
4.4. Giá trị của phương pháp TUG trong chẩn đoán suy yếu ...................................78
4.5. Điểm mạnh và điểm hạn chế của đề tài .............................................................82
KẾT LUẬN ..............................................................................................................83
KIẾN NGHỊ .............................................................................................................84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: TIÊU CHUẨN SUY YẾU FIRED
PHỤ LỤC 2: BẢNG TÍNH NĂNG LƯỢNG TỪNG HOẠT ĐỘNG
PHỤ LỤC 3: BỘ CÂU HỎI TẦM SOÁT SUY YẾU PRISMA-7
PHỤ LỤC 4: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU
PHỤ LỤC 5: DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU

.


.

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây tất cả các số liệu trong luận văn này hoàn toàn trung thực,
khách quan và chưa từng được cơng bố trong bất kì cơng trình nghiên cứu nào khác.

Xác nhận của học viên

NGUYỄN HỮU ẤN

.

Xác nhận của người hướng dẫn

TS. NGUYỄN THANH HUÂN



.

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
BN

Bệnh nhân

BCH

Bộ câu hỏi

ĐHYD

Đại học Y Dược

HCM

Hồ Chí Minh

KTC

Khoảng tin cậy

PKLK

Phịng khám lão khoa


NCT

Người cao tuổi

NVYT

Nhân viên y tế

TP

Thành phố

TIẾNG ANH
ADL

Activities of Daily Living
Hoạt động chức năng hàng ngày

AUC

Area Under the Curve
Diện tích dưới đường cong

BMI

Body Mass Index
Chỉ số khối cơ thể

CAG


Comprehensive Geriatric Assessment
Đánh giá lão khoa toàn diện

FI

Frailty Index
Chỉ số suy yếu

.


.

GDS

Geriatric Depression Scale
Thang điểm trầm cảm người cao tuổi

IADL

Instrumental Activities of Daily Living
Hoạt động chức năng sinh hoạt hàng ngày

LR

Likelihood ratios
Tỷ lệ tiên đoán

MNA


Mini Nutritional Assessment
Đánh giá dinh dưỡng giản lược

MMSE

Mini-Mental State Exam
Đánh giá tâm thần tối thiểu

NICE

National Institute for Health and Care Excellence

TUG

Time-up-and-go

ROC

Receiver Operating Characteristic

.


.

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy yếu theo Fried ..................................................9
Bảng 1.2: Bộ câu hỏi PRISMA-7 ..............................................................................12
Bảng 1.3: Khoảng tham chiếu của TUG và tuổi .......................................................14
Bảng 1.4: So sánh 3 công cụ đánh giá suy yếu Fried, PRISMA-7 và TUG .............15

Bảng 1.5: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị của BCH PRISMA-7 trong đánh giá
suy yếu ở NCT. .........................................................................................................18
Bảng 1.6: Tổng hợp các nghiên cứu về giá trị của TUG trong đánh giá suy yếu NCT
...................................................................................................................................20
Bảng 2.1: Hoạt động chức năng ADL .......................................................................28
Bảng 2.2: Hoạt động chức năng IADL .....................................................................29
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn chẩn đoán chậm chạp theo giới và chiều cao theo Fried .......32
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán yếu cơ theo giới và BMI theo Fried .....................34
Bảng 2.5: Liệt kê các biến số trong nghiên cứu ........................................................37
Bảng 3.1: Thời gian đánh giá suy yếu theo tiêu chuẩn Fried....................................51
Bảng 3.2: Độ nhạy, độ chuyên từng điểm cắt của PRISMA-7 trong chẩn đoán suy
yếu .............................................................................................................................53
Bảng 3.3: Thời gian đánh giá suy yếu theo BCH PRISMA-7 ..................................54
Bảng 3.4: So sánh thời gian đánh giá suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và BCH PRISMA7 .................................................................................................................................54
Bảng 3.5: Độ nhạy, độ đặc hiệu và điểm cắt của của phương pháp TUG trong chẩn
đoán suy yếu ..............................................................................................................56
Bảng 3.6: Thời gian đánh giá suy yếu theo phương pháp TUG ...............................58
Bảng 3.7: So sánh thời gian đánh giá suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và phương pháp
TUG ...........................................................................................................................58
Bảng 4.1: So sánh tỷ lệ giới tính trong một số nghiên cứu về suy yếu tại phòng khám
ngoại trú ở Việt Nam .................................................................................................60

.


.

Bảng 4.2:So sánh tỷ lệ đa bệnh với một số nghiên cứu ............................................62
Bảng 4.3: So sánh tỷ lệ đa thuốc với một số nghiên cứu ..........................................64
Bảng 4.4: So sánh tỷ lệ hạn chế hoạt động ADL với một số nghiên cứu .................67

Bảng 4.5: So sánh tỷ lệ hạn chế hoạt động IADL với một số nghiên cứu ................68
Bảng 4.6: So sánh tỷ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried với nghiên cứu trong nước..69
Bảng 4.7: So sánh tỷ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried tại phòng khám với một số
nghiên cứu nước ngoài ..............................................................................................71

.


.

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố dân số nghiên cứu theo nhóm tuổi..........................................44
Biểu đồ 3.2: Phân bố giới tính của dân số nghiên cứu ..............................................45
Biểu đồ 3.3: Trình độ học vấn của dân số nghiên cứu ..............................................45
Biểu đồ 3.4: Tình trạng hơn nhân của dân số nghiên cứu .........................................46
Biểu đồ 3.5: Hoàn cảnh sống của dân số nghiên cứu ...............................................46
Biểu đồ 3.6: Nguồn thu nhập của dân số nghiên cứu ...............................................47
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ đa bệnh của dân số nghiên cứu ...................................................47
Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ một số bệnh thường gặp của dân số nghiên cứu .........................48
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ đa thuốc của dân số nghiên cứu ..................................................49
Biểu đồ 3.10: Tỷ lệ % BMI theo nhóm .....................................................................49
Biểu đồ 3.11: Tỷ lệ phụ thuộc ADL và IADL của dân số nghiên cứu .....................50
Biểu đồ 3.12: Tỷ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried ...................................................50
Biểu đồ 3.13: Tỷ lệ các tiêu chí suy yếu thành phần theo tiêu chuẩn Fried………..51
Biểu đồ 3.14: Phân bố điểm số PRISMA-7 của dân số nghiên cứu .........................52
Biểu đồ 3.15: AUC của BCH PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu ........................52
Biểu đồ 3.16: Mối tương quan giữa điểm trị số Youden và từng điểm cắt của BCH
PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu ........................................................................53
Biểu đồ 3.17: AUC phương pháp TUG trong chẩn đoán suy yếu ............................55
Biểu đồ 3.18: Mối tương quan giữa điểm trị số Youden và từng điểm cắt của phương

pháp TUG trong chẩn đoán suy yếu..........................................................................57

.


.

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Chu trình và biểu hiện lâm sàng của suy yếu ............................................7
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu .....................................................................................42

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Ảnh hưởng của mức độ suy yếu khi có biến cố lâm sàng ..........................8
Hình 1.2: So sánh các thang điểm đánh giá suy yếu được nghiên cứu. ....................10
Hình 1.3: Minh họa quá trình thực hiện phương pháp TUG ...................................13
Hình 2.1: Dụng cụ đo sức cơ tay Jamar@ 5030 JI Hand Dynamometer ..................33
Hình 2.2: Đồng hồ bấm giờ trong nghiên cứu ..........................................................34
Hình 2.3: Ghế thực hiện phương pháp TUG trong nghiên cứu ................................36

.


.

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) tăng nhanh trong những năm gần đây. NCT (≥ 60 tuổi)
trên thế giới tăng từ 382 triệu vào năm 1980 lên đến 962 triệu vào năm 2017 và ước
đoán sẽ đạt 2,1 tỷ người vào năm 2050 [122]. Việt Nam là một trong những nước có

tốc độ già hóa dân số nhanh. Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số ở năm
2012, sớm hơn 2 năm so với dự báo (tỷ lệ người ≥ 60 tuổi chiếm 10,2%) [20], [23].
Chất lượng cuộc sống, tuổi thọ ngày càng cao là do sự đóng góp khơng nhỏ của
nền y học phát triển [20], [78]. Tuy nhiên, đó là thách thức cho y tế Việt Nam bởi vì
đa bệnh – đa thuốc và sự hiện diện hội chứng lão hóa là một trong những khó khăn
trong cơng tác chăm sóc và điều trị sức khỏe NCT [4], [33], [67]. Suy yếu là một yếu
tố thường gặp của hội chứng lão hóa. Tỷ lệ suy yếu trong cộng đồng dao động từ 4 59%, còn trong viện dưỡng lão dao động từ 19 - 76% [123]. Đánh giá suy yếu là vấn
đề hết sức quan trọng và cần thiết trong tiếp cận và điều trị sức khỏe NCT bởi suy
yếu làm tăng nguy cơ các kết cục xấu bao gồm: biến chứng nội viện, hậu phẫu, té
ngã, gãy xương, tàn phế, tái nhập viện và tử vong [9], [10], [12] ,[19], [70], [93], [94].
Đánh giá suy yếu là vấn đề then chốt của đánh giá lão khoa toàn diện (CAG:
Comprehensive Geriatric Assessment), nhận diện suy yếu sẽ có chiến lược điều trị,
chăm sóc thích hợp cho NCT [31], [34]. Suy yếu giai đoạn sớm sẽ đáp ứng với can
thiệp; còn suy yếu nặng sẽ không đáp ứng với điều trị, thường chỉ chăm sóc giảm nhẹ
[23], [109], [127]. Nhận thức tầm quan trọng, từ khi đưa ra khái niệm suy yếu, các
hội lão khoa đã nghiên cứu nhiều công cụ đánh giá như: thang điểm Fried, chỉ số suy
yếu (FI: Frailty Index), thang điểm suy yếu lâm sàng Canada, bộ câu hỏi (BCH)
PRISMA-7, phương pháp Time-up-and-go (TUG) [54], [121]. Trong đó, thang điểm
Fried được xem là tiêu chuẩn vàng, được dùng trong nhiều nghiên cứu và tiên lượng
được kết cục lâm sàng: tái nhập viện, tử vong, té ngã, gãy xương [41], [63], [121].
Tuy nhiên, thang điểm Fried cồng kềnh, thời gian đánh giá lâu và cần đến dụng cụ
chuyên biệt nên áp dụng tại phịng khám lão khoa (PKLK) là khơng khả thi [30], [84].

.


.

2


TUG là phương pháp đánh giá vận động thực hiện nhanh chóng, dễ dàng, khơng
cần dụng cụ chun biệt cũng như không cần phải huấn luyện chuyên sâu cho nhân
viên y tế (NVYT), được Hội Lão Khoa Anh Quốc (British Geriatrics Society) khuyến
cáo dùng trong đánh giá suy yếu với điểm cắt ≥ 10 giây [121]. Phương pháp TUG có
giá trị tầm soát suy yếu với độ nhạy là 93% và diện tích dưới đường cong (AUC: Area
Under the Curve) = 0,87 [107]. PRISMA-7 là BCH tầm soát suy yếu dựa trên 7 câu
hỏi để NCT tự trả lời. PRISMA-7 được Hội Lão Khoa Anh Quốc khuyến cáo tầm
soát suy yếu với điểm cắt ≥ 3 điểm với độ nhạy 86% và AUC = 0,85 [76]. Phương
pháp TUG và BCH PRISMA-7 là 2 cơng cụ đánh giá suy yếu có giá trị cao đã được
sử dụng và nghiên cứu nhiều trên thế giới, tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam giá trị của
phương pháp TUG và PRISMA-7 trong tầm soát suy yếu vẫn chưa được nghiên cứu
nhiều. Theo Hội Lão Khoa Anh Quốc, Hội Nghị Quốc Tế Nghiên Cứu về Suy Yếu
và Thiếu Cơ (International Conference of Frailty and Sarcopenia Research) cũng như
nhiều tổ chức khác đưa ra khuyến cáo việc đánh giá suy yếu ở NCT phải được thực
hiện thường quy [52], [54], [121]. Tuy nhiên, do tốc độ già hóa dân số tăng nhanh tại
Việt Nam làm tăng áp lực về số lượng NCT đến khám tại các phòng khám ngoại trú
dẫn đến việc đánh giá suy yếu tại phòng khám ngoại trú bằng thang Fried dần trở nên
không khả thi và thầy thuốc dần lãng quên suy yếu. Do đó, tại các PKLK cần có cơng
cụ đơn giản, nhanh, dễ thực hiện và giá trị để thầy thuốc đánh giá suy yếu thường quy
và cũng phần nào đó nhắc nhở thầy thuốc ảnh hưởng của suy yếu lên chăm sóc và
điều trị sức khỏe NCT [52], [84]. Chính vì vậy chúng tơi thực hiện nghiên cứu: “Giá
trị của phương pháp Time-up-and-go và bộ câu hỏi PRISMA-7 trong chẩn đốn
suy yếu tại phịng khám lão khoa Bệnh viện Nhân Dân Gia Định” với 2 câu hỏi:
• Điểm cắt tối ưu của BCH PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu tại PKLK là bao
nhiêu và có hay khơng sự khác biệt về thời gian đánh giá suy yếu theo BCH
PRISMA-7 và tiêu chuẩn Fried?
• Điểm cắt tối ưu của phương pháp TUG trong chẩn đoán suy yếu tại PKLK là bao
nhiêu và có hay khơng sự khác biệt về thời gian đánh giá suy yếu theo phương
pháp TUG và tiêu chuẩn Fried?


.


.

3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Xác định giá trị của phương pháp Time-up-and-go và bộ câu hỏi PRISMA-7 so
với tiêu chuẩn Fried trong chẩn đốn suy yếu tại phịng khám lão khoa bệnh viện
Nhân Dân Gia Định từ tháng 12/2019 đến tháng 6/2019.
Mục tiêu cụ thể
1. Xác định điểm cắt tối ưu của bộ câu hỏi PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu
và so sánh thời gian đánh giá suy yếu theo bộ câu hỏi PRISMA-7 với tiêu
chuẩn Fried.
2. Xác định điểm cắt tối ưu của phương pháp Time-up-and-go trong chẩn đoán
suy yếu và so sánh thời gian đánh giá yếu theo phương pháp Time-up-and-go
với tiêu chuẩn Fried.

.


.

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về suy yếu
1.1.1. Định nghĩa suy yếu

Suy yếu từ khi được đưa khái niệm đến nay đã có nhiều định nghĩa. Tuy nhiên,
việc đưa ra một định nghĩa thống nhất đến nay vẫn chưa được đồng thuận bởi vì có
sự chồng lấp giữa suy yếu và một số yếu tố khác thường gặp ở NCT như: sự phụ
thuộc, tàn phế, các bệnh lý bệnh đồng mắc, suy giảm các hoạt động chức năng, suy
giảm nhận thức [43], [58], [82], [84].
Khái niệm suy yếu lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1968 trong một nghiên cứu cắt
ngang mô tả ở NCT trong cộng đồng. Nghiên cứu này đã phác thảo suy yếu như là
một phản ứng quá mức và không tương xứng ở NCT với những biến cố bất lợi [99].
Vào những năm 1980, suy yếu được định nghĩa rất rộng, tình trạng cần được chăm
sóc và khuyết tật đồng nghĩa với suy yếu. Chủ đề suy yếu bắt đầu được đề cập và ghi
nhận của các tài liệu y khoa vào những năm 1990, giống như là một tình trạng bị tổn
thương quá mức ở những bệnh nhân cao tuổi thường được ghi nhận bởi những nhà
lão khoa. Năm 1992, Buchner và Wagner đưa ra 3 vấn đề cơ bản của suy yếu là: kiểm
soát thần kinh, hiệu suất hoạt động và chuyển hóa năng lượng. Cùng năm đó, Fried
đưa ra tóm tắt về sinh lý của suy yếu, mô tả suy yếu là một hội chứng lão hóa đặc
trưng bởi các yếu tố: yếu cơ, sợ té ngã và sụt cân [127].
Năm 2001, Fried và cộng sự đưa khái niệm kiểu hình suy yếu và 5 yếu tố biểu hiện
lâm sàng bao gồm: sụt cân, mau mệt, mức hoạt động thấp, yếu cơ và chậm chạp. Suy
yếu xác định theo tiêu chí của Fried ngày càng nhận được sự đồng thuận cao của các
nhà khoa học, thống nhất đây là một hội chứng lâm sàng bao gồm nhiều dấu hiệu và
triệu chứng [63]. Năm 2013, hội nghị đồng thuận của Hiệp Hội Tích Tuổi Học Và
Lão Khoa Quốc Tế (International Association of Gerontology and Geriatrics) and Tổ
chức Y tế thế giới (World Health Organization) đưa ra định nghĩa: “Suy yếu là một
hội chứng lâm sàng do nhiều nguyên nhân và yếu tố hình thành, đặc trưng bởi sự

.


.


5

giảm sức mạnh, sự dẻo dai và giảm các chức năng sinh lý làm tăng sự phụ thuộc và
tử vong”[36].
Năm 2015, Fulop T và cộng sự định nghĩa suy yếu là “Một hội chứng lão khoa
phức tạp do nhiều nguyên nhân hình thành, là kết quả của sự suy giảm tích lũy dự trữ
nhiều cơ quan và hệ thống sinh lý cơ thể; biểu hiện bởi sự mất cân bằng nội môi trong
cơ thể” [65]. Cùng năm này, Tocchi mô tả suy yếu là “Tình trạng sức khỏe trở nên dễ
tổn thương, do sự tương tác phức tạp của sinh lý, tâm lý xã hội và những thử thách từ
môi trường bên ngoài làm cho NCT dễ gia tăng kết cục bất lợi” [120]. Năm 2016,
Dent và cộng sự cho rằng suy yếu được xem là “Hội chứng lão hóa phức tạp, đặc
trưng bởi sự suy giảm chức năng nhiều hệ thống cơ quan và trong đó mỗi cá thể có
thể chuyển sang những tình trạng suy yếu nặng hơn” [53].
Suy yếu là sự tích lũy các bệnh lý tiềm tàng, rối loạn dưới lâm sàng, mất chức năng
cơ quan, bộ phận và hệ thống cơ thể. Suy yếu là biểu hiện thiếu sót nguyên phát liên
quan đến giảm chức năng sinh lý, thậm chí là làm phá vỡ hằng định nội môi. Đồng
thời, suy yếu là kết quả của thay đổi sinh lý hay sinh học, có liên quan đến tuổi, kết
hợp một hay nhiều bệnh lý hay thậm chí là giai đoạn cuối của bệnh trầm trọng [22].
Tóm lại, suy yếu có thể được hiểu là “hội chứng lâm sàng phức tạp do nhiều yếu
tố tác động làm suy giảm khả năng đương đầu với những thử thách, làm tăng khả
năng dễ tổn thương và giảm khả năng duy trì nội mơ mà có đặc tính chính là giảm dự
trữ hệ thống chức năng sinh lý theo tuổi, giảm khả năng trở về tình trạng sức khỏe ổn
định, gia tăng các kết cục lâm sàng bất lợi ” [22], [123]. Mức độ suy yếu có thể thay
đổi từ dưới lâm sàng tới giai đoạn lâm sàng rõ ràng đến giai đoạn cuối đời [22].
1.1.2. Biểu hiện suy yếu
Một số yếu tố có liên quan đến tình trạng suy yếu như: tuổi, chủng tộc, trình độ
học vấn, bệnh mạn tính, lối sống và tình trạng dinh dưỡng. Các yếu tố này có thể tác
động đến NCT dẫn đến sự thay đổi trong quá trình sinh lý thể hiện ở 3 mức độ. Mức
đầu tiên là những thay đổi trong tế bào (bao gồm sự tích tụ các gốc oxi hóa tự do, sự
ngắn lại của đầu telomere trên nhiễm sắc thể), mức tiếp theo là rối loạn trong điều


.


.

6

hịa hệ thống trong cơ thể (ví dụ như hệ thống đơng máu, nội tiết, chuyển hóa) và mức
cuối cùng là suy giảm hệ thống chức năng cơ quan (ví dụ cơ xương khớp, nhận thức
và thần kinh) [61]. Dẫn đến biểu hiện lâm sàng suy yếu là tình trạng yếu cơ, chậm
chạp, mức hoạt động năng lượng thấp, mau mệt khi hoạt động, sụt cân không chủ ý,
suy giảm các giác quan, không đủ dinh dưỡng [23], [61].
1.1.3. Phân loại suy yếu
Có 2 loại suy yếu: nguyên phát và thứ phát, suy yếu ngun phát do q trình lão
hóa nội sinh. Suy yếu thứ phát liên quan đến giai đoạn cuối của bệnh mạn tính, liên
quan đến q trình viêm và suy mòn như suy tim, COPD, ung thư [23].
1.1.3.1. Suy yếu nguyên phát
Giảm khối cơ là thành phần cốt lõi của suy yếu và là yếu tố tiên lượng các biểu
hiện lâm sàng khác. Các yếu tố tiên lượng giảm khối cơ và sức cơ trong quá trình lão
hóa bao gồm: giảm các yếu tố đồng hóa như testosterone, IGF-1, giảm hoạt động thể
chất, thiếu dinh dưỡng (protein, năng lượng, vitamin D và các vi chất khác) và bản
thân của tuổi cao [23]. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ở những NCT suy yếu thì có sự gia
tăng các cytokine viêm như CRP, IL-6, TNF-α, nồng độ fibrinogen, yếu tố von
Willebrand, yếu tố VIII và có sự gia tăng số lượng bạch cầu (bạch cầu đa nhân trung
tính, bạch cầu đơn nhân và lympho), ở hệ miễn dịch có sự gia tăng tế bào T CD8+, tế
bào T CD8+ CD 28-, mặc khác có sự suy giảm nồng độ hemoglobin máu, giảm nồng
độ IGF-1 [100]. Đồng thời, những NCT có suy yếu thì có sự rối loạn trục hạ đồi –
tuyến yên – tuyến thượng thận, rối loạn quá trình tiết glucocorticoid, gia tăng tình
trạng đề kháng insulin [47].

1.1.3.2. Suy yếu thứ phát
Các bệnh lý nguyên phát có lẽ thơng qua q trình viêm và hoặc hậu quả của chúng
trên chức năng tim phổi và tình trạng giảm hoạt động. Các bệnh lý này bao gồm các
rối loạn miễn dịch (HIV/AIDS), suy tim, COPD và các hiễm trùng mạn tính ví dụ
như lao. Có một số bằng chứng cho thấy suy yếu là yếu tố tiên lượng không dung nạp
hóa trị ở bệnh nhân ung thư và biến cố xấu sau ghép thận [23].

.


.

7

Tuổi

Các rối loạn:

Dinh dưỡng

Hormon
Suy dinh dưỡng mạn tính

Bệnh tật

Q trình viêm

Mơi trường

Đơng máu


↓ tổng năng lượng

Chu trình

tiêu thụ

Thiếu cơ

của suy yếu

↓ hoạt động thể chất

↓ tốc độ chuyển hóa khi nghỉ
Đề kháng insulin

↓ tốc độ đi bộ

Loãng xương
↓ VO2 tối đa
↓ sức mạnh/năng lượng

Sơ đồ 1.1: Chu trình và biểu hiện lâm sàng của suy yếu
Nguồn: Fried L P (2001) [63]. Lang P O (2009) [85].
1.1.4. Hậu quả của suy yếu
Suy yếu là một hội chứng lão hóa làm tăng biến chứng nội viện, tử vong, té ngã,
gãy xương, tái nhập viện. Nhiều cơng trình nghiên cứu trong nước và thế giới cho
thấy ảnh hưởng của suy yếu lên kết cục lâm sàng xấu ở bệnh nhân NCT [10], [46],
[70], [93], [94]. Trong một bài tổng hợp từ 31 công trình nghiên cứu về ảnh hưởng
suy yếu lên kết cục lâm sàng ở NCT cho thấy, suy yếu sẽ làm gia tăng tử vong từ 1,8

- 2,3 lần, tăng phụ thuộc hoạt động ADL (Activities of Daily Living) 1,6 - 2,0 lần,
tăng tái nhập viện 1,2 - 1,8 lần, tăng giới hạn hoạt động từ 1,5 - 2,6 lần, tăng té ngã
và gãy xương từ 1,2 - 2,8 lần [123]. Một khi suy yếu hiện diện và tiến triển thì các

.


.

8

thành phần khác của hội chứng lão hóa cũng xuất hiện theo như té ngã, tiểu không tự
chủ, suy giảm hoạt động chức năng, loét tì đè, suy giảm nhận thức và sảng [55]. Bên
cạnh đó, NCT suy yếu có nhiều nguy cơ gặp phản ứng bất lợi do thuốc trong quá trình
điều trị [51], [74]. Mặc khác, nghiên cứu cho thấy NCT suy yếu thì gia tăng phi phí
y tế, cũng như gia tăng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [64], [71].
Biến cố từ bên ngồi (ví dụ: bệnh lý nhẹ, chấn thương…)

Khỏe Đáp ứng với biến cố
mạnh

Suy yếu Đáp ứng với biến cố
nhẹ

Đáp ứng với biến cố

Phụ thuộc

Suy yếu
nặng

Kết cục lâm sàng bất lợi

Hình 1.1: Ảnh hưởng của mức độ suy yếu khi có biến cố lâm sàng
Nguồn: Clegg A, 2013 [46].

1.2. Đánh giá suy yếu trong thực hành lâm sàng
Suy yếu là một vấn đề được quan tâm và nghiên cứu, chính vì vậy đã có nhiều
cơng cụ để đánh giá, tính đến năm 2019 đã có 51 cơng cụ đánh giá suy yếu [60].
Trong đó có thể kể đến như tiêu chuẩn Fried, chỉ số suy yếu, thang điểm suy yếu lâm
sàng, BCH PRISMA-7, phương pháp TUG, tốc độ đi. Đánh giá suy yếu là một thành
phần cốt lõi của đánh giá lão khoa toàn diện và phải được thực hiện ở mỗi lần tiếp
xúc giữa NVYT và NCT ngoài cộng đồng hay nội trú [53], [54], [121].

.


.

9

Trong những cơng cụ sử dụng thì tiêu chuẩn Fried và chỉ số suy yếu được sử dụng
nhiều nhất trong các nghiên cứu [41], [77], [110]. Vấn đề quan trọng khi lựa chọn
công cụ đánh giá suy yếu là dân số khảo sát là: BN loãng xương, ung thư, chăm sóc
giảm nhẹ, bệnh tim mạch, tiền phẫu cũng như các yếu tố có thể cân nhắc trong q
trình như thời gian, dụng cụ thiết bị hỗ trợ đánh giá, NVYT chăm sóc ban đầu hay là
bác sĩ lão khoa, NCT tại cơ sở chăm sóc y tế ban đầu, phịng khám ngoại trú, ngoài
cộng đồng hay NCT điều trị nội trú [53], [54], [59], [105], [121].
1.2.1. Tiêu chuẩn Fried
Tiêu chuẩn Fried được ra đời năm 2001 và cũng là lần đầu tiên đưa ra khái niệm
“kiểu hình suy yếu” (frailty phenotype). Tiêu chuẩn này gồm 5 yếu tố: sụt cân, mau

mệt, chậm chạp, mức hoạt động thấp và yếu cơ [63] (Phụ lục 1).
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy yếu theo Fried
Đặc điểm

Tiêu chuẩn

Sụt cân

Trong năm qua giảm không chủ ý >10 pound (>4,5kg)
Trong tuần qua “tôi làm mọi thứ đều gắng sức” hoặc

Mau mệt

“không thể làm được”
Thời gian đi 15 feet (4,57m) kéo dài (hiệu chỉnh theo giới và tuổi)

Chậm chạp
Mức hoạt

Đối với nam tiêu hao ≤ 383 Kcal/tuần và nữ ≤ 270 Kcal/tuần

động thấp

Dựa vào sức mạnh nắm tay được đo bằng dụng cụ đo sức cơ tay

Yếu cơ

(điểm cắt tùy theo giới và BMI)

“Nguồn: Fried L P, 2001” [63]. Nguyễn Văn Trí, Thân Hà Ngọc Thể [23].

Biểu hiện giảm sức cơ và giảm tốc độ đi là yếu tố dự đoán biểu hiện suy yếu lâm
sàng, với biểu hiện 1 - 2 triệu chứng sẽ tiến triển thành 3 - 4 - 5 triệu chứng trong
vòng 3 năm tới, nên tác giả đề nghị xếp vào nhóm tiền suy yếu. Chẩn đốn suy yếu
khi có ≥ 3 trong 5 tiêu chí, khi có 1 hoặc 2 tiêu chí thì được gọi là tiền suy yếu, gọi là

.


.

10

khỏe mạnh khi khơng có tiêu chí nào trong 5 tiêu chí trên [63]. Tiêu chuẩn Fried xuất
phát từ nghiên cứu Cardiovascular Health Study đối tượng là 5210 những người trên
65 tuổi tại Hoa Kỳ, nên còn được gọi là thang điểm CHS. Tiêu chuẩn này được sử
dụng nhiều trong các nghiên cứu dịch tễ học, đồng thời có vai trò tiên lượng tử vong
hay biến cố khác ở NCT: té ngã, tái nhập viện, tàn phế, gãy xương [46], [63]. Tất cả
5 tiêu chí đánh giá trong tiêu chuẩn Fried: sụt cân, mau mệt, chậm chạp, mức hoạt
động thấp, yếu cơ là 5 biểu hiện lâm sàng đặc trưng theo sinh bệnh học của suy yếu
đã được chứng minh [128]. Bên cạnh đó, lý thuyết của tác giả này đưa ra tạo điều
kiện cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu cơ chế sự phát triển của hội chứng này [46].
Tính đến năm 2013, tiêu chuẩn Fried là cơng cụ đánh giá suy yếu được nghiên cứu
nhiều nhất [41]. Tiêu chuẩn Fried và chỉ số suy yếu là 2 công cụ đánh giá suy yếu
chính và có giá trị [77]. Theo Hội lão khoa Anh Quốc, tiêu chuẩn Fried được xem

Số nghiên cứu

như là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá suy yếu ở NCT [48], [121].

năm


Hình 1.2: So sánh các thang điểm đánh giá suy yếu được nghiên cứu.
Nguồn: Buta B J (2016) [41].

.


.

11

1.2.2. Bộ câu hỏi PRISMA-7
PRISMA-7 là bộ công cụ tầm soát suy yếu do NCT tự trả lời, gồm 7 nội dung đơn
giản được đề xuất từ chương trình đánh giá tầm soát và can thiệp suy yếu rất lớn tại
Quebec, Canada “Program of Research to Integrate Services for the Maintenance of
Autonomy” (chương trình nghiên cứu để triển khai các dịch vụ duy trì tính tự chủ ở
NCT). Chương trình bắt đầu năm 2001 trên 1501 người cao tuổi ở cộng đồng, theo
dõi và đánh giá can thiệp các biến cố sức khỏe trong 4 năm. PRISMA-7 được đề xuất
vào năm 2002 và đến năm 2007 Hébert R đã đưa ra một khuyến cáo chuyên biệt cho
việc sử dụng PRISMA-7 trở thành một bộ cơng cụ tầm sốt suy yếu [73], [104].
Chương trình PRISMA sử dụng BCH SMAF (Système de Mesure de l’Autonomie
Fonctionnelle scale) do Herbert và cộng sự đề xuất năm 2001. SMAF bao gồm 29
câu hỏi dựa trên 5 lĩnh vực: ADL, hoạt động chức năng sinh hoạt hàng ngày (IADL:
Instrumental Activities of Daily Living), tình trạng vận động, giao tiếp và tâm thần.
SMAF là tiêu chẩn đánh giá suy yếu có giá trị được sử dụng ở Canada và Pháp, xác
định suy yếu khi NCT có tổng điểm BCH từ 15 trở lên. Trong quá trình nghiên cứu
PRISMA, dựa trên những tiêu chí cốt lõi của SMAF người ta đã đưa ra BCH tầm soát
suy yếu PRISMA-7. Ban đầu, chương trình PRISMA đưa ra 2 BCH là PRISMA-7 và
BCH gồm 9 yếu tố. Theo nghiên cứu của Michel Raiche và Rejean Hebert tiến hành
trên 594 NCT để so sánh giá trị của 2 BCH trên. Kết quả cho thấy 2 BCH: PRISMA7 và BCH gồm 9 yếu tố có AUC tương đương nhau: 0,84 và 0,82. Nhưng khi xét về

giá trị thì điểm cắt ≥ 3 BCH PRISMA-7 có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 78,3%
và 78,7%, còn điểm cắt ≥ 3 của BCH gồm 9 yếu tố có độ nhạy và độ đặc hiệu là
69,6% và 80,8%, kết quả cho thấy điểm cắt ≥ 3 của PRISMA-7 có giá trị tốt hơn. Từ
đó PRISMA-7 trở thành BCH tầm sốt suy yếu có giá trị trong chương trình PRISMA.
Khi đánh giá bằng BCH PRIMA-7 có bất thường sẽ đánh giá chính xác bằng BCH
SMAF [104].
PRISMA-7 được xem là một cơng cụ tầm sốt suy yếu có giá trị và tin cậy với độ
nhạy là 86%, độ đặc hiệu 83% và AUC = 0,85 [76]. PRISMA-7 là có ưu điểm là dễ
thực hiện, đơn giản không yêu cầu dụng cụ chuyên biệt, cũng như không cần phải

.


.

12

huấn luyện cho NVYT [27], [30], [53]. Về thời gian đánh giá PRISMA-7 cũng thay
đổi, trong 1 nghiên cứu tại phịng cấp cứu thì NVYT chỉ cần mất trung bình 52 giây
(40 – 77 giây) để hoàn thành đánh giá suy yếu bằng PRISMA-7 [57]. Năm 2018,
trong một nghiên cứu ở NCT nội trú, thời gian đánh giá suy yếu theo PRISMA-7
trung bình là 5,07 phút (2-10 phút) [18]. Tại Việt Nam, PRISMA-7 đã được nghiên
cứu trên đối tượng NCT nội trú, tuy nhiên chưa được nghiên cứu trên NCT ngoại trú,
trong khi PRISMA-7 được khuyến cáo sử dụng tầm soát suy yếu khi NVYT lần đầu
tiếp xúc với NCT tại PKLK [26], [91]. Chính vì những điểm trên mà chúng tơi lựa
chọn cơng cụ này để tầm sốt suy yếu tại PKLK. Tại Việt Nam, BCH này đã được
nghiên cứu chuyển ngữ sang tiếng Việt bởi tác giả Nguyễn Hữu Ấn và cộng sự [1].
Bảng 1.2: Bộ câu hỏi PRISMA-7
STT


Câu hỏi

1

Ơng/bà đã hơn 85 tuổi chưa?

2

Giới tính nam?
Ơng/bà có thường gặp vấn đề sức khỏe khiến ông/bà

3

bị giới hạn một số hoạt động?
Ơng/bà có nhờ đến sự giúp đỡ của người thân

4

trong hoạt động thường ngày?
Ơng/bà có thường phải ở nhà do vấn đề sức khỏe hay không?

5

Khi cần sự trợ giúp, có ai đó thân thiết mà ơng/bà

6

có thể nhờ vả hay khơng?
Ơng/bà có thường sử dụng gậy chống, khung tập đi, xe lăn


7

để di chuyển hay không?
Nguồn: Raiche M (2008) [104].
(bản tiếng Việt của BCH PRISMA-7 dựa theo nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Hữu Ấn và cộng sự (Phụ lục 3 )[1]).

Mỗi câu hỏi có 2 sự lựa chọn là có hoặc khơng. Khi có từ 3 sự lựa chọn trở lên,
đánh giá là có suy yếu. Câu trả lời là “một ít” hoặc “một vài lần” được xem là có.

.


.

13

1.2.3. Phương pháp Time-up-and-go
TUG là một phương pháp đánh giá khả năng di chuyển thông qua đi bộ, dựa trên
phương pháp Get-up-and-go của Mathias và cộng sự vào năm 1986. Get-up-andgo thực hiện bằng cách cho NCT ngồi trên ghế có tay vịn, khi người quan sát nói bắt
đầu thì NCT đứng dậy đi thẳng về phía trước 3m sau đó quay 1800 và đi lại vị trí ban
đầu và ngồi xuống. TUG có cách thực hiện giống như phương pháp Get-up-and-go,
tuy nhiên có ghi lại tổng thời gian NCT hoàn thành phương pháp trên [114].
Dụng cụ thực hiện gồm: đồng hồ bấm giờ, ghế có tay vịn và khoảng cách đi bộ
3m. Trong một bài tổng quan, tổng hợp 21 nghiên cứu về TUG, cho thấy chiều cao
từ mặt đất lên sàn ghế được sử dụng trong nghiên cứu dao động từ 40cm đến 50cm
và quãng đường đi đều là 10 feet (tương đương 3m) [37].

Hình 1.3: Minh họa quá trình thực hiện phương pháp TUG
Nguồn: Browne W (2019) [39].

TUG có giá trị trong đánh giá khả năng di chuyển của NCT vì đánh giá nhiều khả
năng: từ ngồi sang đứng dậy, giữ thăng bằng và đi thẳng, quay lại và ngồi xuống lại
ghế [114]. Về ưu điểm của TUG chính là đơn giản, nhanh chóng, khơng u cầu dụng
cụ chuyên biệt và dễ dàng thực hiện, cũng như không cần phải huấn luyện chuyên
sâu cho NVYT. Đồng thời có mối liên quan giữa thời gian hồn thành TUG với thang

.


.

14

đo lường thăng bằng Berg (r = - 0,81), tốc độ đi (r = - 0,61) và ADL (r = - 0,78) và
là một yếu tố dự đốn NCT có thể tự đi ra ngoài an toàn [102].
Về vấn đề đọc kết quả TUG, hiện nay cũng có một số sự khác biệt. Theo hướng
dẫn trên Tạp chí Điều Dưỡng Hoa Kỳ (American Journal of Nursing):
-

TUG < 10 giây: bình thường.

-

TUG < 20 giây và di chuyển tốt: NCT có thể di chuyển ra bên ngồi một mình
mà khơng cần dụng cụ hỗ trợ.

-

TUG < 30 giây: NCT không thể ra ngồi một mình, cần hỗ trợ dụng cụ khi di
chuyển [101].


Ngoài ra, thời gian thực hiện hoàn thành TUG còn liên quan đến tuổi của người
tham gia nghiên cứu.
Bảng 1.3: Khoảng tham chiếu của TUG và tuổi
Nhóm tuổi

Thời gian thực hiện TUG (KTC 95%) (giây)

60 – 99 tuổi

9,4 (8,9 – 9,9)

60 – 69 tuổi

8,1 (7,1 – 9,0)

70 – 79 tuổi

9,2 (8,2 – 10,2)

80 – 99 tuổi

11,3 (10,2 – 12,7)
Nguồn: Bohannon R W (2006) [37].

Hội Lão Khoa Anh Quốc đưa ra khuyến cáo, suy yếu có thể đánh giá thơng qua
việc thực hiện phương pháp TUG > 10 giây, với độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 62% và
AUC = 0,87 [121]. Theo NICE (National Institute for Health and Care Excellence),
đánh giá suy yếu ở PKLK có thể dùng phương pháp TUG, với điểm cắt 12 giây [91].
Ngoài ra, TUG được biết đến như là một cơng cụ dự đốn nguy cơ té ngã ở NCT,

thời gian hoàn thành càng lâu thì nguy cơ té ngã càng cao. Trong một nghiên cứu tại
Trung Quốc thì điểm cắt thời gian thực hiện phương pháp TUG ≥ 15,96 giây thì NCT
có nguy cơ té ngã cao trong cộng đồng [80]. Đồng thời, phương pháp TUG có vai trị
trong tiên lượng trong điều trị. Thời gian thực hiện TUG càng cao là một yếu tố tiên
lượng NCT tái nhập viện, suy giảm hoạt động chức năng cũng như tử vong sau xuất
viện [32], [56]. Thời gian thực hiện TUG càng lâu thì nguy cơ tử vong càng cao và

.


×