Mục lục
Mục lục : BẢNG và BIỂU ĐỒ
Bảng 2 1 :Phân loại thể trạng theo WHO (2000) [11]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tăng huyết áp (THA) là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối
đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng
đầu ở người cao tuổi. Trong số các trường hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm
có khoảng 35% - 40% nguyên nhân do THA [27].
Tỷ lệ bệnh THA rất cao và có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở các nước có nền
kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển. Bệnh THA gây nhiều biến chứng nguy
hiểm như: tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch vành, suy thận... phải điều trị lâu dài,
cần sử dụng thuốc và phương tiện đắt tiền. Chính vì thế bệnh THA không những ảnh hưởng
1
đến chất lượng cuộc sống của bản thân người mắc bệnh mà còn là gánh nặng cho gia đình
và xã hội.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của bộ môn Tim mạch và Viện Tim mạch tại Hà Nội
năm 2001-2002, tỷ lệ THA ở người lớn là 23,2%. Tỷ lệ THA trong các nghiên cứu về dịch
tễ học luôn vào khoảng từ 20% đến 25%. Bệnh THA liên quan đến một số rối loạn chuyển
hóa glucose máu, lipid máu... Các rối loạn chuyển hóa này vừa là nguyên nhân gây THA
vừa là hậu quả của THA và như vậy khi bị THA bệnh ngày càng nặng lên do các biến
chứng tại tim, não, thận. Đây là vòng xoắn bệnh lý mà chúng ta cần quan tâm. Dự báo
trong những năm tới số người mắc bệnh THA sẽ còn tăng do các yếu tố liên quan như: hút
thuốc lá, lạm dụng rượu-bia, dinh dưỡng bất hợp lý, ít vẫn động vẫn còn phổ biến. Theo Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) khống chế được những yếu tố này có thể làm giảm được 80%
bệnh THA [1]
Hiện tại, ở phòng khám THA BV Đa khoa huyện Thường Tín quản lý gần 2000 bệnh
nhân THA trên địa bàn huyện Thường Tín. Để góp phần hạn chế các biến chứng của bệnh,
giảm tỷ lệ bệnh nhân THA phải tái nhập viện, thì việc giáo dục sức khỏe thường xuyên và
điều trị liên tục nhằm kiểm soát để đạt được huyết áp mục tiêu cho bệnh nhân bị THA tại
cộng đồng là một vấn đề rất quan trọng. Vì vậy công tác điều trị, quản lý bệnh nhân THA
ngoại trú là chủ yếu và vô cùng cần thiết. Để kiểm soát có hiệu quả bệnh THA ngoài việc
điều trị bằng thuốc thì việc thay đổi lối sống, thói quen sinh hoạt đóng một vai trò quan
trọng.
Nhằm từng bước hiểu rõ các yếu tố nguy cơ và hiệu quả điều trị THA tại phòng khám,
nâng cao hiệu quả điều trị ngoại trú bệnh THA chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Khảo sát một số các yếu tố nguy cơ và đánh giá thực trạng điều trị bệnh tăng huyết áp
tại Bệnh viên đa khoa huyện Thường Tín năm 2015” nhằm đạt được các mục tiêu sau:
1 Khảo sát một số rối loạn chuyển hóa và các yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp.
2 Đánh giá thực trạng điều trị tăng huyết áp tại phòng khám quản lý bệnh THA và phòng
khám quản lý bệnh ĐTĐ Bệnh viện đa khoa huyện Thường Tín.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa THA
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): một người lớn được gọi là THA khi huyết áp tối đa
(HA tâm thu ) ≥ 140 mmHg và hoặc HA tối thiểu (HA tâm trương) ≥ 90 mmHg hoặc đang
điều trị thuốc hạ HA hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [1],
[4].
1.1.2 Phân loại THA
2
Phân hội THA /Hội tim mạch Việt nam phân độ THA năm 201
Bảng 1. 1: Phân độ tăng HA theo VSH/VNHA 2014
Phân độ THA
Huyết áp (mmHg)
Tâm thu
Tâm trương
Tối ưu
<120
và
<80
Bình thường*
120–129
và/hoặc
80–84
Bình thường cao*
130–139
và/hoặc
85–89
THA độ 1
140–159
và/hoặc
90–99
THA độ 2
160–179
và/hoặc
100–109
THA độ 3
≥180
và/hoặc
≥110
TH tâm thu đơn
≥140
và
<90
độc
*Tiền THA: khi HA TT > 120-139 và HATTr > 80-89 mmHg
Nếu HA không cùng mức để phân loại thì chọn mức HA tâm thu hay tâm trương cao
nhất.
1.2 Cơ chế bệnh sinh bệnh THA
Cơ chế bệnh sinh gồm THA nguyên phát và THA thứ phát [2].
Angiotensinnogen
Hệ thống cạnh cầu thận và một số tổ chức khác
1.2.1
THA nguyên phát
α2
globulin
do phát
gan sản
xuấttới 90% các trường hợp [1], cơ chế bệnh sinh đến nay chưa rõ
THA
nguyên
chiếm
ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau đây có thể gây THA:
α
- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm sẽ làm tim ở trạng thái tăng động do tăng hoạt
động của tim dẫn đến tăng cung lượng và tăng tầnRenin
số tim. Toàn bộ hệ thống động mạch
ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi để lại hậu quả cuối cùng
Angiotensin I
là THA động mạch [4].
Tăng hoạt động thần kinh giao cảm
Converting enzyme
Tăng cung
ở tuần hoàn phổi
lượng tim
Angiotensin II
Tăng huyết áp hệ thống động mạch
Co thắt động
mạch ngoại vi
Kích thích vỏ thượng thận thận và tăng sản xuất aldosterol
Chất
gian
Angiotensin
Sơ
đồtrung
1: Cơ
chế
bệnh sinhIIITHA doCotăng
độnghoạt
mạchđộng TK giao cảm
- Tác dụng co mạch của adrenalin và noradrenalin: hai chất này do tủy thượng thận
tiết ra, khi hệ giao cảm kích thích Adrenalin có tác dụng co mạch dưới da nhưng lại làm
giãn mạch vành, mạch não, mạch cơ vân nên chỉ làm THA tối đa, Noradrenalin làm co
mạch toàn thân nên làm tăng cả HA tối đa và HA tối thiểu [10].
Tăng
- Vai trò của hệ RAA: Renin- Angiotensin-Aldosteron
[4]tái hấp thu muối và nước
Tăng sức kháng của động mạch ngoại vi
3
Tăng huyết áp
Tăng thể tích máu
Sơ đồ 2: Vai trò R.A.A trong tăng huyết áp
Renin là enzym được tế bào tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có
yếu tố kích thích. Yếu tố kích thích renin là nồng độ muối trong huyết tương và kích thích
thụ thể β của adrenecgic. Khi renin được tiết ra sẽ chuyển α 2 globulin (được tổng hợp từ
gan) gọi là Angiotensinnogen thành angiotensin I (là peptid có 10 acid amin), theo máu đến
tuần hoàn phổi được tách khỏi chất vận chuyển và cắt đi 2 acid amin nhờ men coverting ở
phổi còn lại 8 acid amin được gọi là Angiotensin II có nhiều tác dụng
+ Trên mạch máu : Angiotensin II làm co các tiểu động mạch sát với mao mạch nơi
mà thành tiểu động mạch còn cơ trơn. Tác dụng co mạch của Angiotensin II mạnh gấp 30
lần Noradrenain
+ Kích thích lớp cầu của vỏ thượng thận làm tăng tiết Aldosterol do tác dụng lên
enzim 20 α hydroylase, là enzym chuyển cholesterol thành 20 α hydroy cholesterol, gây
tăng giữ nước và giữ muối.
+ Kích thích trực tiếp lên ống thận làm tăng tái hấp thu Natri.
+ Kích thích vùng protrema (diện sau cùng ở nền não thất IV) là vùng có tế bào nhạy
cảm với tác dụng của Angiotensin II, do đó làm tăng trương lực mạch máu và làm tăng sức
cản ngoại vi dẫn đến THA.
4
+ Kích thích các cúc tận cùng TK giao cảm tăng tiết Noradrenalin và giảm sự tái
nhập Noradrenalin trở lại các cúc tận cùng
+ Làm tăng tính nhậy cảm của Noradrenalin với mạch máu.
Từ những hiểu biết trên ta thấy Angiotensin II có tác dụng khắp toàn bộ hệ thống động
mạch làm tăng sức cản ngoại vi và tăng thể tích dịch lưu hà nh là cơ sở của THA
- Giảm chất điều hòa huyết áp: Prostaglandin E2 và kali krein ở thận có chức năng
sinh lý là điều hòa huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu khi chất này bị ức chế hoặc
thiếu gây THA.
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: Natri có vai trò trong bệnh
THA cả trên thực nghiệm và trong điều trị. Trong điều kiện bình thường các hormon và
thận sẽ hiệp đồng để thải natri làm cho lượng natri trong máu ổn định. Hiện tượng ứ natri
xảy ra sẽ làm tăng giữ nước, hệ thống mạch sẽ tăng nhậy cảm với Adrenalin và
Noradrenalin làm co mạch gây THA.
1.2.2 THA thứ phát
Bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng như:
- Bệnh thận ở nhu mô thận đều có thể gây THA thứ phát.
- THA do dị dạng động mạch thận.
- U tủy thượng thận.
- Do cường aldosterone và hội chứng cushing.
- Hẹp eo động mạch chủ.
- THA ở phụ nữ có thai.
- Sử dụng estrogen.
- Các nguyên nhân khác: THA kết hợp với tăng kali máu, bệnh to đầu chi, tăng canxi
máu do cường tuyến cận giáp.
1.3 .Các yếu tố nguy cơ của bệnh THA
Nguy cơ về bệnh tim mạch ở những bệnh nhân THA được xác định không chỉ phụ
thuộc vào chỉ số huyết áp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ khác như đái tháo
đường, rối loạn chuyển hóa lipid ...việc xác định các yếu tố nguy cơ có hay không đối với
bệnh nhân THA sẽ quyết định thái độ điều trị khác nhau.
1.3.1 Đái tháo đường type 2
Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới thì tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ type 2 có THA kèm
theo chiếm khoảng 71%.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Tô Văn Hải (2005) trên 400 bệnh nhân ĐTĐ thì có
218 bệnh nhân có kèm theo THA (chiếm tỷ lệ 54,5%) [8]. Cao Mỹ Phương và cộng sự
(2005) thì tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp kèm theo chiếm 55,56% [18].
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc THA ở những bệnh nhân ĐTĐ type 2 gần gấp đôi ở
những bệnh nhân không ĐTĐ, mối liên quan này làm gia tăng đáng kể các biến chứng tim
mạch (lớn gấp 2 lần so với bệnh nhân THA không có ĐTĐ). Do vậy khả năng xảy ra các
biến chứng về tim mạch trong vòng 10 năm ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 kèm theo THA là từ
20%-30%.
5
1.3.2 Rối loạn chuyển hóa lipid máu
Rối loạn chuyển hóa lipid máu là nguyên nhân chính dẫn đến vữa xơ động mạch, đó là
nguyên nhân gây THA và các biến chứng của nó [14].
Các nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước về rối loạn chuyển hóa lipid đều cho thấy
rằng: hàm lượng cholesterol ở người THA có vữa xơ động mạch tăng nhiều hơn so với ở
người có xơ vữa động mạch không có THA. Hàm lượng cholesterol ở những người THA
có xơ vữa động mạch cũng tăng cao hơn so với người không THA có vữa xơ động mạch
[11].
Tại Việt Nam trong những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu về rối loạn
chuyển hóa lipid ở những bệnh nhân THA cho thấy:
Tô Văn Hải và CS (2005) nghiên cứu thấy tỷ lệ bệnh nhân THA có tăng cholesterol
máu là 61,9% [8].
Để hạn chế xơ vữa động mạch cần chống tăng cholesterol máu bằng điều trị dự phòng
bằng chế độ ăn giảm mỡ động vật, tập luyện thể dục thể thao thường xuyên và kết hợp các
thuốc giảm cholesterol máu.
1.3.3. Hút thuốc lá
Nicotin có trong thuốc lá kích thích hệ thống thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi
gây THA. Theo các nhà nghiên cứu thì hút một điếu thuốc lá, HATT có thể tăng lên tới 11
mmHg, HATTr tăng lên tới 9 mmHg và kéo dài trong 20- 30 phút. Hút nhiều có thể gây
cơn THA kịch phát nguy hiểm. Nếu hút thuốc lá trên 10 điếu/ 24h, liên tục trong 3 năm thì
có nguy cơ THA và mắc các bệnh tim mạch cao hơn so với người bình thường.
1.3.4. Thói quen uống rượu bia
Một số nghiên cứu cho thấy THA ở 20-30% số người lạm dụng rượu [1]. Rượu bia gây
rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hòa lipoprotein và triglyceride máu làm tăng nguy cơ nhồi
máu cơ tim và các bệnh mạch máu não.
1.3.5. Bệnh béo phì
Bệnh béo phì là hậu quả của mất cân bằng năng lượng. Ở các nước đang phát triển thì
béo phì chiếm tỷ lệ hớn 20% dân số. Béo phì có liên quan đến nhiều bệnh lý về chuyển
hóa, tim mạch. Béo phì được xác định là yếu tố nguy cơ chính của THA, những người cơ
địa béo phì dễ bị THA. Béo phì và THA liên quan chặt chẽ với nhau. Theo Huỳnh Văn
Minh và CS ( 2006) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA có kèm theo béo phì chiếm tới 62,2 %
[16].
1.3.6. Người > 60 tuổi, nữ tuổi tiền mãn kinh.
Bệnh THA thường thấy ở tuổi trung niên trở đi, tuổi càng cao thì tần suất mắc bệnh
càng nhiều.Tỷ lệ bệnh nhân lớn tuổi THA trên thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các
nước phát triển và khoảng 65% bệnh nhân lớn tuổi có THA.
Theo thống kê tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2005: số người có
độ tuổi > 60 bị THA chiếm tỷ lệ là: 59,01% ( 835/1415 người).
Nữ giới ở lứa tuổi tiền mãn kinh thì bị THA nhiều hơn hẳn so với nam giới cùng lứa
tuổi. Theo thống kê của Viện Tim mạch Việt Nam thì tỷ lệ bệnh nhân THA tuổi mãn kinh
chiếm 10,12% bệnh nhân THA [9].
6
1.3.7. Yếu tố di truyền và tính gia đình.
Người ta thấy tính chất gia đình của bệnh THA, bố mẹ bị bệnh này thì trong số con cái
cũng có người mắc bệnh. Bệnh nhân THA di truyền lại cho con cái không phải bệnh THA
mà chỉ truyền lại một số đặc điểm của cơ thể thuận lợi cho bệnh THA như thể tạng, đặc
điểm của hoạt động thần kinh cao cấp, nhưng chỉ khi có tác động của các yếu tố bên ngoài
như: những điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần, giáo dục, ở những người cùng gia đình
của bệnh nhân THA mới gây ra THA.
1.3.8. Một số yếu tố nguy cơ tác động làm cho bệnh THA nặng lên.
Chế độ và tập quán ăn mặn: các công trình nghiên cứu đều cho thấy là tăng natri máu
do chế độ ăn mặn gây ra THA. Ăn mặn liên quan đến THA là kiến thức có từ lâu và được
khoa học chứng minh, hạn chế ăn mặn sẽ góp phần hạ huyết áp. Theo Midgley J.P, thì
những người > 45 tuổi bị THA, trị số HA sẽ giảm 6,3/3,2 mmHg nếu giảm lượng muối
natri 9 mmol/24h [4],[6].
Stress: có sự ảnh hưởng lớn của yếu tố tinh thần xúc cảm, đối với nội tạng nói riêng và
sức khỏe nói chung. Sự xuất hiện của các stress có tính tiêu cực đối với bệnh nhân THA sẽ
làm cho bệnh nặng lên, dễ xảy ra tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim [5], [7].
1.4. Biểu hiện của bệnh THA
1.4.1 Lâm sàng
Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho đến khi phát hiện ra bệnh,
hay gặp nhất đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra có thể có hồi hộp, mệt,
khó thở, mờ mắt, tê đầu chi..., một số các triệu chứng khác tùy thuộc vào nguyên nhân hoặc
biến chứng của THA [20].
- Đo huyết áp tại nhà là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định.
Phương pháp korotkoff dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc các loại huyết áp kế khác được
chuẩn lại 6 tháng 1 lần. Số đo HA được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hội tim mạch học
Việt Nam như sau:
Tại phòng khám: khi bệnh nhân có trị số HA ≥ 140/90 mmHg. Sau khám lại lâm sàng ít
nhất 2 hoặc 3 lần khác nhau. Mỗi lần khám được đo ít nhất 2 lần.
Tại nhà khi đo nhiều lần đúng phương pháp THA có trị số > 135/85 mmHg.
- Các dấu hiệu lâm sàng khác: bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn, cơ chi trên phát triển
hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ. Tìm các biểu hiện vữa xơ động mạch trên da
( u vàng, u mỡ…).
- Khám tim phổi có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu hiệu suy tim trái. Sờ và
nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động mạch cảnh.
- Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu 2 bên rốn, trong hẹp động mạch thận,
phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang.
- Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch máu não cũ hoặc nhẹ.
1.4.2 Cận lâm sàng
Mục đích để đánh giá các nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân.
* Những xét nghiệm tối thiểu
7
- Máu: công thức máu, ure, creatinin, điện giải đồ, cholesterol toàn phần, Triglycerid,
glucose, acid uric trong máu.
- Nước tiểu: protein, hồng cầu…
- Điện tâm đồ, X-quang tim phổi,…
* Những xét nghiệm đặc biệt.
- Đối với THA thứ phát hay THA khó xác định nghi ngờ có bệnh mạch thận: chụp UIV
nhanh, chụp CT-scaner…
1.5. Biến chứng.
THA thường gây ra biến chứng ở các cơ quan như:
- Tim: + Cấp: phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp…[6].
+ Mạn: dày thất trái, suy vành mạn, suy tim…
- Mạch não: + Cấp: xuất huyết não, tắc mạch não, TBMN thoáng qua…
+ Mạn: tai biến mạch máu não TBMN não thoáng qua…[6].
- Mạch máu: gây xơ vữa động mạch phồng động mạch chủ.
- Thận: Đái máu, đái ra protein, suy thận…
- Đáy mắt: phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ…[4].
1.6. Điều trị THA
1.6.1 Phương pháp điều trị không dùng thuốc (thay đổi lối sống)
Là phương pháp điều trị bắt buộc dù có kèm theo dùng thuốc hay không, phải tiến hành
trước và song song với tất cả các phương pháp điều trị.
Trong các nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc điều chỉnh lối sống đã làm giảm đáng kể
được huyết áp và giảm tỷ lệ mới mắc THA. Điều chỉnh lối sống bao gồm giảm cân ở người
quá cân, hoạt động thể lực, giảm lượng rượu uống, ăn nhiều trái cây tươi và rau quả, ăn
nhạt…
1.6.2. Điều trị bằng thuốc
Huyết áp động mạch phụ thuộc vào 2 yếu tố đó là: Cung lượng tim và sức cản ngoại vi.
THA xảy ra khi có tăng cung lượng tim hoặc tăng sức cản ngoại vi, hoặc tăng cả 2 yếu tố
huyết động đó. Vì thế các thuốc được dùng điều trị THA đều can thiệp vào các khâu của
huyết động đã bị thay đổi trong quá trình bệnh lý.
Việc điều trị bằng thuốc cần bắt đầu từ từ và tăng dần để đạt mức huyết áp tối ưu. Chọn
một loại thuốc hoặc phối hợp thuốc nhằm kiểm soát huyết áp để đạt đích huyết áp cho thấy
làm giảm đáng kể các biến chứng về tim mạch và tử vong, đồng thời hạn chế được các tai
biến và độc tính thuốc.
1.6.2.1.Nhóm thuốc lợi tiểu
- Gồm có Hydroclorothiazid, Indapamid, Furosemid, Spironolacton... Cơ chế của thuốc
là làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, tức làm giảm sức cản của mạch ngoại vi, dẫn đến làm
hạ huyết áp. Dùng đơn độc khi bị huyết áp nhẹ, có thể phối hợp với thuốc khác khi cao
huyết áp nặng thêm. Cần lựa chọn loại phù hợp do có loại làm thải nhiều kali, loại giữ kali,
tăng acid uric trong máu, tăng cholesterol máu.
8
1.6.2.2. Nhóm thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương
- Gồm có Reserpin, Methyldopa, Clonidin... Cơ chế của thuốc là hoạt hóa một số tế bào
thần kinh gây hạ huyết áp. Hiện nay ít dùng do tác dụng phụ gây trầm cảm, khi ngừng
thuốc đột ngột sẽ làm tăng vọt huyết áp.
1.6.2.3. Nhóm thuốc chẹn alpha
- Gồm có Prazosin, Alfuzosin, Terazosin, Phentolamin... Cơ chế của thuốc là ức chế giải
phóng noradrenalin tại đầu dây thần kinh (là chất sinh học làm tăng huyết áp), do đó làm hạ
huyết áp. Có tác dụng phụ gây hạ huyết áp khi đứng lên (hạ huyết áp tư thế đứng), đặc biệt
khi dùng liều đầu tiên.
1.6.2.4. Nhóm thuốc chẹn beta
- Gồm có Propanolol, Pindolol, Nadolol, Timolol, Metoprolol, Atenolol, Labetolol,
Acebutolol... Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể beta - giao cảm ở tim, mạch ngoại vi, do
đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt lưng,
ngực hoặc nhức nửa đầu. Chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim, nhịp
tim chậm.
1.6.2.5. Nhóm thuốc đối kháng calci
- Gồm có Nifedipin, Nicardipin, Amlodipin, Felodipin, Isradipin, Verapamil,
Diltiazem... Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của
các mạch máu, vì vậy gây giãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Dùng tốt cho bệnh nhân có
kèm đau thắt ngực, hiệu quả đối với bệnh nhân cao tuổi, không ảnh hưởng đến chuyển hóa
đường, mỡ trong cơ thể.
1.6.2.6. Nhóm thuốc ức chế men chuyển
- Gồm có Captopril, Enalapril, Benazepril, Lisinopril, Perindopril, Quinepril, Tradolapril... Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển angiotensin (angiotensin
converting enzym, viết tắt ACE). Nhờ men chuyển angiotensin xúc tác mà chất sinh học
angiotensin I biến thành angiotensin II và chính chất sau này gây co thắt mạch làm tăng
huyết áp. Nếu men chuyển ACE bị thuốc ức chế (làm cho không hoạt động) sẽ không sinh
ra angiotensin II, gây ra hiện tượng giãn mạch và làm hạ huyết áp. Thuốc hữu hiệu trong
60% trường hợp khi dùng đơn độc (tức không kết hợp với thuốc khác). Là thuốc được chọn
khi bệnh nhân bị kèm hen suyễn (chống chỉ định với chẹn beta), đái tháo đường. Tác dụng
phụ làm tăng kali huyết và gây ho khan.
1.6.2.7. Nhóm thuốc mới ức chế thụ thể angiotensin
9
- Thuốc đầu tiên được dùng là Losartan, sau đó là Irbesartan, Candesardan, Valsartan...
Nhóm thuốc mới này có tác dụng hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường, tương
đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn beta, ức chế men chuyển. Ðặc biệt, tác
dụng hạ áp của chúng tốt hơn nếu phối hợp với thuốc lợi tiểu Thiazid. Lợi điểm của nhóm
thuốc này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây ho khan như
nhóm ức chế men chuyển, hoặc không gây phù như thuốc đối kháng calci. Tác dụng phụ có
thể gặp là chóng mặt, hoặc rất hiếm là gây tiêu chảy. Chống chỉ định của thuốc là không
dùng cho phụ nữ có thai hoặc người bị dị ứng với thuốc.
Nguyên tắc lựa chọn thuốc điều trị THA
Điều trị đầu tay và điều trị sau đó nên dùng 1 trong 4 nhóm thuốc: lợi tiểu thiazide,
chẹn kênh calci (CCB), ACEI, ARB.
Điều trị thay thế thứ hai và thứ ba bao gồm việc sử dụng liều cao hay kết hợp các nhóm
ACEI, ARB, lợi tiểu thiazide và CCB.
Lợi tiểu
Lợi tiểu
ARB
Chẹn α
ARB
beta
Thuốc hạ HA khác
CCB
ACEI
ACEI
CCB
Sơ đồ 3 Phác đồ điều trị THA theo khuyến cáo ESH-ESC 2014 và JNC VIII (2014)
1.6.3.Mục tiêu của điều trị
Mục tiêu hạ huyết áp theo JNC VII :
<140 / < 90 mmHg đối với bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng.
< 130 / < 80 mmHg đối với bệnh nhân tiểu đường, suy tim, suy thận mãn tính.
< 125 / < 75 mmHg đối với những người có protein niệu.
Những mục tiêu này không phụ thuộc vào tuổi, giới tính, hoặc bệnh đi kèm.
10
Mục tiêu hạ huyết áp theo khuyến cáo JNC VIII
- Với bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên không có đái tháo đường hay bệnh thận mạn, huyết
áp mục tiêu là <150/90 mmHg
- Với bệnh nhân từ 18 đến 59 tuổi không có bệnh nghiêm trọng mắc kèm và bệnh nhân
từ 60 tuổi trở lên có bệnh đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc cả hai, huyết áp mục tiêu là
<140/90 mmH.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm tất cả các bệnh nhân THA ở cả 2 giới nam, nữ đã được chẩn đoán và điều trị có
bệnh án điều trị ngoại trú tại phòng khám THA, phòng khám điều trị tiểu đường tại Bệnh
viện đa khoa huyện Thường Tín. BN có đầy đủ xét nghiệm cận lâm sàng cho nghiên cứu.
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng
Bệnh nhân đã được chẩn đoán THA nguyên phát theo tiêu chuẩn WHO.
Bệnh nhân đã được đưa vào chương trình quản lý bệnh THA, đái tháo đường tại bệnh
viện.
Bệnh nhân có đủ các xét nghiệm, điện tâm đồ theo qui định của chương trình quản lý
bệnh đái tháo đường THA tại bệnh viện.
Bệnh nhân đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu.
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân mắc các bệnh cấp tính.
2.2 . Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu từ tháng 6/2015 đến tháng 9/ 2015.
Tại khoa khám bệnh Bệnh viên đa khoa Thường Tín.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
* Chọn cỡ mẫu: 350 BN nghiên cứu
Sử dụng công thức Linus Yamane để tính quy mô mẫu.
Công thức: n = N/(1+N *e2) : n: quy mô mẫu điều tra.
N: kích thước tổng thể. N=2000 BN
e: độ lệch (e = 0,05).
- Chọn mẫu ngẫu nhiên theo tiêu chuẩn nghiên cứu tại 2 phòng khám tiểu đường và
tăng huyết áp tại từ thời điểm 1/8/2015 cho đến khi đủ 350 bệnh nhân nghiên cứu.
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
* Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu:
- Tuổi, giới.
* Một số rối loạn chuyển hóa và yếu tố liên quan đến bệnh THA
-Tỷ lệ bệnh nhân mắc ĐTĐ, RLCH mỡ máu với bệnh THA.
11
-Tý lệ thừa cân béo phì bệnh THA.
-Đánh giá sự liên quan giữa một số thói quen ăn uống, lối sống mức độ hoạt động thể
lức liên quan đến bệnh tăng HA.
*Thực trạng điều trị bệnh THA tại phòng khám
- Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị bằng 1 loại thuốc.
- Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị phối hợp thuốc.
- Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị.
- Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu.
2.5 .Kỹ thuật thu thập số liệu
Thu thập số liệu qua bệnh án ngoại trú của bệnh nhân nghiên cứu
- Mỗi bệnh nhân được khám và hỏi bệnh làm xét nghiệm theo quy trình khám bệnh
mãn tính. Kết quả khám bệnh và kết quả xét nghiệm được cập nhật vào bệnh án ngoại trú
THA.
2.5.1. Khám lâm sàng
* Hỏi bệnh: hỏi trực tiếp đối tượng về bệnh sử và một số thói quen ăn uống, lối sống
mức độ hoạt động thể lực liên quan đến bệnh tăng HA uống thuốc, theo dõi HA đều không
ghi chép vào bệnh án ngoại trú đã qui định.
* Khám nội khoa
- Nghe tim phổi, đếm tần số tim.
- Khám lâm sàng phát hiện các biến chứng kèm theo.
- Cách đo huyết áp:
+ Đo HA bằng ống nghe và huyết áp kế đồng hồ của Nhật Bản.
+ Bệnh nhân ngồi nghỉ 5 phút trước khi đo HA.
+ Đo tư thế ngồi tay để trên mặt bàn ngang tim.
+ Không uống rượu bia các chất kích thích trước đo.
- Đo các chỉ số nhân trắc:
+ Cân nặng bệnh nhân sử dụng cân bàn Smic của Trung Quốc có gắn thước đo chiều
cao bệnh nhân không đội mũ không đi dép.
+ Đo chiều cao, kéo thước đo thẳng đứng, bệnh nhân đứng thẳng, 2 gót sau sát mặt sau
của cân mắt nhìn thẳng phía trước, kéo thước từ trên xuống đến khi chạm đỉnh đầu.
2.5.2 Khám cận lâm sàng
- Các xét nghiệm sinh hóa được thực hiện trên máy xét nghiệm TYB20S (Tây Ban Nha)
tại khoa xét nghiệm bệnh viện đa khoa huyện Thường Tín. Lấy máu tĩnh mạch khuỷu tay
lúc bệnh nhân chưa ăn.
- Xét nghiệm sinh hóa nước tiểu thực hiện trên máy xét nghiệm CYBOW (Hàn Quốc)
tại khoa xét nghiệm bệnh viện đa khoa huyện Thường Tín. Lấy mẫu nước tiểu vào buổi
sáng.
- Điện tâm đồ: sử dụng máy điện tâm đồ 6 cần của Nhật Bản (Nihon Kohdencardiofax-S) ghi điện tim 12 chuyển đạo.
2.6 . Tiêu chuẩn để dánh giá
12
- Các xét nghiệm sinh hóa ( tính theo hằng số sinh lý bình thường của người Việt
Nam)
+ Glucose máu: 3,6 – 6,4 mmol/l
+ Creatinin máu: Nam 62 - 115 umol/l
Nữ 53 - 97 umol/l
+Tryglycerid máu: 0,46 -1,8 mmol/l HDL-C = 0,9mmol/l
LDL-C = 3,4mmol/l
+ Cholesterol TP: 3,9 - 5,2 mmol/l
Tính chỉ số khối cơ thể BMI theo công thức
BMI =Trọng lượng cơ thể (kg)/[Chiều cao (m)]2
Phân loại thể trạng các đối tượng theo WHO dành cho các nước châu á Thái Bình
Dương
Bảng 2 1 :Phân loại thể trạng theo WHO (2000) [11]
Phân loại
BMI (Kg/m2)
Nhẹ cân
<18,5
Tình trạng dinh dưỡng bình thường
18,5 -22,9
Thừa cân :
>22,9
+ Tiền béo phì
23 -24,9
+Béo phì dộ I
25-29,9
+Béo phì độ II
≥ 30
-
Mục tiêu hạ huyết áp theo khuyến cáo JNC VIII
- Với bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên không có đái tháo đường hay bệnh thận mạn, huyết
áp mục tiêu là <150/90 mmHg.
- Với bệnh nhân từ 18 đến 59 tuổi không có bệnh nghiêm trọng mắc kèm và bệnh nhân
từ 60 tuổi trở lên có bệnh đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc cả hai, huyết áp mục tiêu là
<140/90 mmHg.
Đánh giá tuân thủ điều trị: dựa vào sổ khám bệnh BN khám đúng hẹn không và
phỏng vấn bệnh nhân BN uống thuốc đều không.
2.7. Phương pháp xử lý số liệu
- Tính các giá trị trung bình, tỉ lệ % đối với biến định tính và giá trị trung bình độ lệch
chuẩn với biến định lượng.
- So sánh giá trị trung bình, tỉ lệ bằng thuật toán.
- Chọn mức ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu
Tôn trọng quyền của đối tượng nghiên cứu.
Không làm ảnh hưởng đến sức khỏe đối tượng nghiên cứu.
Trung thực trong việc thu thập và báo cáo số liệu.
Các số liệu thu thập có thể kiểm chứng lại.
13
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1.Phân bố bệnh THA theo giới tính
Biểu đồ 3 1: Phân bố bệnh tăng huyết áp theo giới
Nhận xét : Có 155 bệnh nhân nam chiếm 44,29 %, có 195 bệnh nhân nữ chiếm
55,71% . tỷ lệ nam/nữ 1/1,2
3.1.2.Phân bố bệnh THA theo giới tuổi .
Biểu đồ 3. 2: Phân bố bệnh tăng huyết áp theo giới tuổi
Nhận xét : Chủ yếu độ tuổi từ 51-70, nhóm tuổi nhiều bệnh nhân nhất là 61 -70. Tuổi
trung bình 66,03 ± 8,868 cao nhất 89 tuổi thấp nhất 35 tuổi .
3.2. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh THA
Bảng3 1: Tỷ lệ tình trạng thừa cân với bệnh tăng HA
14
Giới
Phân loại BMI
Nhẹ cân
<18,5
Tình trạng DD bình
thường 18,5 - 22,9
Tổng số
Nam
%
Nữ
%
T. Số
%
10
41.67
14
58.33
24
6.86
93
46.04
53.96
109
57.71
202
Tiền béo phì: 23 -24,9
34
42.50
46
42.50
80
22.86
Béo phì dộ I : 25-29,9
18
40.91
26
59.09
44
12.57
Tổng số
155
44.29
195
55.71
350
100.00
Nhận xét: Trong 350 bệnh nhân nghiên cứu có: thể trạng bình thường chiếm 57,7% thể
trạng gầy chiếm 8,9% tiền béo phì 22,86%, béo phì độ I chiếm 12,57%, không có béo phì
độ II. Như vậy có 35,43% bệnh nhân có tỷ lệ thừa cân. Tỷ lệ thừa cân nữ nhiều hơn nam
55.71% /44.29% tương đương tỷ lệ nam nữ trong nghiên cứu.
Bảng 3 2 :Đặc điểm các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh THA
Yếu tố nguy cơ
350
Rối loạn chuyển hoá lipid
Thừa cân, béo phì ( BMI > 23)
ĐTĐ
Uống rượu, bia
Hút thuốc lá hoặc thuốc lào
Ít hoạt động thể lực
Tổn thương thận (protein niệu; tăng
creatinin máu)
Tỷ lệ %
157
124
115
90
84
50
38
44,85
35,43
32,85
25,71
24
14,29
10,85
Trong số 350 bệnh nhân THA được quản lý và điều trị cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA
kèm rối loạn chuyển hoá lipid chiếm 44,85 %, bị tiểu đường 32,85 %, thừa cân và béo phì
35,43 %, tổn thương thận 10,85 %, hút thuốc 24 % và uống nhiều rượu, bia 25,71%, ít hoạt
động thể lực 14,29%.
Yếu tố nguy cơ
Creatinin máu
bất thường
Glucoza máu
bất thường
Cholesterolmá
u bất thường
n
n
n
Không HTL (205)
22
%
10,86
Ít vận động (166)
16
11,03
49
%
24,39
40
24,10
15
88
%
32,93
81
48,80
Triglycerid
máu bất
thường
n
%
13
6,34
4
2,41
P > 0,05
Bảng 3. 3: Sự bất thường các thông số sinh hóa với một số yếu tố nguy cơ ở bệnh
nhân tăng huyết áp
22
13
11,96
9,92
47
29
25,54
22,14
76
63
41,30
48,09
13
4
7,07
3,05
Không uống rượu bia
(219)
25
11,42
58
26,48
94
42,92
13
5,94
THA + ĐTĐ (115)
15
13,04
9,79
p>0,05
72
15
62,61
6,38
P<0,05
50
107
43,48
45,53
p>0,05
12
5
10,43
THA đơn thuần
(235)
23
P>0,05
Vận động bt (184)
Uống rượu bia (131)
2,13
P<0,05
Nhận xét : Tỷ lệ bất thường chỉ số sinh hóa giữa 2 nhóm có nguy cơ và không có nguy
cơ không có sự khác biệt nhiều không có ý nghĩa thống kê P > 0,05. Trong nhóm tăng
huyết áp kèm theo đái tháo đường tỷ lệ bênh nhân có đường máu và triglycerid máu cao
hơn có ý nghĩa thống kê với nhóm tăng huyết áp không kèm theo đái tháo đường (p <
0,05).
3.3. Thực trạng điều trị bệnh THA
3.3.1.Tỷ lệ BN dùng thuốc hạ HA
Bảng 3. 4: Tỷ lệ các nhóm thuốc điều trị với 2 nhóm BN
Nhóm thuốc
Ưc chế men chuyển
Chẹn kênh can xi
Tác
động
TKTW
Lợi tiểu
Chẹn beta
Ưc chế thụ thể
lên
THA đơn thuần
n =235
n
%
192
81.70
THA có ĐTĐ
n =115
n
%
106 92.17
Tổng cộng
n =350
n
%
298
85,14
111
47.23
16
13.91
127
36.28
92
39.14
16
13.91
108
30.85
0
1
0
0
0.42
0
2
0
0
1.73
0
0
2
1
0
0.57
0.28
0
Nhận xét : Tỷ lệ BN dùng thuốc ức chế men chuyển chiếm tỷ lệ chung cao và cao cả 2
nhóm trong nhóm THA có ĐTĐ chủ yếu dùng thuốc ức chế men chuyển. Trong nhóm
THA đơn thuần tỷ lệ dùng thuốc chẹn kênh canxi 47.23 % và thuốc tác động lên TKTW
39.14% , 3 nhóm thuốc còn lại hầu như không dùng để điều trị bệnh nhân.
3.3.2.Tỷ lệ bệnh nhân phối hợp thuốc hạ huyết áp
Bảng 3. 5: Tỷ lệ bệnh nhân phối hợp thuốc hạ huyết áp
Loại thuốc
Dùng 1 loại
THA đơn thuần
n = 235
N
%
85
36.17
16
THA có ĐTĐ
n =115
n
%
91
79.13
Tổng cộng
n =350
n
%
176
50.28
Dùng 2 loại
149
63.40
23
20
172
49.14
Dùng 3 loại
1
0.42
1
0.86
2
0.57
Nhận xét : Tỷ lệ chung dùng 1 loại thuốc và 2 loại thuốc tương đương nhau.nhưng
nhóm tăng huyết áp không kèm đái tháo đường tỷ lệ dùng phối hợp 2 thuốc cao 63,4%, còn
nhóm tăng huyết áp kèm đái tháo đường tỷ lệ thấp có 20%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê ( p=0,000002 <0,05).
3.3.2.Tỷ lệ phối hợp các nhóm thuốc hạ HA
Bảng 3. 6: Tỷ lệ phối hợp các nhóm thuốc hạ huyết áp 2 nhóm BN
Loại thuốc
- ACC+ ACEI
- Thuốc tác động lên
TKTW +ACEI
- Thuốc tác động lên
TKTW + ACC
- Ưc chế men chuyển
+ Lợi tiểu
- Lợi tiểu
+ Chẹn kênh can xi
- Thuốc tác động lên
TKTW + ACEI + ACC
-Thuốc tác động lên
TKTW + Lợi tiểu
THA đơn thuần
n=235
n
%
84
35.74
62
26.38
THA có ĐTĐ
n =115
n
%
14
12.17
10
8.69
Tổng cộng
n=350
n
%
98
28.00
72
20.57
5
2.12
0
0
5
1.42
0
0
1
0.86
1
0.28
0
0
1
0.86
1
0.28
2
0.85
0
0
2
0.5
0
0
0
0
0
0
Nhận xét: Chủ yếu dùng 3 nhóm thuốc phối hợp điều trị: ức chế men chuyển, thuốc
tác động lên TKTW và chẹn kênh can xi để kết hợp nhau. Nhưng chủ yếu dùng kết hợp 2
nhóm thuốc tác động lên TKTW + ức chế men chuyển 20,57 % và ức chế men chuyển +
chẹn kênh can xi 28,00% .
3.3.3. Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị
Bảng3 7: Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị 2 nhóm BN
Số bệnh nhân
THA đơn thuần
THA có ĐTĐ
Tổng cộng
n =235
n =115
n =350
n
%
n
%
n
%
Tuân thủ điều trị
Không tuân thủ điều
trị
196
39
83.40
16.39
113
2
98.26
1.73
309
41
88.28
11.72
Nhận xét: trong 350 BN nghiên cứu có 309 BN tuân thủ điều trị đạt 88,28% còn 41 BN
không tuân thủ điều trị 11,71% nhóm bệnh nhân ĐTĐ có tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị
17
cao hơn nhóm bệnh nhân THA không kèm theo bệnh ĐTĐ có ý nghĩa thống kê, (P value =
0,002 < 0,05).
3.3.4. Tỷ lệ bệnh nhân đạt HA mục tiêu
Bảng3 8: Tỷ lệ bệnh nhân đạt HA mục tiêu 2 nhóm BN
Số bệnh nhân
THA đơn thuần
THA có ĐTĐ
Tổng cộng
n =235
n =115
n=350
n
%
n
%
n
%
Đạt mục tiêu hạ HA
130
55.32
55
47.83
185 52.86
Không đạt mục tiêu hạ HA
105
44.68
60
52.17
165 47.14
Nhận xét: Trên 350 BN NC có 185 BN đạt HA mục tiêu đạt tỷ lệ 52.86% Tỷ lệ đạt HA
mục tiêu nhóm bệnh nhân THA không kèm ĐTĐ 55,32% cao hơn không có ý nghĩa thống
kê nhóm bệnh nhân kèm ĐTĐ 47.83%. ( P value = 0,459 > 0,05).
Bảng3 9: Tỷ lệ bệnh nhân đạt HA mục tiêu nhóm tuân thủ điều trị 2 nhóm BN
Số bệnh nhân
Đạt mục tiêu hạ HA
Không đạt mục tiêu hạ HA
Nhận xét: Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu nhóm bệnh nhân tuân thủ điều trị đạt 55,56 % cao
hơn có ý nghĩa thống kê nhóm bệnh nhân không tuân thủ điều trị đạt 31,71 %.
(P value = 0,0038 < 0,05)
Bảng 3 10: Tỷ lệ bệnh nhân đạt HA mục tiêu giữa các nhóm phối hợp thuốc
Số bệnh nhân
Đạt mục tiêu hạ HA
Không đạt mục tiêu hạ HA
Tổng cộng
Dùng 1 loại thuốc Dùng 2 loại thuốc Dùng 3loại thuốc
( n =176)
(n=172)
(n=2)
n
%
n
%
n
%
90
51,14
94
54,65
1
50
86
48,86
78
45,35
1
50
176
100
172
100
2
100
Nhận xét: Tỷ lệ đạt HA mục tiêu giữa nhóm dùng 2 loại thuốc là 54,65 % cao hơn
không có ý nghĩa thống kê nhóm dùng 1 loại thuốc 51,14 % (P value = 0,683 > 0,05 ).
18
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1.Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu
4.1.1.Giới tính
Theo nghiên cứu của chúng tôi 155 bệnh nhân nam chiếm 44,29%, có 195 bệnh nhân
nữ chiếm 55,71% tỷ lệ nam/nữ 1/1,25. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp
của với một số nghiên cứu hiện nay của các tác giả trong và ngoài nước tỷ lệ nữ giới mắc
bệnh thường cao hơn nam giới. Theo nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) [22] nam
48, 66% nữ chiếm 52,34%, theo nghiên cứu của Vương Thị Hồng Hải (2007) [11] nữ/nam
2,2/1 Theo nghiên cứu Tô Văn Hải [8] tỷ lệ nữ/nam 2,31/1, Huỳnh Văn Minh [16] 1,08/1.
Theo nghiên cứu BS. Đồng Văn Thành [26] tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới (59,5% và
40,5%).
19
Như vậy tuy số liệu mỗi tác giả khác nhau nhưng tỷ lệ nữ giới mắc bệnh của các tác
giả đều cao hơn nam. Các nhà khoa học chứng minh là oestrogen có tác dụng bảo vệ tim
thiếu oestrogen nội sinh sẽ làm tăng tỷ lệ bệnh HA ở tuổi tiền mãn kinh và tuổi già.
4.1.2.Tuổi mắc bệnh
Tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi là phù hợp nghiên cứu trong và ngoài nước, tuổi được coi
là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Ở lứa tuổi cao do quá trình lão hóa, động mạch giảm tính đàn
hồi gây ra hiện tượng xơ cứng mạch làm thay đổi cấu trúc làm giảm tỷ lệ lòng mạch thành
mạch, đồng thời tuổi già còn có sự thay đổi chức năng khác như tăng hoạt động TK giao
cảm, giảm tính nhậy cảm các thụ thể beta vì vậy có xu hướng co mạch và làm THA do vậy
tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh cao.
Trong NC của chúng tôi lứa tuổi hay gặp nhất là trên 60 – 69 tuổi chiếm 39,74% và
nhóm trên 70 tuổi chiếm 35,71%, lứa tuổi trên 50 chiếm 97,42% cũng tương đương kết quả
của Đồng Văn Thành [26] lứa tuổi ≥ 55 chiếm chủ yếu 80% và chủ yếu lứa tuổi trên 55.
Theo Vương Thị Hồng Hải [11] lứa tuổi hay gặp là 50-59 chiếm tỷ lệ 55% trên 60 là
26,6%. Cũng tương đương nhận định Tô Văn Hải [8] (2005) ở bệnh viện Thanh Nhàn
52,7%. Theo NC của chúng tôi tuổi cao nhất là 89 tuổi thấp nhất là 35 tuổi, tuổi mắc bệnh
trung bình 66,03 ± 8,8 tuổi cao hơn một số nghiên cứu các tác giả khác: Vương Thị Hồng
Hải (2007)[11] 56 ± 8,7 tuổi, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2006) [12] 54,9 ± 5,9 tuổi. Phạm
Gia Khải (2002) [13] nam là 58,1 ± 12,6 tuổi, nữ là 55,2 ± 12,8 tuổi, BS. Đồng Văn
Thành [26] 60,7 ± 35,3 tuổi.
4.2 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh THA
4.2.1.Liên quan hoạt động thể lực, một số thói quen hút thuốc uống rượu bia với bệnh
tăng HA.
Theo nghiên cứu của chúng tôi trên 350 bệnh nhân THA được quản lý và điều trị cho
thấy tỷ lệ bệnh nhân THA kèm rối loạn chuyển hoá lipid chiếm 44,85 %, bị tiểu đường
32,85%, thừa cân và béo phì 35,43%, tổn thương thận 10,85%, hút thuốc 24 % và uống
nhiều rượu, bia 25,71% . Ít hoạt động thể lực 14,29%.
Bảng 4 1:So sánh đặc điểm bệnh nhân THA kèm YTNC giữa các bệnh viện
BC và
YTNC
Thận
ĐTĐ
RLLP
BM
(%)
22,6
16,4
72,1
BG
(%)
19,2
3,7
29,9
HG
(%)
2,6
1.3
10.4
LK
(%)
24,1
45,7
51,6
YB
(%)
17.4
2,0
25,5
ĐB
(%)
2,1
1,7
11,2
HN
(%)
0,3
5,9
12,5
NĐ
(%)
2,2
1,0
41,5
TN
(%)
14,9
9,7
42,1
TT
(%)
10,84
32,85
44,85
TC,BP
H thuốc
14,9
9,3
26,0
25,5
2,5
19,5
19,1
16,6
21,0
14,6
17,9
17,2
10,7
17,9
10,6
17,1
35,43
24
U. rượu
n
12,1
12,3
17,7
2,4
27,4
17,3
10,9
6,7
21,3
5.350
22.067
16.412 1.245
313
1.260
1.487
3.025
1.900
25,71
350
20
RLLP: Rối loạn lipid ; YTNC: yếu tố nguy cơ; TC,BP: thừa cân béo phì;
BM:
Bạch Mai; BG: Bắc Giang;YB: Yên bái; HG: Hà Giang;LK: bệnh viện Lão Khoa; ĐB:
Điện Biên; HN: Hà Nam; NĐ: Nam Định; TN: Thanh Nhàn, TT: Thường Tín
Theo tác giả BS Đồng Văn Thành (2013) [ 26] cho thấy trong số trong số 54.500 bệnh
nhân THA được quản lý và điều trị cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA kèm rối loạn chuyển hoá
lipid chiếm 29,2%, bị tiểu đường 11,2%, thừa cân và béo phì 7,9%, tổn thương thận 7,7%,
Tuy nhiên, đặc điểm bệnh nhân THA được quản lý, điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai và
BV Lão Khoa cho thấy có nhiều yếu tố nguy cơ và biến chứng của bệnh và tổn thương cơ
quan đích nhiều hơn nhiều hơn các bệnh viện tuyến dưới như rối loạn chuyển hoá lipid
máu chiếm 72,1%, ĐTĐ 16,4% (BV Lão Khoa tỷ lệ này là 45,7%), tổn thương thận 22,6%
(BV Lão Khoa tỷ lệ này là 24,1%). Nhưng ngược lại các yếu tố về thói quen trong sinh
hoạt như hút thuốc và uống rượu, bia lại thấp hơn đặc điểm bệnh nhân THA ở tuyến dưói .
Hút thuốc tỷ lệ cao nhất là BV Bắc Giang 26,0% , uống rượu tỷ lệ cao nhất là BV Yên
bái 27,4%, thừa cân béo phì tỷ lệ cao nhất là BV Thường Tín 35,43%.
4.2.2. Liên quan BMI với bệnh tăng HA
Theo nghiên cứu của chúng tôi trong 350 bệnh nhân nghiên cứu có: thể trạng gầy chiếm
6,86%, thể trạng bình thường chiếm 57,7%, tiền béo phì 22,86%, béo phì độ I chiếm 12,57
%, không có béo phì độ II. Tỷ lệ béo phì trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn một số
nghiên cứu Nguyễn Văn Quýnh [24] 29,4% và BMI > 25 23,7%. Nghiên cứu của Đặng
Duy Quý [25] trong số bệnh nhân tăng huyết áp có 24,4% béo phì nhưng cao hơn nghiên
cứu BS. Đồng Văn Thành [26].
Như vậy: ở những vùng miền khác nhau chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực,
chế độ lao động khác nhau nên chỉ số khối cơ thể cũng khác nhau.
4.2.3.Liên quan rối loạn chuyển hóa với bệnh tăng HA
Bảng 4 2: So sánh kết quả xét nghiệm vê rối loạn chuyển hóa với 1 số tác giả khác:
Tác giả
Creatinin Glucoza
Cholesterol Triglycerid
máu
máu
máu
máu
BV Thường Tín
10,85%
24,57%
44.86%
4,86%
Chu Hồng Thắng (2008)[21]
30,77%
3,86%
7,69%
Nguyễn Lân Việt (2002) [27]
2,64%
6,30%
24,8%
Ph thị Kim Lan (2002) [19]
4,91%
77, % 1
Cao Thị Yến Thanh (2006) [20]
26,5%
Ng Thị Hồng Thủy 2003 [22]
53,4%
33,1%
21
Nhìn vào bảng ta nhận thấy kết quả của các tác giả có sự khác nhau. có sự khác nhau đó
có thể do nghiên cứu các thời điểm khác nhau, chế độ dinh dưỡng khác nhau, điều kiện
kinh tế khác nhau tập quán sinh hoạt khác nhau nên kết quả có sự khác nhau đó. Ở vùng
thành thị, người dân chủ yếu là cán bộ, công nhân điều kiện kinh tế khá hơn, chế độ ăn
nhiều mỡ, nhiều cholesterol nên tỷ lệ tăng cholesterol máu, gluco máu cao hơn. Riêng chỉ
số creatinin máu đây là biểu hiện ảnh hưởng chức năng thận chỉ số này cao gặp nhiều vùng
nông thôn cao hơn thành thị do vùng nông thôn phát hiện bệnh muộn, ăn uống không điều
độ, và không có kiến thức phòng bệnh ảnh hưởng chức năng thận.
4.3. Thực trạng điều trị bệnh THA
4.3.1.Tỷ lệ BN dùng thuốc hạ HA và Tỷ lệ BN phối hợp các loại thuốc hạ HA
Theo khuyến cáo JNC VIII điều trị THA dùng 4 nhóm thuốc, ức chế men chuyển, ức
chế thụ thể, chẹn kênh can xi, lợi tiểu.và hạn chế dùng nhóm thuốc tác động lên TKTW vì
có nhiều tác dụng phụ và biến chứng khi dừng thuốc. Theo nghiên cứu của chúng tối số
lượng BN dùng thuốc ACEI chiếm tỷ lệ chung cao (85,14%) và cao ở cả 2 nhóm : nhóm
THA (81.70% ), nhóm THA phối hợp ĐTĐ (92.17% ). Trong nhóm THA đơn thuần tỷ lệ
dùng thuốc chẹn kênh canxi và thuốc tác động lên TKTW tương đối cao 47.23% và
39.14%. Tỷ lệ BN dùng 3 nhóm thuốc còn lại hầu như không dùng (không có BN dùng
thuốc ức chế thụ thể, có 2 bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu 0,57%.). Sở dĩ có tỷ lệ dùng thuốc
điều tri THA như vậy có thể do thói quen điều trị của một số bác sỹ và một số bệnh nhân
có thói quen dùng thuốc tác động lên TKTW để điều trị hạ huyết áp và thuốc ức chế thụ thể
chưa đưa ra cấp ngoại trú chỉ dùng điều trị nội trú.
Đơn trị liệu là điều trị chuẩn ban đầu để kiểm soát HA ở hầu hết các bệnh nhân bị tăng
HA, tuy nhiên, đơn trị liệu lại không kiểm soát được HA trong 40 - 60% bệnh nhân và có
hơn 60 % bệnh nhân cần trên 2 thuốc để kiểm soát HA. Lợi điểm của điều trị phối hợp
thuốc là giúp gia tăng hiệu quả hạ áp, giảm tác dụng phụ, có thể cải thiện độ dung nạp của
BN, giảm biến cố tim mạch, và được đề nghị bởi hướng dẫn hiện nay.
Về phối hợp thuốc trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ dùng 1 loại thuốc điều trị hạ HA
có 176 BN chiếm 50,28% tỷ lệ dùng 2 loại thuốc điều trị hạ huyết áp có 172 BN chiếm
49,14%, tỷ lệ dùng 3 loại thuốc điều trị hạ huyết áp có 2 BN chiếm 0,57%. Trong 2 nhóm
điều trị nhóm BN THA đơn thuần có 149 BN phối hợp 2 loại thuốc chiếm 63%. Nhóm
THA + ĐTĐ có 23 BN phối hợp 2 loại thuốc chiếm 20%. Trong phối hợp thuốc chủ yếu
phối giữa 3 nhóm ACC, ACEI và thuốc tác động lên TKTW. Sự phối hợp thuốc như trên
chưa áp dụng theo điều trị THA theo khuyến cáo JNC VIII và do thói quen điều trị THA
của bác sỹ và chưa đủ chủng loại thuốc điều trị THA tại phòng khám ngoại trú.
4.3.2.Tuân thủ điều trị
Trong 350 BN nghiên cứu có 309 BN tuân thủ điều trị đạt 88,28% còn 41 BN không
tuân thủ điều trị 11,71%. Trong 2 nhóm điều trị nhóm BN ĐTĐ có tỷ lệ tuân thủ điều trị
tốt hơn nhóm THA đơn thuần 98,28% và 83,71 % sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P
value = 0,002 < 0,05). Lí do BN ĐTĐ tuân thủ điều trị tốt hơn nhóm bệnh nhân THA đơn
thuần có thể do bệnh nhân uống thuốc phối hợp với thuốc ĐTĐ nên bệnh nhân nhớ uống
thuốc hơn và đi khám bệnh đúng hẹn hơn. Kết quả của chúng tôi tương đương kết quả của
22
BS Đồng Văn Thành [26] có 85,1% số bệnh nhân đã được quản lý tốt 14,9% số bệnh
nhân chưa được quản lý tốt, mà nguyên nhân chủ yếu là do chưa nhận thức đầy đủ về
bệnh.
4.4.Tỷ lệ BN đạt HA mục tiêu
Bảng 4 3: So sánh kết qủa đạt huyết áp mục tiêu ở các bệnh viện
Theo BS Đồng Văn Thành (2013) [26] Tổng kết nghiên cứu QLBN tăng huyết áp
Bệnh viện
n
Tỷ lệ %
Hà Giang
(15.100/16.412)
92,0
BV Bạch Mai
Hà Nam
Bắc Giang
Yên Bái
Phú Thọ
Viện Lão Khoa QG
Điện Biên
Thường Tín
Lạng Sơn
Thanh Nhàn
Nam Định
(4210/5.350)
78,7
(1.114/1.487)
(16.440/22.067)
(208/313)
(483/750)
(823/1.245)
(746/1.260)
(185/350)
(298/571)
(950/1.900)
74,9
74,5
66,7
64,4
66,1
59,2
52,86
52,3
50,0
(1.170/3.025)
Hoà Bình
Cả nghiên cứu
120 bệnh nhân
36.406/54.500
38,7
Không rõ
66,8 %
Qua bảng 3.8 và 4.3 ta thấy 350 BN nghiên cứu có 185 BN đạt HA mục tiêu đạt tỷ lệ
52.86% Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu nhóm bệnh nhân tăng huyết không kèm đái tháo đường
55,.32 % cao hơn không có ý nghĩa thống kê nhóm bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo
đường 47.83%.( P value = 0,459 > 0,05). Nhìn chung kết quả này là thấp chỉ cao hơn NC
Trần Công Duy và BS Châu Ngọc Hoa (2014) [3] 46.7%, BV Thanh Nhàn 50,0%, BV
Nam Định 38,7%, BV Lạng Sơn 52,3%, Nhưng thấp hơn BS Đồng Văn Thành (2013) tỷ lệ
của cả nghiên cứu đạt huyết áp mục tiêu 66,8% [26]. Nguyên nhân thấp có thể do tuân thủ
điều trị chưa tốt chưa bỏ dược các yếu tố nguy cơ gây bệnh THA, một số thói quen.
Qua bảng 3.7 ta thấy có sự khác biệt tỷ lệ % đạt HA mục tiêu ở 2 nhóm tuân thủ điều trị
và không tuân thủ điều trị nhóm bệnh nhân tuân thủ điều trị đạt 55,56% cao hơn có ý nghĩa
thống kê nhóm bệnh nhân không tuân thủ điều trị đạt 31,71% (P value = 0,0038 < 0,05).
Như vậy rất cần tư vấn giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân cần tuân theo phác đồ điều trị đạt
mục tiêu hạ HA tránh các biến chứng.
23
1.
2.
3.
4.
5.
KẾT LUẬN
Tỷ lệ nữ giới và tuổi trung bình mắc bệnh THA tại BV Thường Tín cũng tương đương tỷ lệ
các nghiên cứu khác.
Đa số các bệnh nhân tăng huyết áp đều có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ như rối. loạn
chuyển hoá lipid chiếm tiểu đường , thừa cân và béo phì, tổn thương thận, hút thuốc và
uống nhiều rượu.
Dùng thuốc điều trị chưa cập nhật theo phác đồ mới, còn dùng thuốc tác động lên TKTW
trong điều trị hạ HA.
BN tuân thủ điều trị đạt tỷ lệ tương đối cao.
Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu còn thấp và tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu trong nhóm tuân thủ
điều trị đạt kết quả tốt hơn.
24
1.
2.
3.
4.
KIẾN NGHỊ
Cần có chương trình tuyên truyền giáo dục sức khoẻ rộng và đủ để nâng cao sự
hiểu biết của người dân về bệnh THA. Tránh các yếu tố nguy cơ THA bỏ thói quen xấu
gây THA, tuân thủ điều trị theo phác đồ hạn chế tai biến bệnh THA
Xây dựng hệ thống quản lý, điều trị bệnh THA tại phòng khám ngoại trú đưa bệnh
nhân THA vào chương trình quản lý
Tổ chức tập huấn cập nhật phác đồ điều trị mới cho các bác sỹ tham gia khám
điều trị bệnh nhân THA.
Cần có sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa các bác sỹ khoa dược xây dựng đủ cơ
số thuốc theo phác đồ điều trị THA để cấp cho BN khám tại phòng khám ngoại trú.
1.
2.
3.
4.
5.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ y tế (2006) “Tài liệu hướng dẫn đào tạo chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng
chống một số bệnh không lây nhiễm” NXB y học Tr 6.
Bộ y Tế “ Báo cáo y tế Việt Nam” Tr 48-49.
Trần Công Duy và BS Châu Ngọc Hoa (2014) “Khảo sát tỷ lệ kiểm soát huyết áp
theo mục tiêu huyết áp của ESH/ESC 2013 ở bệnh nhân THA.tai BV chợ rẫy
2014” />Nguyễn Huy Dung (2005) “ 22 bài giảng nội khoa tim mạch” NXB y học Tr 81-88
Nguyễn Thị Dung (2000) “ Nhận xét 1160 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị nội trú
tại bệnh viện Việt Tiệp –Hải Phòng” Tạp chí y học Việt Nam số 3 tập 245- 246 Tr
24-29
25