Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (137.71 KB, 3 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
13
Số 23 - Tháng 3 - 2018
DI SẢN VĂN HĨA
NGHIÊN CỨU
<b>Tóm tắt </b>
<i>Miền Tây Nam Bộ những thế kỷ đầu Công nguyên là vùng đồng bằng thấp, sình lầy, nhiều tháng </i>
<i>trong năm bị ngập nước và có hệ thống sơng ngịi dày đặc. Để thích ứng với điều kiện thiên nhiên khắc </i>
<i>nghiệt đó, người dân Óc Eo bằng nhiều hình thức đã tìm cách khắc phục, đặc biệt là trong lĩnh vực đi </i>
<i>lại. Họ đã lợi dụng địa hình sơng rạch tự nhiên để khai thông nhiều đường nước, xây dựng hệ thống </i>
<i>thuỷ lợi dài hàng trăm kilomet. Chính hệ thống thuỷ lợi đã giúp cư dân nơi đây có được hệ thống giao </i>
<i>thông đường thuỷ phát triển, điều kiện thuỷ văn và môi trường sinh thái được khắc phục, đáp ứng nhu </i>
<i>cầu nước ngọt cho nhân dân.</i>
<b>Từ khóa</b>: Cư dân Óc Eo, giao thông, Tây Nam Bộ
<b>Abstract</b>
<i>The South-western region in the first century BC was low plains, marshy, months of inundation and </i>
<i>a system of dense rivers. To adapt to the harsh natural conditions, the Oc Eo people, in many forms, </i>
<i>have sought to overcome especially in the field of travel. They have taken advantage of the natural </i>
<b>Keywords: </b>Oc Eo inhabitants, traffic, South-western region
<i>Về đường thuỷ</i>: Nếu cư dân Đơng Sơn sống
theo làng xóm trên các vùng đất cao ráo, vùng
phù sa, thì cư dân Óc Eo chủ yếu sống dọc
theo các kênh rạch, sơng ngịi. Các con kênh
là những đại lộ nối liền các vùng với nhau, tạo
thành mạng lưới giao thơng chằng chịt trên
tồn vùng châu thổ sơng Cửu Long. Cư dân Ĩc
Eo đã thích ứng, biến những hạn chế của vùng
sông nước thành thế mạnh của mình để tồn
tại, phát triển và tạo nên một sắc thái văn hóa
riêng biệt. Dấu ấn của văn hóa sơng nước thể
hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa của cư
Theo tài liệu khảo cổ, ở miền TNB đã tìm
thấy dấu vết của những kênh đào cổ tỏa rộng
trên vùng đồng bằng, nối liền các di tích khảo
cổ Ĩc Eo với nhau. Trong đó, những con kênh ở
Óc Eo, Tà Keo, Đá Nổi và Định Mỹ có vai trị đặc
biệt quan trọng đối với tồn vùng. Bởi lẽ, Ĩc
Số 23 - Tháng 3 - 2018
14
NGHIÊN CỨU
Eo nguyên là một thành phố rộng lớn, xưa kia
là nơi tiếp giáp các đường lớn trong việc trao
đổi hàng hố và cịn là một hải cảng quốc tế
quan trọng của vương quốc Phù Nam. Thành
phố này được nối liền với Núi Sập và Định
Mỹ bởi hai con kênh số 19 và 20, rồi thông ra
biển bằng con kênh số 16. Con kênh này (số
16) kéo dài lên Mắc-cần-dưng và sông Bassac
(sông Hậu). Thành phố còn liên lạc với Ankor
Borei bằng con kênh số 4 và nối thông với Đá
Nổi. Trước đây, con kênh số 4 kéo dài lên tận
vùng Giồng Đá, nhằm theo một hướng Trăm
Đường (3, tr 178 - 179). Những kênh đào này
không chỉ phục vụ nhu cầu thuỷ lợi tưới tiêu
Bên cạnh dấu tích của các con kênh cịn
có vết tích thuyền cổ ở nhiều nơi trên vùng
TNB như: Nền Chùa, Cạnh Đền (Kiên Giang);
Nhơn Trạch (Cầm Thơ), Bến Tre, Óc Eo - Ba Thê
(An Giang). Trong đó, chiếc thuyền được phát
hiện ở xã Nhơn Trạch, huyện Phong Điền, Cần
Thơ là thuyền độc mộc có độ dài tối thiểu là
5,4m, có những thanh ngang để cho người
đi thuyền ngồi lên, cịn khá ngun vẹn. Qua
kết quả phân tích C14<sub> cho thấy, chiếc thuyền </sub>
này có niên đại vào khoảng thế kỷ IV - V SCN.
Hay tại địa điểm Xoa Ảo, huyện Kiến Lương,
tỉnh Kiên Giang, Phan Thanh Toàn và các đồng
nghiệp ở Bảo tàng Kiên Giang đã phát hiện
phần mũi của một chiếc thuyền bằng gỗ, đầu
mũi thuyền có xích và neo sắt, trong thuyền
tìm thấy khá nhiều gốm Ĩc Eo. Do chưa khai
quật nên di tích tạm thời lấp lại (7, tr. 706 -
708). Cũng ở Kiên Giang (Giàn Gừa, huyện
Kiên Lương, Kiên Giang) các nhà khảo cổ đã
thuyền đã phát hiện ở Cần Thơ và nhiều mảnh
thuyền độc mộc khác cũng đã được phát hiện
ở Đồng Tháp và Đá Nổi (An Giang). Thuyền độc
mộc là phương tiện khá phổ biến của cư dân
cổ đại ở các nước Đông Nam Á, có thể cũng đã
phổ biến trong đời sống cư dân Óc Eo ở vùng
ĐBSCL những thế kỷ đầu Cơng ngun.
Dấu tích thuyền cịn được thể hiện qua một
con dấu khắc hình thuyền có cột buồm và cờ
gió, được phát hiện tại khu di tích Nền Chùa
(Kiên Giang). Có thể là những con thuyền như
thế này đã được các thương nhân sử dụng để
buôn bán với các nước, lưu thông trên biển xa.
Ngồi ra, trong văn hóa Ĩc Eo đã phát hiện
hàng loạt các di chỉ kiến trúc và mộ táng xây
bằng vật liệu nặng với hàng chục, hàng trăm
khối đá, gạch, cát, nằm giữa vùng trũng thấp
hay dọc theo những đường nước cổ. Để xây
dựng chúng, những vật liệu xây dựng chỉ có
thể đã được vận chuyển bằng thuyền, bè trên
các con kênh mà cư dân nơi đây đã đào.
Như vậy, những phát hiện này là bằng
chứng cụ thể, bổ sung cho những ghi chép
mà thư tịch cổ Trung Hoa từng nói đến việc
“thuyền họ đóng dài tới 8, 9 trượng, lịng
thuyền rộng 6, 7 thước, đầu và đi giống
hình con cá” (<i>Nam Tề Thư</i>) hay việc nhà vua
Phù Nam (Phạm Man) đóng thuyền to vượt
biển lớn đánh chiếm hơn 10 nước phiên thuộc
(<i>Lương Thư</i>) (6, tr. 171 - 274).
Qua những phân tích trên có thể thấy,
thuyền có vai trị rất quan trọng trong đời sống
của cư dân Ĩc Eo. Nó khơng chỉ là phương tiện
để lưu thơng, bn bán mà có thể còn dùng
trong chiến tranh bảo vệ lãnh thổ cũng như đi
chinh phục các nước. Từ đó có thể đốn định,
trong thời đại Ĩc Eo, giao thơng vận chuyển
bằng đường sông và đường biển khá sôi động,
đóng vai trị quan trọng trong việc giao lưu
kinh tế, văn hóa giữa các vùng.
15
Số 23 - Tháng 3 - 2018
DI SẢN VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
là thái độ tơn trọng, thích ứng và khắc phục
những bất cập của tự nhiên, biến nó thành
những lợi thế của vùng đồng bằng sông nước
Cửu Long; là biểu hiện của thái độ ứng xử khôn
ngoan giữa con người với môi trường sống.
<i>Về đường bộ</i>: Cư dân Óc Eo chủ yếu sống
dọc các con kênh rạch, phương tiện vận
chuyển chủ yếu là thuyền bè. Bên cạnh đó,
để vận chuyển các loại hàng hố trên địa
hình cao, bằng phẳng, rất có thể người Óc Eo
đã sử dụng sức kéo của nhiều loại động vật
khác nhau như: voi, ngựa, trâu, bị... Điều này
đã được chứng minh qua việc tìm thấy nhiều
xương, răng của các loại động vật này trong
các di chỉ cư trú và nhiều khắc hoạ hình các
con voi, ngựa, trâu, bị... cùng với nhiều hình
bánh xe trên các lá vàng chơn trong các ngôi
mộ (1, tr. 127) hay đền tháp. Trong các loại
động vật này, loài voi được coi là phương tiện
giao thông quan trọng nhất trên đường bộ.
Theo các thư tịch cổ Trung Hoa “Nhà vua đi ra
ngồi thì cưỡi voi, đàn bà cũng cưỡi voi” (<i>Nam </i>
<i>Tề Thư, Lương Thư</i>). Voi còn được dùng trong
vận chuyển tải vật trên các vùng địa hình phức
tạp, dùng trong chiến tranh (<i>Tân Đường Thư</i>)
(2, tr. 152). Nó là phương tiện hữu hiệu nhất
trong việc di chuyển chiến lược trên các vùng
rừng rậm, đồi núi.
Bên cạnh đó, ngựa và trâu, bị cũng được
ni để sử dụng trong việc vận chuyển trên
đường bộ. Có thể, cư dân Óc Eo đã sử dụng
các loại xe cộ để chuyên chở hàng hoá. Điều
này được chứng minh khi các nhà khảo cổ học
đã phát hiện một trục bánh xe bằng gỗ lớn tại
Long An, giống như phương tiện vận chuyển
cổ truyền (xe trâu, xe bò, cộ trâu…) của người
Khmer hiện nay đang sử dụng. Hay một bánh
xe bằng đá được phát hiện ở di tích Ĩc Eo và
nhiều bánh xe khắc trên vàng khác cũng được
tìm thấy trong các di tích Ĩc Eo. Tuy nhiên,
bánh xe này có thể khơng phải dùng trong vận
chuyển mà nó có tính chất tơn giáo nhiều hơn.
Đặc biệt, trong một minh văn ở Đá Nổi (An
Giang) đã ghi lại việc cư dân Óc Eo làm các
con đường để thuận tiện trong việc đi lại giao
bang với các nước như Champa (2, tr. 152-153).
Như vậy, có thể nói rằng, xã hội Óc Eo đã
rất phát triển. Họ đã đạt được nhiều thành tựu
trong việc cải tạo điều kiện sống, xây dựng cơ
sở vật chất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống
ngày một phát triển. Họ không chỉ biết làm
thuyền để đi trên sông, trên biển; đào các con
kênh dài hàng trăm km để đi lại và phục vụ tưới
tiêu mà còn biết làm đường ở những nơi khô
ráo để đi lại, trao đổi và giao lưu với các nước.
N.T.S.T
<i>(TS., Trường Đại học Đồng Tháp)</i>
<b>Tài liệu tham khảo</b>
1. Đào Linh Côn (1995), <i>Mộ táng trong văn hóa </i>
<i>Ĩc Eo</i>, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử, Viện
Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Cơng Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc
Đường (1990), <i>Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông </i>
<i>Cửu Long</i>, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Louis Malleret (1960), <i>L’Archéologie du delta </i>
<i>du Mékong - Volume XLIII - La civilisation mat érialle </i>
<i>d’Oc - Eo</i>, École Francaise d’Extrêmxe orient, Pari
(Bảo tàng Lịch sử Việt Nam dịch).
4. Lương Ninh (2009), <i>Vương quốc Phù Nam</i>,
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
5. Lương Ninh (2001), <i>Về vấn đề tộc người Phù </i>
<i>Nam và cư dân ở Nam Bộ - Việt Nam</i>, Tạp chí Dân
tộc học, (02).
6. Nguyễn Hữu Tâm (2004), <i>Khái quát về Phù </i>
<i>Nam - Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ </i>
<i>Trung Quốc, </i>trong <i>Văn hóa Ĩc Eo và vương quốc </i>
<i>Phù Nam</i> - <i>Kỷ yếu hội thảo khoa học nhân 60 năm </i>
7. Phan Thanh Toàn, Huỳnh Kim Bảng, Lâm
Thành Trung (2013), <i>Phát hiện di tích Ĩc Eo ở Hà </i>
<i>Tiên (Kiên Giang)</i>, trong <i>Những phát hiện mới về </i>
<i>khảo cổ học 2013</i>, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 6 - 12 - 2017