Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Phật giáo với đạo đức của cư dân Hà Nội trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (46.81 MB, 112 trang )

PHẬT GIÁO VỚI ĐẠO ĐỨC CỦA c ư DÂN HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN Đ ổi MỚI HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp Quận Thanh Xuân - Hà N i
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Mã sô : QX. 04.10
Chủ nhiệm đề tà i: TS. Đặng Thị Lan
HÀ NỘI - 2006
p
v r ' u
h -
ĐẠI H ỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI H Ọ C KHOA HỌC XÃ H ỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẬT GIÁO VỚI ĐẠO ĐỨC CỦA c ư DÂN HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN Đ ổi MỚI HIỆN NAY
(N gh iên cứu trư ờng hợp Quận Thanh X u ân — H à N ội)
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Mã số : QX.04.10
Chủ nhiệm đề tà i: TS. Đặng Thị Lan
OAI H O C Q U O C ° - lA HA NỤ'
TRUNG TÀM ~HOrIG- T!*: 1 2 ' Ẻ ^
Dĩ 160^-
HÀ NỘI - 2006
MỤC LỤC
T rang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. SỰ DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở HÀ
NỘI VÀ SINH HOẠT PHẬT GIÁO CỦA c ư DÂN HÀ NỘI
HIỆN N AY 10
1.1. Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Nội


10
1.1.1. Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Nội từ buổi đầu
lịch sử đến giai đoạn trước đổi mới (năm 198 6)

10
1.1.2. Tình hình phát triển của Phật giáo ở Hà Nội trong giai đoạn
đổi mới đất nước hiện n a y 15
1.2. Sinh hoạt Phật giáo của cư dân Hà Nội hiện nay

25
1.2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu (Thủ đô Hà Nội nói chung và
quận Thanh Xuân nói riêng)

.
25
1.2.2. Sinh hoạt Phật giáo của người dân Hà Nội nói chung và quận
Thanh Xuân nói riêng 29
CHƯƠNG 2. ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐẠO ĐỨC CỦA CƯ
DÂN HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN Đ ổ i MỚI HIỆN N A Y 44
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo trên phương diện ý thức đạo đức
của cư dân Hà Nội (địa bàn quận Thanh Xuân)

44
2.1.1. Thuyết Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi và ý thức khuyến
thiện, hướng thiện 45
2.1.2. Giá trị từ bi, tinh thần cứu khổ, cứu nạn của Phật siáo với việc
giáo dục lòng nhân ái, vị tha và bao dung 54
2.2. Ảnh hưởng của đạo đức P hật giáo trên phương diện hành vi
đạo đức của cư dân Hà Nội (địa bàn quận Thanh Xuân)


61
2.2.1. Hành vi đạo đức biểu hiện trong quan hệ với đối tượng thờ phụns

61
2.2.2. Phật giáo với việc hoàn thiện đạo đức cá n h â n 68
2.2.3. Hành vi đạo đức biểu hiện trong quan hệ vói cộng đồng xã h ộ i 74
2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chẻ mặt tiêu
cực của Phật giáo đối với đạo đức cư dân Hà Nội hiện n a y

82
2.3.1. Đổi mói nhận thức về vai trò của Phật giáo và tăng cường công tác
quản lý đối với hoạt động của Phật giáo trên địa bàn Hà Nội

82
2.3.2. Phát huy tinh thần tham gia của tăng ni, Phật tử trong việc chống
tiêu cực và xây dựng nền đạo đức mới ở Thủ đô hiện nay

85
2.3.3. Đấu tranh chống những hành vi lợi dụng Phật giáo gây ảnh
hưởng xấu đến đạo đức xã hội trên địa bàn Hà N ộ i

88
KẾT L U Ậ N 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
94
PHỤ LỤC
MỞ ĐẨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã có những lúc người ta cho rằng con naười không còn cần đến tôn giáo
và nó sẽ dần dần suy vong cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Song

trên thực tế không phải như vậy. Hiện nay, nhân loại đang có những bước tiến
khổng lồ về khoa học, công nghệ, nhưng nhân loại cũng đang phải đối diện
với nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng, trong đó có khía cạnh nhận thức,
tâm linh. Vấn đề tôn giáo trong thế giới hiện đại đang trở nên ngày càng nhạy
cảm và phức tạp hơn. Theo một nghĩa nào đó, do sự đồng hẩnh cùng với lịch
sử nhân loại, ở các cấp độ khác nhau, có thể xem tôn giáo là một phần tài sản
văn hoá của một dân tộc, một quốc gia và của cả loài người. Tôn giáo đã góp
phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá của các quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất trên thế giới
(khoảng 500 triệu tín đồ). Năm 2006 là năm đánh dấu một sự kiện quan trọng
của đạo Phật, kỷ niệm 2550 năm ngày Đức Phật Thích Ca xuất hiện trên thế
giới. UNESCO cũng vừa quyết định lấy ngày Phật Đản (ngày 15/4 Âm lịch) là
Ngày Tôn giáo thế giới.
Như vậy đủ thấy đạo Phật đã chiếm một vị trí quan
trọng như thế nào trong đời sống tâm linh của nhân loại hiện nay.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (thế kỷ thứ II sau Công
nguyên). Quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam được diễn ra một cách
hoà bình. Do tính chất nhân bản, từ bi, hướns thiện, Phật giáo đã được người
Việt Nam tiếp thu một cách rất tự nhiên và dễ dàng tổng hợp với các tín
ngưỡng truyền thống của dàn tộc.
Phật giáo Việt Nam đã từng song hành với lịch sử dán tộc. Đời sống tinh
thần của người Việt Nam mang đậm dấu ấn của Phật giáo, nhất là trên phương
diện đạo đức. Có thể nói rằng, đạo đức Phật giáo đã “dung hợp” với đạo đức
truvền thống Việt Nam, trở thành đạo lý Việt Nam.
1
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành xáy dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, thời cơ và thách thức đật ra rất nhiều. Bên cạnh sự tãng trưởng
về kinh tế, đời sống nhân dân được nâng cao là tình trạng tha hoá, suy đồi về
đạo đức xã hội. Nhiều tệ nạn xã hội gia tăng. Lối sống thực dụng chạy theo
đồng tiền, thái độ phủ nhận hoặc xem thường các giá trị truyền thống dãn tộc

đang ngự trị trong một bộ phận nhân dân, chủ yếu là trons lớp trẻ. Những giá
trị truyền thống sẽ có vai trò gì trong việc xây dựng một nền đạo đức mới. Đặc
biệt là Phật giáo sẽ có đóng góp gì trong lĩnh vực này?
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, đặc biệt là sau khi Nhà
nước ban hành chính sách mới về tôn giáo, tôn giáo và Phật giáo như được
"hồi sinh". Phong trào trùng tu chùa chiền, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh
sách, đào tạo tăng ni diễn ra khá rầm rộ. Sinh hoạt Phật giáo, lễ bái của người
dân cũng biến đổi, phát triển với những chiều cạnh đa dạng, phong phú.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, vãn hoá của cả nước, đồng
thời cũng là một trung tâm Phật giáo Việt Nam trong lịch sử. Nơi đây hiện nay
quy tụ nhiều chùa chiền và những hoạt động sinh hoạt Phật giáo diễn ra sôi động.
Con người Thủ đô hôm nay trong cơ chế thị trường dườns như được giải
phóng khỏi nhiều ràng buộc truyền thống, họ có nhiều vận hội nhưng cũna
gặp không ít những thách thức của cuộc sống. Với quy luật khắc nghiệt của
kinh tế thị trường, người ta không xa lạ với những may rủi trong sản xuất kinh
doanh, những thăng trầm trên con đường côns danh sự nghiệp. Với quá trình
đô thị hoá và phân tầng rõ rệt, người dân Thủ đô tìm đến với Phật giáo như
một nhu cầu giải thoát tâm linh, giải phóns nội tâm, đồng thời cũng là nhu cầu
hưởng thụ văn hoá. Phật giáo đã và đana tác động không nhỏ đến đạo đức,
tâm lý, lối sống của cư dân Hà Nội hiện nay trên cả hai mặt tích cực và tiêu
cực. Nghiên cứu kỹ vấn đề này sẽ giúp chúns ta có những biện pháp cần thiết
để hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy nhữns mặt tích cực của Phật giáo và
việc hoàn thiện đạo đức con người Thủ đỏ - tấm gương của cả nước trong
giai đoạn đổi mới hiện nay. Đặc biệt vào thời điểm cả nước sắp chuẩn bị kỷ
2
niệm Một nghìn năm Thăng Long thì ý nghĩa của đề tài này càng thêm phần
quan trọng.
Vì những lý do trên, tôi chọn vấh đề: "Phật giáo với đạo đức của cư dán
Hà Nội trong giai đoạn đổi mới hiện nay" (Nghiên cứu trường hợp Quận
Thanh Xuân - Hà Nội) làm đề tài nghiên cứu của mình.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
ơ Việt Nam hiện nay, những công trình nghiên cứu về Phật giáo nói
chung đã có nhiều và khá đa dạng. Nghiên cứu về Phật siáo Hà Nội cũng đã
có một số công trình đề cập. Vì vậy có thể phân chia các công trình thànn 2
nhóm chủ yếu sau đây:
* Những công trình nghiên cứu Phật giáo trên bình diện lý luận có các
công trình: Việt Nam Phật giáo sử luận (3 tập) của Nguyễn Lang, Nxb. Văn
học, Hà Nội 1994; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh. Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội 1999; Lịch sử Phật giáo Việt Nam do Nguyễn Tài
Thư chủ bièn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1988.
Năm 1984, Viện Triết học xuất bản cuốn “Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch
sử tư tưởng Việt Nam” bao gồm các bài viết của nhiều tác giả, nhiều nhà khoa
học danh tiếng trong cả nước. Đây là cuốn sách hay, hấp dẫn đánh giá Phật 2Íáo
và tác động của nó đến đời sống xã hội Việt Nam trên nhiều phương diện: Phật
eiáo với văn hoá Việt Nam, Phật giáo với chính trị, Phật giáo vói đạo đức, Phật
siáo với tâm lý người Việt Nam, Phật giáo với nghệ thuật dân tộc
Năm 1996, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản cuốn “Ảnh hưởng
của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với nguời Việt Nam hiện nay” do GS.
Nguyễn Tài Thư chủ biên. Trong công trình này có nhiều bài viết về Phật giáo
và ảnh hưởng của nó đến con người Việt Nam.
Ngoài ra, còn có một số tác phẩm khác như: Phật giáo và văn lioá Việt
Nam của Bùi Đăng Duy; Thiền học Việt Nam của Nguyễn Đãng Thục. Nxb.
Thuận Hoá, 1997.
Gần đây, tác giả Nguyễn Hùng Hậu cũng cho ra mắt bạn đọc hai cuốn
sách mới: Đại cương Triết học Việt Nam, Nxb. Thuận Hoá, 2005; Đại cương
triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 2006, trong đó
đề cập đến Phật giáo với tư cách là một tư tưởng triết học, đặc biệt là sự hiện
diện của tư tưởng này ở Việt Nam đã mang nhiều sắc thái riêng.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về Phật giáo được đăng tải trên các Tạp
chí Triết học, Nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí nghiên cứu Phật học

Trong lĩnh vực nghiên cứu thuộc Khoa học Xã hội à Nhân vãn, hướng
nghiên cứu về Phật giáo đang được nhiều NCS và học viên cao học hướng tới.
Một số luận án tiến sĩ về Phật giáo đã được công bố.
- Về vai trò của Phật giáo ở Việt Nam (qua triều đại nhà Lý) của Phạm
Văn Sinh, năm 1995.
- Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn
hoá tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn, năm 1999.
- Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đời sống đạo đức của xã hội Việt
Nam hiện nay của Tạ Chí Hồng, năm 2004
- Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt
Nam của Đặng Thị Lan, năm 2004.
Trên đây là những công trình nghiên cứu về Phật giáo khá sâu sắc và toàn
diện, rất có ích cho chúng tôi trong việc triển khai đề tài này.
* Những công trình nghiên cứu, phản ánh những vấn đề cụ thể về Phật
giáo ở Hà Nội:
Trước hết phải kể đến cuốn sách Văn lioá Phật giáo và lối sống của
người Việt ỏ Hà Nội và cháu tliổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy, Nxb. Văn hoá
Thông tin, 1997. Một số công trình khác nghiên cứu về tôn giáo, song bao
hàm trong đó cả Phật giáo. Ví dụ: Kỷ yếu tổng kết nghiên ciht tình hình tôn
giáo tín ngưỡng Hà Nội (tư liệu lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo). Hà
Nội, 1993; K ết quả nghiên ciai bước đầu tình hình tôn giáo Hà Nội (tư liệu
lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Tổn giáo) Hà Nội, 1995; Bách khoa thư vé tôn
4
giáo tín ngưỡng Hà Nội (tư liệu lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Tôn 2Íáo), Hà
Nội, 1998.
Một số tác phẩm nghiên cứu về chùa Hà Nội dưới góc độ giới thiệu di
tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh: Chùa Hà Nội của Nguyễn Thế
Long và Mai Hùng, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 1997; Hà Nội di tícli
lịch sử văn hoá và danh thắng của Nguyễn Doãn Trinh (chủ biên), Trung tâm
UNESCO bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam, Hà Nội 2000.

Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu trực tiếp về Phật giáo Hà
Nội dưới góc độ xã hội học như:
- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xã hội học Tìm hiểu tình hình tồn tại và
phát triển của Phật giáo trong cộng đồng cư dân Hà Nội thời kỳ đổi mới của
tác giả Trần Văn Trình, 1998.
- Luận văn thạc sĩ Một sô' vấn đề về Phật giáo Hà Nội trong thời kỳ trước
và sau 1986 của Lê Tâm Đắc.
- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xã hội học Thực trạng hoạt dộng Phật
giáo và các dịch vụ nghi lễ ở Hà Nội của Nguyễn Thị Minh Ngọc, 2004.
- Luận vãn thạc sĩ Vài nét về hiện tượng đi lễ của thanh niên Hà Nội của
Đinh Thị Vân Chi.
- Bài viết Một sô' tìm hiểu bước đầu về đặc điểm xã hội tôn giáo của
người đi chùa, thông qua việc khảo sát sinh hoạt của những Phật tử và những
người có thiện cảm với đạo Phật tại chùa Đồng Nhân của Nguyễn Kim Hoa
(Thư viện Nghiên cứu Tôn giáo).
Đây là những công trình tiếp cận Phật giáo trên địa bàn Hà Nội dưới góc
độ xã hội học, đánh giá thực trạng tồn tại, phát triển, hoạt động của Phật giáo
qua lăng kính xã hội học.
Có thể nói, đa số các côna trình trên đã xem xét, đánh giá Phật giáo và
vai trò của nó trên các phươns diện khác nhau. Những công trình nghiên cứu
về Phật giáo Hà Nội chủ yếu giải quyết vấn đề dưới góc độ xã hội học. Chưa
có công trình nào nghiên cứu, đánh giá ảnh hưỏna của đạo đức Phật giáo đến
đạo đức cư dân Hà Nội hiện nay dưới góc độ triết học. Đáy là mảng trống mà
chúng tôi rất mong muốn tìm hiểu, khai thác.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích: Trên cơ sở trình bày sự du nhập và phát triển của Phật giáo
trên địa bàn Hà Nội, đánh giá sinh hoạt Phật giáo của người dãn Hà Nội hiện
nay, đề tài làm rõ những ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức của cư dán Hà
Nội trong giai đoạn đổi mới hiện nay và đưa ra những giải pháp nhằm phát
huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo.

- Nhiệm vụ:
+ Trình bày sự du nhập phát triển của Phật giáo vào Hà Nội, đánh giá
tình hình phát triển của Phật giáo trên địa bàn Hà Nội nói chung và Quận
Thanh Xuân nói riêng.
+ Phân tích sự ảnh hưởng của Phật siáo đến đạo đức của cư dân Hà Nội
trong giai đoạn đổi mới đất nước (qua nghiên cứu, khảo sát Quận Thanh Xuán,
Hà Nội).
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của Phật giáo đối với đạo đức cư dân Hà Nội hiện nay.
4. Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu
* Giả thuyết nghiên cứii
Với đề tài này, chúng tôi đưa ra một số giả thuyết như sau:
- Có những biến đổi khá sâu sắc trong sinh hoạt Phật giáo của người dân
Hà Nội kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới.
- Phật giáo đã có tác động tích cực trong việc duy trì đạo đức xã hội
(trong ý thức đạo đức hay trong hành vi đạo đức của người Hà Nội hiện nay).
- Bên cạnh những tác động tích cực, Phật giáo cũng có những ảnh hưởng
tiêu cực đến đạo đức của cư dân Hà Nội.
Nhữnơ 2Ìả thuyết này cũng chính là những nội dung chủ yêu mà chúng
tôi tập trung nghiên cứu, khảo sát để đưa ra những két luận về mặt triét học.
6
* Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sẽ được tiếp cận dưới góc độ triết học, dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, nhữne chủ trư on 2
chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo.
- Ngoài những phương pháp của CNDVBC & CNDVLS: phân tích, tổng
hợp, lôgíc, lịch sử, khái quát hoá, trừu tượng hoá, đề tài còn kết hợp nhiều
phương pháp khoa học cụ thể. Trước hết là phương pháp phân tích văn bản,
trong đó bao gồm thông tin trên các bài viết, các công trình nghiên cứu đã
được công bố của các nhà khoa học, một số số liệu của các công trình điều tra

xã hội học. Mặt khác, tiến hành điều tra, khảo sát xã hội' học để bổ suna
nguồn tư liệu mới qua các kỹ thuật thu thập thông tin như phươns pháp quan
sát, phương pháp trưng cầu ý kiến
Trên cơ sở phán tích những dữ liệu thu thập được, đề tài sẽ chỉ ra quá
trình, bản chất sự tác động của Phật giáo đến đạo đức CƯ dân Hà Nội hiện nay
và đưa ra những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực
của Phật giáo.
Tổng số phiếu điều tra, khảo sát là 300 phiếu. Các nguồn tư liệu đó sẽ
được tổng hợp, xử lý và đối chiếu để tìm ra nhữn2 mối quan hệ hữu cơ khi tìm
hiểu, phân tích các khía cạnh của đề tài nghiên cứu.
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Để có thể giải quyết vấn đề một cách sáng tỏ và
thấu đáo, chúng tôi xin giới hạn đối tượng nghiên cứu trong một khuôn khổ
xác định: lựa chọn Quận Thanh Xuân làm đối tượng nghiên cứu, khảo sát trực
tiếp. Việc chọn một trường hợp Quận Thanh Xuân ngi n cứu có ưu điểm: có
điều kiện thực hiện được nhanh, cho thông tin với mức độ chi tiêt và toàn diện,
có ý nghĩa cho việc nghiên cứu tổng thể của các công trình tiép theo.
Số liệu khảo sát sử dụns trong đề tài được thực hiện vào tháng 8 năm
2005. Khảo sát bằng bảng hỏi tiến hành tại 3 phường thuộc Quận Thanh
Xuân: Phường Khương Đình, Phườna Nhân Chính, Phường Thanh Xuân Bắc.
7
+ Trên địa bàn phường Nhân Chính: có 3 ngôi chùa là Bổ Đề, Quan Nhân
và Giáp Nhất.
+ Địa bàn phường Khương Trung có 1 ngôi chùa là chùa Khương Truna.
+ Địa bàn phường Thanh Xuân Bắc: không có ngôi chùa nào.
Sở đĩ chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu như vậy là do chúng tôi muốn đánh
giá một cách khách quan sinh hoạt Phật giáo của người dán và mức độ ảnh
hưởng của Phật giáo đến đạo đức của họ. (Theo suy luận chung, sinh hoạt Phật
giáo của người dân ở những nơi có nhiều chùa chiền sẽ phát triển hơn).
- Khách thể khảo sát: Các cư dân có hộ khẩu thường trú, đang sinh sống

và làm việc tại Quận Thanh Xuân, Hà Nội trên địa bàn các phường: Khương
Đình, Nhân Chính, Thanh Xuân Bắc.
- Cơ cấu mẫu:
+ Số lượng mẫu: 300
+ Về giới tính: Nam chiếm 45% = 135
Nữ chiếm 55% = 165
+ Về tuổi tác: 4 nhóm tuổi.
Dưới 20 tuổi chiếm 20% = 60
Từ 20 - 30 tuổi chiếm 30% = 90
Từ 30 - 50 tuổi chiếm 30% = 90
Trên 50 tuổi chiếm 20% = 60
- Phạm vi nghiên cứu: Trên thực tế, Phật giáo đang có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống văn hoá tinh thần của người Hà Nội trên nhiều phương diện:
tư tưởng đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, lối sống, tâm lý
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đên đạo đức của
cư dân Hà Nội trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của để tài
- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu được những tác động của
Phật giáo (cả mặt tích cực và mặt tiêu cực) đên ý thức đạo đức và hành vi đạo
đức của người dân Hà Nội hiện nay. Qua đó cung cáp cơ sở thực tiễn cho các
8
nhà hoạch định chính sách tôn giáo để một mặt thoả mãn nhu cầu tín nơưỡno
tôn giáo của nhân dân, mặt khác tác động vào hoạt động tín ngưỡng tôn giáo
(cụ thể là Phật giáo) theo chiều hướng vì lợi ích dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội
theo tinh thần đổi mới của Đảng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng giảng dạy chuyên đề, tài liệu :u
tham khảo cho sinh viên khoa triết học và những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 2 chương, 5 tiết không kể phần mở đầu, kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục.

9
Chương 1
S ự I)U M IẬ P VÀ PnÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO ở HÀ NỘI VÀ
SINH HOẠT PDẠT GIÁO CỦA CƯ DÂN HÀ XÔI IIIỆN NAY
1.1. S ự DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở HÀ NỘI
1.1.1. Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Hà Nội từ buổi đầu
lịch sử đến giai đoạn trước đổi mới (năm 1986)
Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ rất sớm (thế kỷ thứ II sau công
nguyên) bằng hai con đường: đường biển từ Ấn Độ và đường bộ từ Trung Quốc.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: có thể Phật giáo vào Việt Nam còn sớm hơn
cả Trung Hoa (tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận).
Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã diễn ra hai quá trình song song:
quá trình Phật giáo hoá tín ngưỡng bản địa và quá trình tín ngưỡng hoá Phật
giáo để trở thành đạo Phật Việt Nam. Với tinh thần hướng thiện, từ bi, hỷ xả.
cứu khổ, cứu nạn, Phật giáo đã mau chóng chiếm được cảm tình của đông đảo
người Việt Nam và được người Việt Nam tiếp nhận dễ dàng như “nước thấm
vào lòng đất”.
Trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam là Luy Lâu (Bắc Ninh), Phật
giáo du nhập vào Việt Nam với nhiều tông phái: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông,
Mật Tông, trong đó Thiền Tông là sâu sắc hơn cả. Đồng thời Phật giáo Việt
Nam còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Lão giáo, cùng với phong tục tập
quán và tín ngưỡng dân gian, tạo ra những nét riêng biệt, độc đáo. Phật giáo
Việt Nam dần dần thích ứng với văn hoá Việt Nam có tác động ảnh hưởng lớn
đến đời sống tinh thần người Việt. Phật giáo đã hoà quyền với đạo đức truyền
thống góp phần tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Ngay từ buổi đầu lịch sử, Thăng Long - Hà Nội đã nhanh chóng trở thành
một trung tâm Phật giáo quan trọng của cả nước. Những tông phái thám nhập
và ra đời sớm nhất những cao tăns nổi tiếng đầu tiên của Phật giáo Việt Nam
đều bắt đẩu từ Thăng Long - Hà Nội.
10

Đồng bằng sông Hồng được coi là vùng văn hoá lịch sử cổ, là cái nôi
hình thành dân tộc Việt. Sau Luy Lâu, cổ Loa là đô thị nằm gần ngã ba Sỏn2
Hông, sông Đuống và là nơi giao hội của ba thung lũng sông Thương, sồng
Cầu và sông Lục Nam. c ổ Loa là trung tâm nước Âu Lạc phồn vinh trong
khoảng thế kỷ III và n trước công nguyên.
Đến đầu thế kỷ VI, thời Lý Nam Đế, nước Vạn Xuân có 3 đô thị: Lona
Biên, Cổ Loa và một đô thị mới là Ô Diên (Từ Liêm - Đan Phượng). Năm 679,
nhà Đường chinh phục lại nước ta, trung tâm Tống Binh (nội thành Hà Nội)
nổi bật lên như một đô thị hàng đầu ở lưu vực sông Hồng [37, 72], Nếu kể từ
Lý Bí lấy Long Biên làm kinh đô nước Vạn Xuân (năm 544),‘rồi Phùng Hưna
gọi là Đại La vào thế kỷ v m , đến Lý Thái Tổ gọi là Thăng Lone năm 1010.
đời Hồ là Đông Đô, đời Nguyễn là Hà Nội - Kẻ Chợ, thì đến nay Hà Nội đã có
hàng ngàn năm lịch sử với tư cách là một trung tám chính trị, kinh tế, văn hoá
của dân tộc ta.
Hiện nay, chưa có chứng tích cụ thể về thời điểm Phật giáo vào Hà Nội,
nhưng qua một số tư liệu lịch sử còn lại có thể cho biết sự truyền bá Phật giáo
vào Hà Nội qua các thời kỳ sau:
- Năm 544 Lý Bí dựng nước Vạn Xuân, xây đài Vạn Xuân làm nơi triều
hội và dựng chùa Khai Quốc bên bờ sông Hồng, nay là chùa Trấn Quốc thuộc
quận Tây Hồ. Dữ kiện trên cho thấy vào thế kỷ thứ VI, Phật giáo đã xuất hiện
ở Hà Nội. Ngoài ra, Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại các truyền thuyết về sự
xuất hiện dấu chân thần. Tục thờ dấu chân là một tục thờ có từ lâu đời của
Phật giáo Ấn Độ. Có thể tục thờ này đã theo chân các thương nhân Ấn Độ vào
Việt Nam.
Nhìn chung, trước thời kỳ nhà Lý, Phật giáo Hà Nội mang màu sắc Thiền
tone Trung Hoa.
Trons 215 năm dưới triều đại nhà Lý (1010-1225), Thăng Long - Hà Nội
trở thành nơi hội tụ văn hoá của cả nước. Có thể nói tất cả các tông phái phát
triển đổ về thủ đô Thăng Long, khi vua Lý Công uẩn dời đò ra Thăng Long.
11

ông cho dựng một loạt chùa như Thiên Quang, Thiên đức, Thiên Phúc, Thiên
Thọ, Thiên Long, Thiên Ninh, Thiên Thành, Diên Hựu (Một Cột). Thời kỳ này
cũng có nhiều thiền sư nổi tiếng như Khuông Việt, Đa Bảo, Thông Biện, Từ
Đạo Hạnh.
Dưới triều Lý, Phật giáo ở kinh đô Thăng Long phát triển mạnh mẽ, ảnh
hưởng sâu rộng đến cả nước. Năm 1016, ở Thăng Long có tới 1000 người xuất
gia làm tăng sỹ, đạo sỹ. Đồng thời vua Lý cũng cử người sang Trung Quốc
thỉnh kinh, xây nhà tàng kinh thư Bát Giác, Đại Hưng ở Thăng Long. Việc
khắc in kinh rất được triều đình chú ý và tiến hành ở Thăng Long.
Nét nổi bật của Phật giáo thời kỳ này là tục thờ Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tục thờ này gắn liền với sự xuất hiện của chùa Diên Hựu với giấc mơ của vua
Lý Thánh Tông. Tiếp nối là sự kiện Ỷ Lan được tôn xưng làm Quan Âm nữ.
Tục thờ Quán Thế Âm căn cứ trên kinh Diệu Pháp Liên Hoa (còn gọi là kinh
Pháp Hoa). Bên cạnh đó, pháp thuật mang tính Mật giáo cũng phát triển mạnh.
Nhà sư tiêu biểu cho pháp môn này là Từ Đạo Hạnh hànơ ngày tụng 108.000
lần Đại Bi Tâm Đàlani, có thể ném chiếc gậy chạy thảng đứng dọc theo sống
Tô Lịch.
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt được thiền sư
Thảo Đườns, vua cho phép trụ trì ở chùa Khai Quốc tạo nên một Thiền phái
mới là Thiền phái Thảo Đường có nhiều cư sỹ là các ông vua nổi tiếng thời
bấy giờ như Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông.
Phật giáo thời Lý ở Thăng Long có tính hỗn dung rất cao giữa các sơn
môn, tín ngưỡng khác nhau, hoạt động vây quanh hoàng tộc.
Sang thời Trần, Phật giáo càng phát triển mạnh mẽ. Với sự kiện nhà vua
xuất gia Trần Nhân Tông, người sáng lập và tổ sư thứ nhất Thiền phái Trúc
Lâm, Phật giáo đã ở vào thời kỳ cực thịnh, sử sách còn chép lại: năm 1239, số
tăng sỹ xuất eia trong giáo hội của Trúc Lâm đã đén trên 15.000 người, số tự
viên là trên 100 người. Tính đến năm 1329 Pháp Loa đã xây 5 cây bảo tháp. 2
cơ sở hành đạo Quỳnh Lâm và Báo Ân với trên 200 tăng đường, đúc tới 1.300
12

tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng. Vua Trần Anh Tông nhân ngày lên làm Thái
Thượng Hoàng đã cho đúc 3 tượng đồng Phật Di Đà, Thích Ca và Di Lặc, mỗi
tượng cao 17 thước ta. Vua Anh Tông (năm 1308) đã cúng 100 mẫu ruộng
năm 1313 cúng 5 vạn quan tiền để bố thí, sau đó còn cúng tiếp 500 mẫu
ruộng, bảo vật thờ tự, vật liệu xây dựng chùa Báo Ân. Các Miơng công quý tộc
trong triều đình cũng đua nhau cúng hiến tiền và ruộng. Chùa Quỳnh Lâm có
tới 1000 mẫu ruộng và 1000 tá điền. [38, 30-31]
Cũng vào thời kỳ này, bộ Đại tạng kinh được nghiên cứu công phu, Phật
giáo mang tính bác học, cung đình. Vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông,
Tuệ Trung Thượng Sĩ nhà những người Thiền học lỗi lạc, tu'hành đắc đạo đã
ghi những dấu ấn vàng son trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Giai đoạn từ thế kỷ XV đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với những
biến động của lịch sử dân tộc Phật giáo Thăng Long - Hà Nội cũng có những
bước thăng trầm. Một số ngôi chùa ở Hà Nội bị phá đi xây lại nhiều lần do
chiến tranh giặc giã. Ví dụ, chùa Hoè Nhai (19 Hàng Than, quận Ba Đinh),
chùa Huy Văn (ngõ Huy Văn, quận Đống Đa), chùa Kim Liên (làng Nghi
Tàm - quận Tây Hồ)
Năm 1934, Bắc kỳ Phật giáo tổng hội ra đời đặt trụ sở ở chùa Quán Sứ,
Hà Nội do Thanh Hanh, tổ Vĩnh Nghiêm làm pháp chủ. Tổng hội đã xuất bản
được các tạp chí Đuốc Tuệ, Bồ Đề tân thanh, Tiếng chuông sớm; mở trườn2
tăng ở chùa Quán Sứ, trường ni ở chùa Bồ Đề. Ngoài ra, trong giai đoạn này,
nhiều kinh sách Phật giáo dịch từ tư liệu trong nước được xuất bản, việc viết
sách phổ biến kiến thức cũng phát triển. Một số trí thức như Trần Vãn Giáp,
Phan Văn Hùm, Hoàng Xuân Hãn tham gia nghiên cứu Phật học.
Phật giáo H à N ội giai đoạn 1945-1954:
Đây là giai đoạn cả nước bước vào cuộc kháng chiên chống thực dân
Pháp. Nhiều tăng ni, phật tử ở Hà Nội đã tích cực tham gia kháng chiên. Có
naười tham gia bộ đội, du kích, tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ kháng
chiến, che dấu cán bộ. Nhiều chùa chiền ở Hà Nội trong thời kỳ này là cơ sở
13

bí mật của Việt Minh kháng chiến. Hiện nay có khá nhiều chùa ở Hà Nội
được gắn biển là di tích cách mạng. Phần nhiều trong số đó có thành tích trono
9 năm kháng chiến chống Pháp. Đó là các chùa Ngọc Hồi (xã Ngọc Hổi,
huyện Thanh Trì), chùa Quảng Bá (phường Quảng An, quận Tây Hồ), chùa
Tiên Linh (xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì), chùa Tự Khánh (xã Đôna Ngạc,
huyện Từ Liêm), chùa úng Linh (xã Đại Áng, huyện Thanh Trì), chùa Linh
Quang Phòng (xã Đình Xuyên, huyện Gia Làm), chùa Vĩnh Trà (59 Hàng
Lược, quận Hoàn Kiếm). Nhiều nhà sư đã tham gia kháng chiến, có nhiều
đóng góp quý báu như: Hoà thượng Phạm Ngọc Đạt (hiệu Bình Lượng Giác
Minh) được xem là ân nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người còn hoạt
động bí mật ở Thái Lan. Khi về nước trụ trì ở chùa Quảng Bá đã biến nơi đây
thành một cơ sở cách mạng.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Phật giáo Hà Nội đã thể hiện là
một điểm sáng về tinh thần yêu nước, phát huy truyền thống nhập thế từ trong
lịch sử, góp Dhần làm nên những chiến thắng của dân tộc.
Phật giáo H à N ội thòi kỳ 1954-1986:
Từ năm 1954, đất nước bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17. Bắt đầu từ năm 1965,
Hà Nội trở thành điểm triệt phá của không quân Mỹ. Nhiều nhà chùa như
chùa Hoàng Mai (Nga My tự), chùa Sét (Pháp Điện tự) bị máy bay Mỹ đánh
phá gần như sụp đổ hoàn toàn. Nhiều tăng ni phật tử cầm súng ra tiền tuyến,
có những ngôi chùa trở thành nơi sơ tán trường học cho các cháu học sinh.
Đời sống đạo của người dân cũng nhạt đi khi đất nước có ngoại xâm.
Trong chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta vẫn có chính sách bảo vệ chùa
chiền cùng các di tích lịch sử của cha ông để lại cho con cháu muôn đời sau.
Nhiều ngôi chùa Hà Nội được xếp hạng di tích lịch sử ngay trong thời kỳ này
như chùa Liên Phái, chùa Quán Sứ
Sau ngày giải phóne miền Nam, tron2 bộn bề những khó khăn của giai
đoạn khắc phục hậu quà chiến tranh, Đảng, Nhà nước và nhân dán Hà Nội vẫn
rất quan tâm đến Phật giáo. Tháng 11/1981, Đại hội Đại biểu thống nhất Phật
14

giáo cả nước đã họp tại Thủ đô Hà Nội với gần 200 đại biểu tăn2 ni. cư sĩ đại
diện cho 9 tổ chức hệ phái đã về dự. Đại hội đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, thông qua hiến chương, chương trình hoạt động, bầu ra Hội đồn2 chứne
minh và Hội đồng trị sự là cơ quan lãnh đạo của giáo hội.
Thời kỳ sau khi cả nước độc lập thống nhất cũng là thời kỳ chúng ta phải
đối mặt với những thách thức mới: khắc phục hậu quả sau chiến tranh, kinh tế
của thởi kỳ bao cấp phát triển trì trệ dẫn đến khủng hoảns xã hội. Đời sống
người dân gặp nhiều khó khăn. Nhiều chùa chiền bị hư hỏng, tàn phá trong
chiến tranh không có điều kiện tu bổ lại do nguồn ngân sách hạn hẹp, đóng
góp của thiện nam, tín nữ cũng rất hạn chế. Trong bối cảnh đỏ, hoạt độna của
Phật giáo cũng chịu ảnh hưởng của bầu không khí xã hội. Nsười dân giành
nhiều thời gian để kiếm sống nên đời sons đạo bị thu hẹp lại. Điều này một
lần nữa khẳng định tính chất gắn bó giữa Phật giáo và đời sống kinh tế - xã hội
của đất nước.
Trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo Việt Nam luôn luôn gắn
bó với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, hoà nhập với tín ngưỡng bản
địa, góp phần tạo nên những đặc trưng cơ bản trong tư tưởns, văn hoá và đạo
đức con người Việt Nam. Hà Nội ,với tư cách là Thủ đỏ. trung tâm kinh tế.
chính trị, văn hoá của cả nước, đồng thời cũng là trung tâm Phật giáo lớn ở
Việt Nam. Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội và ngược lại, những
tác động của đời sống kinh tế - xã hội đối với Phật giáo ở Hà Nội chính là tấm
sươns phản chiếu tình hình Phật giáo ở nhiều địa phương trong cả nước.
1.1.2. Tình hình phát triển của Phật giáo ở Hà Nội trong giai đoạn
đổi mới đất nước hiện nay
Bắt đầu từ năm 1986, Đảns và Nhà nước ta thực hiện chính sách đổi mới.
Với những thành quả đạt được trong lĩnh vực kinh tê, đời sống nhân dãn được
cải thiện chúng ta cũng nhận thấy những dấu hiệu của một thời kỳ mới irong
lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tẽ gáy ra những xáo
trộn về mặt xã hội và tâm lý người dân Việt Nam nói chung và người dán đất
15

Hà Thành nói riêng. Với tư cách là một thành tố của kiến trúc thượng tầne, sự
biến đổi của tôn giáo phản ánh sự biến đổi của cơ sở hạ tầng (cơ sở kinh tế)
của xã hội. Dưới đây sẽ trình bày một số nét về thực trạng của Phật
2Íáo Hà
Nội dưới tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình côns nghiệp hoá.
hiện đại hoá đất nước.
Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ hiện nay trên địa bàn Hà Nội
có tổng số 586 chùa, số tín đồ đạo Phật khoảng trên 9 triệu nsười.
* Sự biến đổi của hệ thống chùa chiền và sinh hoạt động tôn giáo
trong các chùa.
Trong thời gian đất nước ta có chiến tranh, Phật giáo c-ũng như các tôn
giáo khác tạm thời lắng xuống. Từ khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới,
Phật giáo có phần khởi sắc. Chùa chiền được trùng tu đẹp và khang trang hơn.
Trước năm 1986, chùa chiền ở Hà Nội ít được trùng tu. Những ngôi chùa còn
lại trong chiến tranh, đa sô' ở trong tình trạng đổ nát, tiêu điều. Từ những năm
90 của thế kỷ trước, phong trào trùng tu chùa chiền ở Hà Nội trở nên khá rầm
rộ. Công việc tô tượng, đúc chuông cũng rất được chú trọng. Cùng với trào lưu
sửa chữa chùa chiền trong thời gian vừa qua, một số nsành nghề kiến trúc,
điêu khắc, thủ công truyền thống có cơ hội phục hồi và phát triển. Các nghệ
nhân tạc tượng, đúc chuông, chạm khắc, tiện mõ, tô tượns được huy động,
trả lương cao và được quý trọng.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong số 130 ngôi chùa được xếp hạng di
tích lịch sử văn hoá ở Hà Nội, có đến hơn 50% ngôi chùa được sửa chữa vừa
và lớn. Nguồn kinh phí cho việc trùnơ tu một phần từ ngán sách Nhà nước
Trung ương và địa phương, phần cơ bản là từ nguồn quyên góp, tiền công đức
của khách thập phương.
Trong những năm đổi mới, đời sống của người dãn Hà Nội được nâng
cao rõ rệt, trong đó có một bộ phận trò nên giàu có. Có những cơ quan, doanh
nghiệp hoặc cá nhân có thể cung tiến hàng chục, vài chục, có khi đén hàng
trăm triệu đổng cho việc trùng tu một nsỏi chùa cụ thể nào đó ở Hà Nội. Nhìn

chung các ngôi chùa được tu sửa theo hướng hiện đại hoá, ở một số chùa khu
16
vực nhà khách, tăng phòng., đuợc trang bị những thiết bị hiện đại: điều hoà
nhiệt độ, sa-lông đắt tiền, dàn máy vi tính, ti vi, tủ lạnh
Nhìn vào khung cảnh các ngôi chùa ở Hà Nội hiện nay, một điều dễ nhận
thấy là các ngôi chùa ở ngoại thành về cơ bản vẫn giữ được khuôn viên
nguyên thuỷ, còn các ngôi chùa ỏ nội thành về cơ bản đã bị mất đi cảnh quan
truyền thống. Do cơn sốt đất trong thời kinh tế thị trường mà tình trạng lấn
chiếm đất của chùa để ở, để làm nơi kinh doanh diễn ra khá phổ biến. Ví dụ,
chùa Hoà Mã (Thiên Quang tự) ở số 3 Phùng Khắc Khoan, quận Hai Bà
Trưng, chùa Huy Văn (Dục Khánh) ở ngõ Huy Văn, quận Đống Đa, chùa Cầu
Đông (Đông Môn tự) ở số nhà 38B Hàng Đường, quận Hoàn Kiếm, chùa Vân
Hồ (Tào Sách tự) ở phố Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng Nhiều ngôi chùa ở
nội thành hiện nay đã bị mất cả cổng tam quan, không gian cõi Phật chỉ còn
một vài căn nhà cổ với một khoảng sân bé nhỏ.
Một điều đáng chú ý nữa là trong giai đoạn đổi mới đất nước, số chùa
được xếp hạng lịch sử di tích văn hoá tăng lên rất nhiều. Cả một thời kỳ dài
trước năm 1986, ở Hà Nội chỉ có 9 ngôi chùa được xếp hạng là di tích lịch sử
văn hoá. Trong 9 ngôi chùa đó thì tất cả đều hoặc là nằm trong những quần
thể danh thắng của đất Thăng Long, hoặc là di tích lịch sử cách mạng nổi
tiếng. Chín ngôi chùa đó là: chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Láng, chùa
Kim Liên, chùa Liên Phái, chùa Bộc, chùa Kiến sở, chùa Am Cây Đề, chùa
Kim Mã. Chỉ kể trong 8 năm (từ 1986 - 1994) ỏ Hà Nội có 121 ngôi chùa
được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, gấp 13,4 lần so với số chùa được xếp
hạng trong quãng thời gian 31 năm trước đó (1954-1985). Với chủ trương
đường lối đổi mới của Đảng, nhằm bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch
sử văn hoá và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền thống dựng
nước của nhân dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu
CNXH và lòng tự hào dân tộc, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ và văn hoá của nhãn
dân Một số chùa được đưa vào trone các tuyên du lịch Hà Nội như chùa Một

cột, Trấn Quốc
Nói về sự biến đổi của chùa chiền, không thể không nói đến một lĩnh \TỊC
quan trọng: đó là sinh hoạt Phật giáo diễn ra trong các chùa. Phật giáo có ba lễ
chính trong năm:
- Lễ Phật đản (Phật sinh) được tổ chức vào ngày 15 - 4 âm lịch. Tro nơ lễ
Phật đản, sau khi tụng kinh và làm các thủ tục, người ta tắm tượng Phật bằnơ
nước thơm rồi lau bằng một khăn lụa đỏ, sau đó tấm lụa được xé nhỏ ra chia
cho mỗi người một miếng nhỏ để được hưởng phúc lộc.
- Lễ Phật thành đạo được tổ chức vào ngày 15 tháng chạp. Lễ này được tổ
chức tụng niệm và các thủ tục khác ở chùa chiền để ghi nhớ một cái mốc quan
trọng của lịch sử hình thành Phật giáo.
- Lễ Vu Lan được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, lễ cúng cô hồn và
phổ độ chúng sinh. Trong lễ hội Vu Lan, các phật tử diễn lại các trò nêu
gương báo hiếu, vạch ra con đường tội lỗi và cách diệt trừ.
Ngoài ra còn có các ngày lễ khác như lễ Thượns nsuyên (rằm thán2
giêng), lễ Thuỷ quan giải ách (rằm tháng 10). Ngoài ra nhà chùa còn nhận làm
những dịch vụ như: cầu an, cúng sao giải hạn, bán khoán, cầu đảo, cún2 tứ
cửu (sau khi chết 49 ngày), rước vong lên chùa
ơ các chùa lớn như Quán Sứ, Chân Tiên, Phúc Khánh nhà chùa thường
tổ chức các buổi thuyết giảng kinh Phật, cách thức tu tập, thực hiện nghi lễ
của nhà Phật cho các tín đồ cũng như những người có cảm tình với đạo Phật.
Nhìn chung, các hoạt động của hệ thống chùa chiền ở Hà Nội trong thời
kỳ đổi mới khởi sắc và rầm rộ hơn các thời kỳ trước đó. Các nsôi chùa có vẻ
khang trang và giàu có hơn trước. Người dân đến chùa và siành thời gian cho
lỗ bái nhiều hop. Ngày rằm, mồng một, nhữns ngày tế lễ các chùa đông nườm
nượp. Vào đêm eiao thừa hàng năm, ngày mồng một Tết nguyên đán. tại
những chùa lớn, neười đi lễ đông như trảv hội. Đa số mỗi người, chỉ cầm một
nén hương, đứng từ ngoài cửa hoặc ngoài sán vái vọng vào Tam Bào, vì số
lượng người quá đông đúc. Thế mới biết, mặc dù khoa học kỹ thuật đã phát
triển, song nhu cẩu tâm linh của con người vẫn không ngừng tăng lén.

1S
Thơi kinh tê thị trường, xung quanh các ngôi chùa, các dịch vụ cũn2 tấp
nập hăn lên: nào là các quán buôn bán hương hoa, vàng mã, hoa quả, các quán
nước, quà bánh và cả hàng ăn, các dịch vụ trống xe, viết sớ, xem tướns số
cung xuãt hiện ờ nhiều chùa trong các dịp lễ hội. Trong các ngôi chùa mà
chúng tôi quan sát ở Hà Nội, hầu hết đều có 2 hòm công đức trở lên, có chùa
có 5 - 7 hòm công đức được đặt ở những địa điểm thuận lợi để khách thập
phương đóng góp công đức. Nhịp sống của kinh tế thị trường đã khiến cho
không khí yên ả, tĩnh mịch nơi cõi Phật cũng nhộn nhịp hẳn lên.
* Vấn đề th ờ M ẫu trong các chùa.
Thờ Mẫu trên các chùa hiện nay là một hiện tượng phổ biến. Tuy vào
chùa, tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn giữ được bản sắc riêng. Ban thờ Mẫu không
tuân thủ theo các nguyên tắc của nhà Phật. Trên ban thờ Mẫu có thể đặt lễ
chay hoặc mặn tuỳ thuộc vào tín đồ. Dù vậy, ở Hà Nội ngày này, hiện tượne
đặt đồ mặn lên ban thờ Mẫu khône phổ biến.
Chùa Hà Nội xưa có thờ Mẫu không nhiều. Một số chùa ngoại vi thành
phố hay những ngôi chùa làng cổ xưa, Mẫu vẫn chỉ chiếm một vị trí khiêm
tốn. Điều này cho thấy tâm linh Phật siáo của người dán tại các làng xã ven đô
Hà Nội có phần thuần khiết hơn người dân sốns trong nội thành. Hầu hết các
chùa trong nội thành đều có một ban thờ Mẫu hoặc chiếm hẳn một gian thừ
riêng biệt, được trang hoàng lộng lẫy. Xét tổng thể các công trinh xin tu tạo tại
các chùa Hà Nội hiện nay, tỷ lệ chùa xin tu sửa, xây mới ban thờ Mẫu chiếm
tỷ lệ cao hơn, đặc biệt là các chùa trong nội thành. Điều này cho thấy tâm lý
con người trong thời kinh tế thị trường có phần thực dụng hơn, mong muốn
được mua may bán đắt, lộc tài hưna thịnh, ơ những địa danh thờ Mâu nôi
tiếng (Bà Chúa Kho, Phủ giày Nam Định ), nghi lễ, hầu đồng mong Thánh
Mẫu ban tài ban lộc diễn ra quanh năm, đặc biệt vào mùa xuân.
* Ván đề đốt vàng m ã trong các chùa Hà .V ội.
Tục đốt vàng mã có từa thời Xuân Thu ở Trung Quốc. Con người từ thuờ
xa xưa đã có quan niệm chết chưa phải là hết mà là bắt đẩu một cuộc sổng

19
mới. Từ đó người ta cho rằng người chết cần có các nhu cầu như người sống.
Quan niệm đó dẫn đến tập tục vua chúa Trung Quốc cổ xưa khi chết phải chôn
theo cung tần mỹ nữ, kẻ hầu người hạ cùng các vật dùng trên dương thế. Đến
thời Xuân Thu, thay thế cho việc chôn người thật, người ta làm những hình
nhân bằng giấy rồi cho đốt. Đây là hình thức khởi thuỷ của tục đốt vàng mã.
Thăng Long xưa kia có những làng chuyên làm đồ mã cung cấp cho nhu
cầu vàng mã trong triều như các xã Ngọc Lộng, Lạc Thổ Ngày nay, vàng mã
được bán khắp nơi, nhiều nhất là ở phổ' Hàng Mã. Đồ mã thật là phona phú, từ
tiền, vàng, đô la đến các đồ gia dụng nhỏ như quần áo, mũ, kính, đồng hồ
đến những thứ có giá trị như ti vi, tủ lạnh, nhà lầu, xe hơi Hàng mã cũng có
hàng nội, hàng ngoại rõ rệt và được gắn những nhãn mác đang được ưa
chuộng nhất hiện nay. Chúng tôi đã may mắn được chứng kiến một buổi đốt
vàng mã tại chùa Phúc Khánh (thuộc địa phận Ngã Tư sở - Hà Nội) vào ngày
rằm tháng bảy. Đó là ngày lễ “Vu Lan”, nhiều gia đình nhờ nhà chùa làm lễ
“phả độ gia tiên” và sau buổi lễ, số vàng mã như đã nói ở trên của các gia đình
dâng cúng cho ông bà tổ tiên đem hoá neoài sân, lửa khói bốc cao nshi ngút vì
số vàng mã quá nhiều.
Thực ra, tục đốt vàng mã không phải là tục lệ của nhà Phật. Người Phật
tử theo đúng giáo luật khi cúng Phật hay ông bà tổ tiên cũng không nén đốt
vàng mã. Phật giáo coi đốt vàng mã là một hình thức mê tín dị đoan. Sons để
chiều theo ý các tín đồ, các chùa ở Hà Nội cũng phải chấp nhận điều này, vì
nhà chùa cần có tín đồ để tổn tại. Điều đó cho thấy rằng, trong điều kiện kinh
tế thị trường, hoạt độns của nhà chùa cũna có nhiều biến đổi, cũng mang dấu
ấn của sự bán mua (nhà chùa sẩn sàng nhận những dịch vụ đáp ứng nhu cầu
của người dân). Tục đốt vàng mã trong những dịp lễ lớn gây tốn kém không
nhò ước tính trung bình tiền vàng mã của nsười dân Hà Nội đốt hàng năm lên
tới hàng tỷ đồng.
* Hoạt động của giáo hội và tăng ni.
Các cơ quan Phật giáo đóna tại Hà Nội có Văn phòng I Trung ương giáo

hội Phật <?iáo Việt Nam đóng tại chùa Quán Sứ (73 Quán Sứ, Hà Nội); Thành
20
hội Phật giáo Hà Nội đóng tại chùa Bà Đá (số 3 phố Nhà Thờ, quận Hoàn
Kiếm).
Trên địa bàn Hà Nội hiện có 2 học viện Phật giáo, Thành hội Phật giáo
Hà Nội có trường Trung cấp Phật học ở chùa Bà Đá. Hà Nội đã kiện toàn được
14/14 Ban đại diện Phật giáo của các quận huyện, các cơ sở này đana dần dần
đi vào ổn định.
Hà Nội hiện có 674 người đang tu hành tại các chùa. Hàng giáo phẩm có
28 vị, trong đó có 3 hoà thượng, 16 thượng toạ, 1 Ni trưởne, 10 Ni sư, còn lại
là hàng đại chúng. Trong các hàng chức sắc của Phật giáo Hà Nội hiện nay,
chúng ta thấy có tới 116 vị tham gia công tác chính quyền, mặt trận, đoàn thể
từ Trung ương tới cơ sở.
Phật giáo Hà Nội trong mấy năm gần đây đã có nhiều chuyển biến mới
trên các mặt tăng sự, hoằn2 pháp, từ thiện và đào tạo tăng ni.
Công tác hoằng pháp ở các chùa tiếp tục được khuyến khích. Nhiều chùa
duy trì thuyết giảng Phật pháp các buổi sáng thứ 7 hoặc chủ nhật, tích cực tổ
chức truyền tam qui ngũ giới cho phật tử để phát triển phật tử. Việc giảng kinh
góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về đạo của tín đồ. Ở các trung tâm lớn
như chùa Quán Sứ, Trấn Quốc, mỗi buổi giảng kinh số lượng tín đồ lẻn đến
hàng trăm người.
Giáo hội phát triển Việt Nam cũng đã chú ý đến công việc thuyết giảng
Phật pháp (hoằng dương chính pháp). Giáo hội đã mở các lớp đào tạo bồi
dưỡng các giảng sinh là những tăng ni chuyên trách thuyết giảng Phật pháp
trong các mùa An cư Kiết hạ hàng năm và các buổi thuyết giảng định kỳ cho
các nam nữ phật tử.
Vấn đề aiáo lý của đạo Phật cũng được chú trọng. Viện nghiên cứu Phật
học thành phố Hồ Chí Minh và Phân viện nghiên cứu Phật học tại Hà Nội đã
từng bước tiến hành nghiên cứu các vấn để siáo lý Phật giáo, biên soạn các
giáo trình Phật học. Công tác in ấn, tuyên truyền của Giáo hói Phật giáo Việt

Nam tronơ thời gian qua cũng đạt được nhiều thành tựu tí :g kể. Tuần báo
21

×