BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------------------
LƯƠNG NGỌC DIỄM HẰNG
BIỂU HIỆN CD56
TRONG NANG VÀ BƯỚU DO RĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ RĂNG – HÀM – MẶT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2020
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------------
LƯƠNG NGỌC DIỄM HẰNG
BIỂU HIỆN CD56
TRONG NANG VÀ BƯỚU DO RĂNG
Ngành: Răng – Hàm – Mặt
Mã số: 8720501
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.
VÕ ĐẮC TUYẾN
TS. NGUYỄN THỊ KIM CHI
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
.
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn
khoa học của TS. VÕ ĐẮC TUYẾN và TS. NGUYỄN THỊ KIM CHI. Các dữ
liệu và kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lương Ngọc Diễm Hằng
.
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
i
Đối chiếu thuật ngữ Việt - Anh
ii
Danh mục bảng – biểu đồ
iv
Danh mục hình
vi
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1. Nang do răng ở xương hàm
3
1.2. Bướu do răng ở xương hàm
7
1.3. Biểu hiện của protein CD56 ở nang và bướu do răng
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
11
18
2.1. Đối tượng nghiên cứu
18
2.2. Phương pháp nghiên cứu
18
2.3. Thu thập dữ liệu nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
19
2.4. Kiểm sốt sai lệch thơng tin
30
2.5. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
32
3.1. Đặc điểm giải phẫu bệnh của nang và bướu do răng trong mẫu nghiên cứu 32
3.2. Biểu hiện hóa mơ miễn dịch của protein CD56 ở nang và bướu do răng
44
3.3. So sánh biểu hiện HMMD của protein CD56 ở nang và bướu do răng trong
mẫu nghiên cứu
54
3.4. Liên quan biểu hiện CD56 ở nang và bướu do răng với đặc điểm lâm sàng và
giải phẫu bệnh
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN
55
58
4.1. Đặc điểm giải phẫu bệnh của nang và bướu do răng trong mẫu nghiên cứu 58
.
4.2. Biểu hiện hóa mơ miễn dịch của protein CD56 ở nang và bướu do răng
71
4.3. So sánh biểu hiện CD56 trong nang do răng và bướu do răng
75
4.4. Liên quan biểu hiện CD56 ở nang sừng do răng và BNBM với đặc điểm lâm
sàng, giải phẫu bệnh
78
KẾT LUẬN
82
KIẾN NGHỊ
84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Chấp thuận của Hội đồng Đạo đức
Phụ lục 2: Trang thông tin dành cho bệnh nhân tham gia nghiên cứu
Phụ lục 3: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
Phụ lục 4: Phiếu thu thập dữ liệu nghiên cứu
Phụ lục 5: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu
.
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
BN
Bệnh nhân
BNBM
Bướu nguyên bào men
c.s.
Cộng sự
HMMD
Hố mơ miễn dịch
RHM
Răng hàm mặt
TB ± ĐLC
Trung bình ± Độ lệch chuẩn
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
XHD
Xương hàm dưới
XHT
Xương hàm trên
Tiếng Anh
CD
Clusters of differentiation
CT
Computed tomography
DAB
Diaminobenzidine
EGFR
Epidermal Growth Factor Receptor
EDTA
Ethylenediaminetetraacetic Acid
HE
Hematoxylin and Eosin
HPV
Human papillomavirus
HRP
Horseradish Peroxidase
LSAB
Labeled Streptavidin Biotin
KCOT
Keratocystic Odontogenic Tumor
OGEH
Odontogenic gingival epithelial harmatoma
NCAM
Neural cell adhesion molecule
PCNA
Proliferating Cell Nuclear Antigen
PBS
Phosphate Buffered Saline
TBST
Tris-Buffered Saline, 0,05%Tween 20
WHO
World Health Organization
.
ii
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT ANH
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Bao răng
Dental follicle
Bướu biểu mơ do răng canxi hóa
Calcifying epithelial odontogenic tumor
Bướu ngun bào men
Ameloblastoma
Bướu nguyên bào xê măng
Cementoblastoma
BNBM dạng ngoại vi
Peripheral/ Extraosseous ameloblastoma
BNBM dạng xơ hóa
Desmoplastic ameloblastoma
BNBM dạng đơn nang
Unicystic ameloblastoma
BNBM dạng đám rối
Plexiform ameloblastoma
BNBM dạng gai
Acanthomatous ameloblastoma
BNBM dạng ống
Luminal ameloblastoma
BNBM dạng tế bào đáy
Basal cell ameloblastoma
BNBM dạng tế bào hạt
Granular cell ameloblastoma
BNBM dạng trong ống
Intraluminal ameloblastoma
BNBM dạng trong vách
Mural ameloblastoma
BNBM dạng túi tuyến
BNBM di căn
Follicular ameloblastoma
Metastasizing ameloblastoma
Bướu do răng dạng tuyến
Adenomatoid odontogenic tumor
Bướu sợi nguyên bào men
Ameloblastic fibroma
Bướu sợi sinh xê măng - xương
Cemento-ossifying fibroma
Bướu gai do răng
Squamous odontogenic tumor
Bướu nhầy do răng
Odontogenic myxoma tumor
Bướu do răng nguyên thủy
Primordial odontogenic tumour
Carcinôm do răng xơ cứng
Sclerosing odontogenic carcinoma
Carcinôm nguyên bào men
Ameloblastic carcinoma
Carcinôm nguyên phát trong xương
Primary intraosseous carcinoma
Carcinôm tế bào sáng do răng
Clear cell odontogenic carcinoma
.
iii
Carcinôm tế bào ma do răng
Ghost cell odontogenic carcinoma
Cắt đoạn xương
Segmental resection
Cắt nguyên khối
En-bloc resection
Cơ quan men
Enamel organ
Dấu ấn sinh học
Biomarker
Hội chứng carcinôm tế bào đáy nêvi
Nevoid basal cell carcinoma syndrome
Lấy bướu/ lấy nang
Enucleation
Lá răng
Dental lamina
Lưới hình sao
Stellate reticulum
Nang bên răng viêm
Collateral inflammatory cyst
Nang bên quanh răng
Lateral periodontal cyst
Nang con
Daughter cyst
Nang do răng canxi hóa
Calcifying odontogenic cyst
Nang do răng dạng chùm
Botryoid odontogenic cyst
Nang nướu
Gingvial cyst
Nang tuyến do răng
Glandular odontogenic cyst
Nang thân răng
Dentigerous cyst
Nang trực sừng do răng
Orthokeratinized odontogenic cyst
Nang sừng do răng
Odontogenic keratocyst
Nang quanh chóp
Radicular cyst /periapical cyst
U răng
Odontoma
.
iv
DANH MỤC BẢNG – BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1. Phân loại mô bệnh học nang do răng (WHO 2017)
3
Bảng 1.2. Phân loại mô bệnh học bướu do răng (WHO, 2017)
8
Bảng 1.3. Tổng hợp các nghiên cứu về biểu hiện CD56 trong BNBM và các nang
hoặc bướu do răng khác
16
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn phân loại thể lâm sàng của BNBM
21
Bảng 2.2. Tiêu chuẩn phân loại dạng vi thể của BNBM dạng đặc
21
Bảng 2.3. Tiêu chuẩn phân loại dạng vi thể của BNBM dạng nang
24
Bảng 3.1. Tỉ lệ phân bố nang do răng trong mẫu nghiên cứu
32
Bảng 3.2. Tỉ lệ phân bố bướu do răng trong mẫu nghiên cứu
33
Bảng 3.3. Tỉ lệ các dạng vi thể của BNBM dạng đặc
37
Bảng 3.4. Tỉ lệ biểu hiện CD56 ở các loại nang do răng
46
Bảng 3.5. Tỉ lệ biểu hiện CD56 ở các loại bướu do răng
48
Bảng 3.6. Mức độ biểu hiện CD56 dương tính ở BNBM
49
Bảng 3.7. So sánh biểu hiện của CD56 giữa nang và bướu do răng
54
Bảng 3.8. Tỉ lệ biểu hiện CD56 ở các loại nang và bướu do răng
54
Bảng 3.9. So sánh mức độ biểu hiện dương tính CD56 giữa BNBM và nang sừng
do răng
55
Bảng 3.10. Liên quan biểu hiện CD56 với đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của
nang sừng do răng
56
Bảng 3.11. Liên quan biểu hiện CD56 với đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của
BNBM
57
Bảng 4.1. Tuổi trung bình và sự phân bố giới tính của bệnh nhân nang do răng, so
sánh với các nghiên cứu khác
59
Bảng 4.2. Tuổi trung bình và sự phân bố giới tính của bệnh nhân bướu do răng, so
sánh với các nghiên cứu khác
Bảng 4.3. So sánh tỉ lệ BNBM dạng đặc và dạng nang giữa các nghiên cứu
.
60
65
v
Bảng 4.4. So sánh tỉ lệ phân bố dạng vi thể BNBM dạng đặc
66
Bảng 4.5. Biểu hiện CD56 ở nang sừng do răng, so sánh với các nghiên cứu khác
71
Bảng 4.6. So sánh mức độ biểu hiện CD56 ở BNBM giữa các nghiên cứu
73
Biểu đồ 3.1. Tỉ lệ bệnh lý nang do răng và bướu do răng
32
.
vi
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Cấu trúc ba chiều của NCAM
12
Hình 1.2. Vị trí gen NCAM1 trên nhiễm sắc thể 11
12
Hình 2.1. Dạng túi tuyến
21
Hình 2.2. Dạng đám rối
22
Hình 2.3. Dạng gai
22
Hình 2.4. Dạng tế bào hạt
22
Hình 2.5: Dạng tế bào đáy
22
Hình 2.6. Dạng xơ hóa
23
Hình 2.7. Dạng túi tuyến kết hợp dạng đám rối, dạng chuyển sản gai
23
Hình 2.8. Dạng ống
24
Hình 2.9. Dạng trong ống
24
Hình 2.10. Dạng trong vách
24
Hình 2.11. Hình ảnh vi thể nang thân răng
25
Hình 2.12. Hình ảnh vi thể nang sừng do răng
25
Hình 2.13. Hình ảnh vi thể nang quanh chóp
26
Hình 2.14. (A) Tủ sấy 37oC (B) Máy cắt vi phẫu
28
Hình 2.15. (A) Tủ nhuộm HE và HMMD (B) Kháng thể CD56
28
Hình 2.16. Kết quả biểu hiện CD56 ở nang và bướu do răng
29
Hình 2.17. Mức độ biểu hiện CD56 dương tính
30
Hình 3.1. Tổn thương dạng bọc nang, có lòng nang
33
Hình 3.2. Hình ảnh vi thể nang quanh chóp
34
Hình 3.3. Hình ảnh vi thể nang thân răng
34
Hình 3.4. Hình ảnh đại thể nang sừng do răng
35
Hình 3.5. Biểu mơ lót của nang sừng do răng
35
Hình 3.6. Nang sừng do răng với hình ảnh nang con
36
Hình 3.7. Hình ảnh viêm mạn tính trong nang sừng do răng
36
.
vii
Hình 3.8. Dạng đại thể của BNBM
37
Hình 3.9. BNBM dạng túi tuyến
38
Hình 3.10. BNBM dạng đám rối
38
Hình 3.11. BNBM dạng xơ hóa
39
Hình 3.12. BNBM dạng túi tuyến với hình ảnh thối hóa nang
39
Hình 3.13. BNBM dạng túi tuyến kết hợp chuyển sản gai
40
Hình 3.14. BNBM dạng túi tuyến kết hợp chuyển sản tế bào hạt
40
Hình 3.15. BNBM dạng túi tuyến kết hợp chuyển sản tế bào đáy
40
Hình 3.16. BNBM dạng nang, dạng ống
41
Hình 3.17. BNBM dạng nang, dạng trong vách
41
Hình 3.18. U răng
42
Hình 3.19. Bướu sợi nguyên bào men
42
Hình 3.20. Hình ảnh đại thể carcinơm ngun bào men
43
Hình 3.21. Hình ảnh vi thể carcinơm ngun bào men
43
Hình 3.22. Carcinơm ngun phát trong xương
44
Hình 3.23. Hình ảnh vi thể carcinơm ngun phát trong xương
45
Hình 3.24. Biểu hiện CD56 dương tính ở nang sừng do răng mức độ 1(+)
46
Hình 3.25. Biểu hiện CD56 dương tính rải rác ở nang sừng do răng, vị trí nang con
47
Hình 3.26. Biểu hiện CD56 âm tính ở nang thân răng
47
Hình 3.27. Biểu hiện CD56 âm tính ở nang quanh chóp
47
Hình 3.28. Biểu hiện CD56 dương tính (1+) ở BNBM dạng đặc, túi tuyến
49
Hình 3.29. Biểu hiện CD56 dương tính (2+) ở BNBM dạng đặc, đám rối
50
Hình 3.30. Biểu hiện CD56 dương tính ở BNBM dạng đặc, xơ hóa
50
Hình 3.31. Biểu hiện CD56 dương tính ở BNBM vùng chuyển sản tế bào đáy
50
Hình 3.32. Biểu hiện CD56 âm tính ở BNBM vùng chuyển sản gai
51
Hình 3.33. Biểu hiện CD56 âm tính ở BNBM vùng chuyển sản tế bào hạt
51
Hình 3.34. Biểu hiện CD56 dương ở BNBM dạng nang, dạng ống
51
Hình 3.35. Biểu hiện CD56 dương ở BNBM dạng nang, trong vách
52
Hình 3.36. Biểu hiện CD56 âm tính ở u răng
52
.
viii
Hình 3.37. Biểu hiện CD56 dương tính ở bướu sợi ngun bào men
52
Hình 3.38. Biểu hiện CD56 dương tính ở carcinơm ngun bào men
53
Hình 3.39. Biểu hiện CD56 dương tính ở carcinơm ngun phát trong xương
53
Hình 3.40. Biểu hiện CD56 âm tính ở carcinơm ngun phát trong xương
53
.
MỞ ĐẦU
Nang và bướu do răng là những thực thể bệnh lý riêng biệt thường gặp ở xương
hàm, tuy có cùng nguồn gốc từ sự tăng sinh của các loại tế bào của mầm răng, nhưng
nang và bướu do răng có phương pháp điều trị và tiên lượng khác nhau.
Nang do răng ở xương hàm chiếm tỉ lệ cao hơn, thường gặp nhất là nang quanh
chóp (53,2%), kế đến là nang thân răng (16,8%), và nang sừng do răng (11,1%) [79].
Nang do răng tiến triển chậm, lành tính, thường được điều trị bảo tồn như nạo, khoét
nang hoặc khâu thông túi, với tỉ lệ tái phát thấp [74].
Bướu do răng ở xương hàm ít gặp, khó điều trị và tỉ lệ tái phát thường cao hơn.
Bướu nguyên bào men (BNBM) là một trong những bướu do răng thường gặp nhất ở
xương hàm, bướu có nguồn gốc từ biểu mơ tạo răng. Mặc dù được xem là tân sinh
lành tính nhưng bướu có biểu hiện xâm lấn tại chỗ và tiềm năng tái phát rất cao. Điều
trị cần phẫu thuật cắt rộng, đường cắt trên xương lành cách rìa bướu từ 1-1,5cm [31].
Do biểu hiện lâm sàng, hình ảnh trên phim X quang và mô bệnh học của nang
và bướu do răng có nhiều điểm tương đồng [54], [68], [77]. Vì vậy, có những trường
hợp, dựa vào lâm sàng, X quang hoặc thậm chí dựa trên kết quả mơ bệnh học của
mẫu mơ sinh thiết cũng khó có thể phân biệt được chính xác giữa nang và bướu do
răng ở xương hàm. Thực tế cho thấy rằng vẫn còn những trường hợp nang và bướu
do răng chưa được chẩn đốn chính xác, chẩn đoán nhầm giữa nang thân răng, nang
sừng do răng và bướu nguyên bào men dẫn đến việc điều trị khơng thích hợp gây
nhiều tổn hại cho người bệnh [54]. Vì vậy việc chẩn đốn chính xác các loại tổn
thương này trước điều trị có ý nghĩa rất quan trọng giúp nâng cao được hiệu quả điều
trị và an toàn cho người bệnh.
Với sự tiến bộ của y học ngày nay, đặc biệt là sự phát triển của hoá mô miễn
dịch, nhiều dấu ấn sinh học được phát hiện có thể hỗ trợ cho các nhà Giải phẫu bệnh
chẩn đốn phân biệt chính xác hơn giữa nang và bướu do răng. Một số nghiên cứu
gần đây cho thấy Calretinin là một dấu ấn sinh học có thể chẩn đốn phân biệt giữa
bướu nguyên bào men và các tổn thương dạng nang khác ở xương hàm với độ chính
xác khá cao [2], [29], [34]. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã công bố cho thấy vẫn chưa
.
có dấu ấn sinh học nào có đủ độ tin cậy và tính chun biệt cao cho chẩn đốn giữa
nang và bướu do răng.
CD56 hay phân tử bám dính tế bào thần kinh (NCAM) là một protein xuyên
màng thuộc siêu họ globulin miễn dịch và có vai trò kiểm sốt trực tiếp sự bám dính
tế bào - tế bào. Biểu hiện CD56 là điều cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của
hệ thống thần kinh. Do sự phát triển răng liên quan đến các tế bào mào thần kinh, một
số nghiên cứu trước đây đánh giá biểu hiện CD56 trong mầm răng [69], ngồi ra cịn
ở các sang thương do răng trong xương hàm, với tỉ lệ biểu hiện CD56 dương tính ở
BNBM từ 73,8% đến 100%, ở nang sừng do răng từ 5,2% đến 50%. Một số nghiên
cứu cũng ghi nhận biểu hiện CD56 âm tính ở nang thân răng, nang quanh chóp [21],
[32], [48], [56], [87].
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu về biểu hiện CD56 ở các nang và bướu do
răng. Nhằm xác định biểu hiện của dấu ấn sinh học CD56 có sự khác biệt giữa nang
và bướu do răng hay không, chúng tôi thực hiện đề tài “Biểu hiện CD56 trong nang
và bướu do răng” với các mục tiêu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả đặc điểm giải phẫu bệnh của nang và bướu do răng trong mẫu nghiên
cứu.
2. Xác định tỉ lệ và đặc điểm biểu hiện hóa mơ miễn dịch của protein CD56 ở
nang và bướu do răng trong mẫu nghiên cứu.
3. So sánh biểu hiện hóa mơ miễn dịch của protein CD56 giữa nang và bướu
do răng trong mẫu nghiên cứu.
4. Phân tích liên quan giữa biểu hiện hóa mơ miễn dịch của protein CD56 ở
nang và bướu do răng với đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh.
.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nang do răng ở xương hàm
1.1.1. Định nghĩa
Nang là một khoang bệnh lý chứa dịch, về cấu tạo một nang bao gồm 3 thành phần
cơ bản:
-
Lòng nang: chứa mảnh vụn tế bào, chất sừng hay chất dịch nhầy từ sự thối
hóa hay chế tiết của các tế bào bao nang.
-
Bao lát biểu mô: biểu mô khác nhau tùy loại nang, có thể là biểu mơ tầng sừng
hóa hay khơng sừng hóa, trụ giả tầng, trụ hay hình khối.
-
Thành ngồi (vỏ bao nang) bao gồm mơ liên kết sợi chứa các nguyên bào sợi
và mạch máu.
Nang do răng là nang có thành phần biểu mơ có nguồn gốc từ sự tăng sinh của các
biểu mơ sót liên quan đến quá trình tạo răng trong xương hàm [68].
1.1.2. Phân loại nang do răng
Có nhiều hệ thống phân loại nang vùng hàm mặt, mỗi hệ thống dựa vào những tiêu
chí khác nhau. Phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được coi là phân loại
chuẩn và được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới.
Bảng 1.1. Phân loại mô bệnh học nang do răng (WHO 2017) [31]
Nang do răng nguồn gốc phát triển
Nang do răng nguồn gốc viêm nhiễm
Nang thân răng
Nang quanh chóp
Nang sừng do răng
Nang bên răng
Nang bên quanh răng và nang do răng
dạng chùm
Nang nướu
Nang tuyến do răng
Nang do răng canxi hóa
Nang trực sừng do răng
.
1.1.3. Dịch tễ
Nang do răng thường gặp ở nhiều lứa tuổi, theo nghiên cứu của Kammer
(2019), tuổi trung bình chung của bệnh là 39 ± 17,33, thường gặp ở nam giới, tỉ lệ
nam:nữ là 1,3:1 [50]. Nghiên cứu Aquilanti (2020) [9] tuổi trung bình nang do răng
là 46,6 tuổi, tỉ lệ nam:nữ là 1,7:1. Nghiên cứu của Şahin Onur (2018) ghi nhận trong
246 trường hợp nang do răng, nang quanh chóp chiếm tỉ lệ 53,2%, nang thân răng tỉ
lệ 16,8% và nang sừng do răng chiếm 11,1% [79]. Nang sừng do răng, tuy ít gặp hơn,
nhưng do tỉ lệ tái phát cao sau khi phẫu thuật lấy nang nên được quan tâm nhiều trong
thực hành lâm sàng. Theo Kammer và c.s. (2019), trong 406 ca nang do răng, có 272
ca là nang do viêm chiếm tỉ lệ 67% và 134 ca là nang do tăng trưởng, chiếm tỉ lệ 33%,
trong đó nang quanh chóp chiếm tỉ lệ cao nhất 46,1%, đứng thứ hai là nang sừng do
răng 15% và nang thân răng 14% [50]. Nang do răng gặp ở xương hàm trên so với
xương hàm dưới với tỉ lệ xấp xỉ bằng nhau [50], [79]. Ở hàm dưới nang thường gặp
nhất ở vùng góc hàm, tiếp đến là cành ngang xương hàm dưới, ở hàm trên nang
thường gặp ở vùng răng trước [31], [50], [86].
1.1.4. Bệnh căn- sinh bệnh học
Các nang do răng được hình thành do tăng sinh của biểu mơ trong xương hàm
liên quan đến q trình tạo răng bao gồm biểu mơ sót của lá răng (biểu mơ Serres),
biểu mơ sót Malassez, biểu mơ men thối hóa. Nang thường tiến triển chậm và khi
lớn sẽ gây hủy xương và sưng phồng xương hàm.
Nguyên nhân gây tăng sinh biểu mơ chưa được biết rõ, có thể do kích thích
viêm nhiễm hoặc do tăng trưởng. Có nhiều cơ chế liên quan đến sự hình thành và lớn
lên của nang, trong đó có 3 yếu tố chính: đó là sự tăng sinh của các tế bào biểu mô,
áp lực thủy tĩnh của dịch nang và sự tiêu xương [31], [62], [67].
1.1.5. Đặc điểm lâm sàng
Nang do răng là tổn thương lành tính của xương hàm. Các triệu chứng lâm
sàng có thể gặp là sưng, di lệch hay lung lay răng, và đơi khi bệnh nhân có đau do
nhiễm trùng thứ phát. Giai đoạn tiềm ẩn, bệnh tiến triển âm thầm, phát hiện tình cờ
khi chụp X quang để điều trị nha khoa hoặc khi bệnh nhân đến khám vì thiếu các răng
.
vĩnh viễn trên cung hàm, đặc biệt là răng 8 và răng 3. Khi nang tiến triển với kích
thước lớn biểu hiện trên lâm sàng thường gặp là sưng phồng xương gây biến dạng
mặt, di lệch hoặc làm lung lay các răng kế cận. Niêm mạc phủ trên chỗ phồng xương
hồn tồn bình thường hoặc chợt, lt bề mặt do nang đẩy phồng xương và sang chấn
do cắn phải [31].
1.1.6. Đặc điểm X quang
Trên phim X quang nang thường biểu hiện thấu quang một hốc, bờ đều, mật
độ thấu quang đồng nhất và giới hạn rõ. Nang thường có đường viền cản quang mảnh
đều hoặc có dạng đường viền hình vỏ sò như trong nang sừng do răng. Về hình dạng,
đa số nang có hình tròn hoặc bầu dục.
Nhiều loại nang có liên quan đến răng ngầm như nang thân răng, nang sừng
do răng. Nang lớn gây di lệch răng, đẩy lệch kênh răng dưới, tiêu ngót chân răng, cản
trở sự mọc răng. Nang thân răng có khuynh hướng gây tiêu chân răng các răng kế cận
cao hơn các loại nang do răng khác. Theo nghiên cứu của Struthers và Shear (1976),
tỉ lệ gây tiêu chân răng của nang thân răng là 55%, trong khi tỉ lệ này ở nang chân
răng là 18% [85].
Nhiều nghiên cứu cho thấy có chẩn đốn nhầm lẫn và khơng phân biệt được
chính xác giữa các loại nang với nhau và thậm chí là giữa nang với các bướu do răng
ở xương hàm nếu chỉ dựa vào các đặc điểm trên phim X quang, đặc biệt là phân biệt
giữa nang thân răng, nang sừng do răng và bướu nguyên bào men [54], [77].
1.1.7. Đặc điểm mơ bệnh học
Chẩn đốn nang do răng thường dựa trên các đặc điểm về mô bệnh học của
tổn thương, tuy nhiên chẩn đốn mơ bệnh học nang hoặc bướu xương hàm đơi khi
cũng có những khó khăn nhất định, do có những đặc điểm mơ bệnh học giống nhau
giữa các loại nang và thậm chí là bướu do răng, đặc biệt là trong những trường hợp
nang hoặc bướu do răng bị nhiễm trùng, việc chẩn đốn mơ bệnh học sẽ trở nên khó
khăn hơn. Nhiễm trùng kéo dài sẽ làm thay đổi bề dày và đặc điểm của bao lót biểu
mơ dẫn đến việc chẩn đốn khơng chính xác hoặc nhầm lẫn giữa các tổn thương nang
hoặc bướu ở xương hàm. Trong những trường hợp khó, thường các bác sĩ Giải phẫu
.
bệnh cần kết hợp các thông tin trên lâm sàng và X quang và thậm chí nhờ hỗ trợ của
hóa mơ miễn dịch để có thể đưa ra được chẩn đốn chính xác nhất.
Nang quanh chóp thường lót bởi biểu mơ lát tầng khơng sừng hóa. Thành mơ
liên kết sợi có nhiều tế bào viêm. Dịch chứa trong nang thay đổi từ dịch lỏng màu
vàng nhạt tới loại dịch đặc quánh như bột nhão màu nâu, nếu bội nhiễm thì có mủ.
Có thể có các tinh thể Cholesterol vàng lấp lánh [25], [31].
Đặc điểm giải phẫu bệnh nang thân răng thay đổi theo tình trạng nang thân
răng có đang viêm nhiễm hay khơng. Nang thường có đường kính trung bình từ 24cm, bao nang mỏng, dễ bị rách khi bóc tách, trong lòng chứa dịch vàng trong, đơi
khi có lẫn mủ màu vàng đặc. Nang lót bởi biểu mơ dày 2-5 hàng tế bào gai lát tầng
khơng sừng hóa, một số trường hợp có thể thấy hình ảnh nhiều tế bào tiết nhầy ở biểu
mô. Thành sợi giống như nang chân răng, có cấu trúc lỏng lẻo nhưng khơng có những
thay đổi viêm. Khi nang bị bội nhiễm, lớp vỏ xơ dầy do thâm nhiễm collagen và các
tế bào viêm. Lớp tế bào bề mặt có thể bị sừng hóa dễ nhầm lẫn hình ảnh vi thể nang
sừng do răng [31], [61], [64].
Đối với nang sừng do răng, từ năm 1950 đến năm 2017, việc phân loại nang
sừng do răng có những thay đổi đáng kể. Thuật ngữ “Keratocyst” được giới thiệu lần
đầu tiên vào năm 1950. Thuật ngữ này chính thức được sử dụng trong phân loại mơ
bệnh học của WHO từ năm 1971 đến năm 1992. Theo phân loại này, có hai thực thể
bệnh của nang sừng do răng là thể cận sừng và thể trực sừng. Năm 2005, hai thể bệnh
này được phân chia thành các thực thể bệnh lý riêng biệt, do sự khác nhau về tỉ lệ tái
phát và tiên lượng của chúng. Thể cận sừng được xếp vào nhóm bướu do răng và
được gọi là bướu dạng nang sừng do răng. Còn thể trực sừng, được xếp vào nhóm
nang do răng và được gọi là nang trực sừng do răng. Tuy nhiên, theo phân loại mới
nhất của WHO năm 2017, bướu dạng nang sừng do răng (KCOT) lại được đưa về
nhóm nang do răng và gọi tên là nang sừng do răng (OKC). Về đặc điểm mô bệnh
học, biểu mô bao nang mỏng, đồng dạng, dày 5-8 hàng tế bào, khơng có nhú bì, ít
bám dính vào thành mô liên kết sợi. Lớp đáy gồm các tế bào hình khối hoặc hình trụ,
sắp xếp dạng hàng rào. Bao nang gấp nếp nhiều, thành sợi mỏng, khơng có hoặc có
.
rất ít tế bào viêm. Trong mơ liên kết sợi có thể có những đám biểu mơ tạo răng còn
sót lại hoặc các nang con [27], [31].
1.1.8. Điều trị
Điều trị tùy theo loại nang, tuy nhiên có hai phương pháp chính điều trị nang
ở xương hàm là phẫu thuật lấy trọn nang và khâu thông túi. Đối với nang thân răng,
điều trị là lấy nang và răng liên quan. Nếu răng ở vị trí thuận lợi và đủ khoảng mọc
răng, có thể khâu thơng túi nang để răng mọc, ít tái phát. Tuy nhiên biểu mô lát bao
nang thân răng có tiềm năng tăng sinh thành bướu như bướu nguyên bào men và hiếm
hơn là carcinôm tế bào gai hoặc carcinơm nhầy bì. Riêng với nang sừng do răng, phẫu
thuật lấy trọn nang thường khó thực hiện, do nang sừng do răng thường có bao lót
biểu mơ mỏng, dễ bị rách, rất khó để bóc tách nguyên khối ra khỏi xương. Tỉ lệ tái
phát của nang sừng do răng là 10-30%, tỉ lệ tái phát của nang sừng trong hội chứng
Gorlin-Goltz cao hơn so với nang sừng riêng lẻ ở xương hàm [31], [49].
1.2. Bướu do răng ở xương hàm
1.2.1. Định nghĩa và dịch tễ
Bướu do răng là những tân sinh có nguồn gốc từ các thành phần biểu mơ, ngoại
trung mô và trung mô của cơ quan tạo răng. Do đó, những bướu này thường được
thấy trong xương hàm (thể trung tâm/ thể trong xương) hoặc trong mô mềm phủ cung
răng hoặc niêm mạc phủ xương ổ răng (thể ngoại vi hay ngoài xương). Các đặc điểm
lâm sàng như tuổi, giới và vị trí có giá trị trong việc chẩn đoán phân biệt các loại
bướu do răng ở xương hàm.
Nghiên cứu của Goteti (2016) [40], bướu do răng chiếm 12,6% các ca bướu ở
xương hàm, trong đó có 98,8% là bướu do răng lành tính và 1,1% là bướu do răng ác
tính. Bướu nguyên bào men là bướu thường gặp nhất ở nhóm bướu do răng ở xương
hàm, chiếm tỉ lệ 25%, kế tiếp là u răng chiếm tỉ lệ 21% ca bướu do răng [80]. Tương
tự, nghiên cứu Ahire và c.s (2018) trong số 250 ca bướu do răng, dựa theo phân loại
bệnh theo phân loại WHO (2017), BNBM chiếm tỉ lệ cao nhất 49,4%, theo sau là u
răng (19,2%) [6].
.
Bướu do răng có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, tuy nhiên, tuổi trung bình tương
đối trẻ 29,9 tuổi [81]. Goteti và c.s. (2016) thấy rằng bướu do răng thường gặp ở bệnh
nhân có tuổi trung bình là 30,4 tuổi [40]. Tại TP. Hồ Chí Minh, theo Võ Đắc Tuyến
(2017) [4] nghiên cứu 70 BN BNBM cho thấy tuổi mắc bệnh tương tự, tuổi thường
gặp nhất từ 20 - 39 tuổi, chiếm tỉ lệ 55,7%.
Theo Neville và c.s. (2002) [68], Eric R. Carlson (2004) [33], Goteti (2016)
[40] bướu do răng thường gặp ở xương hàm dưới, chiếm tỉ lệ 85%, trong khi chỉ có
15% gặp ở xương hàm trên.
1.2.2. Phân loại bướu do răng
Bảng 1.2. Phân loại mô bệnh học bướu xương hàm do răng (WHO, 2017) [31]
Bướu do răng lành tính
Bướu biểu mơ do răng
Bướu do răng ác tính
Carcinơm ngun bào men
Bướu ngun bào men
Carcinơm ngun phát trong xương
Bướu nguyên bào men đơn nang
Carcinôm do răng xơ cứng
Bướu nguyên bào men ngoại vi
Carcinôm tế bào sáng do răng
Bướu nguyên bào men ác
Carcinôm tế bào ma do răng
Bướu biểu mơ do răng canxi hóa
Sarcơm do răng
Bướu gai do răng
Bướu do răng dạng tuyến
Bướu biểu mô – trung mô do răng
Bướu sợi nguyên bào men
Bướu do răng nguyên thủy
U răng
Bướu tế bào ma do răng
Bướu trung mô do răng
Bướu sợi do răng
Bướu nhầy do răng
Bướu nguyên bào xê măng
Bướu sợi sinh xê măng - xương
.
1.2.3. Bệnh căn- sinh bệnh học
Bướu do răng là những tân sinh của các thành phần biểu mô, trung mô hoặc
cả biểu mô và trung mô của cơ quan tạo răng. Một vài giả thuyết được đưa ra về
nguồn gốc biểu mô tăng sinh trong bướu do răng, các nhà khoa học cho rằng bướu
phát sinh từ biểu mô răng hoặc là có liên quan rất gần với biểu mơ răng như lá răng,
cơ quan men, biểu mơ sót trong xương hàm (biểu mô Serre, biểu mô Malassez, biểu
mô men thối hóa), biểu mơ lót của nang do răng nhất là nang thân răng (15-30%) và
tế bào đáy của biểu mô phủ xương hàm, biểu mô phủ niêm mạc miệng [33], [81]. Một
số yếu tố nguy cơ liên quan bệnh sinh của bướu do răng có thể là virus (HPV-6,-11,16,-33), rối loạn dinh dưỡng, chấn thương, viêm nhiễm kéo dài. Những nghiên cứu
gần đây cho thấy đột biến gen BRAF-V600E và SMO có liên quan sinh bệnh học của
bướu nguyên bào men [18], [82]. Ngoài ra, từ các nghiên cứu biểu hiện gen PITX2,
MSX2, DLX2, RUNX1, và ISL1 cho thấy BNBM có nguồn gốc từ biểu mơ lá răng
[31], [42].
1.2.4. Đặc điểm lâm sàng
Bướu do răng thường tiến triển âm thầm, khơng đau, khơng triệu chứng rõ rệt,
vì vậy đa số khơng được phát hiện sớm cho đến khi có biểu hiện sưng biến dạng mặt.
Thỉnh thoảng bướu nhỏ được phát hiện tình cờ khi khám sức khoẻ định kỳ hay chụp
phim X quang kiểm tra. Bệnh nhân chậm mọc răng khôn hay các răng hàm nhỏ cũng
là một trong những dấu hiệu thường gặp trong việc phát hiện bệnh. Biểu hiện thường
thấy là biến dạng mặt và phá hủy xương, ảnh hưởng lên các cấu trúc xung quanh như
gây lung lay răng, tiêu chân răng, di lệch răng, dị cảm thần kinh răng dưới... Nếu
không được phát hiện hay điều trị sớm, bướu có thể tiến triển gây hủy xương nhiều,
phồng và thủng lớp vỏ xương tiến triển ra phần mềm xung quanh. Thỉnh thoảng có
những đợt bội nhiễm, sưng, đau, dò mủ [24].
1.2.5. Đặc điểm giải phẫu bệnh một số bướu do răng
Theo phân loại mới nhất của Tổ chức Sức khỏe Thế giới năm 2017 [31], phân
loại BNBM được đơn giản hóa và thu hẹp thành ba loại bướu nguyên bào men, bướu
nguyên bào men đơn nang và các bướu nguyên bào men ngoại vi/ngoài xương. Bướu
.
nguyên bào men dạng xơ hóa đã được phân loại lại như một thể mô học của bướu
nguyên men và không phải là một thực thể lâm sàng riêng biệt. BNBM di căn cũng
được xếp vào nhóm bướu biểu mơ do răng.
Bướu nguyên bào men: Khối mô tân sinh thay thế mô xương, diện cắt trắng xám.
Một số tổn thương hồn tồn mơ đặc, một số thối hóa nhiều hốc nang kích thước
từ 1 - 2cm. Trong một số trường hợp, nang có kích thước lớn nên mơ đặc còn lại
rất ít, tổn thương có hình ảnh dạng nang nhiều hốc [57], [66], [70], [81]. Về vi thể:
Tế bào bướu hình trụ cao xếp thành hàng rào, có nhân nhuộm màu đậm và phân
cực ngược nằm xa màng đáy giống các nguyên bào tạo men của cơ quan men, bào
tương thường có khơng bào, vùng trung tâm là mạng lưới tế bào hình sao. Trong
quá trình phát triển, các tế bào bướu có thể chuyển sản thành các loại tế bào khác
như tế bào gai, tế bào hạt, tế bào đáy. Thường có sự thối hóa tạo những nang
trong bướu [57], [66], [70], [81].
Bướu nguyên bào men dạng nang hay đơn nang: BNBM dạng nang hay đơn nang do
Robinson và Martinez mô tả đầu tiên năm 1977. Đây là một dạng của BNBM nhưng
hiện diện như một nang ở xương hàm [36], [57], [83]. BNBM dạng nang rất dễ nhầm
với nang do răng. Bướu có thể dính với một thân răng ngầm. Về vi thể: bướu có bao
lót biểu mơ mỏng, khơng sừng hóa, gồm các tế bào biểu mơ xốp, trong đó các tế bào
ở lớp đáy xếp thành hàng rào và nhân phân cực ngược, vỏ bao mô liên kết sợi bao
quanh một hốc đầy dịch. BNBM dạng nang có liên quan đến răng ngầm đơi khi giống
hình ảnh giải phẫu nang thân răng, vì vậy ở những vị trí thành nang dầy hẳn lên hoặc
lồi vào lòng nang thì những vị trí này khi làm tiêu bản cắt qua mới thấy hình ảnh của
các nguyên bào men (lớp tế bào đáy hình trụ nhân tăng sắc, sắp xếp dạng hàng rào,
nhân phân cực ngược). Tuy nhiên thường sinh thiết ở BNBM mảnh mô nhỏ, không
đại diện cho mơ bướu nên kết quả giải phẫu bệnh có thể cho kết quả khơng chính xác
gây nhầm lẫm [36], [57], [83].
U răng: do thành phần biểu mô và trung mô tạo răng tăng sinh, biệt hóa và sản xuất
chất men, ngà, xê măng; nhưng do rối loạn giai đoạn tổ chức nên thay vì tạo thành
chiếc răng bình thường thì lại tạo ra u răng. Về sinh học, u răng được xem là sự biến
.
dạng phát triển của các mô răng (loạn sản phôi) không phải là bướu. Đa số gặp ở trẻ
em và người trẻ, hàm trên nhiều hơn hàm dưới. U răng thường có kích thước nhỏ,
tiến triển chậm, khơng triệu chứng thường phát hiện do tình cờ khi chụp phim, đơi
khi trên lâm sàng bệnh nhân còn răng sữa, thiếu một răng vĩnh viễn có thể gợi ý có u
răng trong xương hàm. U răng có hai thể lâm sàng: U răng kết hợp bao gồm nhiều
chiếc răng nhỏ, gặp nhiều ở vùng răng trước; U răng phức hợp chứa các mơ răng cứng
khơng có hình dạng chiếc răng, gặp nhiều ở vùng răng sau. Trên phim X quang u răng
biểu hiện những khối cản quang khơng đều có viền thấu quang mảnh (u răng phức
hợp) hoặc trong vùng thấu quang lổn nhổn những chiếc răng nhỏ, từ vài răng đến cả
hàng chục chiếc răng (u răng kết hợp), nằm giữa các chân răng hoặc phía trên thân
răng của một răng ngầm. Về mô bệnh học bao gồm các khối men, ngà, xê măng, tủy
răng xếp lộn xộn hoặc dạng những chiếc răng nhỏ trong mô liên kết sợi, bao quanh
là vỏ bao sợi [31], [82].
1.2.6. Điều trị
Điều trị tùy theo loại bướu có nhiều mức độ và phương pháp điều trị khác nhau
như lấy bướu, cắt rộng, cắt nguyên khối bướu hoặc cắt đoạn xương hàm [31], [82].
1.3. Biểu hiện của protein CD56 ở nang và bướu do răng
1.3.1. Nguồn gốc, tên gọi và cấu trúc của protein CD56
Ở người, CD56 là một protein được mã hóa bởi gen NCAM1 nằm trên nhiễm
sắc thể 11 (11q23.2) dài hơn 314kb chứa 19 exon chính và 6 exon nhỏ. Do sự ghép
nối của các exon tạo nên nhiều phiên mã đồng vị khác nhau, vì vậy CD56 có ít nhất
27 đồng vị, trong đó 3 đồng vị chính: NCAM-120kDa, NCAM-140kDa, NCAM180kDa [30]. Theo y văn, các đồng vị khác nhau có các vai trò khác nhau trong sự
kết dính tế bào - tế bào. Đồng vị NCAM-120kDa hiện diện trong các mô bình thường
và biệt hóa tốt, đồng vị NCAM-140kDa và NCAM-180kDa gặp nhiều hơn trong bướu
ác tính [37], [91], [73].
Năm 1982, Hoffman lần đầu tìm thấy protein CD56, còn được gọi là phân tử
kết dính tế bào thần kinh (NCAM) ở võng mạc gà. CD56 có liên quan đến sự kết dính
tế bào – tế bào trong q trình hình thành võng mạc gà [44]. Andersson năm 1993,
.
ghi nhận CD56 hiện diện ở nhiều loại tế bào phôi khác của chuột, CD56 biểu hiện
trên bề mặt của hầu hết các tế bào thần kinh trung ương và thần kinh ngoại biên, cũng
như biểu hiện ở tim, tuyến sinh dục và mơ cơ [38].
Hình 1.1. Cấu trúc ba chiều của NCAM
(Nguồn: upload.wikipedia.org) [47]
Hình 1.2. Vị trí gen NCAM1 trên nhiễm sắc thể 11
(Nguồn: upload.wikipedia.org) [46]
1.3.2. Chức năng của protein CD56
CD56 là một protein xuyên màng thuộc siêu họ globulin miễn dịch và có vai
trò kiểm sốt trực tiếp sự kết dính tế bào - tế bào [58]. NCAM là các phân tử kết dính
tế bào khơng phụ thuộc Ca2+ và được mã hóa bởi một gen duy nhất [22].
Vùng ngoại bào của NCAM bao gồm năm vùng tương tự globulin miễn dịch
(Ig), tiếp theo là hai vùng fibronectin loại III (FNIII) và 6 vị trí N-glycosyl hóa tiềm
năng. NCAM thúc đẩy sự phát triển thần kinh thông qua tương tác cùng loại phân tử
(NCAM – NCAM), tương tác khác loại phân tử (NCAM – FGFR (thụ thể yếu tố tăng
trưởng nguyên bào sợi)) và kích hoạt một số tín hiệu nội bào. Tín hiệu nội bào do
.