Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Tai liêuvawn gưi HồngThạch an cao bằng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (107.2 KB, 9 trang )

XII- Cách dạy văn học sử:
A- Tại sao phải dạy văn học sử?
- Do sách giáo khoa hiện nay biên soạn theo quan điểm “tam
thể nhất hợp” vì vậy không theo từng giai đoạn văn học .vì
vậykhi dạy văn giáo viên thường băm nát tác phẩm để tìm
ra cho được cái tích hợp ở trong đó mà quên đi cải giá trị tư
tưởng của tác phẩm.Cho nên khi làm bài học sinh rất lúng
túng và thường mắc phải những lỗi sau :
+Thường theo văn mẫu rồi ghi lại một cách nguyên xi hoăc
cắt xén mà ta hay gọi là chiết ghép.
+ phân tích nhưng thờ ơ với hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
+ Lôi phẩm về hiện tại để phân tích ,dễ dẫn đến hiện đại
hoá tác phẩm, hiện đại hoá nhân vật.Tôi đã dự một cô giáo
trẻ khi dạy bài “Lợn cưới, áo mới”cô có giảng rằng: Đây là
một anh chàng hay khoe, khoe đến cả những cái vụn vặt.Cái
áo thì đáng gì mà phải khoe.Tôi cảm thấy buồn nhưng tôi
cũng chẳng nói ra .Không biết cô có hiểu câu ca dao:
Vợ chồng được cái quần sồi
Chồng đi chồng mặc vợ ngồi vợ trông.
Hay:
Mua cho một vạt khố sồi
Bề ngang chiếc đũa bề dài nửa phân
Đi đâu cũng phải cởi trần
Trông thấy chúng bạn cực thân thay là
-Vậy nên phải dạy văn học sử .Dạy để học sinh nắm được
hoàn cảnh xã hội mà tác phẩm đó ra đời .Thấy được tác phẩm văn học là tấm
gương phản chiếu hiện thực xã hội đương thời.Thấy được giá trị tư tưởng
của tác phẩm mà tác giả gửi gắm vào trong đó .
B- Các giai đoan phát triển văn học viết Việt Nam :
1- Giai đoạn từ thế kỷ X-> thế kỷ XV:
Học sinh phải nắm được các đặc điểm về lịch sử và xã hội sau đây : Đây là


thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam .Dưới sự lãnh đạo của
giai cấp phong kiến ,dân tộc ta đoàn kết trên dưới một lòng đập tan các cuộc
xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc viết nên những trang sử
vàng chói lọi . Những trận đánh đẫ đi vào lịch sử dân tộc như: Bạch Đằng,
hàm tử ,Chi Lăng ,Xương Giang…
Vì vậy văn học giai đoạn nàytập trung đề cao chủ nghĩa yêu nước đó là:
-Khẳng định chủ quyền của đất nước qua bài “Sông núi nước Nam”của Lí
Thường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định ở sách trời
Cớ sao quân giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Hay:
Như nước đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
-Tự hào về truyền thống đấu tranh chống xâm lược cha ông :
Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán Đường mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu từng luc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có.
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
-Tố cáo tội ác của giặc :
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm
Bãi nhân nghĩa nát cả đất trời

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi
(Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi)
- Căm thù giặc sẵn sàng xả thân vì đất nước :như “Hịch
tướng sĩ” -Trần Quốc Tuấn.
2- Giai đoạn từ thế kỷ 16 -> thế kỷ 17 :
Học sinh phải nắm hoàn cảnh lịch sử và xã hội sau : Đây là giai đoạn xã
hội phong kiến suy tàn ,các thế lực phong kiến gây bè kéo cánh chém
giết lẫn nhau tạo nên các cuộc chiến tranh phi nghĩa như: Chiến tranh
Trịnh -Mạc ,chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hàng trăm năm trời
khiến cho xương chất thành núi máu chảy thành sông.
- Về văn học giai đoạn này chủ yếu đề cao tư tưởng “Nhân
giả vô địch”, tố cáo chiến tranh bênh vực cho người dân vô
tội . Điển hình cho các tác giả và tác phẩm giai đoạn này
gồm có :Nguyễn Bỉnh Khiêm với “Hữu cảm”, hay Nguyễn
Dữ với “ Chuyện người con gái Nam Xương”…v.v…
3- Giai đoạn thế kỷ 18 -> 1858 :
Chế độ phong kiến đã đi vào con đường mục ruỗng thối nát. Vua quan
lo ăn chơi xa hoa truỹ lạc đời sống nhân dân cực khổ trăm bề .Bên cạnh đó
lễ giáo phong kiến hà khắc đã tước đoạt quyền sống của người phụ nữ, biến
họ trở thành những món hàng, những thứ đồ chơi không hơn không kém .
Đồng tiền đã ngự trị lên nhân phẩm và lương tâm con người,khiến cả xã hội
phải chạy theo tiền sống ngược với lương tâm.
Văn học giai đoạn này chủ yếu tập trung đề cao chủ nghĩa nhân đạo gồm có
bốn vấn đề sau :
- Lên án các thế lực chà đạp lên quyền sống con người điển
hình là nhân vật Thuý Kiều . Một người con gái tài sắc vẹn
toàn thế nhưng bị cái xã hội bất công ấy xô đẩy đưa đến cho
nàng một cuộc đời đầy giông bão . Vào giai đoan này thế
lực đồng tiền đã len lỏi khắp mọi ngõ ngách cuộc sống .
Biến những người có học như Mã Giám Sinh thành những

kẻ lưu manh với những hành động táng tận lương tâm .Biến
những người cầm cân nảy mực của xã hội thành những kẻ
“Đầu trâu mặt ngựa”..v.v…Đúng như nhà thơ Nguyễn Du
đã viết :
Một ngày lạ thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Hay:
Trong tay đã sẵn đồng tiền
Dậu rằng biến trắng đổi đen khó gì.
- Ca ngợi vẻ đẹp ,phẩm chất con người:Nổi bật đó là vẻ đẹp
của chị em Thuý Kiều .Có lẽ trong nền văn học nước nhà
cặp mỹ nhân Thuý Kiều ,Thuý Vân đã được miêu tả đạt đến
mức hoàn mỹ . Nguyễn Du đã giành những ngôn từ hay
nhất để xây dựng nhân vật của mình .Phải nói rằng cả hai
chị em Thuý Kiều hình như tất cả sắc nước hương trời đều
hội tụ vào đây . Hãy nghe ông trân trọng giơi thiệu:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Lan thu thuỷ ,nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành…
- Không chỉ có ca ngợi vẻ đẹp mà Nguyễn Du còn ca ngợi
phẩm chất tốt đẹp con người đó là tình thương cha mẹ, sự
thuỷ chung với người yêu:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ

Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
- Một giá trị nhân đao đáng chú ý văn học giai đoạn này , đó
là thông cảm, thương cảm cho số phận con người . Ở
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du hay “Lục Vân Tiên” của
Nguyễn Đình Chiểu ta đêu thấy rất rõ .Hãy lắng nghe nước
măt của Tố Như đang chảy trên từng trang viết :
Rường cao rút ngược giây oan
Dậu là đá cũng nát gan lọ người
Mặt trông đau đớn rụng rời
Oan này còn một kêu trời nhưng xa.
- một giá trị nhân đạo nữa mà văn học giai đoạn này đề cập
đó là nói lên niềm mơ ước một cuộc sống tốt đẹp và công
bằng .Nhân vật đại diện cho công lý đó là Từ Hải, Lục Vân
Tiên những con người dám “Chọc trời khuấy nước” đạp
bằng sự bất công để tìm công lý .
3- Giai đoạn 1858 -> 1930:
-Hoàn cảnh lịch sử : Thực dân pháp xâm lược nước ta triều đình nhà
Nguyễn đầu hàng .Hưởng ứng chiếu cân vương của Tôn Thất Thuyết
phong trào chống pháp nổ ra khắp nơi ,nhưng kết quả đều thất
bại.Pháp lần lượt bình định nước ta và tiến hành khai thác thuộc
địa .Pháp mở một số trường học , văn hoá phương tây được du nhập
vào nước ta .
- Văn học giai đoạn này chủ yếu tập trung tố cáo tội ác của giặc
pháp ,kêu gọi nhân dân đấu tranh,ca ngợi những tấm gương hy sinh
vì đất nước . Tác giả tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu với các bài
“chạy giặc”, “Văn tế nghĩa sĩ cân Giuộc”.Nhân vật trong tác phẩm là
những người nông dân bình dị , vì yêu nước căm thù giặc mà đứng
lên chống pháp:
Chẳng phải là quân cơ quan vệ

Cũng chẳng phải là lính diễn binh
Chẳng qua là dân ấp dân lân
Mến nghĩa làm quân chiêu mộ
- Sau khi bình định xong nước ta để bình định bản xứ pháp
đã mở trường đào tao một số trí thức tây học. Dưới tac động
của tầng lớp trí thức này , ở nước ta đã xuất hiện một phong
trào “tây hoá”, thế là nho học đã nhường chỗ cho tây học.
Hãy nghe Nguyễn Bính nói về sự thay đổi nhanh chóng :
- Hôm qua em đi tỉnh về
- Đợi em ở mãi con đê đầu làng
- Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
- Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
- Nào đâu cái yếm vải sồi
- Cái dây lưng đụi nhuộm hồi sang xuân
- Vì vậy khi dạy bai thơ “Ông Đồ”ta phải hiểu được tâm
trạng tâm trạng của tác giả. Đó là tâm trạng nuối tiếc cho
một thời vàng son của nho học và tâm trạng chua xót trước
sự lạc lỏng của cai chữ nho trong xã hội đang ồ ạt bị tây hoá
.Tâm trạng đố cũng được Tú Xương phản áng qua mỗi
trang viết của ông :
Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Phải nói rằng ở giai đoạn này mọi vấn đề thi cử đều
đươc định giá bằng tiền. Vì vậy các tri thức nho học họ chán
chường trước cái xã hội ấy .Chúng ta sẽ hiểu hơn qua bài thơ
của Nguyễn Khuyến:
Thằng bán tơ kia giở mối ra
Làm cho bận đến cụ viên già
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a !

4 – Giai đoạn 1930-> 1945:
Đây là giai đoạn đảng cọng sản ra đời lãnh đạo nhân dân
đấu tranh .Tạo nên các cao trào cách mạng như Xô viết Nghệ
tĩnh 1930-1931, phong trào mặt trận bình dân 1936-1939.
Vì vậy văn học giai đoạn này bị phân hoá thành ba dòng
văn hoc :
+ Dòng văn học lãng mạn : Đây là dòng văn học có vai trò cải
tổ nền văn học nước ta .Nó phá bỏ phương pháp sáng tác cũng
như đề tài sáng tác cũ tạo nên một bước nhảy vọt cho thơ văn
việt Nam.Nó để lại nhiều tác phẩm sông mãi với thời gian. Đây
là thời kỳ xuất hiện nhiều cây bút tài hoa như: Nhất Linh ,Khái
Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Nguyễn Bính ,Xuân Diệu …v.v…
+ Dòng văn học hiện thực: Vào giai đoạn này do chính sách
bóc lột hà khắc của chế độ thực sân nửa phong kiến,làm cho
đời sống nhân dân cùng cực .Họ đã bị bần cùng hoá như lão
Hạc hay bị lưu manh hoá như Chí Phèo . Vì vậy đã có nhiều
tác giả dàm đứng lên dùng ngòi bút của mình tốcáo giai cấp
thống trị như “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bước đường cùng”
của Nguyễn Công Hoan, “Chí Phèo” của Nam Cao…v.v…

×