BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
ĐẶNG THU THỦY
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH YÊN BÁI NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH – 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
ĐẶNG THU THỦY
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH YÊN BÁI NĂM 2020
Ngành: Điều Dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. NGUYỄN THỊ HOA HUYỀN
2. TS. NGUYỄN NGỌC NGHĨA
NAM ĐỊNH - 2020
i
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: Thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường
type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Tỉnh yên Bái năm 2020.
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống và xác định các
yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường type 2
điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 275
người bệnh trưởng thành đang điều trị ngoại trú đái tháo đường type 2 tại bệnh viện
Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020. Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng
vấn qua bộ câu hỏi SF-36 (thang đo chất lượng cuộc sống), thang đo đa chiều nhận
thức hỗ trợ xã hội (MSPSS) và bộ câu hỏi đánh giá dấu hiệu trầm cảm (7 câu hỏi).
Số liệu được nhập làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS.24.
Kết quả nghiên cứu: Điểm chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
có giá trị trung bình 60,76± 0,8 điểm trong đó điểm sức khỏe tinh thần (62,55± 0,7)
cao hơn so với sức khỏe thể chất (58,98 ± 1,1điểm). Nghiên cứu xác định được các
yếu tố ảnh hưởng nghịch với chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
gồm tuổi (ß= - 0,317), HbA1c (ß= - 0,145). Sự hiện diện của trầm cảm bao gồm sự
buồn rầu (ß= - 0,245); sự mệt mỏi (ß= - 0,221) và một số biến chứng của bệnh đái
tháo đường bao gồm biến chứng thận (ß= - 0,023) và/ hoặc biến chứng bàn chân
(ß= - 0,090) làm giảm chất lượng cuộc sống hơn tăng huyết áp. Nữ giới có chất
lượng cuộc sống thấp hơn so với nam (ß= - 0,089).
Kết luận: Sử dụng bộ câu hỏi SF-36 trong nghiên cứu này đã mô tả được thực
trạng chất lượng cuộc sống của 275 người bệnh đái tháo đường type 2 tham gia
nghiên cứu ở mức trung bình (60,76 ± 0,8 điểm trên thang đo từ 0 - 100 điểm) đồng
thời nghiên cứu đã xác định được các yếu tố tuổi cao, nữ giới, có biểu hiện trầm
cảm và xuất hiện biến chứng làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, đái tháo đường type 2, trầm cảm, hỗ trợ xã hội.
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn thạc sĩ tơi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các
thầy, cơ trong Ban giám hiệu, phịng Quản lý Đào tạo sau đại học trường Đại học
Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, cho phép tơi được bày tỏ sự trân quý và biết ơn tập thể thầy/ cô
hướng dẫn gồm TS. Nguyễn Thị Hoa Huyền và TS. Nguyễn Ngọc Nghĩa đã tận tâm
giảng dạy, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi trang bị thêm kiến thức trên con
đường nghiên cứu khoa học.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cơ trong ban
Giám hiệu, lãnh đạo khoa, phịng cùng các thầy cô giáo khoa Điều dưỡng trường
Cao đẳng y tế Yên Bái đã luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tơi trong suốt
q trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới Ban Giám đốc Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái,
cùng lãnh đạo, nhân viên khoa Khám bệnh, các điều tra viên đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp đỡ tôi trong q trình thu thập số liệu. Đồng thời tơi cũng xin gửi lời
trân trọng cảm ơn tới những người bệnh đã đồng ý tham gia nghiên cứu và hợp tác
rất tốt nhất là đã dành cho tơi những tình cảm đáng trân trọng trong suốt quá trình
thu thập số liệu tại bệnh viện.
Tôi xin cảm ơn bạn bè đồng học tại lớp Cao học khóa 5, chuyên ngành Điều
dưỡng đã ln bên cạnh động viên, khích lệ giúp tơi thêm quyết tâm trong suốt thời
gian học tập và hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin ghi nhớ công ơn, tình cảm u thương tới gia đình đã ln
là chỗ dựa tinh thần, điểm tựa vững chắc, khích lệ và động viên để tơi vượt qua mọi
khó khăn, mệt mỏi phấn đấu nỗ lực trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Yên Bái, ngày 11 tháng 11 năm 2020
Tác giả
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
tập thể thầy cô hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hoa Huyền và TS. Nguyễn Ngọc Nghĩa.
2. Các số liệu và kết quả trong nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ
nghiên cứu nào khác đã được công bố trước đây.
3. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hồn tồn chính xác, trung
thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi thực hiện
nghiên cứu.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam đoan trên.
Yên Bái, ngày 11 tháng 11 năm 2020
Học viên
MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ....................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... ii
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... iii
MỤC LỤC ............................................................................................................... i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................. iv
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH..................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................... 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................... 4
1.1. Đại cương bệnh đái tháo đường ................................................................ 4
1.2. Dịch tễ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới và ở Việt nam .................................. 6
1.3. Chất lượng cuộc sống ............................................................................... 8
1.4. Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và yếu tố liên quan ở người
bệnh ĐTĐ type 2........................................................................................... 13
1.5. Khung lý thuyết nghiên cứu ................................................................... 19
1.6. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu. ................................................. 22
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................... 24
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 24
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu........................................................... 24
2.3. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................ 24
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ........................................................ 24
2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu ............................................... 25
2.6. Biến số nghiên cứu (phụ lục 1) ............................................................... 31
2.7. Phân tích số liệu .................................................................................... 32
2.8. Sai số và hạn chế sai số .......................................................................... 32
2.9. Đạo đức nghiên cứu ............................................................................... 33
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................... 34
3.1. Đặc điểm cá nhân của nhóm nghiên cứu................................................. 34
3.2. Đặc điểm biểu hiện trầm cảm của người bệnh đái tháo đường type 2 ..... 37
3.3. Đặc điểm chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu ..................... 38
3.4. Đặc điểm hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu................................... 38
3.5. Mối tương quan các lĩnh vực chất lượng cuộc sống của người bệnh đái
tháo đường type 2 với một số yếu tố qua phân tích đơn biến ......................... 39
3.6. Ảnh hưởng của các yếu tố đối với các lĩnh vực chất lượng cuộc sống trong
phân tích hồi quy đa biến .............................................................................. 53
Chương 4. BÀN LUẬN ......................................................................................... 57
4.1. Thực trạng chất lượng cuộc sống ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều
trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020. ........................... 57
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị
ngoại trú ........................................................................................................ 59
4.3. Hạn chế của nghiên cứu ......................................................................... 65
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 66
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Biến số cho nghiên cứu
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn người bệnh
Phụ lục 3. Bộ câu hỏi SF – 36
Phụ lục 4. Bộ câu hỏi đánh giá triệu chứng trầm cảm
Phụ lục 5. Bộ câu hỏi về hỗ trợ xã hội
Phụ lục 6: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Anh
BMI :
Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index )
DqoL:
Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường (Diabetes
quality of life)
HbA1c:
Hemoglobin glycosylat hóa.
IDF:
Liên đồn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes
Federation).
MSPSS:
Thang đa chiều nhận thức xã hội (Multidimensional Scale of
Perceived Social Support)
WHO:
Tổ Chức Y tế Thế Giới (World health Organization)
Tiếng Việt
CLCS:
Chất lượng cuộc sống
CLCS- SK:
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
ĐTĐ:
Đái tháo đường
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Câu hỏi tương ứng với các lĩnh vực cuộc sống....................................... 27
Bảng 2.2. Tính điểm cho mỗi câu hỏi trong bộ công cụ ......................................... 27
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu .............................. 34
Bảng 3.2. Đặc điểm liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu ........................ 35
Bảng 3.3. Đặc điểm các chỉ số liên quan đến bệnh của đối tượng nghiên cứu ........ 36
Bảng 3.4. Đặc điểm trầm cảm của người bệnh đái tháo đường type 2 ................... 37
Bảng 3.5. Điểm trung bình các lĩnh vực chất lượng cuộc sống ............................... 38
Bảng 3.6. Đặc điểm hỗ trợ xã hội của người bệnh ĐTĐ type 2 .............................. 38
Bảng 3.7. Mối tương quan sức khỏe thể chất và đặc điểm nhân khẩu học .............. 39
Bảng 3.8. Mối tương quan SKTC và yếu tố đặc điểm bệnh.................................... 40
Bảng 3.9. Mối tương quan lĩnh vực sức khỏe thể chất và trầm cảm ...................... 42
Bảng 3.10. Mối tương quan lĩnh vực SKTT và các yếu tố nhân khẩu học .............. 44
Bảng 3.11. Mối tương quan lĩnh vực SKTT và các yếu tố đặc điểm bệnh ............. 45
Bảng 3.12. Mối tương quan lĩnh vực SKTT và các dấu hiệu trầm cảm ................. 47
Bảng 3.13. Mối tương quan CLCS chung với đặc điểm nhân khẩu học ................. 49
Bảng 3.14. Mối tương quan CLCS chung với đặc điểm bệnh ................................ 50
Bảng 3.15. Mối tương quan CLCS chung với dấu hiệu trầm cảm liên quan
đến bệnh ............................................................................................ 51
Bảng 3.16. Tương quan các lĩnh vực CLCS và hỗ trợ xã hội ................................. 52
Bảng 3.17. Ảnh hưởng các yếu tố với lĩnh vực SKTC qua phân tích hồi quy
đa
biến .................................................................................................... 53
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của các yếu tố với lĩnh vực SKTT qua phân tích hồi quy đa
biến. ................................................................................................... 54
Bảng 3.19. Ảnh hưởng các yếu tố với CLCS chung qua phân tích hồi quy đa biến 55
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Mơ hình chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe của Ferrans (2005) ... 20
Hình 1.2. Khung lý thuyết chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ............... 22
Hình 2.3. Cấu trúc về sự tương quan giữa 2 thành phần với 8 lĩnh vực trong SF-36 ..... 26
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh mạn tính phổ biến trên thế
giới, đặc trưng bởi tăng đường huyết. Là tác nhân chính gây ra các bệnh tim mạch,
gây tàn tật phổ biến thứ mười trên toàn thế giới [44],[79]. Trong thế kỷ 21, tỷ lệ
mắc ĐTĐ đang gia tăng đều đặn ở các quốc gia trên thế giới, loại phổ biến nhất là
ĐTĐ type 2. Đường huyết cao gây gần 4 triệu ca tử vong mỗi năm, ước tính chi phí
chăm sóc sức khỏe tồn cầu cho những người mắc bệnh ĐTĐ là 850 tỷ USD vào
năm 2017 [44]. Thống kê của WHO (2019) tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành
năm 2014 là 8,5% tăng gần gấp đơi so với 1980 (4,7%) có xu hướng phát triển rất
nhanh tại các nước có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống, tốc độ đô thị hóa trong
đó có Việt Nam. Đồng thời Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ người mắc ĐTĐ lớn nhất
trong số các nước Đông Nam Á với 3,299 triệu người chiếm khoảng 5,8% người
trưởng thành từ 20-79 tuổi [44],[79].
Tình trạng sức khỏe ở mọi khía cạnh của người bệnh ĐTĐ được đề cập qua
khái niệm về “chất lượng cuộc sống” (CLCS), cụ thể hơn là “chất lượng cuộc sống
liên quan đến sức khỏe”. Nhận thức về CLCS ở người ĐTĐ type 2 nảy sinh do sự
căng thẳng về bản chất mạn tính của bệnh và ảnh hưởng đáng kể bởi sự hiện diện và
mức độ nghiêm trọng của biến chứng và dấu hiệu trầm cảm [17]. Tỷ lệ lo lắng và
trầm cảm khá cao ở người bệnh ĐTĐ type 2 và có ảnh hưởng nghiêm trọng đến
CLCS của họ [33], [37].
Nghiên cứu tại các nước phát triển và một số nước Châu Á cho thấy, các hỗ
trợ từ gia đình và xã hội có ý nghĩa thống kê trong việc giảm lo âu, trầm cảm đồng
thời tăng CLCS cho người bệnh mắc các bệnh mạn tính gồm bệnh ĐTĐ [39],[67].
Sàng lọc và xác định các vấn đề sức khỏe tạo điều kiện tự quản lý giữa các người
bệnh có khả năng làm tăng CLCS của họ [62]. Nhận thức của người bệnh về CLCS
của chính họ là cơ sở để xác định các mục tiêu để cải thiện sức khỏe được đo bằng
thang đo chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe [84]. Điều này có ý nghĩa
trong thực hành chăm sóc lâm sàng ở người lớn bị bệnh mạn tính, tập trung vào các
2
yếu tố có tác động đến CLCS. Kết quả đo lường là bằng chứng quan trọng giúp
người điều dưỡng đưa ra quyết định lâm sàng phù hợp để cải thiện chất lượng chăm
sóc, hạn chế tối đa biến chứng, nâng cao nhận thức sức khoẻ và CLCS cho người
bệnh [47],[53],[72].
Tại Việt Nam đã có nghiên cứu về CLCS của người bệnh ĐTĐ nhưng đa số
đề cập đến các yếu tố liên quan, chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng
đối với CLCS người bệnh [3],[7],[11]. Rất ít nghiên cứu tìm hiểu sự ảnh hưởng của
vấn đề trầm cảm ở người mắc ĐTĐ và hỗ trợ xã hội tác động đến CLCS của họ.
Trong khi các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới cho thấy, trầm cảm và nhận
thức hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng đến CLCS ở người mắc các bệnh mãn tính gồm cả
người bệnh mắc ĐTĐ type 2.
Yên Bái là tỉnh miền núi với nhiều dân tộc sinh sống có số lượng người mắc
bệnh ĐTĐ type 2 khá lớn. Thống kê của bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái, riêng
trong năm 2019, có trên 1000 người mắc ĐTĐ type 2 trong tổng số người đến khám
và điều trị bệnh tại bệnh viện (Lê Thanh Hải, 2019). Đặc điểm bệnh ĐTĐ thường
phát hiện muộn, bệnh có thể khơng được chẩn đốn trong một thời gian dài hoặc
được phát hiện bởi một biến chứng nào đó [44]. Đây cũng và yếu tố gây khó khăn
cho quản lý, đánh giá chăm sóc người bệnh ngoại trú. Tìm hiểu CLCS của người
bệnh ĐTĐ type 2 giúp cung cấp cơ sở dữ liệu, bằng chứng khoa học cho chăm sóc,
điều trị nhằm nâng cao chất lượng của dịch vụ chăm sóc, khám chữa bệnh tại bệnh
viện. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố (cá nhân,
đặc điểm bệnh hay một số yếu tố khác) đến các lĩnh vực CLCS gồm sức khỏe thể
chất và tinh thần, cung cấp thông tin cho các chương trình, nghiên cứu can thiệp tác
động lên các yếu tố này để nâng cao CLCS cho người bệnh. Vì những lý do trên
nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Thực trạng chất lượng cuộc sống của người
bệnh Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Tỉnh Yên Bái
năm 2020” nhằm 2 mục tiêu sau:
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường
type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái năm 2020.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người
bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Yên Bái
năm 2020.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương bệnh đái tháo đường
1.1.1. Khái niệm
Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) 2017, đái tháo đường (ĐTĐ)
là một tình trạng bệnh mạn tính xảy ra khi nồng độ glucose trong máu tăng cao vì
cơ thể khơng thể sản xuất đủ lượng hormone insulin hoặc sử dụng insulin hiệu quả.
Tăng đường huyết mạn tính trong thời gian dài có thể gây tổn thương các cơ quan
khác nhau, dẫn đến sự phát triển của các biến chứng sức khỏe và đe dọa tính mạng
như bệnh tim mạch, bệnh thần kinh, bệnh thận và bệnh mắt, dẫn đến bệnh võng mạc
và mù mắt [44].
1.1.2. Chẩn đoán, phân loại đái tháo đường
1.1.2.1. Chẩn đoán:
Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA - American Diabetes Association 2019),
WHO (2019) và IDF (2017) chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây:
a) Glucose huyết tương lúc đói ( FPG) ≥ 7,0 mmol/ L (126 mg/dl).
b) Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường
uống 75g OGTT (Oral Glucose Tolerance Test) ≥ 11,1 mmol/ L (200 mg/dl).
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol).
d) Đường huyết ngẫu nhiên ≥ 11,1 mmol/L (200 mg/dl) khi có dấu hiệu và
triệu chứng được coi là mắc bệnh ĐTĐ [22],[32],[79].
1.1.2.2. Phân loại: Theo ADA (2019) và IDF (2017) ĐTĐ gồm 3 loại chính:
- ĐTĐ type 1 (Tế bào β bị phá hủy, đưa đến thiếu hụt insulin hoàn toàn), đa
số xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn.
- ĐTĐ type 2 (Suy giảm chức năng tế bào beta, không phụ thuộc insulin) là
loại ĐTĐ phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% trong tất cả các trường hợp mắc bệnh.
- ĐTĐ thai kỳ và các thể đặc biệt khác như hội chứng ĐTĐ đơn độc: ĐTĐ sơ
sinh và ĐTĐ khởi phát ở tuổi trẻ, các bệnh về tuyến tụy ngoại tiết (viêm nang và
5
viêm tụy), thuốc hoặc bệnh ĐTĐ do hóa chất [22],[44].
1.1.3. Các yếu tố nguy cơ ĐTĐ type 2
Tuổi, thừa cân, béo phì là những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh. Tuổi càng
cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 và các bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh
thận. Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ khuyến cáo rằng mọi người nên được kiểm tra bệnh
ĐTĐ type 2 bắt đầu ở tuổi 45, đặc biệt khi có thừa cân hoặc béo phì [22]. Chu vi và
chỉ số khối cơ thể cao (BMI ≥25kg/m2) tăng nguy cơ mắc bệnh mặc dù mối quan hệ
có thể khác nhau ở các quần thể khác nhau [78].
Chế độ ăn uống không lành mạnh, không kiểm soát được đường huyết và
trọng cơ thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [54]. Một số loại thực phẩm
giàu carbohydrate như các loại ngũ cốc qua tinh chế, đồ uống có đường sau khi sử
dụng sẽ làm tăng lượng đường trong máu [66]. Các hoạt động thể chất góp phần
giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2 do có thể kiểm sốt được lượng
đường trong máu và cân nặng của người bệnh [81].
Căng thẳng tâm lý, trầm cảm: dấu hiệu rối loạn trầm cảm và lo âu có liên
quan hội chứng chuyển hóa, tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [48].
1.1.4. Biến chứng.
1.1.4.1.Các biến chứng cấp tính
Hạ đường huyết; hơn mê nhiễm toan ceton, nhiễm toan lactic; hay tăng
đường huyết không nhiễm toan ceton; các bệnh nhiễm trùng cấp tính [13].
1.1.4.2. Các biến chứng mạn tính
Biến chứng mạch máu nhỏ (vi mạch): Bệnh thận ĐTĐ có tỷ lệ mắc khác
nhau ở chủng tộc, người da trắng thấp hơn so với người Mỹ gốc Phi, người châu Á
và người Mỹ bản địa. Bệnh thận ĐTĐ liên quan rối loạn mỡ máu làm tăng nguy cơ
đột quỵ do thiếu máu cục bộ [30], [63].
+ Bệnh thần kinh ĐTĐ: tổn thương thần kinh do tăng đường huyết và giảm
lưu lượng máu đến các dây thần kinh gây tổn thương các mạch máu nhỏ dẫn đến
mất cảm giác, tổn thương tay chân và bất lực ở nam giới.
+ Bệnh võng mạc ĐTĐ: liên quan tới mức đường huyết tăng cao và tăng
huyết áp gây tổn thương mạch máu nhỏ ở lớp mắt sau, võng mạc gây mất dần thị
6
lực, thậm chí mù lịa. Đồng thời có mối liên quan đáng kể giữa HbA1c, chỉ số khối
cơ thể, thời gian mắc bệnh ĐTĐ và protien niệu [30].
Bệnh mạch máu lớn: xơ vữa mạch vành, mạch não [51]; xơ vữa động mạch
ngoại vi gây tắc mạch [13]. Ngoài ra, ĐTĐ cũng liên quan đến tăng tỷ lệ ung thư,
khuyết tật về thể chất và nhận thức, bệnh lao, trầm cảm [44], [79].
Phối hợp bệnh lý thần kinh và mạch máu: loét bàn chân ĐTĐ [13] dẫn đến
tăng tỷ lệ cắt cụt sau khi loét chân hoặc chấn thương trên 80% [30] .
1.1.5. Điều trị đái tháo đường
Mục tiêu điều trị bệnh ĐTĐ ở người trưởng thành (khơng có thai) được
khuyến cáo theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 của Bộ Y tế [13] :
► Glucose máu (mmol/L) lúc đói: Kiểm sốt mức tốt từ 4,4- 7.2 mmol/l.
► Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ < 10.0 mmol/L.
► HbA1c (%): Kiểm soát mức < 7%.
► Huyết áp (mmHg): Kiểm soát huyết áp tâm thu < 140 mmHg, huyết áp
tâm trương < 90 mmHg hoặc dưới 130/85- 90 mmHg (có biến chứng suy thận).
► Lipid máu:
LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L) chưa có biến chứng tim mạch
LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) đã có bệnh tim mạch.
Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0mmol/L)
ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ.
1.2. Dịch tễ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới và ở Việt nam
1.2.1. Dịch tễ mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới.
Trong các bệnh không lây nhiễm, ĐTĐ hiện được gọi là bệnh đại dịch toàn
cầu với tỷ lệ lưu hành khác nhau tùy vị trí địa lý, dân tộc, độ tuổi và giới tính. Thấp
nhất ở khu vực nơng thơn của các nước đang phát triển, trung bình ở các nước phát
triển và cao nhất ở một số nhóm dân tộc, đặc biệt là những người đã áp dụng lối
sống phương Tây [36].
Trên tồn cầu cứ khoảng 11 người trưởng thành có 1 người bị ĐTĐ. Bệnh
không chỉ phổ biến ở các nước phát triển mà ngày nay đại đa số xảy ra ở thành phố
7
của các nước thu nhập trung bình và thấp chiếm khoảng 80%. Điều này được lý giải
do tình hình đơ thị hóa nhanh chóng, chế độ dinh dưỡng khơng lành mạnh, lối sống
trì trệ dẫn đến tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì là một yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐ. Số
người trưởng thành mắc bệnh tăng liên tục mỗi năm từ 108 triệu người (1980) lên
tới 422 triệu (năm 2014) [76]. Ước tính mới nhất năm 2017 của IDF cho thấy, số
người mắc bệnh ĐTĐ là 425 triệu (8,8%). Dự kiến số lượng người trưởng thành
mắc ĐTĐ sẽ tăng lên 629 triệu người (10,1%) vào năm 2045 với tỷ lệ gia tăng của
bệnh ĐTĐ là 48% mỗi năm [44]. Ở các nước Châu Á, tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ
chiếm hơn 60%, riêng Trung Quốc và Ấn độ đã chiếm gần nửa tổng số mắc trong
đó tỷ lệ mắc ở Trung Quốc là 121 triệu người (chiếm 28%) và ở Ấn Độ có 74 triệu
người mắc (chiếm 17%) [61].
1.2.2. Dịch tễ mắc bệnh ĐTĐ tại Việt Nam
Bệnh ĐTĐ tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tại các
khu vực thành thị. Điều tra năm 2000 tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phịng, Đà
Nẵng và Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ ĐTĐ ở độ tuổi 30 – 64 là 4,0%. Ở các vùng
địa lý khác nhau tỷ lệ mắc bệnh cũng khác nhau. Năm 2002, tỷ lệ ĐTĐ ở độ tuổi
này là 4,4% ở thành phố, tỷ lệ mắc ở vùng đồng bằng cao hơn vùng trung du, ven
biển và miền núi (báo cáo của bệnh viện Nội tiết Trung ương). Theo kết quả điều tra
bản đồ dịch tễ học ĐTĐ toàn quốc năm 2012, tỷ lệ ĐTĐ lứa tuổi 30 – 69 là 5,4%
vùng có tỷ lệ ĐTĐ thấp nhất là Tây nguyên (3,8%), tỷ lệ mắc bệnh ở Tây nam bộ
cao gấp 2 lần (7,2%). Tỷ lệ mắc bệnh phản ảnh khá rõ tốc độ phát triển kinh tế và
đời sống của người dân các vùng kinh tế khác nhau. Sau 10 năm từ 2002 đến 2012,
tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng gấp đôi từ 2,7% lên 5,4% [12].
Theo kết quả điều tra năm 2018 của Bộ Y tế, tỷ lệ ĐTĐ chưa được phát hiện
chiếm phần lớn (68,9%) chỉ có 31,1 % người bệnh được chẩn đốn và quản lý tại cơ
sở y tế. Qua đó thấy rõ sự chênh lệch giữa nhu cầu chăm sóc sức khỏe của dân số
ĐTĐ. Từ đó cho thấy hoạt động kiểm sốt các biến chứng của người bệnh ĐTĐ tại
Việt Nam chưa thực chặt chẽ khiến tỷ lệ tử vong do ĐTĐ năm 2017 tăng cao với số
8
lượng 29,000 (đứng thứ 3 trong các nguyên nhân tử vong khác) [14]. Trong tổng số
các bệnh không lây nhiễm ước tính có 3% người bị tử vong do ĐTĐ năm 2012 [77].
Một số nghiên cứu của các tác giả cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng
thành một số tỉnh là khác nhau: nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế (2011) tỷ lệ
mắc là 6,91% [6]; Nguyễn Bá Trí (2016) tại Sa Thầy tỉnh Kontum tỷ lệ 3,5% [15].
1.3. Chất lượng cuộc sống
1.3.1. Khái niệm chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống (CLCS) là khái niệm rộng “đặc trưng bởi sự hài lịng
với cuộc sống nói chung phụ thuộc vào nhận thức của mỗi người về điều đó” [65].
Trong những năm 1960 và 1970 các thuộc tính của CLCS xác định trên toàn
cầu bởi các yếu tố sự hài lịng hay khơng hài lịng và hạnh phúc hay không hạnh
phúc [34]. Theo Haas (1999) CLCS là một đánh giá đa chiều về sự cảm nhận chủ
quan các giác quan chủ yếu về hạnh phúc một cá nhân về hoàn cảnh sống hiện tại
nơi họ sinh sống và những giá trị họ có gồm vật chất, tinh thần, tâm lý, xã hội [40].
Có rất nhiều định nghĩa xác định các thuộc tính đặc trưng của CLCS đều đề
cập đến 5 khía cạnh: “(a) CLCS là một đánh giá về hồn cảnh sống hiện tại của một
cá nhân,(b) có bản chất đa chiều, (c) dựa trên các giá trị và động lực, (d) bao gồm
các chỉ số chủ quan và/ hoặc khách quan và (e) và ở những người có khả năng tự
đánh giá các chỉ số đánh giá này là đáng tin cậy nhất” [40].
WHO định nghĩa: “CLCS là nhận thức của từng cá nhân về vị trí của họ
trong cuộc sống trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống và liên quan
đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ” [80]. Đây cũng là định
nghĩa sử dụng nhiều trong các nghiên cứu CLCS trên thế giới và tại Việt Nam.
CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa tổng thể, bao gồm các khía cạnh của
hạnh phúc và hài lịng với tất cả mọi mặt của cuộc sống. Khái niệm CLCS được
chấp nhận bao gồm những đo lường cá nhân về sự hài lòng trước các yếu tố đa dạng
của cuộc sống. Sự đánh giá này bao gồm những phản ứng của cảm xúc trước các sự
kiện của đời sống, cảm giác hài lịng với cơng việc cũng như những mối quan hệ cá
nhân [43]. CLCS là sự cảm nhận chủ quan của con người và bị tác động bởi nhiều
9
yếu tố như sức khỏe thể chất, tâm lý, mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội, môi
trường, tâm linh/ tơn giáo/ tín ngưỡng cá nhân. Việc đo lường CLCS cần lưu ý đến
những đặc trưng của CLCS về tính tồn diện, đa khía cạnh [80]. Trong đó các khía
cạnh của CLCS tập trung vào vấn đề sức khỏe.
1.3.2. Khái niệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS - SK) được định nghĩa
là những đánh giá chủ quan của một người về các khía cạnh của CLCS (sức khỏe xã
hội, tình cảm và thể chất) liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe [26].
Từ quan điểm về sức khỏe của WHO (1948) “sức khỏe là trạng thái hoàn
toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội khơng chỉ đơn thuần là khơng có
bệnh tật" cho thấy sự tương đồng với các khía cạnh của CLCS, từ đó chỉ ra hướng
đi mới trong nghiên cứu CLCS. Đây là một khái niệm đa chiều “là một người hoạt
động tốt như thế nào trong cuộc sống của họ và người đó cảm nhận được sự lành
mạnh trong các lĩnh vực thể chất, tinh thần và xã hội của sức khỏe” [70]. Định
nghĩa này đề cập đến sự cảm nhận chủ quan của mỗi cá nhân về khía cạnh cuộc
sống của họ và khả năng thực hiện các hoạt động xác định trước. Định nghĩa khác
về CLCS - SK chủ yếu vào các lĩnh vực của CLCS - SK [49],[80]. Thuật ngữ CLCS
- SK không được định nghĩa rõ ràng và hầu như không phân biệt với thuật ngữ sức
khỏe hoặc CLCS [49].
Khái niệm CLCS đặc biệt có ý nghĩa trong cơng tác điều dưỡng. Cohen &
cộng sự (1996) nhấn mạnh ''CLCS luôn quan trọng đối với người bệnh'', tác động
tích cực nếu người bệnh được cải thiện nhận thức bản thân về CLCS của họ [29].
1.3.3. Chất lượng cuộc sống của người bệnh ĐTĐ type 2: Gánh nặng xã hội
đáng kể của bệnh ĐTĐ và tác động của nó lên CLCS là một vấn đề sức khỏe quan
tâm của cộng đồng gồm người bệnh, gia đình, người sử dụng lao động, nhà cung
cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tác hại của bệnh ĐTĐ đến CLCS - SK được mô tả
liên quan bởi ảnh hưởng của tình trạng bệnh, các biến chứng, phương pháp điều trị,
cảm xúc của người bệnh đến giảm nhiều ở các khía cạnh của CLCS - SK bao gồm
chức năng thể chất, vai trò, xã hội...[18].
10
1.3.4. Một số yếu tố liên quan đến bệnh đáí tháo đường type 2
1.3.4.1. Trầm cảm ở bệnh đái tháo đường type 2
Trầm cảm là thuật ngữ bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 19, để chỉ ra trạng thái
buồn bã. Vào cuối thế kỷ này Kraeplin đã mô tả đầy đủ các triệu chứng lâm sàng
của một giai đoạn trầm cảm trong bệnh rối loạn tâm thần. Các triệu chứng của trầm
cảm được phân trong 2 loại chính là: bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10: International Classification of Diseases) và cẩm nang chẩn đoán và thống kê các
rối loạn tâm thần- tái bản lần thứ 4 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders DSM-IV).
Các triệu chứng chính của trầm cảm là tâm trạng chán nản và mất hứng thú
hoặc khoái cảm ( một trong tiêu chuẩn theo phân loại DSM-IV) và giảm năng lượng
hoặc mệt mỏi (theo phân loại ICD-10) [64]. Trầm cảm là một rối loạn thường gặp
đặc biệt trong một số quần thể đặc biệt như quần thể người già, người bệnh điều trị
nội trú hay quần thể mắc các bệnh cơ thể mạn tính trong đó có bệnh ĐTĐ. Trầm
cảm ở người mắc bệnh ĐTĐ hiện được quan tâm trong nhiều nghiên cứu trên thế
giới. Tỷ lệ trầm cảm khá phổ biến ở người mắc bệnh ĐTĐ type 2 thường gặp ở mức
độ vừa và nhẹ (71,8%) [1]. Nghiên cứu của Ganasegeran (2014) ở 169 người mắc
bệnh độ tuổi từ 18 - 90 được điều trị theo dõi từ phòng khám Nội tiết tại Malaysia
có 40,3% biểu hiện triệu chứng trầm cảm. Tình trạng biểu hiện trầm cảm có liên
quan đến việc giảm kiểm soát trao đổi chất, tuân thủ kém với chế độ thuốc và chế
độ ăn uống, làm giảm CLCS và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe [58].
1.3. 4.2. Hỗ trợ xã hội với đái tháo đường type 2
“Hỗ trợ xã hội là nhận thức cá nhân về các nhu cầu đã biết và chưa biết đó là
hài lịng bởi sự giúp đỡ đáng kể từ người khác thông qua tương tác cá nhân hoặc
cộng đồng và sự giao tiếp” [31]. Hỗ trợ xã hội có nhiều khía cạnh ảnh hưởng khác
nhau đến các kết quả và hành vi liên quan đến sức khỏe của người bệnh ĐTĐ [71].
Các khía cạnh đó bao gồm tình trạng hơn nhân, mạng lưới xã hội và quan hệ cộng
đồng. Đánh giá nhận thức hỗ trợ xã hội ở người bệnh ĐTĐ type 2 giúp nâng cao
hoạt động tự quản lý bệnh ĐTĐ đồng thời góp phần cải thiện hoạt động tự quản lý
11
và điều chỉnh tâm lý xã hội cho bệnh ĐTĐ. Điểm nhận thức hỗ trợ xã hội cao tương
ứng với cải thiện tình trạng CLCS của họ [39].
Trong nghiên cứu này hỗ trợ xã hội đề cập đến nhận thức của người bệnh
ĐTĐ type 2 với sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và những người đặc biệt khác (như
nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe).
1.3.5. Cơng cụ đo lường chất lượng cuộc sống.
CLCS - SK có thể đo lường kết quả chăm sóc sức khỏe góp phần phịng
ngừa và kiểm sốt các bệnh mạn tính, khả năng tự quản lý của người bệnh. Thang
đo dựa trên định nghĩa về sức khỏe, hạnh phúc và đánh giá cá nhân [41].
Hiện có rất nhiều bộ cơng cụ đã được triển khai và sử dụng để đánh giá
CLCS, trong đó các bộ công cụ thường được sử dụng chia thành 2 loại gồm bộ công
cụ đo lường CLCS chuyên biệt và bộ công cụ đo lường CLCS chung.
1.3.5.1. Bộ công cụ đo lường CLCS chuyên biệt:
Thiết kế nhằm đo lường CLCS cho người mắc một bệnh hoặc tình trạng sức
khỏe cụ thể, tập trung vào các khía cạnh có tầm quan trọng trong cuộc sống của
người bệnh như:
- Công cụ KDQOL (Kidney Disease Quality of Life): đánh giá CLCS người
mắc bệnh thận.
- QoL-AD (Quality of Life Alzheimer Disease): đánh giá CLCS người bệnh
Alzheimer.
- AQLQ (Asthma Quality of Life Questionnaire): đánh giá CLCS ở người
bệnh hen suyễn.
- EORTC QLQ - C30 (European Organization for Research and Treatment of
Cancer – EORTC): đánh giá CLCS người bệnh ung thư.
1.3.5.2. Bộ công cụ đo lường CLCS chung:
* Công cụ đo lường CLCS của WHO gồm WHOQOL-100 & WHOQOL,
những cơng cụ này có nhiều cơng dụng sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
trong đó có lĩnh vực thực hành y tế, nghiên cứu. Đây là cơng cụ phát triển đa văn
hóa, chú trọng đến nhận thức cá nhân. Đồng thời đã được kiểm tra chặt chẽ giá trị
12
về độ tin cậy và tính hợp lệ ở nhiều quốc gia trên các nhóm người mắc các bệnh
khác nhau. Trong thực hành lâm sàng, công cụ này được sử dụng để đo lường
CLCS trong quá trình người bệnh điều trị hoặc các yếu tố liên quan để từ đó cán bộ
y tế có thể tùy chỉnh sự lựa chọn để cải thiện chất lượng chăm sóc. WHOQOLBREF là bộ công cụ đa ngôn ngữ, là phiên bản ngắn 24 khía cạnh phát triển từ
WHOQOL-100, gồm 4 lĩnh vực chính được đánh giá gồm thể chất, tâm lý, xã hội
và môi trường. Ở bộ công cụ này, đánh giá CLCS của con người có tính chủ quan,
điểm CLCS khi sử dụng bộ cơng cụ có sự khác nhau tùy thuộc và ngơn ngữ, văn
hóa mỗi quốc gia [69],[80].
* EUROQOL (CLCS Châu Âu hay EQ-5D EQ-5D): là bộ công cụ tự đánh
giá CLCS của người bệnh được chứng minh có giá trị đánh giá CLCS của cá nhân
và cộng đồng do nhóm nghiên cứu CLCS châu Âu phát triển. Bộ câu hỏi gồm có 5
khía cạnh phản ánh sức khỏe thể lực và tinh thần bao gồm đi đứng, đau nhức, tự
chăm sóc, lo lắng và hoạt động hàng ngày. Mỗi câu hỏi có 3 câu trả lời. Tổng cộng
có 245 tình trạng sức khỏe. Hiện tại bộ cơng cụ được dịch ra 60 thứ tiếng khác
nhau. Các tình trạng sức khỏe được chuyển đổi sang điểm CLCS từ -0,594 đến 1
theo phương pháp “Trao đổi thời gian” (Time trade off).
* Ngoài ra nghiên cứu CLCS đối với người bệnh ĐTĐ có bộ cơng cụ “CLCS
của người bệnh đái tháo đường Châu Á”- Asian DQoL. Bộ công cụ này đã được
xây dựng và thử nghiệm tại Malaysia. Bộ công cụ đánh giá CLCS cho dân số chung
ở khu vực Đông nam á, được dịch bởi các tiếng Anh, tiếng Malaysia và tiếng Trung
tương ứng với 3 bảng câu hỏi khác nhau [38]. DQoL phát triển để đánh giá CLCS SK cho bệnh ĐTĐ type 1&2. Bộ công cụ bằng tiếng Anh và tiếng Malaysia được
soạn thảo ban đầu bao gồm 30 câu hỏi. Các lựa chọn câu trả lời nằm trong thang
điểm 5 từ ''rất khơng hài lịng'' đến ''rất hài lòng''. Các bản chỉnh sửa sau áp dụng các
nước khác nhau được sửa đổi, bổ sung số câu hỏi khác nhau cho phù hợp [38].
* Công cụ CLCS SF-36 (Short Form-36 điều tra y tế): là một thước đo toàn
cầu về CLCS - SK, thuộc dự án đánh giá CLCS thế giới, được đánh giá tính giá trị
và độ tin cậy bởi các nhà khoa học trên thế giới từ năm 1991. Bộ công cụ được báo
13
cáo ngày càng nhiều trong các tài liệu khoa học trên nhiều tạp chí nổi tiếng
[56],[73]. Bộ câu hỏi bao gồm 36 mục đánh giá 8 khía cạnh sức khỏe.
Để rút gọn có cơng cụ SF-12 sử dụng trong một số tình huống cần đánh giá
nhanh với 12 câu hỏi có ưu điểm ngắn gọn, dễ trả lời, được sử dụng để đánh giá
CLCS của người bệnh, bao gồm hai lĩnh vực sức SKTC và SKTT. Công cụ SF-12
thường được sử dụng với những nghiên cứu có cỡ mẫu lớn, khi nghiên cứu cần tìm
hiểu nhiều thơng tin khác nữa. Tuy nhiên công cụ này chưa đi vào chi tiết các khía
cạnh thể chất và tâm thần nên có hạn chế trong việc đo lường các khía cạnh của
CLCS một cách tồn diện và chi tiết.
Bộ cơng cụ SF-36, một trong những công cụ đánh giá tiêu chuẩn được sử
dụng để đo lường chất lượng cuộc sống, ngắn gọn, thiết thực và có tính giá trị và độ
tin cậy cao. Đây là thước đo CLCS được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Nó
đánh giá tám khía cạnh CLCS liên quan đến sức khỏe và đã được sử dụng trong các
nghiên cứu cộng đồng và lâm sàng. Hiện nay SF -36 đã được dịch sang nhiều ngôn
ngữ khác nhau, bao gồm cả Tiếng Việt, đồng thời đã được sử dụng trong nghiên
cứu dân số lớn liên quan đến nhiều loại quần thể người mắc bệnh mạn tính trong đó
có người bệnh ĐTD ở Việt Nam. Do đó, bộ cơng cụ được xác định phù hợp để đánh
giá thực trạng CLCS ở người bệnh ĐTĐ type 2 tại Việt Nam nói chung và tại Yên
Bái nói riêng. Từ các lý do trên, nhóm nghiên cứu sử dụng bộ cơng cụ đo lường
CLCS SF- 36 cho nghiên cứu này.
1.4. Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống và yếu tố liên quan ở người
bệnh ĐTĐ type 2.
1.4.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Chủ đề CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 hiện nay đã được các tác giả quan
tâm nghiên cứu rất nhiều trên thế giới. Trong các nghiên cứu, CLCS được đánh giá
bằng các bộ công cụ khác nhau và phương pháp tiến hành khác nhau. Kết quả của
một số nghiên cứu đã cho thấy có sự khác biệt về điểm CLCS giữa các nhóm yếu tố
đặc điểm cá nhân gồm đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm bệnh.
14
Một số nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố liên quan tác động tiêu cực đến
CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 làm giảm CLCS của họ.
- Zurita-Cruz JN và cộng sự (2018) nghiên cứu trên 1394 người bệnh bao
gồm, tuổi trung bình là 62 tuổi cho thấy gần nửa số người bệnh ĐTĐ type 2 có
CLCS - SK kém (điểm CLCS 49,4%) thang đo SF-36; các yếu tố như tuổi tác, tình
trạng hơn nhân, giới tính, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, triệu chứng trầm cảm và
bệnh đi kèm có ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS - SK. Trong số đó có liên quan nhiều
nhất là trầm cảm (74,8%). Tuổi cao, trầm cảm ảnh hưởng tiêu cực CLCS – SK [84].
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hiện diện các bệnh kèm theo làm giảm
CLCS của người bệnh ĐTĐ type 2 giảm liên quan đến số bệnh đi kèm. Wermeling
và cộng sự (2012) đánh giá trên 2215 người bệnh ĐTĐ type 2 ở Hà Lan và thấy
rằng những người có bệnh đi kèm có tình trạng sức khỏe thấp hơn đáng kể so với
những người khơng có bệnh đi kèm [75]. Levterova (2018) rằng thời gian mắc bệnh
kéo dài trên 5 năm, có bệnh đi kèm như tăng huyết áp (76%), bệnh tim thiếu máu
cục bộ (44%); các biến chứng mạn tính như bệnh thần kinh ĐTĐ (17%), bệnh võng
mạc ĐTĐ (13%) là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến giảm CLCS của người
bệnh và có ý nghĩa thống kê [53].
Jenny (2019), sử dụng bộ câu hỏi ngắn (WHOQOL-BREF) nghiên cứu mối
tương quan của kiểm soát trao đổi chất đến CLCS trong bệnh ĐTĐ loại 2 được
nghiên cứu trên 135 người bệnh ĐTĐ type 2 độ tuổi từ 18 tuổi. Nghiên cứu cho
thấy điểm CLCS trung bình là 54,07 điểm thấp nhất ở các yếu tố đau đớn, cảm giác
tiêu cực, hoạt động tình dục và hỗ trợ tài chính (đều có điểm đạt <50). Phân tích
mối tương quan giữa các lĩnh vực thuộc CLCS với kiểm soát trao đổi chất, kết quả
cho thấy có mối tương quan nghịch giữa lĩnh vực tâm lý và đường huyết lúc đói và
HbA1c với đường huyết lúc đói ( p <0,05) có ý nghĩa thống kê [27].
Ảnh hưởng của biến chứng đến CLCS: Ligda Georgia (2019) sử dụng công
cụ WHOQOL – BREF đánh giá CLCS trên 2 nhóm đối tượng cho thấy người bệnh
có biến chứng võng mạc ĐTĐ ở các mức độ khác nhau đều ảnh hưởng nghiêm
trọng đến các lĩnh vực của chất lượng cuộc sống. Khi so sánh các miền CLCS của
15
nhóm mắc biến chứng và nhóm kiểm sốt cho thấy sức khỏe nói chung, tinh thần và
tâm lý, cũng như các mối quan hệ xã hội và môi trường tồi tệ hơn đáng kể ở những
người mắc biến chứng võng mạc (p< 0,001). Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy tuổi, thu
nhập và tình trạng giáo dục là yếu tố quyết định cho một cuộc sống tốt hơn ở cả
người bệnh có và khơng có bệnh võng mạc ĐTĐ [55].
Peian Lou và cộng sự (2015) nghiên cứu trên 944 người bệnh mắc bệnh
ĐTĐ type 2 tại Trung Quốc (thang đo DSQL) để đánh giá mối quan hệ giữa chất
lượng giấc ngủ và CLCS ở Trung Quốc. DSQL trung bình là 50,7 ± 12,9 và nam có
DSQL thấp hơn nữ (48,8 ± 12,7 so với 51,9 ± 13,1; p <0,01). Nghiên cứu cho thấy
một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê của đặc điểm chung của người tham gia
với chất lượng cuộc sống kém của họ bao gồm nữ giới, những tuổi cao, mắc bệnh
ĐTĐ kéo dài, số lượng biến chứng và bệnh kèm theo nhiều, uống rượu, có triệu
chứng trầm cảm và lo lắng, giấc ngủ kém (tất cả p <0,01). Ngồi ra người sử dụng
insulin, kiểm sốt đường huyết kém [57].
Tác giả Arditi và cộng sự (2019) đánh giá tình trạng sức khỏe và CLCS của
506 người bệnh ĐTĐ type 2 ở Thụy sĩ. Sử dụng bộ câu hỏi SF- 12, kết quả cho thấy
điểm CLCS sức khỏe thể chất trung bình là 43,1 ± 10,4 và điểm tinh thần trung bình
là 46,7 ± 11,1. Yếu tố ảnh hưởng nhiều đến CLCS thấp nhất là mong muốn tự do
ăn, uống và đời sống tình dục của họ. Ngồi ra nghiên cứu cịn chỉ ra tuổi cao, thu
nhập thấp, thời gian mắc bệnh ĐTĐ trên 10 năm, điều trị bằng insulin và các biến
chứng có ảnh hưởng đến giảm CLCS của người bệnh [23].
Tác giả Bourdel và cộng sự (2013) sử dụng bộ công cụ SF-12 cho sức khỏe
tinh thần và sức khỏe thể chất. Thực hiện nghiên cứu chọn mẫu trên toàn quốc với
2832 người bệnh ĐTĐ type 2, tuổi trung bình là 64 tuổi trong số nam giới chiếm số
đơng (56%) nhằm mục đích phân tích các yếu tố liên quan đến CLCS của người
bệnh. Nghiên cứu cho thấy: Các yếu tố liên quan đến CLCS với điều kiện kinh tế xã
hội, hỗ trợ xã hội, biến chứng, khuyết tật và hạn chế tham gia xã hội. Trong đó đặc
điểm nhân khẩu học liên quan đến sức khỏe tinh thần bởi các yếu tố thu nhập thấp,
trình độ học vấn thấp, thời gian mắc bệnh dài, hạn chế sinh hoạt hàng ngày, điều trị