Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 7 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<i><b>Nguyên Xuân Hương</b></i>
Chỉ cách đây khoảng dăm năm thôi, lễ hội này ở các làng ven biển
Đà Nang diễn ra thường niên, náo nhiệt để cầu an, cầu ngư đầu năm.
Người làm biển tránh gọi là "lễ cầu ngư" mà là 'lễ nghinh ô n g Sanh",
mặc dù thực chất đây là lễ rước thần Đơng Hải (cá voi sống) ngồi biển
về chúng lễ tế Ông Tử - thần Nam Hải (cá voi đã hoá) để cầu thần độ tri
cho "cá đổ đầy khoang, con dân đi biển bình an".
Lễ nghinh ô n g Sanh chỉ là một phần của lễ hội nhưng lại là nhân
lõi làm nên khơng khí hội, phản ánh ước vọng, tâm thức của dân biển.
Ỏng Sanh gán kết mật thiết với Ông Tử (người dân Đà Nằng gọi là ông
Lỵ) - vị thần "hiển diện" dưới dạng vật thể là "ngọc cốt", được dân biển
giữ gìn và thờ phụng trong những ngơi lăng Ơng. Trước năm 2005, ở
Đà Nằng có khá nhiều lăng ơ n g cổ kính, nằm dọc ven biển và quay mặt
ra biển, như lăng ô n g c ổ Mân, lăng ô n g Mân Thái, lăng ô n g Mỹ Khê,
lăng Ông Tân Lưu...
"Xưa bày nay bẳt chước" là cách nói dung dị, chân chất của người
dân làng biển Đà Nang về sự thừa tiếp truyền thống văn hoá của tiền
nhân, trong đó có việc tổ chức lỗ hội nghinh ô n g Sanh. Theo đó, lễ hội
nghinh Ồng ở các làng biển mở vào mùa xuân, thường từ trung tuần
tháng giêng đến tháng hai âm lịch. Phần lễ tiến hành thành kính, giản dị
nhưng không tuỳ tiện, đơn giản, nhếch nhác. Các nghi thức tế thần Nam
Hải, Đông Hải theo đúng nghi thức tế thần cổ truyền. Nhân sự thực hiện
lễ tế là một ban khánh tiết do làng vạn bầu ra, gồm những bậc cao niên,
đức độ, có uy tín, gia đình hồ thuận và khơim mắc tang trở. Trước mở
hội một thời gian, người được chọn làm chánh tế phải ôn, và tập các
nghi thức cho thuần thục. Ba ngày trước khi diễn ra lễ hội, ông chánh tế
và hai ông phan hiến (bồi tế) ăn chay theo lệ và dọn mình sạch sẽ. Khi lễ
thần, nếu lạy sai sẽ bị vạn làng quở trách. Người ta cho rằng, việc lạy
thần là việc hệ trọng, lạy sai sẽ bị thần giáng hoạ cho cả làng.
Cũng cách đây vài năm, lễ hội nghinh Ông Sanh của các làng
biển Đà Nằng thường diễn ra trong ba ngày, với các lễ và hội đan xen
nhau. Trong ngày hội, lăng ông, biểu tượng của làng biển, được trang
trí theo đúng tục truyền. Cờ hội cắm dọc hai hàng trước cổng lăng. Các
ghe thuyền neo đậu thành hàng tại bến. Chủ ghe khăn đóng, áo dài tham
dự lễ tế thần.
<i>Ngày khai hội bắt đầu bàng lễ vọng, tiến hành vào lúc sáng sớm </i>
tại lãng Ông. Lễ có ý nghĩa cáo giồ và xin thần Nam Hải hiển linh, "báo"
cho làng vạn điềm lành, điềm dữ trong năm.
Hôm sau là ngày chính hội, ngày diễn ra lễ nghinh Ông Sanh.
Đồn người ra khơi nghinh Ồng gồm có ban tế lễ, học trò lễ, đội bã trạo,
ban nhạc lễ, ban chinh cổ, các chân cờ. Dần đầu đoàn nghinh là ba chiếc
ghe lễ, lướt theo hàng ngang, theo sau là đoàn ghe hộ tống. Đến giờ
nước lên (khoảng 8 giờ), đoàn thuyền đi nghinh xuất phát từ lăng ô n g
tiến ra cửa lạch ra khơi. Cả một vùng trời nước được khuấy động bởi
tiếng hò reo, chiêng trổng, tiếng hát lễ ca ngợi Ỏng Sanh của đội bã trạo,
hoà cùng màu sắc rực rỡ của cờ hoa, làm bừng lên khí thế rộn rã của lễ
đi nghinh thần Đông Hải. Đến địa điểm đã định, đoàn ghe dừng lại làm
lễ thỉnh rước ô n g Sanh về nhập điện.
Đoàn nghinh Ông Sanh về trong sắc cờ bay. Ghe thuyền của dân
vạn trang trí rực rỡ, cùng với tiếng hò reo hân hoan, phấn khởi của mọi
người dưới bến, trên bờ chào đón. Bàn nghinh Ơng được rước lên. Lễ
rước Ông Sanh về lăng ô n g nhập điện tiến hành ngay sau đó với đầy
đủ các nghi trượng, nghi lễ cổ truyền, trong niềm hân hoan của dân
làng biển.
người thân thích thờ cúng) và các vị Tiền vãng ngự tại đình, lăng, miếu
của làng vạn. về lăng Ồng chứng lễ, phụ hường. Rồi vẫn tại sân lăng
Ông. lễ tế Cô hồn / Cô Bác diễn ra ngay sau đó. Văn tế Cơ hồn tạo niềm
thương cảm, xúc động cho mọi người về những kiếp người khốn khổ.
Lễ chánh tế được tiến hành vào lúc nửa đêm về sáng ngày hôm
sau. Trước lễ, ông hội chủ vạn biển cử một nam thanh niên cầm trống
tiểu đi khắp vạn làng đánh trống báo hiệu. Cùng thời gian đó, đội học
trò lễ, tay cầm đèn lồng hình bánh ú, đi theo sau ông chánh tế đến nhà
ông tư văn làm lễ thỉnh văn tế về lăng Ông. Lễ tế thần được tiến hành
sau đó theo đúng nghi thức cổ truyền. Công đức thần Nam Hải và thần
Đông I lải được ca ngợi qua văn tế, qua lời ca của đội chèo Bã trạo. Lễ tế
hoàn tất, vị chánh tế cùng ban khánh tiết trờ ra bến làm lễ cúng "sông
giang bến nước", rồi tất cả cùng xuống thuyền chạy ra cửa lạch. Đó là
"đi mở hàng", mở đầu cho một năm làm biển của cộng đồng làng vạn.
Thuyền đi mở hàng quay về, mọi người lại trở lại lăng ô n g đế làm
<i>lễ xây chầu bã trạo, mở màn cho buổi hát thờ hầu thần. Lối hát này có </i>
<i>nhiều tcn gọi: hát bã trạo, hát bạn chèo; có làng gọi là hát lăng. Đây là </i>
một bộ phận của nghi lễ tế thần Nam Hải, một diễn xướng tổng hợp,
gồm có yếu tố hát và múa với đạo cụ là mái chèo. Đội bã trạo thường
toàn nam giới, bao gồm ha trạo (hạn chèo) và các ông tồng là tồng mũi
(tổng tiền), tổng thương (tổng khoang) và tổng lái. Trừ trang phục của
- <i>Tổng thương tán: N hư chúng dân đây miền duyên hài ra khơi </i>
- <i>Tổng và trạo: Một cầu mật võng đại đăng/ Cá to cá nhỏ dăng </i>
<i>dăng bằng đời/ Hai cầu mành lớn nghề khơi/ Nước êm gió thuận thảnh </i>
<i>thơi thay là/ Ba cầu nghề nhỏ mành chà/ Đắc tài đắc lợi trẻ già vui ưa/ </i>
<i>Bổn cầu lưới căng lưới sư a/ Lênh đênh giữa biến đay đưa cá vào/ Năm </i>
<i>cầu lưới quét lưới cào/ Tiền ngàn bạc vạn dồi dào vui thay/Sáu cầu câu </i>
<i>bủa câu tay/ Thả mồi cá đớp vui vầy hôm m ai/ bày cầu lưới cước lưới </i>
<i>hai/ bủa đâu đặng đó ai ai cũng dùng/ Tủm cầu te trú lưới dùng/ Làm </i>
<i>ăn thịnh lợi thong dung thanh nhàn/ Chín cầu mành nục lưới gang/ </i>
<i>Trăm nghề thịnh vượng giàu sang vui vầy/ Mười cầu rớ già chài tay/ </i>
<i>Nơi nơi phát đạt thúng ngày sinh nhai.</i>
Trong thời gian diễn ra lễ hội, những sinh hoạt diễn xướng, bơi
đua diễn ra đan xen cùng với các nghi lễ. Ban ngày là đua ghe, lắc thúng;
tối đến thì xem bã trạo hát chèo Ông; hát tuồng; hoặc hát hò khoan đối
đáp. Các hình thức văn hố cổ truyền này đã làm tăng thêm khơng khí
vui vẻ, náo nức trong làng vạn, tạo tâm thế bình an, vững tin cho ngư
dân bước vào vụ mùa mới.
Lễ nghinh Ông Sanh với ý nghĩa là lễ cầu an, cầu ngir, đã làm nên
một nét văn hoá biển của Đà Nằng trước đây. Đó là một hình thức sinh
hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng đặc trưng của cư dân biển, hàm
chứa các giá trị văn hoá - nhân văn. Lễ hội nghinh Ơng cịn là dịp để
những "đặc sản văn nghệ dân gian" xứ Quảng được phơ diễn, qua đó mà
được bảo lưu và khẳng định thêm giá trị. Lễ hội cũng là một phương
thức để điều tiết đời sống tâm lý cộng đồng dân biển. Tham gia lễ hội,
người dân biển được thư giãn, cân bằng đời sống tinh thần sau một năm
đánh bắt vất vả. Mặt nữa, đó cịn là dịp để củng cổ tinh thần đoàn kết
cộng đồng làng vạn, giữ gìn và củng cố một phong tục tốt đẹp của cộng
đồng cư dân biển Đà Nang - tục kết nghĩa vạn chài. Theo đó, lễ hội
nghinh Ông Sanh của làng vạn biển nào thì các làng biển xung quanh
cũng được mời đến dự lễ. Những làng được mời là những làng kết nghĩa
với làng có lễ hội. Đại diện làng đó là ban khánh tiết mà dẫn đầu là vị
chánh tế cùng hội chủ vạn sẽ mang lễ vật đến cúng Ông Sanh và được
lạy "thiểu phước" (quỳ lạy cầu xin Ông ban phước mọn cho dân làng
mình) Ông của làng mở hội.
người dân vùng biển thể hiện rõ nét, đặc biệt là ý thức kế thừa di sản văn
hoá của tiền nhân.
<b>2. Và nguy cơ trở thành "cổ tích"</b>
Lễ hội đặc sắc và đặc trưng của cộng đồng cư dân biển Đà Nằng
nói trên đang biến đổi mạnh mẽ, và có nguy cơ trở thành "cổ tích" để
hồi niệm. Cùng với việc mở rộng đô thị, làm mới cảnh quan ven biển
là sự háo hức chuẩn bị cho các hoạt động văn hoá đương đại, nhằm thu
hút khách du lịch, kêu gọi đầu tư diễn ra trong những năm gần đây của
thành phố, đã khiến cho hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng truyền
Đà Nằng ngày nay đang thay đổi diện mạo. Nhiều con đường mới
mọc lên; nhiều đường phố cũ được mở rộng. Những cây cầu bắc qua
sông Hàn đã làm xong, trở thành biểu tượng của Đà Nằng. Một chiếc
<i>cầu nữa đang xây có tên là cầu Rồng, sẽ góp phần tạo thêm cho thành </i>
phố này một danh xưng "thành phố của những cây cầu", như báo chí đã
đưa tin ca ngợi.
biến đổi gây khó cho những hoạt động văn hoá truyền thống của cộng
đồng. Lễ hội nghinh Ông Sanh của nhiều làng biển Đà Nằng theo đó
cũng lần lần biến đổi phai nhạt. Và cho đến thời điểm hiện nay, thì hầu
hết chỉ cịn là lễ cúng đơn sơ, như nhắc lại một truyền thống của ông bà
để lại cho con cháu đời nay.
Hiện nay, có một bộ phận dân biển, nhất là thanh niên đã không
còn theo nghề biển nữa. Đất đai, bến bãi trờ thành môi trường phục vụ
du lịch, thanh niên làng biển cũng được chuyển đổi ngành nghề. Ngày
lễ hội nghinh ô n g Sanh có tổ chức hay khơng cũng khơng cịn mấy
quan trọng với họ. Đội bã trạo / bạn chèo cũng không nhất thiết phải hát
hầu thần trong lễ nghinh Ông và tế Ông. Những cuộc hát của bạn chèo
ca ngợi cơng đức thần cá Ơng, vài năm trở lại đây, đã vắng bóng trong
lễ hội các làng biển. Hiện nay, đội bã trạo rất chăm chỉ hát chco đưa linh
trong đám tang người, với tư cách hát thuê.
Tiếc thay, từ chỗ là một biểu tượng của vàn hoá truyền thống biển
Đà Nằng, chỉ vài năm thơi, lễ hội nghinh Ơng của cư dân các làng biển
Đà Nằng đã phai nhạt. Người Đà Nằng hiện nay đang háo hức trước vẻ
đẹp hiện đại của thành phố, nồ lực phấn đấu giữ vững các danh hiệu...
<i>Đà Nằng cũng đang phấn đấu trở thành thành phố cơng nghệ cao. Việc </i>
Thực tế cho thấy, lễ hội của cư dân biển Đà Nằng mang tính chất
hội làng. Nó khơng quy mô như các lễ hội tôn giáo hoặc các lễ hội ở
<i>vùng Bắc Bộ, song nó lại có chiều sâu và sự thống nhất để tạo nên một </i>
<i>vùng lễ hội - tín ngưỡng cá voi. Điều đáng trân trọng ở đây là các lễ hội </i>
còn di tích liên quan đến lề hội. Chính nơi đó sẽ là trung tâm thu hút,
liên kêt các làng biển về tham gia, cùng tri ân, chiêm tưởng vị thần
chung của mình. Lễ hội được tổ chức chu đáo, tôn trọng nghi thức cổ
truyền, chăc chắn sẽ tạo nên một mảng màu văn hoá dân tộc trong bức
tranh xuân của thành phố Đà Nằng hiện đại.
Các sinh hoạt văn hoá hiện đại ờ thành phố Đà Nằng hiện nay
đang rất hưng thịnh. Có lẽ trong tương lai gần, "lễ hội thi bắn pháo hoa"
sẽ trở thành một biểu tượng văn hoá của Đà Nằng. Nhưng Đà Nằng vốn
là một "thành phố biển" với những nét văn hố biển được hình thành từ
lâu. Đó chính là một di sản văn hố cần dược trân trọng, gìn giữ và phát
triển vì cuộc sống hôm nay./.
N.X.H
<i>Tài liệu tham khảo</i>
<i>1. Nguyễn Xuân Hương (2009), Tín ngưỡng cư dán ven biến Quàng </i>
<i>Nam - Đà Nằng, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.</i>
2. Lê Hồng Lý (2002), "Đôi nét về văn hoá dân gian ven biển trong nền
<i>kinh tế thị trường", Văn hoá Dán gian (3), tr. 38-42.</i>
<i>3. Cung Giũ Nguyên (1995), Kè thừa lự cua ỏng Nam Hai, Bàn dịch </i>
tiếng Việt của Nguyễn Thành Thống, Nxb. Văn học, Hà Nội.
<b>4 . T ỏ N g ọ c T hanh (1 9 9 2 ) , "Vai trò n iềm tin tron g đ ờ i s ố n g văn h o á dân </b>
<b>gian c ổ truyền", </b><i><b>Văn h ọ c</b></i><b> (5 ), tr 1 4 -1 6 .</b>
<i>5. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2000), Văn hoá dân gian làng ven biên, </i>
Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
<i>6. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2001), Tín ngưỡng và văn hố tín ngưỡng </i>
<i>ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.</i>
<i>7. Trung tâm Khoa học và Nhân văn Quốc gia (1994), Le hội truyền </i>
<i>thong trong đời sổng xã hội hiện đại, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.</i>