Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 92 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

TRƯƠNG THỊ DẠ THẢO

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trương Thị Dạ Thảo

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ LÊ THỊ NAM GIANG

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015



(i)

LỜI CAM ĐOAN
TÁC GIẢ
Trương Thị Dạ Thảo

Tôi tên là: Trương Thị Dạ Thảo. Mã số học viên: 80107.13.41
Tác giả đề tài luận văn: “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tơi, khơng sao chép
của bất kỳ tác giả nào. Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu,
thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục
tài liệu của luận văn. Các dẫn chứng trong luận văn được sử dụng trung thực và có
nguồn trích dẫn đầy đủ.


(ii)

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

.................................................................................................. trang 01

CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH ............................................................ trang 09
1.1.

Quyền tác giả và vấn đề bảo hộ quyền tác giả ............................ trang 09
1.1.1. Khái niệm quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả .......... trang 09
1.1.2. Lịch sử hình thành, phát triển quyền tác giả ................... trang 10

1.1.3. Sơ lược về quyền tác giả theo quy định của Luật Sở
hữu trí tuệ Việt Nam ................................................................... trang 12

1.2.

Tác phẩm điện ảnh ...................................................................... trang 17
1.2.1. Khái niệm tác phẩm điện ảnh ........................................... trang 17
1.2.2. Đặc trưng của tác phẩm điện ảnh .................................... trang 20
1.2.3. Tác phẩm điện ảnh được bảo hộ quyền tác giả .............. trang 22

CHƯƠNG II – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ QUYỀN
TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH ......................................... trang 26
2.1.

Tính nguyên gốc của tác phẩm điện ảnh .................................... trang 26
2.1.1. Tính ngun gốc của nhóm các tác phẩm điện ảnh được
phóng tác từ tác phẩm văn học, nghệ thuật ................................ trang 27
2.1.2. Tính ngun gốc của nhóm các tác phẩm điện ảnh được
thực hiện trực tiếp ........................................................................ trang 31
2.1.3. Ảnh hưởng của yếu tố nhạc phim đến tính nguyên gốc
của tác phẩm điện ảnh ............................................................... trang 32

2.2.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm điện ảnh .............. trang 35


(iii)

2.3.


Quyền truyền đạt tác phẩm điện ảnh ......................................... trang 38

2.4.

Một số quyền khác liên quan đến việc khai thác, sử dụng
tác phẩm điện ảnh ...................................................................... trang 43
2.4.1. Quyền sao chép ................................................................. trang 43
2.4.2. Quyền làm tác phẩm phái sinh ......................................... trang 45
2.4.3. Quyền phân phối bản gốc, bản sao tác phẩm

................ trang 52

CHƯƠNG III - THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN KIẾN NGHỊ .............. trang 55
3.1.

Thực trạng xâm phạm quyền tác giả tác phẩm điện ảnh tại
Việt Nam ..................................................................................... trang 55
3.1.1. Đánh giá thực trạng chung ............................................. trang 55
3.1.2. Một số hành vi xâm phạm trên thực tế .............................. trang 58

3.2.

Vai trò của các Hội nghề nghiệp và tổ chức quản lý tập thể ..... trang 64

3.3

Đánh giá nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh .......................... trang 68

3.3.1. Nguyên nhân ...................................................................... trang 68
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh ............................................................ trang 71
3.3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về
quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh ................................... trang 71
3.3.2.2. Thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả đối
với tác phẩm điện ảnh................................................................... trang 76
3.3.2.3. Tăng cường áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để
bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh .......................... trang 77


(iv)

3.3.2.4. Nâng cao năng lực, kiến thức chuyên môn của các cán bộ cơ
quan Nhà nước và công tác tuyên truyền pháp luật về
quyền tác giả

............................................................................ trang 78

KẾT LUẬN .................................................................................................. trang 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Theo đà phát triển của xã hội, ngày nay văn hóa giải trí đóng một vai trị vơ
cùng quan trọng. Sự giao lưu văn hóa và thị hiếu giải trí ngày càng phong phú của
con người tạo động lực cho sự phát triển các loại hình văn hóa giải trí. Trong đó, sự

phát triển rõ nét nhất là lĩnh vực điện ảnh. Nền công nghiệp điện ảnh phát triển,
khơng chỉ có ý nghĩa về giá trị văn hóa mà cịn mang lại những giá trị kinh tế rất
lớn. Từ đây, vấn đề bảo vệ tài sản trí tuệ liên quan đến tác phẩm điện ảnh trở thành
vấn đề được quan tâm của các hãng sản xuất phim, các rạp chiếu và kể cả các đơn
vị kinh doanh phim... Thế nhưng, một thực trạng cần phải thừa nhận rằng điện ảnh
càng phát triển thì càng có nhiều hành vi xâm phạm, phát tán phim ảnh bừa bãi. Chỉ
cần một cú “nhấp chuột” trong thời đại công nghệ số như ngày nay là đã có thể làm
tiêu tan quyền tác giả của những bộ phim bạc tỉ. Một hành động phát tán bừa bãi
cũng có thể gây sạt nghiệp cho một hãng phim truyền hình. Trong khi ở một lĩnh
vực khác của nền văn hóa giải trí – âm nhạc được dành khá nhiều sự quan tâm cũng
như sự ráo riết triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ quyền tác giả, đẩy mạnh thực
thi chống xâm phạm thì điện ảnh dường như vẫn đang loay hoay tìm lối thốt cho
thực trạng này. Chưa nói xa đến việc chống hành vi xâm phạm quyền tác giả tác
phẩm điện ảnh, thậm chí các nhà sản xuất phim cịn chưa nắm rõ tác phẩm của mình
được bảo hộ như thế nào và có các quyền gì. Điều này thật sự khó khăn vì tác phẩm
điện ảnh là loại hình khá đặc thù, tổng hòa của nhiều yếu tố nghệ thuật.
Trong bối cảnh bức tranh bảo vệ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh còn khá mờ
ảo, việc nghiên cứu để hiểu rõ về điều kiện, cách thức bảo hộ quyền tác giả, các
quyền đối với tác phẩm điện ảnh và làm sáng tỏ các hành vi xâm phạm là một việc
làm hết sức cần thiết. Một mặt, làm sáng tỏ các quy định pháp luật về bảo hộ quyền
tác giả tác phẩm điện ảnh, mặt khác, là cơ sở để thực hiện các hoạt động bảo vệ và
chống lại các hành vi xâm phạm quyền tác giả tác phẩm điện ảnh.
Xuất phát từ lý do này, tác giả đã chọn đề tài “Bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm điện ảnh” để nghiên cứu.


2

Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh

nói riêng là những vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Thế nhưng, cho
đến thời điểm hiện tại, số lượng các nghiên cứu, các bài viết về quyền tác giả nhìn
chung cịn khá khiêm tốn. Ở góc độ nghiên cứu chung về quyền tác giả, tiêu biểu có
thể kể ra một số cơng trình, bài viết nghiên cứu như:
-

Sách “Hài hịa lợi ích bản quyền – Pháp luật và thực thi” – TS. Vũ Mạnh
Chu – Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả. Cuốn sách này chủ yếu phân
tích về ngun tắc hài hịa lợi ích trong vấn đề bảo vệ quyền tác giả
thơng qua ba khía cạnh: pháp lý, thực thi và du khảo văn hóa;

-

“Bảo hộ bản quyền tác giả tại Việt Nam” – TS. Vũ Mạnh Chu – Cục
trưởng Cục Bản quyền tác giả. Bài viết ra đời trong bối cảnh Việt Nam
chuẩn bị tham gia Công ước Bern, giới thiệu khái quát về hệ thống pháp
luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam và thực trạng vi phạm quyền tác giả ở
hầu hết các lĩnh vực báo chí, xuất bản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn...;

-

“Những bất cập trong quy định pháp luật Sở hữu trí tuệ hiện hành về
quyền tác giả, quyền liên quan” – TS. Trần Văn Hải – Khoa Khoa học
quản lý – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia Hà Nội. Bài viết nêu ra một số bất cập trong quy định về quyền tác
giả như khái niệm tác giả và đồng tác giả, quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học nghệ thuật dân gian và đưa ra một số ý kiến đề xuất;

-


“Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh” – TS. Trần Văn Hải –
Chủ nhiệm bộ mơn Sở hữu trí tuệ, trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung đề cập đến việc bảo hộ
quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh đặt trong điều kiện “không làm
phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc” và những vấn đề trong
quy định pháp luật như: sự thiếu sót trong việc đưa ra các định nghĩa về
các loại tác phẩm phái sinh, sự khác biệt giữa pháp luật của các nước về
tác phẩm phái sinh;


3

-

“Khai thác thương mại đối với tri thức truyền thống – tiếp cận từ quyền
sở hữu trí tuệ” – TS. Trần Văn Hải – Chủ nhiệm bộ môn Sở hữu trí tuệ,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà
Nội. Nội dung đề cập đến vấn đề bảo hộ các tri thức truyền thống, trong
đó có vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian, qua đó đặt ra những vấn đề mà pháp luật Sở hữu trí tuệ
chưa giải quyết được như: thu hẹp khái niệm tri thức truyền thống trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật dân gian, chỉ giải quyết mối quan hệ giữa
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà chưa có quy định điều chỉnh đối với
cá nhân cộng đồng nắm giữ tri thức truyền thống;

Những cơng trình, bài viết nêu trên đều chỉ nghiên cứu, phân tích các quy định
pháp luật về sở hữu trí tuệ ở mức độ chung cho tất cả các loại đối tượng bảo hộ, các
loại quyền, chưa có những đánh giá, phân tích về những đặc thù, khác biệt trong
bảo hộ quyền tác giả đối với các loại tác phẩm khác nhau, cũng như chưa đi sâu vào
nghiên cứu một loại tác phẩm cụ thể nào. Đặc biệt, những cơng trình, bài viết này

hồn tồn khơng đề cập, nghiên cứu đến quyền tác giả của tác phẩm điện ảnh.
Ở góc độ nghiên cứu về vấn đề xâm phạm và giải quyết xâm phạm, có một số
cơng trình, đề tài nghiên cứu như:
-

“Thực trạng giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại Việt Nam giai
đoạn 2006-2012 và một số đề xuất tiếp tục hoàn thiện pháp luật và thực
thi về sở hữu trí tuệ” - Nhóm tác giả: TS. Nguyễn Hợp Tồn, PGS. TS.
Nguyễn Thị Thanh Thủy, PGS. TS. Trần Văn Nam - Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân. Đề tài bàn luận về việc khai thác, sử dụng quyền tác
giả, quyền liên quan thông qua hoạt động chuyển giao quyền, ủy thác
quyền cho tổ chức đại diện, tổ chức quản lý tập thể; tập trung phân tích
một số vụ tranh chấp để làm rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp.

-

“Cơ chế giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ trong mơi trường
Internet” – Tác giả Hồng Long Huy – Bùi Tiến Quyết – Viện Khoa học
Sở hữu trí tuệ (VIPRI). Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp


4

dụng sở hữu trí tuệ trong mơi trường Internet; những vấn đề tồn tại và
khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ trong
mơi trường Internet, cơ chế giải quyết tranh chấp khi có xâm phạm
quyền. Tuy nhiên, bài viết này cũng chỉ tập trung vào phần xâm phạm sở
hữu trí tuệ ở mức chung, chưa nghiên cứu rõ về từng đối tượng cụ thể.
-


Bài viết “Chia sẻ dữ liệu trong môi trường Internet và vấn đề liên quan
đến quyền tác giả” – ThS. Nguyễn Thị Tuyết – Khoa Luật Dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội. Bài viết này chỉ dừng lại ở mức độ phân
tích một hành vi nhỏ trong số các hành vi xâm phạm quyền tác giả, mà
trong đó, đối tượng bị xâm phạm có thể là tác phẩm điện ảnh, âm
nhạc...và phân tích một số quy định pháp luật trong giới hạn của hành vi
này. Qua đó, vấn đề về quyền tác giả tác phẩm điện ảnh chưa thật sự nổi
bật, mới chỉ được nêu ra như một phần nhỏ trong hành vi chia sẻ dữ liệu.
Bài viết cho thấy một mảnh nhỏ trong các vấn đề về quyền tác giả tác
phẩm điện ảnh.

Những cơng trình, đề tài nghiên cứu về xâm phạm và giải quyết xâm phạm sở
hữu trí tuệ phần nào cũng có sự nghiên cứu liên quan đến tác phẩm điện ảnh tuy
nhiên sự nghiên cứu không thật sự chuyên biệt. Nghĩa là bảo hộ quyền tác giả tác
phẩm điện ảnh không được đặt ra như đối tượng nghiên cứu chính và duy nhất, mà
chỉ xem nó là một bộ phận cấu thành nhỏ và nghiên cứu lồng ghép với những đối
tượng khác. Một điểm dễ nhận thấy là đa phần các nghiên cứu này đều có hơi
hướng tập trung vào hình thức xâm phạm thơng qua Internet. Mặc dù đây là hình
thức xâm phạm chủ yếu, nhưng bên cạnh đó vẫn cịn hình thức xâm phạm truyền
thống (sao chép đĩa lậu) và đặc biệt là xu hướng xâm phạm thông qua các ứng dụng
của các thiết bị điện tử thơng minh (application) đang là hình thức xâm phạm
nghiêm trọng, phổ biến rộng rãi cùng với sự phát triển của cơng nghệ thì chưa được
nghiên cứu.
Nói riêng về các cơng trình, đề tài nghiên cứu về quyền tác giả tác phẩm điện
ảnh mà ở đó, tác phẩm điện ảnh được đặt ra là vấn đề nghiên cứu chính thì đến nay


5

vẫn chưa có cơng trình nghiên cứu khoa học nào chun biệt, nghiên cứu và phân
tích tồn diện các vấn đề về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh. Chủ yếu là các

bài viết ở mức độ nghiên cứu riêng lẻ từng vấn đề, nằm trong khuôn khổ tài liệu các
buổi hội thảo, tọa đàm về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Có thể kể đến
như Hội thảo với chủ đề “Quyền tác giả trong lĩnh vực điện ảnh nhằm nâng cao
nhận thức về bảo hộ quyền tác giả trong quá trình sáng tạo, khai thác và sử dụng tác
phẩm điện ảnh” do Cục Bản quyền tác giả phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế
giới (WIPO) tổ chức vào cuối tháng 11/2013 với các chuyên đề như: Tầm quan
trọng của quyền tác giả đối với ngành công nghiệp điện ảnh; Bản quyền tác giả
trong quy trình làm phim: từ triển khai tới sản xuất đến phân phối, trình chiếu; Tài
chính và mơi trường phân phối; Quản lý tập thể quyền tác giả và quyền liên quan
trong lĩnh vực nghe nhìn.
Như vậy, ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh vẫn còn rất mờ nhạt và hạn chế. Có nhiều vấn đề tồn tại trong bảo hộ
quyền tác giả tác phẩm điện ảnh vẫn chưa được nghiên cứu, chẳng hạn như: tính
đặc thù của tác phẩm điện ảnh, sự tương đồng với việc bảo hộ quyền liên quan đối
với bản ghi hình; tính đặc thù trong một số quyền của quyền tác giả tác phẩm điện
ảnh; vai trò của các Hiệp hội và tổ chức quản lý tập thể trong lĩnh vực điện ảnh.
Trong đề tài này, những vấn đề vừa nêu sẽ được đưa ra nghiên cứu, phân tích, dù
chưa thật sự hồn thiện nhưng cũng phần nào bổ sung thêm những nghiên cứu nhằm
làm sáng tỏ những quy định về bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh. Và những
cơng trình, đề tài nghiên cứu của các tác giả đã thực hiện trước đây sẽ là nguồn tài
liệu tham khảo quý giá, làm cơ sở để nghiên cứu các vấn đề về quyền tác giả tác
phẩm điện ảnh.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ điều kiện, cách thức bảo hộ quyền tác giả
tác phẩm điện ảnh; các quyền của chủ sở hữu và những nét đặc thù trong một số
quyền đối với tác phẩm điện ảnh; tìm ra giải pháp hoàn thiện quy định về bảo hộ
quyền tác giả tác phẩm điện ảnh và hạn chế tình trạng xâm phạm quyền tác giả tác


6


phẩm điện ảnh hiện nay tại Việt Nam. Với mục đích này, đề tài đặt ra các nhiệm vụ
sau:
-

Lý giải tại sao tác phẩm điện ảnh có tính chất tương đồng như một bản ghi
hình nhưng lại được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả, từ đó thấy rõ những lợi
thế khi được bảo hộ quyền tác giả;

-

Làm rõ các điều kiện bảo hộ quyền tác giả tương ứng với đặc thù của tác
phẩm điện ảnh;

-

Phân tích các quy định, thực tiễn áp dụng các quyền nhân thân của tập thể tác
giả và quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả;

-

Phân tích vai trị của các Hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức quản lý tập thể quyền
tác giả trong việc bảo vệ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh, qua đó đưa ra đề
xuất về việc thành lập một tổ chức quản lý tập thể như một giải pháp hạn chế
hành vi xâm phạm trong lĩnh vực điện ảnh.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vào đối tượng chính là các quy định về quyền tác

giả đối với tác phẩm điện ảnh trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung
năm 2009 và các văn bản hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ. Đồng thời, có sự tham

khảo, đối chiếu các quy định về tác phẩm điện ảnh trong Công ước Bern về bảo hộ
các tác phẩm văn học và nghệ thuật và quy định của một số nước trên thế giới như
Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ... Bên cạnh đó, đề tài cịn hướng đến những đối
tượng mang tính thực tiễn là các hành vi xâm phạm quyền tác giả tác phẩm điện ảnh
nhằm nêu lên thực trạng xâm phạm, phân tích hành vi tương ứng với các quy định
pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu
Một tác phẩm điện ảnh, hiểu theo nghĩa rộng có thể có nhiều hình thức bảo hộ
quyền tác giả, quyền liên quan cho những thành tố tạo nên tác phẩm đó, chẳng hạn
như: kịch bản, nhạc phim, hình ảnh trong phim, diễn viên... Trong phạm vi đề tài
này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vào sự bảo hộ quyền tác giả trực tiếp đối với


7

đối tượng là tác phẩm điện ảnh như được giải thích tại Điều 14 Nghị định
100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật
Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan. Với phạm vi này,
tác giả chú trọng phân tích các quy định về quyền tác giả tác phẩm điện ảnh, những
đặc thù trong bảo hộ tác phẩm điện ảnh và các hành vi xâm phạm quyền tác giả tác
phẩm điện ảnh.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã vận dụng những phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp này để
nghiên cứu các đối tượng thơng qua hai q trình trái ngược nhau là phân
tích và tổng hợp, trước hết phân tích từng vấn đề nhỏ để tìm ra điểm đặc
thù rồi sau đó tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, tìm ra bản
chất của đối tượng nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng để phân
tích các đặc trưng của tác phẩm điện ảnh, từ đó phân tích, bóc tách từng
yếu tố của các điều kiện bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh.

Phương pháp so sánh và đối chiếu: Thông qua phương pháp này, tác giả
dễ dàng làm rõ hơn những điểm giống và khác nhau giữa những vấn đề,
đối tượng được so sánh. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để so
sánh, đối chiếu giữa một số quyền bảo hộ tác phẩm điện ảnh với các đối
tượng bảo hộ khác để tìm ra điểm đặc thù trong quy định về bảo hộ quyền
tác giả tác phẩm điện ảnh. Đồng thời, đối chiếu giữa quy định pháp luật
Việt Nam với quy định pháp luật của các nước trên thế giới và điều ước
quốc tế quy định về quyền tác giả tác phẩm điện ảnh.
Phương pháp thống kê: Phương pháp này làm cho đề tài thuyết phục hơn
bằng những tài liệu tổng hợp thống kê thực tế, cụ thể giúp người đọc dễ
dàng hình dung và tin tưởng một cách có cơ sở về nội dung đề tài. Phương
pháp này được sử dụng nhằm đưa ra các số liệu, hỗ trợ cho việc làm rõ
thực trạng xâm phạm quyền tác giả tác phẩm điện ảnh.


8

Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Thông qua việc nghiên cứu, đề tài mang đến nhiều ý nghĩa lý luận cho khoa
học pháp lý. Đề tài mở ra sự nhìn nhận một cách sâu sắc và tồn diện các quy định
về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh ở nước ta hiện nay. Những luận
giải mang tính khoa học sẽ làm rõ những điểm đặc trưng, điều kiện và phạm vi bảo
hộ quyền tác giả, có phân tích so sánh với hệ thống điều ước quốc tế về quyền tác
giả. Những quan điểm cũng được nêu ra, phân tích và lý giải cụ thể sẽ là những
đóng góp – dù chỉ là một phần nhỏ bé – vào công cuộc nghiên cứu pháp lý. Đồng
thời, đề tài cịn có một giá trị ứng dụng thiết thực. Những đánh giá, phân tích vấn đề
giúp làm rõ các điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, các
quyền của chủ sở hữu từ đó có biện pháp bảo vệ quyền tác giả sao cho hiệu quả
nhất. Bên cạnh đó, tác giả cịn nêu ra những kiến nghị, đề xuất đóng góp nhằm hoàn
thiện quy định pháp luật về quyền tác giả tác phẩm điện ảnh, cơ chế thực thi nhằm

hạn chế tình trạng xâm phạm trong lĩnh vực điện ảnh.
Bố cục đề tài
Bài luận văn được chia làm ba chương theo tuần tự nêu đầy đủ cơ sở lý luận
về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, đặt vấn đề và phân tích các quy
định về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, từ đó chỉ ra những điểm bất cập và
đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
Theo đó, chương I nêu lên những cơ sở lý luận của việc bảo hộ quyền tác giả đối
với tác phẩm điện ảnh, bao gồm quy định về quyền tác giả, tác phẩm điện ảnh và
vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Chương II là phần cốt lõi
phân tích các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh, chỉ ra những quy định còn thiếu sót hiện nay và đưa ra quan điểm nhận định
của tác giả. Ở chương III là đánh giá thực trạng vi phạm quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh, xác định nguyên nhân của thực trạng vi phạm, và kết thúc chương
với một số kiến nghị của tác giả nhằm hoàn thiện hơn cơ chế bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh.


9

CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM
ĐIỆN ẢNH

1.1. Quyền tác giả và vấn đề bảo hộ quyền tác giả
1.1.1. Khái niệm về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả
Sở hữu là một phạm trù có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong sự phát triển loài
người cũng như sự phát triển của xã hội. Bằng việc khẳng định một thứ gì đó là của
người này hay người khác, tức là khẳng định sự độc quyền chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt đối với thứ họ sở hữu mà không ai có thể xâm phạm. Và cũng bằng việc
khẳng định quyền sở hữu, con người có thêm động lực để làm ra nhiều tài sản, của

cải vật chất hơn nữa.
Nếu như trước đây, tài sản mà con người quan tâm để xác lập quyền sở hữu
chỉ là những thứ tồn tại hữu hình, cầm nắm được, bảo quản và cất giữ được. Thì trải
qua thời gian, với ngày càng nhiều sự sáng tạo được hình thành và phát triển, con
người quan tâm nhiều hơn đến các những tài sản vơ hình, đó chính là trí tuệ và sự
sáng tạo. Quyền sở hữu đối với những tài sản vơ hình này được gọi là quyền sở hữu
trí tuệ, gồm hai nhánh chính: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả và
quyền sở hữu cơng nghiệp.
Nói đến quyền tác giả, sẽ có khơng ít lầm tưởng rằng quyền tác giả chỉ đề cập
riêng đến quyền của tác giả như chính tên gọi của nó. Tuy nhiên, nội hàm của quyền
tác giả cịn rộng hơn như vậy. Đó là một quyền hợp pháp được tạo ra bởi pháp luật
công nhận cho các cá nhân, tập thể, tổ chức có độc quyền để khai thác, sử dụng các
loại hình tác phẩm (trừ một số trường hợp ngoại lệ) mà cá nhân, tổ chức đó sáng tạo
ra hoặc sở hữu và được nhận một khoản bù đắp cho những nỗ lực trí tuệ của họ.
Mục đích của quyền tác giả là để thúc đẩy việc tạo ra các tác phẩm sáng tạo mới
bằng cách cho tác giả, chủ sở hữu quyền kiểm soát và lợi nhuận từ việc khai thác,
sử dụng các tác phẩm. Đây là định nghĩa về quyền tác giả được hầu hết các nước
trên thế giới thừa nhận và sử dụng.


10

Ở Việt Nam, quyền tác giả cũng được giải thích theo cách hiểu như trên. Tuy
nhiên, mặc dù quy định về quyền tác giả đã tồn tại từ Hiến pháp 1980 và Nghị định
số 142/HĐBT ban hành ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, nhưng thời điểm
này, chưa có một điều khoản quy định trực tiếp quyền tác giả là gì, mà chỉ có các
quy định đi vào chi tiết như tác phẩm là gì, ai là tác giả, ai là chủ sở hữu, các quyền
của tác giả, quyền của chủ sở hữu...[1] Mãi đến năm 2005, khi Luật Sở hữu trí tuệ
được ban hành, thì quyền tác giả mới có một định nghĩa cụ thể trong luật. Tại
Khoản 2, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định “quyền tác giả là quyền

của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Quy định
này có phần ngắn gọn, chưa làm rõ được bản chất của quyền tác giả mà chỉ mới
bước đầu xác định chủ thể có quyền và đối tượng của quyền tác giả mà thơi.
Đó là quyền tác giả, vậy thì bảo hộ quyền tác giả nghĩa là như thế nào? Bảo hộ
quyền tác giả chính là việc bảo vệ quyền tác giả của chủ thể nắm giữ quyền, thơng
qua đó, cũng tức là bảo vệ các tác phẩm đã được sáng tạo ra, chống lại các hành vi
sử dụng trái phép tác phẩm, như: ăn trộm, sao chép, lạm dụng ... bằng các công cụ
pháp lý. Hay nói cách khác, bảo hộ quyền tác giả là việc đặt ra các quy định pháp
luật nhằm bảo vệ quyền tác giả, tạo ra hành lang chống lại các hành vi xâm phạm
quyền tác giả và đặt ra chế tài cho các hành vi xâm phạm.
Từ các quy định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự năm 1995, cho đến Bộ
luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, và gần đây nhất là Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 chính là các quy định mà
pháp luật Việt Nam đặt ra để bảo hộ quyền tác giả.
1.1.2.

Lịch sử hình thành, phát triển quyền tác giả
Vào Thời kỳ Cổ đại và Trung Cổ, người ta chưa biết đến quyền cho một tác

phẩm trí tuệ. Các quy định luật pháp thời bấy giờ chỉ được áp dụng cho những vật
mang tác phẩm trí tuệ. Chẳng hạn như pháp luật không cho phép trộm cắp một
1

Điều 72 Hiến pháp năm 1980

Điều 2 Nghị định số 142/HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng


11


quyển sách nhưng lại cho phép chép lại nội dung từ quyển sách đó. Lúc này, để bảo
vệ tác phẩm của mình, tác giả chỉ có cách là gắn một lời nguyền vào đó[2].
Đến khoảng năm 1440, khi kỹ thuật in được phát minh, đã mở ra một thời đại
khác biệt hoàn toàn. Nếu như trước đây, việc ăn cắp, sao chép tác phẩm chỉ được
thực hiện bằng tay nên tình trạng sao chép rất ít do sự hạn chế về sức lực cũng như
cơng cụ thực hiện. Thì giờ đây, các bản sao chép của một tác phẩm có thể được sản
xuất với số lượng lớn một cách dễ dàng hơn. Nhưng tác giả vẫn chưa xem đây là
một vấn đề nghiêm trọng, thậm chí họ cịn vui mừng vì tác phẩm của mình được
phổ biến rộng rãi và nhà in hay nhà xuất bản còn trả một số tiền cho bản viết tay.
Thế rồi đi đến trường hợp là bản in đầu tiên bị các nhà in khác in lại. Việc này
làm cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên trở nên khó khăn. Tác giả cũng có thể
khơng bằng lịng với các bản in lại vì những bản in lại này thường được sản xuất ít
kỹ lưỡng hơn: có lỗi hay thậm chí cịn bị cố ý sửa đổi. Vì thế, để chống lại việc in
lại, các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt từ phía chính quyền, cấm in lại một tác
phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định. Đây là hình thức khởi thủy của sự bảo
hộ quyền tác giả.
Khi Thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và
đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác
phẩm của họ. Nhưng việc bảo vệ này chỉ dành cho người sáng tạo như là một cá
nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho tác giả một thu nhập nào. [3]
Mãi đến thế kỷ 18, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như
sở hữu cho các lao động trí óc và hiện tượng sở hữu phi vật chất. Nước Anh là quốc
gia đi tiên phong trong việc đưa ra quy định pháp luật về quyền tác giả với Đạo luật
“Statue of Anne” có hiệu lực từ tháng 10/1710. Đây là Luật Bản quyền đầu tiên trên
thế giới.

2

Ví dụ tác giả Eike von Repgow - tác giả của cuốn sách Sachsenspiegel ghi chép lại các luật lệ
đương thời, đã nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị bệnh hủi.

3

Theo />

12

Sau Anh, các quốc gia trên thế giới lần lượt ban hành các đạo luật về quyền
tác giả. Tại Pháp, một Propriété littéraire et artistique (Sở hữu văn học và nghệ
thuật) được đưa ra trong hai bộ luật vào năm 1791 và 1793. Tại Phổ, một bảo vệ
tương tự cũng được đưa ra vào năm 1837. Cũng vào năm 1837, Hội đồng liên bang
của Liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là 10 năm,
thời hạn này được kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời. Trong Liên minh
Bắc Đức, việc bảo vệ quyền tác giả được đưa ra vào năm 1857 và được Đế chế
Đức thu nhập và tiếp tục mở rộng sau đó. [4]
Cùng với việc các tác phẩm được lưu hành ở nước ngoài càng nhiều, các hiệp
ước quốc tế cũng được ký kết để bảo hộ quyền tác giả: Công ước Berne, Hiệp định
TRIPs…
Tuy nhiên, các quy định này không hẳn là được ủng hộ tuyệt đối. Khơng ít các
phong trào phản đối đã diễn ra để chống lại các ngăn cấm về việc sử dụng tác
phẩm[5]. Vì những người sử dụng có nhu cầu tiếp cận với các tác phẩm và vốn đã
quen với việc sử dụng tự do, trong khi đó tác giả thì cũng mong muốn phổ biến tác
phẩm của mình đến cơng chúng càng nhiều càng tốt. Những mâu thuẫn này là chưa
bao giờ kết thúc. Do đó, mỗi quốc gia, với quy định của mình về quyền tác giả ln
phải cố gắng điều chỉnh sao cho hài hịa lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu và người sử
dụng, làm sao để vừa bảo vệ được quyền của tác giả, chủ sở hữu, nhưng đồng thời
cũng đảm bảo sự tiếp cận của công chúng đối với các tác phẩm sáng tạo.
1.1.3.

Sơ lược về quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt


Nam
Ở Việt Nam, bắt đầu từ Hiến pháp 1980, quyền tác giả mới được công nhận là
một trong những quyền cơ bản của công dân. Vào năm 1986, Nghị định số
142/HĐBT ban hành ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng có quy định tám
4

Theo />
Vũ Mạnh Chu, “Bài 1: Giới thiệu chung”, Kiến thức cơ bản, phổ thông về quyền tác giả, quyền liên
quan (được đăng trên website www.cov.gov.vn).
5

Theo />

13

điều liên quan đến bảo hộ quyền tác giả như quy định về tác giả, về các loại tác
phẩm được bảo hộ, các quyền lợi tinh thần và vật chất của tác giả, thời hạn bảo hộ
quyền tác giả… Đến Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật Dân sự năm 1995 vấn đề bảo
hộ quyền tác giả được chính thức ghi nhận. Sau đó quyền tác giả được hồn thiện
dần với các nội dung ngày càng đầy đủ, cụ thể hơn trong các văn bản như Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí
tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định 85/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và
quyền liên quan; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành
chính về quyền tác giả, quyền liên quan.
Theo các văn bản này, quyền tác giả được quy định bao gồm các vấn đề cơ
bản sau:
(i)


Phạm vi bảo hộ quyền tác giả
Các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật

Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, bao gồm:
+

Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm
khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

+

Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

+

Tác phẩm báo chí;

+

Tác phẩm âm nhạc;

+

Tác phẩm sân khấu;

+

Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương
tự;


+

Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

+

Tác phẩm nhiếp ảnh;

+

Tác phẩm kiến trúc;


14

+

Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc,
cơng trình khoa học;

+

Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

+

Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Đối với các tác phẩm này, quyền tác giả thường bảo hộ không chỉ dưới

dạng tác phẩm in mà cả các tác phẩm dưới dạng điện tử hoặc kỹ thuật số. Các
tác phẩm được bảo hộ cho dù chúng được ghi vào đĩa máy tính, ổ cứng, đĩa
CD-ROM, VCD, DVD hay được truyền qua đài phát thanh, truyền hình hoặc
tải lên Internet.[6]
Điểm đặc biệt là, khơng những khơng phân biệt loại hình tác phẩm, mà
quyền tác giả cịn khơng phân biệt hình thức thể hiện, phương tiện thể hiện,
ngơn ngữ.... của tác phẩm[7]. Qua đó, có thể khẳng định quyền tác giả bảo hộ
phạm vi rất rộng và cơng bằng cho các loại hình tác phẩm. Nhưng sự bảo hộ
rộng rãi và công bằng không đồng nghĩa với việc bảo hộ khơng có điều kiện.
Có một u cầu quan trọng đối với tác phẩm nếu muốn được bảo hộ quyền tác
giả, đó là tác phẩm phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của
mình mà khơng phải sao chép từ tác phẩm của người khác.
Bên cạnh đó, để làm rõ phạm vi bảo hộ, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005,
sửa đổi, bổ sung năm 2009 cịn quy định các đối tượng khơng thuộc phạm vi
bảo hộ quyền tác giả. Đó là:
+

Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin, là những thông tin báo chí ngắn
hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin khơng có tính sáng tạo;

+

Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác
thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó;

6

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (2013), Tìm hiểu về quyền tác giả và quyền liên quan, Cục
Bản quyền tác giả, Hà Nội
7


Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009.


15

+

Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý,
số liệu. [8]

(ii) Căn cứ phát sinh quyền tác giả
Quyền tác giả là một quyền tự động, phát sinh mà không cần thông qua
bất cứ thủ tục đăng ký hay chứng nhận nào.
Thời điểm phát sinh quyền tác giả là từ khi tác phẩm được sáng tạo và
được thể hiện bằng chữ viết, đường nét, hình khối, bố cục, màu sắc, âm thanh
hoặc các dạng ký tự khác dưới một hình thức vật chất nhất định, mà qua đó có
thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt được. [9]
Nếu những sự sáng tạo của tác giả chỉ mới dừng lại ở mức độ ý tưởng mà
chưa được thể hiện thành một tác phẩm thì sự sáng tạo đó khơng được bảo hộ.
Hay nói cách khác, ý tưởng khơng được bảo hộ quyền tác giả. Từ cùng một ý
tưởng, những tác giả khác nhau có thể tạo ra những tác phẩm khác nhau, thể
hiện những phong cách, cá tính riêng thì mỗi tác phẩm đó đều được bảo hộ
quyền tác giả kể từ khi tác phẩm được định hình.
(iii) Quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một nhóm quyền thuộc quyền tác giả, bên cạnh
quyền tài sản. Quyền nhân thân gồm các quyền: đặt tên cho tác phẩm; đứng
tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác
phẩm được công bố sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác
công bố tác phẩm; bảo vệ sự tồn vẹn của tác phẩm, khơng cho người khác

sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây
phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

8

Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Khoản 5 Điều 4 Nghị định 100/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.
9


16

Đặc điểm của quyền nhân thân là gắn liền với mỗi cá nhân tác giả, không
thể chuyển giao cho người khác, trừ quyền cơng bố tác phẩm có thể chuyển
giao được.
(iv) Quyền tài sản
Bên cạnh quyền nhân thân, quyền tác giả cịn có nhóm quyền tài sản.
Đây là nhóm quyền cho phép chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng lợi ích vật
chất khi tác phẩm được sử dụng dưới các hình thức như: bản sao, biểu diễn,
trưng bày, phát thanh, truyền hình... Quyền tài sản bao gồm các quyền: làm tác
phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm;
phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến
công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử
hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác
phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
(v)

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Thời hạn bảo hộ là khác nhau giữa hai nhóm quyền nhân thân và quyền

tài sản. Quyền nhân thân được bảo hộ vơ thời hạn. Cịn quyền tài sản nhìn
chung được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác
giả chết. Ngoại trừ một số tác phẩm đặc thù như tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh,
mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm
năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh,
nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm
năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm,
kể từ khi tác phẩm được định hình.[10]
Quyền tác giả là một trong số những quyền đối với tài sản vơ hình được hầu
hết các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đặt ra để bảo vệ quyền
lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm mà họ sáng tạo hoặc
sở hữu. Ý nghĩa của quyền tác giả là thúc đẩy sự sáng tạo ngày càng nhiều hơn nữa
10

Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009.


17

thông qua việc thừa nhận các quyền nhân thân của tác giả và cho phép chủ sở hữu
quyền tác giả được kiểm soát và thu được lợi nhuận từ việc khai thác, sử dụng tác
phẩm.
1.2. Tác phẩm điện ảnh
1.2.1. Khái niệm tác phẩm điện ảnh
Điện ảnh là một ngành công nghiệp, một lĩnh vực văn hóa giải trí đã có hơn
trăm năm tuổi. Mặc dù so với các loại hình nghệ thuật khác thì đây là loại hình nghệ
thuật trẻ tuổi nhất, ra đời vào tận cuối thế kỷ XIX. Nhưng đến nay, điện ảnh đã có
những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống

nhân loại.
Sản phẩm của nền điện ảnh là những sản phẩm được cấu thành bởi những hình
ảnh chuyển động, có thể kết hợp thêm với âm thanh và ánh sáng, tạo nên một tổ hợp
các yếu tố có thể nghe và nhìn. Các yếu tố này được ghi lại và xử lý bởi những thiết
bị kỹ thuật, công nghệ, mà khởi đầu là phát minh của Louis Le Prince, Eadweard
James Muybridge, Étienne-Jules Marey hay Thomas Edison, sau này được cải tiến
thành những thiết bị hiện đại hơn. Một sản phẩm như thế được gọi là một tác phẩm
điện ảnh.[11]
Cách giải thích này cũng được đưa vào các quy định pháp luật tạo nên những
khái niệm mang tính pháp lý rõ rệt. Theo quy định pháp luật Việt Nam, tác phẩm
điện ảnh được quy định đồng thời trong Luật Điện ảnh năm 2006, sửa đổi bổ sung
năm 2009 (sau đây gọi là “Luật Điện ảnh”) và Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày
21/9/2006 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự,
Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan (sau đây gọi là “Nghị định
100/2006/NĐ-CP”). Theo đó, Luật Điện ảnh quy định: “Tác phẩm điện ảnh là sản
phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các
phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh’’. Nghị định
100/2006/NĐ-CP quy định: “Tác phẩm điện ảnh là những tác phẩm được hợp
11

Theo />

18

thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên hiệu ứng chuyển động kèm theo
hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên một chất liệu nhất định và có thể
phân phối, truyền đạt tới cơng chúng bằng các thiết bị kỹ thuật, công nghệ.”
Từ hai định nghĩa này, có thể thấy quy định pháp luật Việt Nam khi định
nghĩa về tác phẩm điện ảnh là khá tương đồng với nhau. Và đồng thời, những quy
định này cũng tương đồng với pháp luật trên thế giới. Có thể dẫn ra một số định

nghĩa về tác phẩm điện ảnh của một số nước để thấy rõ sự tương đồng như sau:


Theo Luật Bản quyền số 633 của Ý ngày 22/4/1941, sửa đổi lần cuối
ngày 2/2/2001, tác phẩm điện ảnh được giải thích là một tác phẩm nghệ
thuật, gồm các hình ảnh chuyển động, có thể im lặng hoặc có âm thanh.



Luật Bản quyền năm 1985 của Canada định nghĩa tác phẩm điện ảnh bao
gồm bất kỳ tác phẩm nào được thể hiện bằng bất cứ phương pháp, quá
trình nào tương tự kỹ thuật quay phim, bất kể là có kèm theo hay không
kèm theo âm thanh.



Luật Bản quyền của Mỹ lại định nghĩa tác phẩm điện ảnh dưới tên gọi là
tác phẩm nghe nhìn, bao gồm một loạt các hình ảnh có liên quan, mơ tả
sự chuyển động liên tiếp, có thể đi kèm với âm thanh, được thể hiện trên
các đối tượng vật chất như phim, băng và được hiển thị bằng cách sử
dụng máy móc, thiết bị như máy chiếu, hoặc các thiết bị điện tử...

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng khái niệm điện ảnh trong pháp lý nói chung và
trong quy định pháp luật về quyền tác giả nói riêng khơng giống với khái niệm điện
ảnh trong văn hóa nghệ thuật. Điện ảnh trong pháp lý được xác định dựa vào cấu
thành tập hợp và phương pháp thực hiện, bao gồm tất cả các loại hình phim...Trong
khi đó, điện ảnh trong văn học nghệ thuật chỉ là một nhóm nhỏ, và được phân biệt
với phim truyền hình. Như vậy, có thể nói khái niệm điện ảnh trong văn hóa nghệ
thuật chỉ là một phần của khái niệm điện ảnh trong pháp lý. Và tất nhiên, trong
phạm vi đề tài nghiên cứu này, khái niệm điện ảnh, tác phẩm điện ảnh được sử dụng

và phân tích là khái niệm mang nghĩa rộng theo quy định pháp luật.


19

Với khái niệm này, hiện nay, có rất nhiều loại tác phẩm điện ảnh. Cũng theo
quy định tại Điều 14 Nghị định 100/2006/NĐ-CP, tác phẩm điện ảnh bao gồm phim
truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác.
Nhưng Nghị định này vẫn chưa làm rõ thế nào là phim truyện, phim tài liệu, phim
khoa học, phim hoạt hình. Đặc biệt, cụm từ “các loại hình tương tự khác” là khá mơ
hồ. Nó được hiểu là các tác phẩm cũng được thực hiện và trình chiếu bằng cách
thức tương tự như quay phim. Đây rõ ràng là một kiểu liệt kê rất mở.
Nếu chi tiết hơn nữa, có thể phân loại các tác phẩm điện ảnh dựa vào một
trong các tiêu chí như: nội dung tác phẩm, chất liệu định hình, cách thức trình chiếu.


Dựa vào tiêu chí nội dung tác phẩm:
Cách phân loại như quy định tại Điều 14 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
chính là cách phân loại theo tiêu chí nội dung tác phẩm, bao gồm: phim
truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình.
Phim truyện được hiểu là những phim có nội dung và cốt truyện rõ ràng,
dựa trên sự hư cấu, hoặc các tình tiết có thật hoặc kết hợp cả hai và có
diễn viên diễn xuất.
Phim tài liệu được hiểu là những phim có nội dung phản ánh khách quan
hiện thực cuộc sống, không hư cấu, không dàn dựng, khơng có sự xuất
hiện của diễn viên.
Phim khoa học là một dạng phim tài liệu nhưng có nội dung tập trung
vào các hiện tượng, cơng trình mang tính khoa học.
Phim hoạt hình là những bộ phim được thể hiện bằng hình vẽ bằng tay
hoặc máy vi tính đa phần có nội dung mang tính đơn giản và hài hước.




Dựa vào chất liệu định hình:
Phân loại theo cách này, tác phẩm điện ảnh có hai loại là phim nhựa và
phim vi-đi-o.
Phim nhựa, hay còn gọi là phim điện ảnh là phim được ghi trên những cuộn
phim bằng nhựa được làm từ các vật liệu cơ bản như polyme, gelatin,


×