TỔNG QUAN VÀ NGUỒN GỐC CỦA CHẤT TẨY RỬA
Cuộc sống càng đi lên, nhu cần ăn mặc càng tăng tiến và kèm theo đó là nhu cầu về các
chất tẩy giặt. Chẳng phải vô lý khi cách đây hơn một thế kỷ, nhà hóa học Liebig đã từng đề
nghị lấy lượng tiêu thụ chất giặt rửa tính trên đầu người làm thước đo sự phát triển của một
xã hội.
Trước công nguyên khoảng 3.000 năm, những người tiền sử sống ở thung lũng sông Nil
nướng những tảng thịt thú ăn được trên lửa để tế thần. Mỡ nhỏ giọt trên đống tro tàn, khi
nguội vón lại tạo thành những cục mềm màu xám xịt. Trời mưa xuống, các cục đó tan
trong nước, bọt ngầu lên. Xoa lên người, những vết bẩn bị rửa trôi. Từ đó, họ chủ động
làm ra những cục như vậy mang xuống sông tắm rửa. Thủy tổ của xà phòng xuất hiện như
vậy. Và có lẽ đây là phát minh sớm nhất của loài người.
Khoảng 600 năm trước công nguyên, những thủy thủ người Phênixieng đã mang những
hiểu biết về xà phòng đến bờ biển Địa Trung Hải. Thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, những
bánh xà phòng tốt nhất đã được sản xuất quy mô thủ công từ mỡ cừu và tro của gỗ sồi ở
Savona và sản phẩm lấy luôn tên này cho tiện.
Người Pháp gọi nó là savon, và tiếng Việt được du nhập thêm một từ mới: xà-phòng ở
miền Bắc và xà-bông ở miền Nam... Cách sản xuất được giữ kín như một bí quyết cha
truyền con nối. Chẳng thế ở châu Âu, có câu thành ngữ so sánh: “Bí mật được giữ kín như
bí mật của anh thợ nấu xà phòng”.
Đến thế kỷ 18, xà phòng được sản xuất trên quy mô lớn. Lúc này người ta đã phát minh ra
xút ăn da và biết chế tạo ra chất kiềm từ muối ăn để thay thế cho tro từ gỗ. Đồng thời cũng
biết ép dầu từ các loại hạt và quả. Nhiều nhà máy ép dầu ra đời, thay thế mỡ động vật.
Nguyên liệu phong phú và sẵn. Bí mật công nghệ cũng bị khám phá. Chẳng còn trở ngại
nào ngăn được ngành sản xuất xà phòng đi lên.
Tại sao cái sản phẩm gọi là xà phòng ấy lại có tính chất làm da dẻ, quần áo sạch trơn như
vậy. Mấy “thầy” hóa học bỏ công tìm hiểu và biết rằng, về bản chất, xà phòng là muối của
axit béo (từ mỡ động vật hoặc dầu thực vật) với kiềm (tức thành phần của kim loại là natri
hoặc kali). Cứ coi phân tử xà phòng như một con rắn đi, thì này con rắn này có đầu “Ưa
nước” (hydrophile), còn phần đuôi dài ngoẵng lại “Ưa dầu, ưa mỡ” (oleophile).
Chất bẩn thường là vết dầu mỡ hoặc có bản chất như dầu mỡ. Trong một trường nước (khi
giặt), chất bẩn “túm” chặt lấy phần đuôi. Nhưng đầu khoẻ hơn, lôi đuôi lúc này đã bị chất
bản bám chặt ra khỏi quần áo. Vậy là chất bẩn bị kéo vào môi trường nước, phân tán ra và
quần áo trở nên sạch. Sự vò mạnh càng hỗ trợ cho việc “lôi kéo”, chứ trong chuyện này
làm gì có sự “đánh bật các chất bẩn cứng đầu” như cách nói thậm xưng của những lời
quảng cáo nhằm gây ấn tượng.
Rồi người ta dần cũng nhận ra các nhược điểm của xà phòng: ít tạo bọt và khó giặt trong
nước giếng, chảy qua những lớp đá ngầm nên mang theo canxi và magiê (thường gọi là
nước cứng), rồi giặt nhiều bợt cả tay ra... Đành tìm những chất thay thế.
Nắm được bí mật của cơ chế giặt rửa, các nhà khoa học đã có trong tay chiếc đũa thần để
tạo ra hàng chục loại xà phòng tương tự, tức các chất hóa học cứ một đầu “ưa nước”, một
đầu “ưa dầu mỡ”. Khi công nghiệp hoá dầu phát triển biết bao nhiêu hợp chất hữu cơ ra
đời. Nguồn nguyên liệu dồi dào, tha hồ lựa chọn để chế biến thành các chất mang “hai
đầu” như trên. Chúng có khả năng vượt trội so với các chất truyền thống xưa nay chỉ biết
dựa vào thiên nhiên. Người ta gọi chúng là các chất hoạt tính bề mặt tổng hợp (synthetic
surfactant). Tuy chúng “đóng vai chính” nhưng riêng mình chúng chưa đủ, y như phải có
“quân, thần, tá, sứ” trong một thang thuốc bắc và gọi là chất phụ gia. Mỗi chất phụ gia
mang lại cho sản phẩm một tính năng nào đó.
Ví dụ chất khử “độ cứng” của nước, chất chống bám để chất bẩn đã bị kéo ra nước thì
đừng quay trở lại, chất tẩy trắng để làm mất màu những vết bẩn như vết nước chè, cà phê
và những vết bẩn bám trên quần áo của bọn trẻ, chẳng biết nguồn gốc; chất quang hoạt
(trước đây thường gọi là lơ hồng) để quần áo, vải vóc hấp thụ một phần tia tử ngoại và trở
nên “Trắng hơn cả trắng” mà các nhà sản xuất thường quảng cáo, rồi enzym để phân hủy
các chất hữu cơ mà những quảng cáo viên gán cho tính... cứng đầu. Nhiều khi, người ta
còn những chất độn để hạ giá thành, để các bà nội trợ khỏi kêu ca là quá đắt.
Và cuối cùng đâu thiếu được chất thơm để gây thêm cảm tình của người tiêu dùng. Với
bấy nhiêu chất nhưng các đơn pha chế, nghĩa là mỗi thành phần chiếm bao nhiêu phần
trăm, cũng được các nhà sản xuất giữ bí mật chẳng khác gì các anh nấu xà phòng xưa kia.
Đôi khi chỉ hương thơm của từng loại đủ tạo ra thói quen sử dụng cho con người.
I .CHẤT GIẶT RỬA - KHÁI NIỆM
1. Khái niệm về chất giặt rửa
a, Chất giặt rửa:
Chất giặt rửa là những chất khi dùng cùng với nước thì có tác dụng làm sạch các chất bẩn
bám trên các vật rắn mà không gây ra phản ứng hóa học với các chất đó.
Từ cổ xưa con người đã biết dùng các chất giặt rửa trực tiếp từ thiên nhiên: bồ kết, bồ
hòn.Người ta cũng đã biết nấu xà phòng từ dầu mỡ với các chất kiềm.
Ngày nay, người ta tổng hợp nhiều chất không phải là muối natri (hoặc kali) của các axit
béo, nhưng có tác dụng như xà phòng.Chúng là chất giặt rửa tổng hợp, và được chế thành
bột giặt, kem giặt,…
b, Một số chất giặt rửa thường gặp
2, Một số khái niệm liên quan
• Chất tẩy màu làm sạch các vết bẩn nhờ những phản ứng hóa học, như: Nước Gia-
ven,
• Chất ưa nước là những chất tan tốt trong nước, thường kị dầu mỡ ( không tan
trong dầu mỡ) như : metanol, etanol, axit axetic, muối axetat kim loại kiềm.
• Chất kị nước là những chất hầu như không tan trong nước, ưa dầu mỡ (tan tốt vào
dầu mỡ), như: hidrocacbon, dẫn xuất halogen,…
a, Cấu trúc của phân tử muối natri của axit béo
C
O
O
Na
(+)
(-)
Cấu trúc phân tử muối natri stearat :công thức cấu tạo thu gọn nhất
b, Đặc điểm cấu trúc phân tử muối natri của axit béo
Phân tử muối natri của axit béo gồm một “đầu” ưa nước là nhóm COO-Na+ nối với
một “đuôi” kị nước, ưa dầu mỡ là nhóm - CxHy (thường x ≥ 15). Cấu trúc hóa học
gồm một đầu ưa nước gắn với một đuôi dài ưa dầu mỡ là hình mẫu chung cho “phân tử
chất giặt rửa”
C, Cơ chế hoạt động của chất giặt rửa
- Sự định hướng các phân tử natri stearat khi tiếp xúc với nước và chất bẩn;
- Các hạt dầu rất nhỏ được giữ chặt bởi các phân tử natri stearat phân tấn vào nước
Cơ chế hoạt động của chất giặt rửa
Lấy trường hợp natri stearat làm thí dụ, nhóm CH3[CH2]16 -, “đuôi ” ưa dầu mỡ của
phân tử natri stearat thâm nhập vào vết dầu bẩn, còn nhóm COO-Na+ ưa nước lại có xu
hướng kéo ra phía các phân tử nước. Kết quả là vết dầu bị phân chia thành những hạt rất
nhỏ được giữ chặt bởi các phân tử natri stearat, không bám vào vật rắn nữa mà phân tán
vào nước rồi bị rửa trôi đi.
II. XÀ PHÒNG VÀ CHẤT GIẶT RỬA.
Xà phòng
Chất giặt rửa tổng hợp
Một số đặc điểm khác biệt
1. Xà phòng – Khái niệm
Khi đun nóng chất béo với dung dịch Natri Hidroxit (hoặc kali hidroxit)ta thu được
glixerin và mối natstri (hoặc kali) của các axit béo.
Hỗn hợp mỗi nattri(hoặc kali) của các axit béo được gọi là xà phòng.
Chúng ta sẽ xem xét kĩ hơn về các thành phần cấu tạo nên xà phòng: axit béo, dung dịch
kiềm và một số chất phụ gia.
Axit béo: Đó là các axit hữu cơ có nguồn gốc từ dầu thực vật và mỡ động vật ,có nguồn
gốc Hiđrôcacbon dài và thẳng)
Ví dụ: Axit Panmitic (C15H31COOH)
Axit Oleic ( C17H33COOH)
• Dung dịch kiềm: dung dịch KOH, NaOH.
• Nếu dùng dd NaOH ta thu được xà phòng cứng.
• Còn dùng dd KOH ta thu được xà phòng mềm.
• Chất phụ gia: Chất tạo màu, chất tạo mùi thơm, chất tạo bọt và chất độn.
2. Phân loại .
- Xà phòng; các chất hữu cơ tẩy rửa bề mặt và các chế phẩm dùng như xà phòng, ở dạng thỏi, miếng,
bánh hoặc các hình dạng khác, có hoặc không chứa xà phòng; giấy, bông, nỉ và tấm không dệt, đã
thấm, tráng, phủ xà phòng hoặc chất tẩy.
- Xà phòng, các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ tẩy rửa bề mặt ở dạng thỏi,
miếng, bánh hoặc hình dạng khác, giấy bông, nỉ và các tấm không dệt, đã thấm
tráng phủ bằng xà phòng hoặc chất tẩy
-- Dùng cho vệ sinh (kể cả các sản phẩm đã tẩm thuốc)
-- Loại khác
- Xà phòng ở dạng khác
(I) Xà phòng
Xà phòng là một loại muối kiềm (vô cơ hoặc hữu cơ) được làm từ a xít béo
hoặc hỗn hợp a xít béo chứa ít nhất 8 nguyên tử các bon. Trong thực tế, một
phần của a xít béo có thể được thay thế bằng a xít côlôphan.
Nhóm này chỉ bao gồm xà phòng hoà tan trong nước, có thể nói đó là xà phòng
nguyên chất. xà phòng tạo ra một lớp chất tẩy rửa bề mặt anionic, với phản ứng
kiềm, phản ứng này sủi bọt nhiều trong dung dịch nước.
Xà phòng có 3 loại:
Xà phòng cứng, thường được làm từ hyđrôxit natri hoặc cácbonnát natri và
bao gồm phần lớn là xà phòng thông thường. Loại xà phòng này có mầu trắng,
mầu hoặc có vằn (lốm đốm).
Xà phòng kem, được làm từ hyđrôxit kali hoặc cácbon nát kali. Loại xà phòng
này thường sề sệt và có mầu xanh, nâu hoặc mầu vàng nhạt. Loại này có thể
chứa một lượng nhỏ chất tẩy rửa bề mặt hữu cơ tổng hợp (không quá 5%).
Xà phòng dạng lỏng, là loại dung dịch xà phòng trong nước, trong một vài
trường hợp có một lượng cồn hoặc glyxêrin nhỏ thêm vào (thường là không
quá 5%), nhưng không bao gồm chất tẩy rửa bề mặt hữu cơ tổng hợp.
Phần này đặc biệt bao gồm:
*. Xà phòng dùng cho vệ sinh thường nhuộm mầu và được tẩm nước thơm,
loại này bao gồm xà phòng nổi và xà phòng khử mùi, cũng như xà phòng
glyxêrin, xà phòng dùng để cạo râu, xà phòng đã tẩm thuốc và xà phòng đánh
bóng hoặc tẩy uế, được mô tả dưới đây.
a. Xà phòng nổi và xà phòng khử mùi
b. Xà phòng glyxêrin, là loại có mầu trắng mờ và được sản xuất thông qua quá
trình xử lý xà phòng trắng cùng với cồn, glyxêrol hoặc đường.
c. Xà phòng dùng để cạo râu (kem cạo râu thuộc ).
d. Xà phòng đã được tẩm thuốc có chứa a xít bô ríc, a xít salicylíc, lưu huỳnh,
xunfônamít và các chất thuốc khác.
e. Xà phòng dùng để tẩy uế, có chứa một lượng nhỏ phênôn crêsol, naphthol,
formaldehyde hoặc các chất vi khuẩn khác, bacteriostatic, vv...,. Những loại xà
phòng này sẽ không bị nhầm lẫn với các chế phẩm tẩy trùng có cùng chất cấu
thành, khác nhau về tỷ lệ của chất cấu thành (một phần là xà phòng, một phần
là phênol, crêsol, vv...). Các chế phẩm tẩy trùng có chứa một tỷ lệ đáng kể
phênol, crêsol, vv... và là thể lỏng trong khi xà phòng dùng để tẩy uế luôn luôn
ở thể rắn.
f. Xà phòng đánh bóng, bao gồm xà phòng, cát, silíc, bột đá bọt, bột đá phiến,
mùn cưa hoặc bất kỳ một sản phẩm tương tự nào cho thêm vào. Nhóm này bao
gồm xà phòng đánh bóng chỉ ở dạng thỏi, miếng, bánh hoặc các hình dạng
khác.
* Xà phòng dùng trong gia đình, là loại có thể được nhuộm mầu hoặc được
tẩm nước thơm, đánh bóng hoặc tẩy trùng.
* Côlôphan, tall oil hoặc xà phòng napta không những chỉ chứa muối kiềm
của axit béo mà còn chứa nhựa kiềm hoặc napta kiềm
* Xà phòng dùng trong công nghiệp, được sản xuất dùng cho mục đích đặc
biệt như dùng để kéo dây điện, dùng để polyme hoá cao su tổng hợp, hoặc dùng
để giặt là.
Theo như trường hợp ngoại lệ ở trên, xà phòng thuộc nhóm này thường ở các
dạng sau đây: thỏi, miếng, bánh hoặc hình dạng khác, mảnh, bột, bột nhão hoặc
dung dịch nước.
(II) Các chất hữu cơ tẩy rửa bề mặt và các chế phẩm dùng như xà phòng, ở dạng
thỏi, miếng, bánh hoặc ở hình dạng khác, có hoặc không chứa xà phòng
Phần này bao gồm các chất và chế phẩm dùng để giặt hoặc dùng cho vệ sinh,
trong đó thành phần tẩy rửa, bao gồm toàn bộ hay một phần chất tẩy rửa bề mặt
tổng hợp (nó có thể chứa xà phòng theo một tỷ lệ nào đó), với điều kiện
là chúng phải ở dạng thỏi, miếng, bánh hoặc bánh hoặc hình dạng khác, điều đó
có nghiã là dạng thông thường của xà phòng dùng cho mục đích sử dụng như
nhau.
Phần này cũng bao gồm các chất và các chế phẩm tương tự được phủ bằng cách
thêm cát, silíc, bột đá bọt, vv.. với điều kiện là các chất này phải ở những dạng
nêu trên.
(III) Giấy, bông, nỉ và tấm không dệt đã thấm, tráng
hoặc phủ xà phòng hoặc chất tẩy.
Phần này bao gồm giấy, bông, nỉ và tấm không dệt đã thấm, tráng hoặc phủ xà
phòng hoặc chất tẩy, có hoặc không tẩm nước thơm hoặc đóng gói để bán lẻ.
Những chất này thường dùng để rửa tay hoặc mặt.
Ngoài những chất loại trừ ở trên, nhóm này không bao gồm:
a. Soap - stocks
b. Các chất và chế phẩm không tan trong nước, đó là xà phòng chỉ dùng trong
mục đích hoá học, như canxi hoặc "xà phòng" kim loại khác.
c. Giấy, bông, nỉ và tấm không dệt, đã tẩm nước thơm
d. Dầu gội đầu và thuốc đánh răng
e. Chất hữu cơ tẩy rửa bề mặt (trừ xà phòng), các chế phẩm tẩy rửa bề mặt và
các chế phẩm dùng để rửa (có hoặc không chứa xà phòng) và dung dịch hoặc
phân tán của xà phòng trong dung môi hữu cơ
f. Nhựa hình mạng, cao su hình mạng, nguyên liệu dệt (trừ bông, nỉ, tấm không
dệt) và miếng đệm kim loại, đã thấm, tẩm hoặc phủ xà phòng hoặc chất tẩy
(những mặt hàng này thường nằm trong các nhóm phù hợp với nguyên liệu phụ
trợ).
2. Cơ chế tẩy rửa
• Bất kì phân tử xà phòng nào cũng có cấu tạo gồm 2 phần:
• Phần ưa nước: chính là nhóm
–COO-, dễ dàng bị các phân tử nước “lôi kéo”.
• Phần kị nước: là phần gốc Hiđrocacbon. Chúng không tan trong nước mà tan trong
dầu mỡ.
3. Ưu và nhược điểm xà phòng
• Ưu điểm: xà phòng dùng trong tắm gội, giặt giũ,... không gây hại cho da, cho môi
trường (vì dễ bị phân hủy bởi vi sinh vật có trong thiên nhiên).
• Nhược điểm: Tạo kết tủa canxi stearat, canxi panmitat,... trong nước cứng (nước
có chứa nhiều ion Ca2+ và Mg2+) giảm tác dụng giặt rửa và ảnh hưởng đến chất
lượng vải sợi.
4. Quy trình sản xuất xà phòng
Xà phòng: Quy trình sản xuất
• Máy sản xuất xà phòng
• Nhà máy sản xuất xà phòng
Quy trình sản xuất
Phương pháp phổ biến nhất để sản xuất xà phòng hiện nay là tiến hành phản ứng xà
phòng hóa chất béo (este của Glixerin và các axit béo)
Khi đun chất béo với dung dịch kiềm ta sẽ thu được xà phòng thô. Sản phẩm phụ
là nước và Glixerin.
• Ngoài ra còn có 2 phương pháp khác ít phổ biến hơn:
• Thủy phân axit béo: tinh chế axit béo thu được rồi trung hòa bằng dung dịch
kiềm.
• Oxi hóa các Parafin ( thu được từ dầu mỏ) nhờ oxi không khí, to cao, Mn2+ xúc
tác thành các axít béo, sau đó tiến hành kiềm hóa như trên.
R-CH2-CH2-R’à R-COOH+ R’-COOHà
R-COONa+ R’-COONa
5, Quy trình sản xuất xà phòng
a. Xà phòng hóa
Có 3 kiểu tiến hành : nóng hoàn toàn, nóng sơ bộ và lạnh
Quy trình nóng hoàn toàn
-Các hợp chất như chất béo, dầu, chất lỏng, chất ăn da, soda được cho vào một chảo lớn để
chế biến theo 4 bước là đun sôi - tách muối - rửa - định hình.
-Giai đoạn 2, hh tách ra làm 2 lớp, lớp trên là xà phòng và lớp dưới là dd có lẫn một ít xà
phòng với glycerin. Sau vài ngày thì có 3 lớp rõ ràng: trên cùng là lớp xà phòng nguyên
chất, lớp giữa là lớp phân cách và lớp đáy là dd kiềm xà phòng loãng.
-Quy trình được thực hiện trong điều kiện phù hợp, sẽ không có tạp chất như chất béo chưa
được xà phòng hóa, dầu, alkyl, glycerin và xà phòng metalic. hh gồm 70-80% mỡ bò và
20-30% dầu dừa được dùng làm nguyên liệu sản xuất.
Quy trình sản xuất xà phòng
Quy trình xử lý sôi sơ bộ và lạnh
-Quy trình xà phòng mềm hoặc xà phòng kali, yêu cầu đầu tư thiết bị thấp và không cần kỹ
năng phức tạp.
- Việc sử dụng 2 loại quy trình này làm giảm chất lượng xà phòng và không khả năng
tách glycerin. Điều này không thích hợp trong việc sản xuất xà phòng tắm rửa, là loại mà
chất lượng luôn là một nhân tố quan trọng
- Đối với cả 3 loại quy trình sản xuất, quy trình vận hành liên tục với thiết bị tự động gọn
nhẹ sử dụng để tiết kiệm diện tích nhà máy, tiết kiệm lượng hơi nước tiêu thụ, điện, nhân
công.
Quy trình sản xuất xà phòng
b. Quy trình sản xuất hoàn tất sản phẩm
Các công đoạn gồm : sấy khô hoặc làm lạnh, trộn, lọc, đùn, cắt, dập nhãn và đóng gói.
Dây chuyền phun sấy khô chân không tự động.
-Xà phòng nguyên chất được bơm vào một thùng chứa và bộ trao đổi nhiệt, tại đây t0 xà
phòng sẽ tăng đến một mức thích hợp.
-Sau đó, xà phòng được phun qua một vòi phun đặt ở đáy buồng sấy. Xà phòng đã gia
nhiệt được sấy khô và làm lạnh tức thì. Kết thúc bằng cách cho sôi ở t0 thấp trong chân
không. Sau khi tách ẩm, xà phòng nguyên chất sẽ trở thành rắn và rơi xuống đáy buồng
sấy. Máy dập viên xà phòng chân không sẽ dập thành viên nhỏ và đẩy ra ngoài.
Quy trình sản xuất xà phòng
Dây chuyền định hình xà phòng vệ sinh tự động.
-Xà phòng được dập thành từng viên nhỏ, rơi vào cầu trượt vào băng chuyền và tồn trữ
trong thùng chứa.
• -Xà phòng được cân, và đưa vào máy trộn. Máy định lượng sẽ cho vào xà phòng
viên một lượng chính xác hương, màu,… Sau khi trộn đều, tạo thành hh xà phòng
viên đồng nhất. Tiếp tục đưa đến máy dập xà phòng chân không. Máy dập sẽ đẩy
xà phòng ra ở dạng thanh. Xà phòng sẽ qua các một trong hai loại dây chuyền :
(1) Xà phòng thanh được cắt thành từng bánh nhỏ, rôì đưa vào hầm làm lạnh để tiến
hành dập nhãn.
(2) Thanh xà phòng được đùn liên tục vào hầm điều hòa t0 và được làm lạnh đủ để dập
nhãn và cắt bằng thiết bị tự động. Tại đây các hình dạng xà phòng khác nhau như tròn,
oval, vuông và tam giác có thể được tạo ra.
• Dây chuyền định hình xà phòng vệ sinh và làm lạnh bằng khung.
- Xà phòng nguyên chất (xà phòng lỏng) được bơm vào thùng khuấy và xả xuống
khung làm lạnh để kết rắn xà phòng trong 2-3 ngày. Sau khi đã hoàn toàn kết rắn,
Các bức tường quanh khung làm lạnh được tách ra. Khối xà phòng được cắt thành
từng phiến mỏng bằng máy cắt tự động. Phiến xà phòng được cắt thành từng thanh
bằng máy cắt ngang sau đó cắt thành từng mảnh bằng máy cắt mảnh.
• - Sấy khô xà phòng mảnh. Một khối lượng xà phòng khô được dỡ ra và thêm vào
các chất phụ gia như hương, màu,… Máy trộn 3 trục sẽ trộn đều tạo thành một hh
đồng nhất. Dải xà phòng được chuyển đến máy dập xà phòng đơn giản.
Dán nhãn và đóng gói
-Sản phẩm sau khi được dán nhãn và đóng gói bằng thiết bị tự động sẽ được đưa ra phân
phối.
Bố trí nhà máy
- Nhà máy được thiết kế phù hợp với mọi quy mô sản phẩm, từ công suất 2-3 tấn mỗi ngày
cho đến những công suất lớn hơn khi có yêu cầu.
- Nhà máy có công suất 5 tấn một ngày, tương đương với 50.000-55.000 bánh xà phòng
có khối lượng 90-100g.
III.CHẤT GIẶT RỬA TỔNG HỢP
1, Khái niệm
• Chất giặt rửa tổng hợp (còn gọi là bột giặt) là các muối Natriankylsunfat RO-
SO3Na
Natriankylsunfonat: R- SO3Na
Natriankylbenzensunfonat:
R-C6H4-SO3Na (gốc R có từ 10-18C)
• Ngoài ra còn có các chất phụ gia tương tự như ở xà phòng.
2, Sử dụng
Các chế phẩm như bột giặt, kem giặt, ngoài chất giặt rửa tổng hợp, chất thơm, chất
màu ra, còn có thể có chất tẩy trắng như natri hipoclorit,… Natri hipoclorit có hại
cho da tay khi giặt bằng tay.
Ưu điểm: dùng được với nước cứng, vì chúng ít bị kết tủa bởi ion canxi. Những
chất giặt rửa tổng hợp có chứa gốc hiđrocacbon phân nhánh gây ô nhiễm cho môi
trường, vì chúng rất khó bị các vi sinh vật phân hủy.
3, Sản xuất
• Để đáp ứng nhu cầu về chất giặt rửa, người ta đã tổng hợp ra nhiều chất dựa theo
hình mẫu ”phân tử xà phòng” (gồm đầu phân cực gắn với đuôi dài không phân
cực), có tính chất giặt rửa tương tự xà phòng và được gọi là chất giặt rửa tổng hợp.
• Ví dụ: CH3[CH2]10 - CH2 - O - SO3-Na+
Natri lauryl sunfat
CH3[CH2]10 - CH2 - C6H4 - O - SO3-Na+
natri đođecylbenzensunfonat
Chất giặt rửa tổng hợp: Sản xuất
Chất giặt rửa tổng hợp được điều chế từ các sản phẩm của dầu mỏ.
Oxi hóa parafin được axit cacboxylic, hiđro hóa axit thu được ancol, cho ancol
phản ứng với H2SO4 rồi trung hòa thì được chất giặt rửa loại ankyl sunfat:
R - COOH à R - CH2OHàR -CH2OSO3H àR - CH2OSO3-Na+
4, Một số điểm khác biệt
Xà phòng Chất tẩy rửa tổng hợp
-Xà phòng không có khả năng giặt
tẩy trong nước cứng do tạo kết tủa
với Ca2+, Mg2+ làm vải cứng và ố
vàng, tạo cặn ở đáy chậu và thùng
giặt.
-Dùng được ngay cả trong nước
cứng vì
Không taọ kết tủa như xà
phòng
Có chứa gốc phôtphat tạo
chức tan với Ca2+ và Mg2+
-Không chứa chất tẩy trắng -Có chất tẩy trắng làm quần áo
trắng sạch hơn
-Sản xuất thành dạng bánh nên khó
sử dụng hơn
-Thường ở dạng bột nên dễ sử dụng
VI, CÔNG THỨC CHẾ TẠO XÀ PHÒNG
Điều chế xà phòng từ dưa leo, cà rốt và cà chua
1, Điều chế xà phòng từ dưa leo
Để điều chế loại xà phòng tinh tế có màu be – xanh lá cây nhạt, bạn có thể sử
dụng dưa leo, toàn bộ trái dưa leo kể cả phần vỏ dưa, thịt dưa và hạt dưa. (Bạn
có thể dùng công thức pha chế này để tạo nên nhiều loại xà phòng khác nhau,
chỉ cần thêm nước thay cho phần dưa leo). Dưa leo có chứa rất nhiều nước, vì
vậy có thể dùng 100% nguyên trái dưa leo thay vì phải cho thêm nước. Vỏ dưa
leo sẽ tạo màu sắc cho xà phòng, do đó nếu muốn tăng độ màu thì chỉ cần cho