HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
SOMKIETHTISACK KINGSADA
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ
NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 9 22 9040
HÀ NỘI – 2020
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. NGUYỄN TOÀN THẮNG
Phản biện 1:…………………………………….
Phản biện 2:…………………………………….
Phản biện 3:…………………………………….
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi ……giờ……phút, ngày ………tháng….…..năm 2020.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Somkiethtisack kingsada (2019), “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa quốc gia ở Viêng Chăn hiện nay”, Tạp chí Văn
hóa nghệ thuật, (423), tr.36-38.
2. Somkiethtisack kingsada (2019), “Vài nét về công tác khảo cổ học tại
thủ đô Viêng Chăn, Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện
nay”, Tạp chí Di sản Văn hóa, (4), tr.92-95.
3. Somkiethtisack Kingsada (2019), “Bảo tồn Di sản văn hóa quốc gia ở
thủ đô Viêng Chăn”, Tạp chí Sân Khấu, (tháng 7+8), tr.54-57.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lịch sử đã để lại cho dân tộc Lào nhiều di sản văn hóa (DSVH)
quý giá, đó là nguồn tư liệu minh chứng sống động cho quá trình lao động
sáng tạo, chinh phục tự nhiên và chống giặc ngoại xâm trong suốt chiều
dài dựng nước và giữ nước. Vì vậy, di sản văn hoá là tài sản vô giá của dân
tộc, trở thành bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hoá Lào ngày nay.
Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa (DTLS-VH), danh lam thắng
cảnh ở Lào vô cùng phong phú, với hàng ngàn chùa, tháp, tượng, di vật,
cảnh quan thiên nhiên ở khắp nơi trên đất nước. Nhiều di tích, cảnh quan
được nhắc đến như một niềm tự hào dân tộc, đó là tháp Thạt Luổng (thủ đô
Viêng Chăn), chùa Phu Chăm Pạ Sắc (Di sản thế giới năm 2002 tỉnh Chăm
Pạ Sắc), TP cố đô Luổng Phạ Bàng (Di sản văn hóa thế giới năm 1995),
chùa Xiêng Thoỏng (tỉnh Luổng Phạ Bàng), chùa Xỉ Mường (thủ đô Viêng
Chăn), chùa Hỏ Phạ Kẹo (thủ đô Viêng Chăn), tháp Thạt In Hăng (tỉnh Xạ
Vặn Nạ Kệt), chùa Xi Xạ Kệt (thủ đô Viêng Chăn), tháp Phạ Thạt Xi Khốt
Tạ Boỏng (tỉnh Khăm Muộn), Cánh đồng Chum (Di sản thế giới năm
2019 tỉnh Xiêng Khoảng), Thành cổ Viêng Chăn (thủ đô Viêng Chăn),
Khu lịch sử cách mạng Hang Viêng Xay (tỉnh Hủa Phăn)... Mỗi di tích
là một viên ngọc quý được kết tinh từ khối óc bàn tay tài hoa của cha
ông và sự ưu ái mà thiên nhiên ban tặng, hình thành nên những giá trị
văn hóa thấm sâu vào tâm hồn, máu thịt bao thế hệ, tạo nên bản sắc văn
hoá riêng của dân tộc Lào. Tuy nhiên, trước tác động của thời gian, thiên
tai, chiến tranh, các di sản văn hoá đang đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại,
không ít những DTLS-VH đã trở thành phế tích hay bị xâm chiếm và
xuống cấp nghiêm trọng.
1.2. Viêng Chăn là thủ đô của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào,
là địa danh có rất nhiều di tích lịch sử với hàng trăm ngôi chùa lớn nhỏ.
Nền văn hóa lâu đời của dân tộc Lào được xác định thông qua những di
2
chỉ còn sót lại được tìm thấy ở nhiều điểm khảo cổ học trên khắp đất nước,
đặc biệt là ở thủ đô Viêng Chăn. Những hiện vật được tìm thấy đó đã nói lên
phần nào về quá trình lịch sử từ xa xưa của dân tộc. Viêng Chăn được biết
đến là thành phố bên bờ sông Mê Kông và sông Nạm Ngừm, nới có nhiều
dấu ấn lịch sử, địa danh được thiên nhiên ưu đãi, tạo hoá ban tặng cho những
danh thắng, cảnh quan nổi tiếng như khu danh lam thắng cảnh Thạ Ngon
(huyện Xay Tha Ny), khu núi Phu Kao Khuay (huyện Pác Ngừm),...
1.3. Trong thời kỳ đổi mới, Viêng Chăn được xác định là đô thị lớn
nhất cả nước, trung tâm công nghiệp, một trong những thành phố cấu
thành nên vành đai kinh tế quan trọng, đi đầu trong công cuộc đổi mới đất
nước và phát triển đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng. Trước bối cảnh đó,
di sản văn hóa vật thể (DSVHVT) của Viêng Chăn có một vai trò và ý
nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ là bảo lưu các giá trị truyền thống mà
còn là cơ sở để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. DSVHVT ở thủ đô
Viêng Chăn từ lâu đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả
trong và ngoài nước và đã có những thành tựu đóng góp vào giới thiệu,
quảng bá văn hóa Lào.
Tuy nhiên cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ
thống và chuyên biệt về DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn dưới góc nhìn của
chuyên ngành Văn hóa học. Vì vậy với tư cách là một người hoạt động trong
lĩnh vực văn hóa, có sự quan tâm đặc biệt và nghiên cứu về vấn đề di sản,
nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài "Di sản văn hoá vật thể ở thủ đô Viêng
Chăn, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay" làm luận án Tiến
sĩ, chuyên ngành Văn hóa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về DSVHVT ở
thủ đô Viêng Chăn hiện nay, góp phần vào việc bảo tồn, phát huy các giá
trị của hệ thống di sản này trong phát triển của thủ đô.
3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan và chỉ rõ những vấn đề lý
luận và thực tiễn mà luận án tiếp tục nghiên cứu.
+ Khảo sát và đánh giá thực trạng giá trị DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn.
+ Tìm hiểu các yếu tố tác động, các vấn đề đặt ra và khuyến nghị các
giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của DSVHVT tại thủ đô Viêng
Chăn trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hệ thống DSVHVT tiêu biểu ở thủ đô
Viêng Chăn đã được đề cập trong Luật di sản Quốc gia năm 2005, sửa đổi
năm 2013 của nước CHDCND Lào.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu về các đặc điểm và giá trị
của DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn.
- Về không gian: Luận án khảo sát một số di tích tiêu biểu tại thủ đô
Viêng Chăn.
- Về thời gian: Luận án tập trung từ thời kỳ đổi mới năm 1986 đến nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được chọn để sử dụng trong suốt quá
trình nghiên cứu của luận án gồm:
- Phương pháp điền dã (quan sát, tham dự ): Khảo sát thực trạng của
DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăn, các hoạt động văn hóa xã hội để thu thập
những dữ liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu bằng nhiều các
phương thức quan sát, chụp ảnh, ghi chép, tra cứu tài liệu...
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia về
DSVH, người đã và đang sinh sống trong khu vực tồn tại của di sản. Từ đó
hình thành cơ sở cho các nhận định về thực trạng của di sản trên nhiều
phương diện liên quan như: cách thức sử dụng, các hoạt động, sinh hoạt
văn hóa, lĩnh vực quản lý và bảo tồn….
4
- Phương pháp thống kê/sưu tầm: Thu thập, tổng hợp số lượng
DSVHVT, các loại hình DSVHVT thể hiện có tại thủ đô Viêng Chăn.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các tài liệu, thông tin
và dữ liệu có liên quan tới nội dung nghiên cứu của luận án. Lấy đó làm cơ
sở phân loại DSVHVT, xây dựng tiêu chí đánh giá tiềm năng, xác định đặc
điểm và giá trị DSVHVT.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh các sự vật được nghiên
cứu trong những quan hệ, hệ thống nhất định. Sự so sánh, đối chiếu nhằm
chỉ ra những điểm giống và khác nhau của đối tượng nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa khoa học
- Khẳng định những giá trị DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăn trên cơ
sở đánh giá giá trị tiềm năng DSVH thích ứng. Từ nội dung nghiên cứu
về bảo tồn và phát huy giá trị di sản, luận án không chỉ dừng ở DSVHVT
tiêu biểu trong lịch sử, mà còn mở rộng nghiên cứu một cách hệ thống về
toàn bộ DSVHVT trong thủ đô Viêng Chăn
- Hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá tiềm năng DSVHVT trong cấu
trúc tổng thể các DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn.
- Luận án đề xuất các nhóm giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị
DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn theo hướng phát triển hiện nay cũng như
thích ứng với quá trình hiện đại hóa trong chiến lược phát triển của TP
Viêng Chăn, nước CHDCND Lào.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các cứ liệu khoa học và kết quả nghiên cứu khả tín cho
các công trình khoa học liên quan đến các DSVHVT có quy mô nhỏ và
trung bình.
- Góp phần giúp cho các nhà quản lý, các chuyên gia có phương hướng
để hoạch định được chiến lược tổ chức bảo tồn và phát huy giá trị DSVHVT
tại các thành phố của Lào theo các yếu tố và điều kiện tương đồng.
5
- Góp phấn bổ sung cơ sở pháp lý về bảo tồn và phát huy giá trị
DSVH để nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý di sản tại thủ đô Viêng
Chăn theo định hướng phát triển hiện nay.
6. Đóng góp mới của luận án
6.1. Đóng góp mới về phương diện khoa học
- Xây dựng cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu mới (xây
dựng hệ thống lý luận và xác định giá trị DSVH) trong nghiên cứu về bảo
tồn và phát huy giá trị DSVHVT theo hướng phát triển hiện nay.
- Xây dựng các tiêu chí để xác định các giá trị tiềm năng của
DSVHVT trong phát triển thủ đô Viêng Chăn hiện nay
6.2. Đóng góp mới về phương diện thực tiễn
- Khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa truyền thống và hiện đại trong
bản sắc văn hóa dân tộc Lào qua các đặc trưng cũng như các giá trị văn
hóa của DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn.
- Tổng hợp số liệu và thông tin quan trọng về DSVHVT để xác lập
quỹ DSVHVT tại thủ đô Viêng Chăn.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án có kết cấu 4 chương, 12 tiết :
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể ở Lào
Từ những năm 40 của thế kỷ trước đến nay, có nhiều công trình
nghiên cứu về DSVHVT ở Lào của các tác giả trong và ngoài nước. Tiêu
biểu là các công trình của các học giả Pháp như Paul Levy, Gendron,
6
Parmentier, Henry Devdier, G. Condominas… đã nghiên cứu rất công phu
về nghệ thuật Lào, đặc biệt là nghệ thuật trong các công trình kiến trúc
Phật giáo.
Các tác giả Nguyễn Văn Vinh, Ngô Văn Doanh, Phạm Đức Dương,
Trần Thị Lý, Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiệu Hương, Nguyễn Lệ Thi…
nghiên cứu sâu về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật tạo hình của
Lào. Nhiều tác giả đã đặt nghệ thuật của Lào trong sự so sánh với nền
nghệ thuật của Đông Nam Á và Châu Á hay lý giải yếu tố tạo nên đặc
trưng nghệ thuật Lào.
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hội thảo bảo tồn di sản cùng với kỹ thuật
và lịch sử Lào”, công trình “Tổ chức bảo vệ di sản trong khu vực” hay
“Tái thiết và trùng tu”... bàn luận nhiều về vấn đề bảo tồn di sản, bảo vệ
kiến trúc cổ được làm từ chất liệu đá, đất nung, gỗ của Châu Á, các công
nghệ xử lý vật liệu và cách thức sử dụng các công cụ để xây dựng nên các
di sản.
Bài viết của Phadone Insaveang bàn về “DSVH cố đô Luổng Phạ
Bàng với việc phát triển du lịch”. Dưới góc nhìn văn hóa học, tác giả
nghiên cứu các DSVH cố đô Luổng Phạ Bàng nhằm khai thác những giá
trị của nó để phục vụ cho du lịch một cách khoa học và hiệu quả. Trong
công trình này tác giả đã nghiên cứu các DSVHVT và phi vật thể ở Luổng
Phạ Bàng. Với DSVHVT, tác giả đã đi sâu phân tích các công trình kiến
trúc có giá trị nghệ thuật đặc sắc như kiến trúc chùa tháp Phật giáo, đặc
điểm chung trong kiến trúc chùa ở Luổng Phạ Bang, kiến trúc tháp tiêu
biểu, nghệ thuật điêu khắc tượng Phật, kiến trúc kiểu Pháp, kiến trúc nhà
cổ kiểu Lào…
Luận án tiến sĩ “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc khu phố
Pháp tại thành phố Xạ Vặn Nạ Kệt CHDCND Lào” Trường đại học kiến
trúc Hà Nội của NCS Khamphouphet Vanivong. Luận án kết hợp giữa bảo
tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc tại khu phố Pháp ở thành phố Xạ
7
Vặn Nạ Kệt theo hướng phát triển bền vững, bao gồm: khẳng định giá trị
tiềm năng di sản kiến trúc tại khu phố Pháp thành phố Xạ Vặn Nạ Kệt.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể ở thủ
đô Viêng Chăn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về DSVHVT của thủ đô Viêng Chăn,
góp phần làm sáng tỏ giá trị lịch sử, văn hóa của các di sản. Đặc biệt, nhóm
nghiên cứu D. Hien, M. Barbetti và Th. Sayavongkhamdy đã cho ta thấy
lịch sử lâu đời của Viêng Chăn trong các si sản khảo cổ học.
Francis Engelmann, Vilaithong Keomanivong, Thongmy Duansakda
nghiên cứu khá toàn diện về cả hai mặt giá trị vật thể và phi vật thể của
DTLS-VH ở Viêng Chăn. Các tác giả cho thấy tầm quan trọng của các
DSVH trong đời sống của người dân khi nó trở thành biểu tượng của Quốc
gia Lào.
Các tác giả Viêngphone Soukhavong, Thongmy Duansakda, Bunnam
Phongbuapheuun, Chome Khathoumphom đã đi sâu nghiên cứu các công
trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của Viêng Chăn. Qua đó, các tác giả góp
phần khẳng định thêm giá trị của nghệ thuật tạo hình trong các ngôi chùa
Lào ở thủ đô Viêng Chăn.
Tác giả Chayphet Sayarath nghiên cứu về sự phát triển của đô thị
Viêng Chăn với các di sản kiến trúc và quy hoạch đô thị gắn liền với lịch
sử. Tác giả cho thấy sự phát triển của thủ đô Viêng Chăn qua phân tích
lịch sử và khảo cổ học, kiến trúc và thiết kế đô thị. Qua đó, các dấu vết
trực tiếp cho thấy nguồn gốc và sự biến đổi của thành phố.
Tác giả Anna Karlstrom có công trình “Preserving Impermanence,
The Creation of Heritage in Vientiane, Laos” (Sự bảo tồn tạm thời, Sáng
tạo di sản của Viêng Chăn, Lào) đã đề cập đến vấn đề di sản ở thủ đô
Viêng Chăn. Tác giả cho rằng: “Di sản được định nghĩa là bao gồm các
câu chuyện, địa điểm và sự vật. Nó là một di sản phức tạp và mơ hồ, bởi vì
những câu chuyện là song song, định nghĩa và nhận thức về các địa điểm
8
là đa dạng và tranh cãi, và mọi thứ hội tụ xuất hiện thay đổi, tùy thuộc vào
cách tiếp cận vật chất được sử dụng…”.
Himmakone Manotham hoàn thành công trình “Thủ đô Viêng Chăn
450 năm, nguồn gốc thủ đô Viêng Chăn”. Tác giả mô tả sự thịnh vượng về
văn hóa, như việc tạo dựng các di tích, đặc biệt là những ngôi đền cổ có ý
nghĩa văn hóa quan trọng ở Viêng Chăn, tác giả đã chỉ ra một môi trường
kinh tế xã hội giai đoạn 1983-1945, nơi DSVH Phật giáo đã được khôi
phục cũng như việc xây dựng đường phố, văn phòng và các tòa nhà.
Marc Askew, William S. Logan và Colin Long đã viết cuốn
“Vientiane: Transformations of a Lào Làndscape” (Viêng Chăn: Sự chuyển
đổi cảnh quan ở Lào). Nghiên cứu này cũng cho người đọc hiểu được việc
kiến tạo tiền đô thị của Lào trong quá khứ, thường được miêu tả là một
nước nông nghiệp không có quá trình đô thị hóa và có xu hướng bị ảnh
hưởng nhất trong địa văn hóa Đông Nam Á. Danh sách kiến trúc lịch sử
thành phố Viêng Chăn năm 1903 có 13 cấu trúc chủ yếu là “Vắt” (chùa),
Thạt Luổng và một bộ sưu tập các hình ảnh Phật được chuyển từ chùa Xỉ
Xạ Kệt sang nơi cư trú.
Công trình “Các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của thủ đô Viêng
Chăn với việc phát triển du lịch văn hóa Lào” của Lamphoune Thongdala
đã tìm hiểu về các di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu là chùa, tháp, đền và
các di tích cách mạng kháng chiến tại thủ đô Viêng Chăn. thực trạng phát
triển du lịch văn hóa tại các DTLS-VH ở thủ đô Viêng Chăn hiện nay.
1.1.3. Đánh giá chung và những vấn đề luận án cần tiếp tục
nghiên cứu
1.1.3.1. Đánh giá chung
Thực tế nghiên cứu cho thấy các công trình nghiên cứu về DSVHVT
đã có những kết quả cơ bản sau:
- Hình thành cái nhìn tổng quan về DSVHVT ở nước Cộng hoà Dân
chủ Nhân dân Lào nói chung, ở Viêng Chăn nói riêng.
9
- Khẳng định quy mô và giá trị của hệ thống DSVH ở Lào nói chung,
ở thủ đô Viêng Chăn nói riêng rất phong phú và đa dạng nhưng đậm nét
riêng, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội. Qua đó thể
hiện sức sáng tạo của các bộ tộc Lào.
- Chỉ rõ nhiệm vụ cấp thiết là bảo tồn và phát huy các giá trị
DSVHVT cũng như văn hóa phi vật thể ở thủ đô Viêng Chăn trong thời kỳ
phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay.
Qua tổng quan tài liệu, NCS nhận thấy những khoảng trống trong
nghiên cứu như sau:
- Chưa đi sâu nghiên cứu DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn, chưa quan
tâm đến sự phân loại và sắp xếp các di sản này theo một trật tự logic như
một hệ thống hoàn chỉnh.
- Chưa đi sâu nghiên cứu để chỉ rõ đặc điểm và giá trị của hệ thống
DSVH ở thủ đô Viêng Chăn.
- Chưa nghiên cứu yếu tố tác động, các vấn đề đặt ra, giải pháp khả thi
để bảo tồn, phát huy các giá trị của hệ thống DSVHVT ở thủ đô Viêng
Chăn, tiến tới xây dựng và phát triển bền vững đất nước.
1.1.3.2. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Luận án sẽ làm rõ cơ sở lý luận nghiên cứu DSVHVT ở thủ đô Viêng
Chăn, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay, từ góc nhìn Văn
hóa học. Đó là làm rõ hệ thống khái niệm công cụ nghiên cứu; cơ sở phân
loại di sản, vai trò của DSVH với phát triển.
Luận án vận dụng cơ sở lý luận để khảo sát, nhận diện hiện trạng, đặc
điểm và những giá trị văn hóa vật thể của thủ đô Viêng Chăn. Cùng với đó,
luận án sẽ bàn về việc phát huy các giá trị DSVHVT của thủ đô Viêng
Chăn đối với phát triển, hội nhập của thủ đô.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
1.2.1. Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể
Năm 1989, UNESCO đã định nghĩa DSVH như sau: DSVH là tập hợp
các biểu hiện vật thể - hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi
10
nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại. Là một phần của việc
khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, một dạng di sản của
nhân loại, DSVH mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể,
và vì thế nó là nơi cất giữ kinh nghiệm của con người. Việc bảo tồn và giới
thiệu những DSVH này là cốt lỗi của mọi chính sách văn hóa.
Luật DSVH Việt Nam xác định DSVHVT: “là sản phẩm vật chất có
giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm DTLS-VH, danh lam thắng
cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Luật Di sản quốc gia của Lào: Di sản văn hóa quốc gia là tài sản của
nhà nước, cộng động hoặc cá nhân, có giá trị về văn hóa hay có giá trị về
lịch sử, là chứng nhận về đất nước Lào, về tổ tiên nguồn gốc và sáng lập tổ
quốc Lào, bao gồm những đồ cổ có giá trị cao về lịch sử nghệ thuật có từ
50 năm trở lên và địa điểm thiên nhiên cũng đều là di sản quốc gia.
- Khái niệm giá trị và giá trị của di sản văn hóa vật thể
Giá trị là một phạm trù triết học, chỉ sự đánh giá những thành quả lao
động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người. Nó có tác dụng định
hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái
đúng, cái tốt, cái đẹp, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Giá trị gắn liền với nhu
cầu con người.
DSVHVT mang giá trị lịch sử tiêu biểu, giá trị khoa học, giá trị biểu
tượng, giá trị thẩm mỹ.
- Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể
Theo Luật di sản quốc gia Lào, Bảo tồn di sản guốc gia nghĩa là giữ
gìn giá trị, dấu vết, màu sắc văn hóa, lịch sử, thiên nhiên của di sản quốc
gia không để suy yếu hay diệt vong.
Phát huy giá trị DSVH mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội,
cho sự phát triển bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục
truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc đồng thời là nhịp
cầu nối giao lưu với bạn bè quốc tế.
11
1.2.2. Phân loại di sản văn hóa vật thể
Tùy theo góc độ của từng ngành khoa học, mà người ta có cách phân
loại DSVHVT khác nhau. Hiện nay, các di sản/di tích văn hóa vật thể của
thủ đô Viêng Chăn (và cũng như trên cả nước Lào) thường kết hợp giữa
mục đích sử dụng, chủ thể quản lý, cách thức quản lý và bảo tồn. Trong
thực tế, mỗi DSVHVT, ngoài phân loại theo mục đích sử dụng ra, thì
không thể không có cơ quan chủ quản và cũng không thể không áp dụng
cách thức quản lý và bảo tồn cụ thể được.
1.2.3. Vai trò của di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể đối với
sự phát triển của địa phương/quốc gia
Thứ nhất, DSVH là bộ phận quan trọng tạo nên môi trường văn hoá
của các cộng đồng, dân tộc. Thứ hai, DSVH là yếu tố cơ bản tạo nên
truyền thống văn hóa, là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc, cơ sở sáng tạo
nên những giá trị văn hóa mới, cơ sở cho sự phát triển của văn hóa dân tộc
trong giai đoạn tiếp theo. Thứ ba, DSVH là một bộ phận hợp thành nền
tảng tinh thần xã hội, tạo lập nên động lực tinh thần của xã hội. Thứ tư,
DSVH là tài sản vô giá, là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ năm, DSVH là cơ sở để giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế.
Chương 2
KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN
2.1. TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở THỦ ĐÔ
VIÊNG CHĂN
Theo Danh sách về DSVH, lịch sử và thiên nhiên ở thủ đô Viêng
Chăn của Cục Di sản, BTTVH&DL Lào. Viêng Chăn hiện có 56 di tích
(tính theo tên gọi nguồn di sản), có 73 di tích với niên đại hơn 50 năm
(tính theo loại hình di sản). Trong đó có 6 di tích được chính phủ và nhà
nước Lào công nhận và xếp hạng di tích cấp Quốc gia
12
Theo danh sách kiểm kê của Cục Di sản, số lượng và loại hình các di
tích lịch sử -văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn có thể chia thành 8 loại
sau đây :
1). Nhà kiểu Pháp:
2 di tích
2). Ngôi tháp:
7 di tích
3). Hang:
2 di tích
4). Tôn giáo (địa điểm):
21 di tích
5). Vùng cổ (địa điểm):
8 di tích
6). Di tích lịch sử:
13 di tích
7). Di tích phố cổ:
20 di tích
8). Khác:
1 di tích
2.2. DI TÍCH LỊCH SỬ TÔN GIÁO
Riêng ở thủ đô Viêng Chăn có trên 513 chùa (vắt) chiếm một phần tư
số lượng chùa của cả nước Lào. Những chùa, tháp tiêu biểu và được xếp
hạng di tích cấp quốc gia như chùa Xỉ Xạ Kệt, chùa Hỏ Phạ Kẹo, chùa In
Peng, chùa Ông Tự, chùa Xỉ Mường, tháp Thạt Luổng, Công viên Phật
Xiêng Khuan, Tháp Thạt Luổng, Tháp Thạt Đăm… đều mang những dấu
ấn không phai của truyền thống văn hóa, lịch sử dựng nước và giữ nước,
đoàn kết và hòa hợp của nhân dân Lào.
2.3. DI TÍCH LỊCH SỬ KHẢO CỔ HỌC
Di tích lịch sử khảo cổ học đã cho thấy phần nào lịch sử hình thành, biến
đổi của thủ đô Viêng Chăn. Tuy chỉ phát lộ được một phần các công trình có
quy mô và niên đại của các công trình kiến trúc cổ, các di chỉ khảo cổ học đã
nói lên tiếng nói quý báu về lịch sử. Tại Viêng Chăn hiện nay có một số di
tích lịch sử khảo cổ học được dành giá là nổi tiếng nhất ở thủ dô Viêng Chăn
là: Khu thành cổ Viêng Chăn, Nhà Cột mốc Lạc Mường Viêng Chăn.
2.4. DI TÍCH LỊCH SỬ THỜI KỲ PHÁP THUỘC (1893-1954)
Di tích lịch sử thời kỳ Pháp thuộc thể hiện một phần lịch sử phát triển
của Viêng Chăn trong quá trình giao lưu văn hóa Lào – Pháp. Những
13
DSVH này đã góp phần tạo cho các di sản của Viêng Chăn thêm phong
phú, đa dạng về thể loại, phong cách, chất liệu… Một số di tích lịch sử
thời kỳ Pháp thuộc được dành giá là nổi tiếng nhất ở thủ dô Viêng Chăn
gồm: Phủ Chủ tịch (Hỏ Khăm), Nhà Bảo tàng quốc gia Lào.
2.5. DI TÍCH LỊCH SỬ THỜI KỲ HIỆN ĐẠI (TỪ NĂM 1954
ĐẾN NAY)
Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, nhân dân Lào tiếp tục sáng
tạo thêm những công trình kiến trúc có giá trị, đóng góp thêm cho hệ thống
DSVHVT của thủ đô Viêng Chăn. Một số di tích lịch sử thời kỳ hiện đại
được đánh giá cao ở thủ dô Viêng Chăn gồm: Khải Hoàn môn (Pa Tu
Xay), Nhà văn hóa quốc gia Lào, Đài tưởng lưu niệm vua Phạ Ngừm, Đài
tưởng lưu niệm vua A Nụ Vông, Khu lưu niệm Chủ tịch Cảy Xỏn Phôm Vi
Hản, Khu lưu niệm Chủ tịch Xu Pha Nụ Vông.
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN
3.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
3.1.1. Cấu trúc ngôi chùa
Các ngôi chùa cũng thường được xây dựng gần sông, suối, hồ. Những
cổng chính của chùa Lào thường được mở về hướng Nam hoặc Bắc nghĩa
là nhìn về hướng chảy xuôi của dòng sông hoặc là ngược dòng nước của
sông. Các cổng của của chùa thường mở ra cả bốn hướng: Đông, Tây,
Nam, Bắc nhưng cổng chính thường hướng Nam hoặc hướng Bắc.
Chùa Lào nói chung hay chùa thủ đô Viêng Chăn nói riêng đều có
những kiến trúc chính sau đây: Xỉm (Phật điện): là công trình kiến trúc
hình chữ nhật nằm ở vị trí trung tâm của ngôi chùa, là kiến trúc chính của
ngôi chùa. Hỏ Tay (thư viện): là công trình kiến trúc kiểu nhà sàn. Kụ Tị
14
(nơi để sư sãi ăn ở): là nhà sàn bằng gỗ lợp ngói, đầu hồi có máng nước.
Hỏ Trạch: là một ngôi nhà rộng có 3 hoặc 5 gian, trong đó cũng có ban thờ
Phật. Hỏ Coỏng (gác chuông, trống và mõ): là một kiến trúc tuy nhỏ
nhưng được xây hai hoặc ba tầng.
3.1.2. Cấu trúc ngôi tháp
Tháp ở Lào được chia thành hai loại. Những tháp lớn thường được
xây riêng trên đồi cao hoặc một vị trí trung tâm của bản mường, nhưng gần
đó là một ngôi chùa. Những ngôi tháp được xây dựng trong chùa thường là
những ngôi tháp không lớn lắm. Ngôi tháp trong các chùa có thể là tháp
Phật, tháp chứa tro của vị sư trụ trì hoặc chứa tro của những người có công
dựng nên ngôi chùa đó. Các tháp trong chùa Lào thường được xây thành
ba bộ phận chân, thân và đỉnh tháp. Chân tháp có thể có bình đồ tròn hoặc
vuông và chân tháp cũng qui định thân sẽ được xây thuôn hay tròn.
3.1.3. Các công trình kiến trúc kiểu Pháp
Kiến trúc kiểu Pháp được du nhập vào Đông Dương với chủ trương
xây dựng đô thị theo kiểu châu Âu, có quy hoạch và thiết kế đã làm thay
đổi mô hình đô thị kiểu cũ. Tiếp theo là sự thay đổi trong nguyên liệu xây
dựng: Những nguyên liệu quen dùng trước đó như tre, nứa, lá, gỗ, ngói
không còn được sử dụng nhiều nữa, người ta biết tới xi-măng, cốt thép.
Các di sản kiến trúc Pháp ở Viêng Chăn không chỉ có giá trị sử dụng
mà còn có giá trị văn hoá, lịch sử, thẩm mỹ... tô thêm vẻ đẹp cho cố đô
nằm trong thung lũng với những phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, xen lẫn
với nhà sàn truyền thống ngàn năm của dân tộc Lào.
3.2. GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
3.2.1. Giá trị lịch sử
Những di sản văn hóa vật thể trên đất Viêng Chăn cho thấy bề dày lịch
sử của mảnh đất này. Hay nói cách khác, di sản văn hóa là chứng nhân,
chứng tích cho những sáng tạo, những sự kiện, những hiện tượng lịch sử
của Viêng Chăn và cũng là của dân tộc Lào. Trước tiên, hệ thống DSVH
15
đó cho thấy người Viêng Chăn còn gìn giữ cho tới tận ngày nay một trong
số những mảnh vụn của nền văn minh Mon-Khơme cổ đại. Những di chỉ
đã được tìm thấy với nhiều hiện vật quý giá đã khẳng định quá trình lịch
sử từ xa xưa của đất nước Lào. Nó cũng cho thấy dân tộc Lào đã lao động
cần cù, sáng tạo, hòa hợp với thiên nhiên để không ngừng phát triển. Các
di sản là chùa, tháp cho thấy sự quan tâm đến Phật giáo của các triều vua ở
thế kỷ XVI khiến Phật giáo vô cùng hưng thịnh.
Những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá
trình dựng nước và giữ nước, gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh
hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các
thời kỳ cách mạng, kháng chiến cho thấy lịch sử cách mạng, quả trình
giành và giữ độc lập dân tộc, phá triển đất nước Lào trong thời kỷ XX.
3.2.2. Giá trị khoa học
Hệ thống DSVHVT cho thấy những hiểu biết của người dân Lào về
vật liệu xây dựng. Người dân đã biết sự dụng những vật liệu sẵn có trong
tự nhiên để tạo tác nên những công trình kỳ vĩ, tồn tại vững chắc qua thời
gian. Đó chính là những tri thức của người dân về thế giới xung quanh
mình. Ngoài ra, kỹ thuật xây dựng của người Lào xưa cũng mang lại cho
các nhà nghiên cứu nhiều ngạc nhiên về trì thức của họ. Họ đã biết kết hợp
nhần nhuyễn nhiều nguyên liệu khác nhau để hình thành nên những di sản
đó. Vì dụ như sự kết hợp giữa chất liệu gỗ với kim loại quý, hay sự pha
trộn các kim loại theo tỷ lệ như thế nào để đúc được những chiếc chuông
lớn, có âm thanh trong và vang xa ở những ngôi chùa... Những công trình
có quy mô lớn, vươn lên trên cao cũng thể hiện rõ trình độ của người thờ
Lào xưa.
3.2.3. Giá trị giáo dục
Hcác ngôi chùa hiện hữu thể hiện rõ nét nhất dấu ấn của văn hóa Phật
ở Lào. Đây cũng là điểm đến của nhiều sinh viên đang học các nghề thủ
công truyền thống của Lào.
16
Các di tích lịch sử có giá trị giáo dục ghi nhớ công ơn của các anh
hùng vô danh trong lịch sử dân tộc. Nhà bảo tàng quốc gia Lào cũng như
Khu di tích tưởng niệm Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hản ở thủ đô Viêng
Chăn đều là những địa chỉ có giá trị giáo dục quan trọng. Một mặt, thông
qua hiện vật trưng bày, nhằm giáo dục ý thức về lòng tự hào dân tộc, ý
thức tự chủ, gìn giữ, bảo tồn và phát huy lòng yêu nước. Mặt khác lại giáo
dục ý thức của người dân về trách nhiệm gìn giữ DSVH dân tộc trong bối
cảnh giao lưu, hội nhập khu vực và toàn cầu hóa hiện nay.
3.2.4. Giá trị thẩm mỹ
Nghệ thuật trang trí ở các chùa ở Viêng Chăn hiện nay rất phong phú.
Thông thường các phù điêu đều có hình đức Phật, con người và khung
cảnh núi rừng với nhiều cỏ cây, hoa lá. Hình ảnh các con vật cũng rất phổ
biến trong trang trí chùa Viêng Chăn. Trong khi xây dựng các ngôi chùa,
các nghệ nhân Lào cũng chú ý đến nghệ thuật chạm khắc, đặc biệt là chạm
khắc gỗ được thực hiện khá công phu và mang những nét độc đáo riêng
của Lào. Các phần được chạm khắc rất tinh xảo trong chùa là các cánh cửa
chùa, các cốn (Khén Nang), các bộ kèo và nhiều chi tiết khác.
3.2.5. Giá trị bản sắc văn hóa Lào
Bản sắc văn hóa được thể hiện ở hệ thống DSVHVT của Viêng Chăn
phản ánh ý thức về nguồn cội, kiểu tư duy, cách sáng tạo khoa học, nghệ
thuật, lối sống, phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng… của các bộ tộc
Lào trong tiến trình lịch sử và văn hóa.
Bản sắc văn hóa của Lào còn thể hiện rõ nét trong các biểu tượng lưu
giữ trong các DSVHVT của Viêng Chăn. Chính hệ thống biểu tượng trong các
DSVH này đã cho thấy quy định về ứng xử của con người và làm cho cộng
đồng có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt.
3.2.6. Giá trị văn hóa tâm linh
Là đất nước lấy đạo Phật làm quốc đạo, nên các di tích văn hóa vật thể
ở thủ đô Viêng Chăn cũng luôn phản ánh rõ nét và toát lên sức sống của
17
những yếu tố đặc trưng của văn hóa Phật giáo. Chùa Lào thể hiện sự linh
thiêng và là biểu tượng hòa bình, độ lượng. Văn hoá Phật giáo với những
kiến trúc chùa tháp đã góp phần hình thành nên những con người Lào chân
thành, yêu văn hóa văn nghệ và sống thân thiện.
Song, trong hệ thống DSVHVT này, NCS cũng nhận thấy dấu vết của
những tín ngưỡng cổ xưa, vốn rất phổ biến ở vùng Đông Nam Á nói chung
và lào nói riêng như tín ngưỡng thờ nước, tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ thành
loàng làng, tín ngưỡng phồn thực...
3.2.7. Giá trị kinh tế
Các DSVHVT ở thủ đô Viêng Chăn còn có giá trị kinh tế to lớn, góp
phần đáng phát triển ngành du lịch, tăng ngân sách và nâng cao sức tăng
trưởng kinh tế của thủ đô. Viêng Chăn có nhiều ngôi chùa nổi tiếng. Tuy
các chùa không thu phí tham quan, song chùa tháp và các lễ hội ở đây luôn
là điểm nhấn, lôi cuốn và thu hút du khách du lịch từ các nước trên thế giới
đến với Lào. Đây cũng là những địa điểm lý tưởng để người dân thủ đô
giới thiệu với du khách, đối tác kinh tế trong và ngoài nước các món ăn
truyền thống, sản phẩm thủ công mỹ nghệ được người Lào chế tác tinh
xảo... Từ đó góp phần thúc đẩy các ngành nghề khác của Viêng Chăn nói
riêng, của Lào nói chung phát triển hơn.
Chương 4
BÀN LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN HIỆN NAY
4.1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN HIỆN NAY
4.1.1. Những thuận lợi và khó khăn trong bảo tồn, phát huy giá trị
di sản văn hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn
- Những thuận lợi: Công tác tu bổ tôn tạo ở thủ đô Viêng Chăn trong
thời gian qua đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của DSVHVT. Nhiều di sản
18
đã trở thành điểm thu hút khách tham quan du lịch như: Hỏ Phạ Kẹo, chùa
Xỉ Xạ Kệt, Thạt Luổng, chùa Xỉ Mường, Nhà cột mốc Lạc Mường Viêng
Chăn, Khải Hoàn môn ( Pa Tu Xay ), Công Viên Phật Xiêng Khuan, Bảo
tang Quốc gia,…. Nguồn ngân sách Trung ương, thành phố thời gian qua
được đầu tư vào các dự án lớn với số tiền hàng trăm tỷ Kíp (LAK).
Công tác quản lý, phát huy giá trị di tích ở Viêng Chăn đạt hiệu quả
cao. Các cấp chính quyền thành phố và cơ quan chức năng là Sở Thông
tin, Văn hoá và Du lịch đã thống nhất thực hiện quyền quản lý Nhà nước
đối với các DSVHVT thuộc sở hữu công cộng, sở hữu tập thể và một phần
sở hữu tư nhân. Sở đã phối hợp với các cơ quan truyền thông tăng cường
công tác tuyên truyền tới nhân dân về Luật Di sản Quốc gia để nâng cao ý
thức bảo vệ di tích, giữ gìn cảnh quan môi trường, các khu danh thắng.
Ở nhiều địa phương, người dân đã đóng góp hàng ngàn ngày công tu
bổ di tích như các công trình tại tháp Thạt Luổng, Hỏ Phạ Kệo, chùa In
Peng, chùa Ông Tự, chùa Xỉ Mường.
- Những khó khăn: Về cơ chế quản lý, sự điều hành của các Ban
quản lý dự án tu bổ, tôn tạo di tích ở cơ sở còn nhiều bất cập cần phải
được tháo gỡ. Phần lớn kinh phí của chương trình được cấp phát từ
nguồn vốn xây dựng cơ bản và nhất thiết phải tuân thủ những quy định
trong Nghị định của Chính phủ ban hành.
Vấn đề phân cấp quản lý di tích, quản lý nguồn thu từ di tích chưa
có sự thống nhất. Vì vậy dẫn tới hiện tượng một số tổ chức, cá nhân lợi
dụng di tích để thương mại hoá các hình thức dịch vụ văn hoá ở di tích.
Một số văn bản, quy chế về công tác bảo tồn di sản văn hoá chưa thể
hiện được tính cấp thiết nên chưa được thực thi hiệu quả, chưa có chính
sách cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể.
Một bộ phận người dân, Ban quản lý có được kinh phí do dân đóng
góp đã tự xây dựng, không có sự chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn.
Đối với các di tích do quận/huyện, xã quản lý thì việc phát huy giá
trị di tích còn tuỳ thuộc vào sự hiểu biết, nhận thức của người quản lý,
nên đôi khi thông tin sai lệch, kém hiệu qủa.
19
4.1.2. Các yếu tố tác động đến bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn
hóa vật thể ở thủ đô Viêng Chăn
Nước Lào đã mở cửa với bạn bè quốc tế, có sự giao lưu về mọi mặt
đặc biệt là về kinh tế và văn hóa. Vì vậy, việc bảo tồn, phát huy giá trị các
DSVHVT ở Viêng Chăn cũng chịu nhiều tác động của các yếu tố trong và
ngoài nước. Trong luận án này, NCS tập trung trình bày những yếu tố cơ
bản như: tác động của chính sách phát triển văn hóa, tác động từ phát triển
kinh tế-xã hội của thủ đô Viêng Chăn, yêu cầu phát triển và hội nhập của
thủ đô Viêng Chăn.
4.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BẢO TỒN, PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN
4.2.1. Sự thay đổi của xã hội hiện đại và quản lý di sản văn hóa
chưa hiệu quả
Nhiều nghiên cứu cho thấy, chính quyền và người dân Viêng Chăn
đang tập trung phát triển kinh tế mà chưa chú ý đúng mức đến vấn đề bảo
tồn, phát huy DSVH. Vì vậy, trên thực tế đã xảy ra tình trạng DSVHVT
của Viêng Chăn bị xâm lấn, bị làm cho biến dạng.
4.2.2. Thiếu tính khoa học trong bảo tồn di sản
Hằng năm, các đơn vị chức năng vẫn tiến hành trùng tu, tôn tạo các
DSVHVT. Tuy nhiên, việc sửa chữa, trùng tu thiếu tính khoa học, thiếu sự
hiểu biết chuyên môn đặc thù đã dẫn đến tình trạng trùng tu một cách tùy
tiện, không tôn trọng môi trường, tính nguyên gốc của di sản. Điều đó đã
làm mất đi các giá trị quý giá của di sản.
4.2.3. Biến đổi môi trường tự nhiên và cảnh quan đô thị
Việc xây dựng các tòa nhà theo kiểu dáng kiến trúc nước ngoài, đa
phần là kiến trúc theo kiểu Trung Quốc đã làm biến đổi bộ mặt đô thị
Viêng Chăn theo hướng hiện đại. Nhưng vấn đề là những nhà quản lý về
quy hoạch đô thị đã không chú ý đến tính thẩm mỹ và truyền thống văn
hóa địa phương. Những kiến trúc hiện đại này chủ yếu là phô trương sự
giàu có, hào nhoáng.
4.2.4. Sự mai một các nghề truyền thống
20
Để xây dựng được các công trình kiến trúc cổ cần có sự tham gia của
nhiều thự thủ công thuộc các nghề các nhau. Nhìn vào kiến trúc cổ ở
Viêng Chăn, NCS thấy bộ khung bằng gỗ, đúc chuông, khánh bằng kim
loại, trạm khắc các họa tiết, các mảng trang trí, vẽ các bức bích họa, sơn
son thiếp vàng cho tượng phật và một số hạng mục quan trọng của chùa...
Tuy nhiên, các nghề thủ công truyền thống ở lào đang bị mai một nên gây
nhiều khó khăn cho quá trình trùng tu, tôn tạo các DSVHVT ở Viêng Chăn.
4.2.5. Khó khăn trong công tác bảo tồn các di sản văn hóa vật thể
Hiện nay, việc quản lý còn thiếu chặt chẽ và còn hạn chế về nghiệp
vụ bảo tồn của cán bộ thực hiện công tác bảo tồn, phát huy di sản nên
các di sản đã mất dần những nét đặc trưng, truyền thống hoặc biến thể
sang một số hình thức mới khác. Nhiều di sản đã được xếp hạng nhưng
chưa được cắm mốc chỉ giới, dẫn đến việc bảo vệ không gian của di sản gặp
nhiều khó khăn. Công tác tuyên truyền, phát huy giá trị của di sản vẫn chưa
đạt hiệu quả cao. Việc gắn bia, biển, biên soạn nội dung di sản để giới thiệu
cho du khách còn chưa được chú trọng đúng mức.
4.2.6. Di sản văn hóa vật thể bị xuống cấp
Thực tế cho thấy, mặc dù đã được trùng tu, tôn tạo trong thời kỳ hòa
bình, phát triển đất nước nhưng nhiều di sản vẫn có nguy cơ bị hủy hoại
bởi thiên nhiên. Cộng thêm những tác động tiêu cực của con người hay sự
thờ ơ, thiếu hiểu biết của chính quyền và người dân nên sự xuống cấp ấy
càng diễn ra nhanh chóng. NCS đã đi điền dã và nhận thấy tình trạng này
diễn ra khá phổ biến.
4.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN, PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở THỦ ĐÔ VIÊNG CHĂN
4.3.1. Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực quản lý di sản văn hóa
- Đào tạo và tập huấn đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên ngành bảo tồn,
bảo tàng và quản lý di tích.
- Quy hoạch khu du lịch cũng là vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ
và phát triển văn hóa, đặc biệt là các công trình kiến trúc Phật giáo.
- Công tác quản lý nhà nước đối với quá trình xây dựng và thực thi các
21
dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy di tích có những yêu cầu cơ bản
- Cần tổ chức nghiên cứu cả khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng
trong việc phát triển và quản lý DSVH làm cơ sở, tiền đề khoa học và
thực tiễn cho các củ trương và quyết định quản lý mang tính thực thi và
hiệu quả cao.
- Cần triển khai việc kiểm kê, phân loại cụ thể theo giá trị của từng di tích,
lựa chọn các di tích tiêu biểu có giá trị để lập hồ sơ xin Nhà nước xếp hạng.
- Huy động nhân dân vào việc bảo tồn, phát huy giá trị của DSVHVT
cũng như việc phát triển quản lý DSVH với cơ chế dân chủ, tham dự trực tiếp.
4.3.2. Nhóm giải pháp về chính sách kinh tế, tài chính
- Chú trọng chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng đầu tư và thu hút các
nguồn vốn tài trợ. Cần áp dụng cơ chế cho vay vốn tín dụng (không tính lãi
hoặc lãi xuất thấp, kéo dài thời hạn cho vay, quy mô vốn lớn) đối với Sở
TTVH & DL thủ đô cho các dự án tu bổ, tôn tạo và khai thác các DSVHVT.
- Chính sách ưu tiên đầu tư nguồn ngân sách: cần cho phép sử dụng
100% kinh phí (từ bàn vé, công đức...) chi cho hoạt động quản lý và tái
đầu tư cho DSVHVT.
4.3.3. Nhóm giải pháp về pháp luật
- Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, kết hợp với
việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về DSVHVT ở Viêng Chăn
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của
DSVH: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH.
4.3.4. Nhóm giải pháp về huy động sự tham gia của cộng đồng
- Tuyên truyền, giáo dục đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng, pháp
luật của Nhà nước về bảo vệ di tích và ý nghĩa, giá trị khoa học của di tích
văn hoá tới quần chúng nhân dân lao động.
- Tiếp tục đổi mới pháp luật, thể chế nhằm phát huy hơn nữa sáng kiến
và tinh thần làm chủ của nhân dân trong việc quản lý xã hội và cộng đồng.
22
- Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hộinghề nghiệp, đoàn thể quần chúng với sự hỗ trợ, phối hợp của chính quyền
các cấp, các ngành.
4.3.5. Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế
- Tăng cường hội nhập quốc tế để tiếp thu khoa học quản lý, ý kiến
chuyên gia, công nghệ tiên tiến, tranh thủ nguồn vốn tài trợ cho các dự án
tu bổ, tôn tạo DSVHVT.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giới thiệu
giá trị các DSVHVT ở Viêng Chăn cho bè bạn quốc tế.
- Mở rộng hợp tác song phương, đa phương, hợp tác trong các lĩnh
vực nghiên cứu, tư vấn chuyên môn, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ
Lào thông qua các chương trình dự án học tập, tập huấn, bồi dưỡng trong
nước và nước ngoài.
- Mở rộng hợp tác quốc tế thông qua các dự án trùng tu một số công
trình cụ thể.
KẾT LUẬN
1. Thủ đô Viêng Chăn là thành phố có hệ thống DSVHVT nhiều về số
lượng, phong phú về loại hình, đa dạng trong cách thể hiện. Đây là những
tài nguyên vô cùng quý giá, là những trang sử sống, phản ánh sự phát triển
của các giai đoạn lịch sử khác nhau và tài năng sáng tạo của con người
đương thời. Ngoài ra, các di tích này cũng phản ánh phần nào phong tục
tập quán, văn hóa của người dân Lào nói chung và nhân dân thủ đô Viêng
Chăn nói riêng. Chính vì vậy, DSVH của Viêng Chăn đã được nhiều tác
giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Tuy nhiên, những công trình nghiên
cứu đã được công bố vẫn như những mảng màu rời rạc về bức tranh
DSVHVT của Viêng Chăn. Từ góc độ Văn hóa học, luận án tiến hành
nghiên cứu về DSVHVT của thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hòa dân chủ