Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

SKKN ve phan so in nộp CSTĐ CNTT (2)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (262.49 KB, 27 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của giải pháp
Hiện nay việc nâng cao chất lượng dạy và học của GV và HS là mối quan
tâm có tầm quan trọng hàng đầu bao trùm và chi phối mọi hoạt động khác.
Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Toán được coi là trọng tâm và chiếm số
tiết nhiều so với các môn học khác. Thông qua việc học Toán giúp HS nắm được
kiến thức Toán học cơ bản, có cơ sở học tốt các môn học khác, giúp các em năng
động, sáng tạo, tự tin hơn. Chương trình Toán lớp 4 là sự kế thừa tiếp tục của
chương trình Toán lớp 1, 2, 3. Nội dung môn Toán đã có những thay đổi về nội
dung, tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới giúp HS phát huy được
năng lực, tích cực hơn trong việc học. Các bài tập đã vừa sức với HS.
Để đạt được mục tiêu chương trình đã đề ra, GV phải nắm chắc mục tiêu,
nội dung để khai thác trong từng bài. Điều quan trọng là GV phải nghiên cứu,
đầu tư xây dựng phương pháp dạy và học, giao việc vừa sức cho từng đối
tượng HS nhằm giúp HS tích cực trong hoạt động học tập, vận dụng được
thành thạo những nội dung trong từng bài.
II. Lí do chọn giải pháp:
Như đã nói ở trên, môn Toán là môn học rất quan trọng trong các môn học ở
chương trình tiểu học, đồng thời xuyên suốt ở các cấp học, bậc học. Đối với HS lớp
4, phần kiến thức về Phân số là một nội dung tương đối trừu tượng với các em. Hơn
nữa, đây là mảng kiến thức có liên quan rất nhiều đến chương trình Toán lớp 5 đó
là: phân số thập phân, số thập phân, phép tính của số thập phân,…một kiến thức vô
cùng quan trọng trong chương trình Toán lớp 5. Nếu các em mất đi kiến thức căn
bản về phân số thì lên lớp trên sẽ là một trở ngại đối với chính bản thân các em và
kể cả giáo viên. Để đạt được mục đích đó, trước hết GV cần phải nắm vững mục
tiêu, nội dung, những kiến thức có thể khai thác trong từng bài. Điều quan trọng là
GV phải tổ chức các hoạt động học tập cho HS để các em tự chiếm lĩnh kiến thức,
tích cực, chủ động sáng tạo. Qua nhiều lần trăn trở về chất lượng của học sinh ở
môn Toán cùng với việc kết hợp rút kinh nghiệm trong các tiết học và tình hình học
tập trên lớp của HS qua các năm học, bản thân tôi nhận thấy, phần kiến thức mà học
sinh khối lớp 4 hay lúng túng nhiều nhất ở môn Toán là mạch kiến thức về phân số.


Vì thế tôi cần nghiên cứu tìm giải pháp giúp học sinh học tốt mạch kiến thức này
nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh về môn Toán.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân số cho học
sinh lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ GV, HS khối lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn
Phù Yên.
IV. Mục đích nghiên cứu:


Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, sáng kiến nhằm mục đích tìm ra một số Biện
pháp nâng cao chất lượng dạy học phân số cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thị
Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Ngoài ra tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn:
- Ghi lại những giải pháp mình đã làm để suy ngẫm, để chọn lọc và đúc kết
thành kinh nghiệm của bản thân.
- Được chia sẻ với đồng nghiệp những việc đã làm và đã thành công trong
dạy học kiến thức về phân số cho học sinh lớp 4.

PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng tình hình dạy học phân số ở khối lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn,
huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
1. Những thuận lợi, khó khăn:
1.1. Thuận lợi:


Trường đóng trên địa bàn thị trấn, trung tâm của huyện, cơ sở vật chất của nhà
trường đảm bảo phục vụ cho dạy - học và tổ chức các hoạt động giáo dục theo
hướng đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Đội ngũ CBQL, giáo viên nhà trường có phẩm chất chính trị tốt, chấp

hành nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước, có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, chuẩn hoá 100%,
thực hiện tốt các quy định của ngành, đảm bảo kỉ cương, dân chủ trong nhà
trường. Phần lớn giáo viên trong trường đều có ý thức đổi mới phương pháp
dạy học, thường xuyên cập nhật và chia sẻ để nâng cao trình độ chuyên và năng
lực sư phạm của bản thân.
Nhiều phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình, thường xuyên
trao đổi, chia sẻ với giáo viên. Điều đó cũng góp phân nâng cao hơn chất lượng học
tập của học sinh.
1.2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên vẫn còn tồn tại một số khó khăn như sau:
Việc nắm bắt phương pháp dạy học mới của giáo viên ít nhiều còn gặp khó
khăn, còn phụ thuộc khá nhiều vào tài liệu hướng dẫn.
Trong dạy học một số giáo viên chưa chú ý, tập trung vào rèn kỹ năng cho học
sinh. Dạy hết năm này qua năm khác nhưng chưa đầu tư rút kinh nghiệm cho bản
thân sau mỗi dạng bài học, sau mỗi mạch kiến thức.
Ở một số tiết học, nhiều giáo tổ chức hình thức dạy học thiếu sự chuẩn bị của
cả cô và trò, thiếu vận dụng hiểu biết trong cuộc sống của học sinh.
Học sinh quá hiếu động, nhiều em còn ham chơi, làm việc riêng trong lớp, hiệu
quả học tập chưa cao.
Nhiều GV còn lúng túng và chưa nhiệt tình trong việc áp dụng CNTT vào giảng
dạy.
2. Thực trạng việc dạy kiến thức về phân số ở khối lớp 4 tại nhà trường.
Công tác giảng dạy của khối lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn, cụ thể là môn Toán
vẫn còn gặp một số vướng mắc nhất là việc dạy kiến thức Phân số cho học sinh.
Sau khi nghiên cứu phương pháp dạy học môn Toán ở bậc tiểu học, đặc
biệt là phần dạy học chương “Phân số”. Qua thăm dò ý kiến của giáo viên trực
tiếp giảng dạy, qua điều tra, khảo sát và qua kinh nghiệm những năm giảng dạy
tôi nhận thấy một số những tồn tại sau:
Thứ nhất là về cấu tạo phân số trong quá trình thực hiện yêu cầu của bài toán

rút gọn phân số, học sinh hầu như chưa thể rút gọn tới phân số tối giản.
Thứ hai là về so sánh phân số trong quá trình thực hiện yêu cầu so sánh của
bài toán cần giải quyết, các em thường không nắm vững quy tắc so sánh nên dẫn
đến kết quả của bài toán thường sai một phần thậm chí sai hoàn toàn.


Thứ ba là thực hành các phép tính trên phân số trong quá trình thực hiện các
em thường mắc một số lỗi do nhầm lẫn giữa các quy tắc, cũng như bước thực hiện
nên dẫn tới cho ra kết quả chưa sát với đáp án hay sai kết quả. Sau khi hình thành
quy tắc đối với mỗi phép tính (ở phần lý thuyết) các em đều vận dụng tốt.
Nhưng khi học đến các phép tính tiếp theo các em rất dễ nhầm lẫn sang phép
tính trước mới học và những sai lầm này trở nên phổ biến ở nhiều học sinh.
Để tìm hiểu thực trạng từ đầu học kì II, năm học 2016 – 2017, tôi đã tiến hành
điều tra, khảo sát về việc dạy kiến thức này ở khối lớp 4. (Mảng kiến thức này được
dạy bắt đầu ở học kì II và chiếm 3/4 thời lượng kiến thức toán ở học kì II lớp 4).
Thứ nhất là, về nề nếp học tập môn Toán. Vào đầu năm học, ở hầu hết các lớp
trong khối các em học sinh mới chuyển từ lớp 1 lên còn bỡ ngỡ, nhiều em còn hay quên
sách vở, quên đồ dùng học tập, kĩ năng trình bày vở chưa đẹp chưa khoa học.
Thứ hai là, nhiều em quên kiến thức như bảng cộng bảng trừ, kĩ năng đặt
tính, kĩ năng giải toán có lời văn chưa thành thạo.
Thứ ba là, nhiều phụ huynh học sinh chưa quan tâm và chưa phối hợp với
giáo viên trong các hoạt động giáo dục học sinh.
Thứ tư là, công tác bồi dưỡng HS năng khiếu và phụ đạo học sinh còn khó
khăn chưa thành hệ thống.
Bảng 1: Chất lượng cuối năm học của học sinh ở khối 4 (năm học 2016 - 2017)
TSHS

Điểm 9 - 10
SL


144

60

Tỷ lệ
42,6

Điểm 7 - 8
SL
41

Tỷ lệ
28,5

Điểm 5 – 6
SL
40

Tỷ lệ
27,8

Dưới 5
SL
3

Tỷ lệ
2,1

(Nguồn tổ khối 4 năm học 2016- 2017)
*Nhận xét:

Qua bảng số liệu trên có thể thấy chất lượng môn Toán cuối năm của khối 4
năm học 2016 - 2017 chưa cao. Số lượng HS đạt điểm 9, 10 còn ít, số HS đạt điểm 7
- 8, điểm 5 - 6 còn nhiều.
3. Nguyên nhân của thực trạng:
* Về giáo viên:
- Giáo viên chưa đầu tư thực sự vào việc nghiên cứu sâu bài giảng, một số GV
còn lúng túng hoặc ngại ứng dụng CNTT vào giảng dạy.
- Khi lập kế hoạch dạy học chưa dự kiến những sai lầm học sinh thường gặp.
- Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của một số giáo viên còn hạn chế, chưa
phù hợp, chưa thực sự có hiệu quả. Thể hiện: các đề kiểm tra cuối năm, kiến thức chủ yếu
là mạch kiến thức về phân số, những học sinh làm chưa đúng do các em không hiểu bản
chất của phân số nên trong quá trình làm bài thường hay nhầm lẫn.


* Về học sinh:
- Một số em tiếp thu bài thụ động lười suy nghĩ. Nắm bắt kiến thức, hình thành kỹ năng chậm.
- Hơn nữa, trong quá trình học tập các em còn mải chơi chưa thật tập trung cho
việc học, trí nhớ thiếu bền vững nên phần nào kiến thức, kĩ năng đạt được chưa thật
vững chắc. Điều này khiến các em tiếp thu bài mới cũng gặp không ít khó khăn.
Học sinh còn có những hạn chế trong việc nhận thức: tri giác còn gắn với hành
động trên đồ vật, khó nhận biết được các kiến thức liên quan đến phân số. Chú ý của
học sinh chủ yếu là chú ý không có chủ định nên hay để ý đến cái mới lạ, cái trước
mắt hơn cái cần quan sát. Tư duy chủ yếu là tư duy cụ thể còn tư duy trừu tượng dần
dần hình thành nên học sinh rất khó hiểu được bản chất của phân số và các phép tính
liên quan đến phân số.
II. Nội dung sáng kiến.
1. Bản chất của giải pháp mới.
Ở những sáng kiến khác mọi người thường chỉ đưa ra các biện pháp để giảng
dạy kiến thức về phân số. Trong sáng kiến của tôi lại đi từ những sai lầm của HS
thường mắc phải ở từng mảng kiến thức trong chương Phân số của lớp 4. Từ những

sai lầm đó chỉ ra biện pháp mà GV áp dụng để khắc phục nhằm giúp HS nắm vững
kiến thức hơn, từ đó vận dụng thành thạo các kĩ năng so sánh, tính toán về phân số,
đồng thời tránh được những sai sót dễ mắc phải.
1.1. Giải pháp 1: Khắc phục một số sai lầm cho học sinh khi học kiến
thức về Cấu tạo phân số.
1.1.1. Điểm mới cơ bản của giải pháp.
Đã có nhiều sáng kiến đưa ra các giải pháp để khắc phục khó khăn cho HS
nhưng chưa sáng kiến nào đề ra cách giải quyết cụ thể bám sát những sai lầm của
học sinh ở từng khía cạnh nhỏ trong mạch kiến thức về phân số. Trong giải pháp
này tôi chỉ ra từng lỗi sai lầm mà HS thường mắc, từ đó đưa ra các giải pháp khắc
phục những sai lầm đó cho HS. Từ đó giúp các em học tốt hơn môn kiến thức này ở
lớp 4, cụ thể trong kiến thức về phân số.
1.1.2 Các bước thực hiện giải pháp:
Bước 1: Phát hiện lỗi thường mắc của HS.
Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm tòi để phát hiện ra những lỗi thường mắc
phải của học sinh khi học những bài đầu về cấu tạo phân số.
a) Lỗi thường mắc phải của học sinh:
Ví dụ: Rút gọn phân số sau:

12 12 : 2 6
=
= Chưa tối giản. (1)
8
8:2 4
15 15 : 3 5
= (2)
* =
5
5:3 1


*

* Nguyên nhân: Do các em chủ quan, nên khi gặp yêu cầu rút gọn phân số thì
các em chỉ cần rút gọn được phân số đó là được, không quan tâm xem phân số đó
đã được rút gọn tối giản hay chưa.


Các em chưa nắm chắc bảng nhân, chia, các dấu hiệu chia hết nên khi rút gọn
còn gặp nhiều lúng túng.
Chưa nắm vững các kiến thức về cấu tạo của phân số để áp dụng có hiệu quả
vào việc làm toán.
Bước 2: Biện pháp khắc phục:
Từ những lỗi sai đó, tôi rút ra một số kiến thức cần ghi nhớ ở mỗi phần học,
bài học. Nắm rõ mục tiêu yêu cầu của bài, từ đó hướng dẫn các em thực hiện tốt yêu
cầu của các bài tập thực hành hay luyện tập theo chuẩn kiến thức kĩ năng.
+ Yêu cầu học sinh học thuộc và ứng dụng tốt bảng nhân chia trong quá trình
học tập, kiểm tra thường xuyên có chấn chỉnh kịp thời.
+ Củng cố cho HS nắm vững dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9 để giúp các em vận
dụng vào rút gọn phân số. Bên cạnh đó tôi còn hướng dẫn để các em nhận ra dấu hiệu
chia hết cho 4 (Hai chữ số tận cùng của số đó tạo thành 1 số chia hết cho 4 thì số đó
chia hết cho 4 cộng thêm trường hợp các số tròn trăm, tròn nghìn,...); dấu hiệu chia hết
cho 6 (số vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 3 thì chia hết cho 6); dấu hiệu chia hết
cho 8 (số vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 4 thì số đó chia hết cho 8); dấu hiệu chia
hết cho 10 (số có chữ số tận cùng là chữ số 0).
+ Trong quá trình dạy học giáo viên cần nhấn mạnh cho các em thấy và nắm
được các quy tắc, nội dung cần ghi nhớ về cấu tạo phân số nhất là kiến thức rút gọn
phân số. Cụ thể là:
1. Thương của phép chia số tự nhiên cho số tự nhiên (khác 0) có thể viết
thành phân số, tử số là số bị chia, mẫu số là số chia a: b =


a
( với b ≠ 0 ).
b

- Mẫu số b chỉ phân số phần bằng nhau lấy ra từ một đơn vị, tử số a chỉ số
phần lấy đi.
2. Mỗi số tự nhiên có thể viết thành phân số mẫu số là 1: a =

a
1

3. Phân số nào có tử số nhỏ hơn mẫu số thì nhỏ hơn 1; phân số nào có tử số
lớn hơn mẫu số thì lớn hơn 1, phân số nào có tử số bằng mẫu số thì bằng 1.
Ngoài ra trong quá trình hướng dẫn HS làm bài tập, giáo viên có thể lưu ý HS
phân số tối giản là những phân số mà cả tử số và mẫu số không cùng chia hết cho 1
số tự nhiên lớn hơn 1. Và những phân số tối giản thường có đặc điểm sau:
+ Phân số có tử số và mẫu số là 2 số tự nhiên liên tiếp.
+ Phân số có tử số và mẫu số là 2 số tự nhiên lẻ liên tiếp.
+ Những phân số có tử số là 1.
Từ các kiến thức trên, GV gợi ý thêm để học HS sinh rút gọn phân số trên cho
tới khi tối giản:
*

6 6:2 3
=
= (1)
4 4:2 2

Sau đó gợi ý cho HS thấy được từ 2 lần rút gọn trên ta có thể tiến hành một
lần rút gọn để phân số đó tối giản trong 1 lần rút gọn:



Xét 2 lần chia mỗi lần chia cả tử số và mẫu số cho 2 cả 2 lần chia ta đã giảm
tử số và mẫu số đi: 2 x 2 = 4 (lần).
Ta xét thấy cả tử số (12), mẫu số (8) đều chia hết cho 4 (số chia lớn nhất của 2 số).
Tiến hành rút gọn:

12 12 : 4 3 3
12
=
=
( là phân số rút gọn của phân số , đây là
8
8:4 2 2
8

phân số tối giản).
*

15 15 : 3 5
=
= (2) Yêu cầu HS dựa vào dấu hiệu chia hết và bảng chia 5 để
5
5:3 1

rút gọn phân số trên

15 15 : 5 3
=
= = 3 . Từ đó cho thấy, nếu HS nắm được kiến thức

5
5:5 1

cần nhớ, kết hợp với một số kinh nghiệm làm bài thì sẽ khắc phục được những sai
lầm hay chưa đi đến mục tiêu, yêu cầu của bài tập trong khi làm bài.
1.1.3. Kết quả của giải pháp:
Khi áp dụng những giải pháp trên trong quá trình dạy HS rút gọn phân số thì sau một
thời gian áp dụng giải pháp này, HS các lớp của khối 4 năm học 2017 – 2018 và năm học
2018 – 2019 đã có kĩ năng rút gọn phân số tốt hơn. Nhiều em biết rút gọn đến kết quả là
phân số tối giản sau 1 đến 2 lần chia với những phân số phải qua nhiều lần rút gọn. Đặc
biệt, các em rất hào hứng với kiến thức mới liên quan đến phân số.
1.2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng so sánh phân số với phân số, phân số với số tự nhiên
và ngược lại.
1.2.1. Điểm mới cơ bản của giải pháp.
Để rèn được kĩ năng so sánh phân số với phân số, phân số với số tự nhiên,
trước tiên tôi cũng tìm hiểu những sai lầm mà HS hay mắc và dự đoán những sai
lầm sẽ mắc phải. Từ đó tôi đưa ra các giải pháp để HS nắm vững kiến thức rồi hoàn
thành các bài tập một cách chính xác.
1.2.2. Các bước thực hiện giải pháp:
Bước 1: Xác định lỗi cơ bản HS hay mắc.
*Trong quá trình thực hiện việc so sánh các em thường mắc một số lỗi cơ bản sau:
VD: So sánh:
1
2
1
2

Học sinh làm sai:
<
5

2
5
2
3
3
b) 1 và
HS thường làm: 1 <
4
4
5
5
c) 1 và
HS làm sai là:
1 >
2
2
7
7
d) và HS thường quy đồng rồi mới so sánh rất lâu và dẫn đến được phân
9
8

a)

số mới rất lớn, thậm chí còn quy đồng sai.
* Nguyên nhân:
*Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sai:
Do các em chủ quan cứ thấy phân số nào có các chữ số lớn hơn là các em cho
rằng phân số đó lớn hơn.



Đối với số tự nhiên các em máy móc không chú ý đến tử số và mẫu số của
phân số (tử số lớn hơn mẫu số thì phân số đó lớn hơn 1 và ngược lại tử số bé hơn
mẫu số thì phân số đó bé hơn 1).
Đối với tử số các em mới chỉ so sánh được phần nguyên chưa chú ý đến phần
phân số nên các em dễ làm sai.
Các em chưa nắm được các phân số mà các tử số bằng nhau thì so sánh mẫu
số (phân số nào có tử số bé hơn thì phân số đó lớn hơn và ngược lại).
Bước 2: Giải pháp khắc phục:
GV cần chú ý hình thành các kiến thức và các kĩ năng sau cho HS:
- Tất cả các số tự nhiên có thể viết về dạng phân số. Đặc biệt số 1 thì ta đưa
về phân số có mẫu số và tử số bằng nhau và khác 0.
- Muốn so sánh được hai phân số khác mẫu thì phải quy đồng mẫu số hai
phân số, rồi so sánh hai phân số mới từ đó kết luận về hai phân số ban đầu.
- Phân số nào có tử số bé hơn mẫu số thì phân số đó bé hơn 1 và ngược lại.
- Đối với các phân số có các tử số bằng nhau thì các em so sánh các mẫu số:
Mẫu số phân số nào lớn thì phân số bé hơn và ngược lại.
+ Khi so sánh hai phân số:
Có cùng mẫu số: Ta so sánh hai tử số, phân số nào có tử số lớn hơn thì lớn hơn.
Không có cùng mẫu số: Trước hết ta quy đồng mẫu số rồi so sánh như trường hợp trên.
*Lưu ý:
Đối với học sinh có năng khiếu có thể dạy thêm cho HS một số cách so sánh sau:
+ So sánh qua một phân số trung gian.
a
c
c
e
a
e
<


<
thì
<
b
d
d
f
b
f

+ So sánh hai phần bù với 1 của mỗi phân số.
1 −

c
< 1−
d

a
b

thì

a
c
>
b
d

So sánh “phần hơn” với 1 của một phân số.

a
c
a
c
−1 <
−1 thì
<
b
d
b
d

Từ đó các giải pháp trên của GV, HS có thể thực hiện chính xác các phép tính
sai ở trên như sau:
1
2
1 1× 5
5 2 2×2
4
và Quy đồng mẫu số các phân số =
= ; =
=
2
5
2 2 × 5 10 5 5 × 2 10
5
4
1 2
Vì > nên >
10 10

2 5
3
3
b) 1 và
Vì: Tử số 3 bé hơn mẫu số 4 nên 1 > .
4
4
5
5
c) 1 và
Vì: Tử số 5 lớn hơn mẫu số 4 nên 1 <
2
2

a)


7
7
và Vì tử số hai phân số bằng nhau (bằng 7) mà mẫu số của phân số
9
8
7
7
thứ nhất lớn hơn mẫu số của phân số thứ hai (9>8) nên <
9
8

d)


Việc so sánh phân số còn góp phần quan trọng trong việc thực hiện các phép
tính cộng, trừ hai phân số khác mẫu số. Chính vì vậy mà trong quá trình dạy kiến
thức so sánh phân số giáo viên cần giúp các em nắm vững kiến thức, quy tắc so
sánh để sau này các em thực hiện các phép tính phân số được tốt hơn.
1.2.3. Kết quả của giải pháp:
- Khi áp dụng những giải pháp trên trong quá trình dạy HS so sánh phân số
đa số học sinh đã nắm được các cách so sánh các phân số. HS biết phân tích những
sai lầm của bạn mình, từ đó biết cách khắc phục, tránh được những sai lầm dễ mắc.
1.3. Giải pháp 3: Khắc phục một số sai lầm cho học sinh khi thực hiện
bốn phép tính với phân số.
1.3.1. Điểm mới cơ bản của giải pháp.
Đối với kiến thức về bốn phép tính với phân số tưởng như có thể dễ dàng giúp
HS thực hiện tốt nhưng các em lại rất hay lẫn lộn cách thực hiện 4 phép tính này với
nhau, nhất là trong các tiết Luyện tập, Luyện tập chung và Ôn Toán. Để giúp các em
nhớ lâu, thực hiện chính xác tôi đã hình thành các quy tắc của từng phép tính, từ đó
giúp các em khái quát hóa cách thực hiện 4 phép tính.
1.3.2. Các bước thực hiện giải pháp:
Ở giải pháp này tôi đi chỉ ra sai lầm và cách khắc phục ở từng phép tính đối
với phân số như sau:
a.1. Sai lầm khi thực hiện phép cộng phân số với phân số, phân số với số tự
nhiên và ngược lại.
VD: Tính
1
2
1
2
3
+ Học sinh thường làm sai: + =
5
5

5
5
10
3
5
3
5
3+5
8
1
b) + Học sinh thường làm sai: + =
=
=
8 16
8 16
8 + 16 24 3
6
6
5 6
5+6
11
c) 5 +
Học sinh thường làm sai: 5 + = + =
=
7
7
1 7
1+ 7
8
6 5+6

11
hoặc: 5 + =
=
7
7
7

a)

Các phép tính trên HS đều làm sai do học sinh nắm kiến thức bài học chưa tốt
hoặc do nhầm lẫn các phép tính trong phân số.
b.1. Nguyên nhân:
- Trong ví dụ a và b: Do các em chưa nắm chắc được quy tắc cộng hai phân
số cùng mẫu số và khác mẫu số. Các em đã nhầm lẫn với phép nhân hai phân số.
Đặc biệt với phân số khác mẫu số các em đã đưa về phân số cùng mẫu số rồi tiếp
dẫn đến sai lầm như ví dụ 1.


- Trong ví dụ c: Học sinh mắc phải sau khi học xong bài nhân hai phân số.
Do học sinh không nắm vững chú ý (Mọi số tự nhiên đều có thể viết dưới dạng có
mẫu số khác 0). Từ đó HS không vận dụng được quy tắc cộng hai phân số. Vì vậy
HS không chuyển đổi số tự nhiên về phân số để tính.
c.1. Biện pháp khắc phục:
- Trong khi dạy học bài mới, giáo viên cần chú ý khắc sâu kiến thức cơ bản.
Yêu cầu học sinh nắm chắc quy tắc, hiểu bản chất quy tắc cộng hai phân số cùng
mẫu số và khác mẫu số.
- Rèn kỹ năng giải bài tập qua việc chú ý đưa ra những “bẫy” sai lầm mà học
sinh thường mắc phải. Cho học sinh thực hiện sau đó giáo viên phân tích kỹ nguyên
nhân sai lầm của các em để kịp thời uốn nắn, sửa chữa.
- Rèn kỹ năng nhớ quy tắc thông qua ví dụ để trình bày quy tắc, tránh tình

trạng nhớ máy móc của các em. Cụ thể:
Phép cộng:
+ Muốn cộng hai phân số có cùng mẫu số, ta cộng hai tử số với nhau và giữ
nguyên mẫu số.
+ Muốn cộng hai phân số khác mẫu số, ta quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số đó.
+ Cách giải:
Ở ví dụ a :

1
2 3
+ = (Cộng tử số với tử số mẫu số giữ nguyên)
5
5 5

Ở ví dụ b: Có thể giải một trong hai cách.
3
5
48 40
88
+ =
+
=
(Quy đồng mẫu số các phân số)
8 16 128 128 128
88 11
Sau đó rút gọn
=
128 16
3
5

11
Vậy : + =
8 16
16
3
5
3 6
3
5 6 5 11
Cách 2 : + Vì 16 : 8 = 2 nên = Do đó
+ = + =
8 16
8 16
8 16 16 16 16

Cách 1 :

Giáo viên cần khuyến khích HS cách giải 2: Nếu hai mẫu số của hai phân số
chia hết cho nhau ta chỉ việc quy đồng mẫu số phân số bé với mẫu số chung là mẫu
số của phân số lớn.
Với ví dụ c: Ta viết số tự nhiên thành phân số có mẫu số bằng mẫu số của
phân số đã cho. (5 =

5
35
6 5 6 35
6 41
=
) do đó : 5 + = + =
+ =

1
7
7 1 7
7
7 7

Như vậy trong phép cộng giáo viên cần chú ý cho HS nắm vững quy tắc cộng
phân số, cách chuyển đổi số tự nhiên về phân số sau đó thực hiện cộng hai phân số
như đã học ở ví dụ 1 và 2.
a.2. Sai lầm khi thực hiện phép trừ phân số đối với phân số, phân số với số tự
nhiên và ngược lại.
Đối với phép trừ các em thường mắc sai lầm như phép cộng, ngoài ra các em
còn mắc phải một số sai lầm như sau:


1 1
1 1
1−1
0
Một số HS làm: - =
= = 0 ; Một số thì cho rằng phép
4 6
4 6
4−6 2
1
1
tính không thực hiện được vì: <
4
6
3

3
2
3
VD2: 2 Một số học sinh làm: 2 - = - không thực hiện được vì:
2
2
1
2
2 3
<
1 2

VD1 : -

b.2. Nguyên nhân
* Do các em không nắm vững biện pháp so sánh hai phân số, quy tắc trừ hai
phân số, cách chuyển số tự nhiên về phân số.
* Do thủ thuật tính toán của các em chưa thật vững, các em còn cẩu thả trong
tính toán.
c.2. Biện pháp khắc phục. (tương tự như phép cộng)
- Đối với ví dụ 1 và 2: Yêu cầu học sinh nắm vững quy tắc trừ hai phân số
Đồng thời chỉ ra chỗ sai lầm cho học sinh thấy, rồi cho các em làm các bài tập
tương tự.
+ Hướng dẫn VD1:

1 1
- Quy đồng mẫu số các phân số
4 6

1 1× 6

6
=
=
4 4×6
24
1 1× 4
4
=
=
6 6×4
24
1 1 6
4
2
1
Vậy: - = = =
4 6 24 24 24 12

Với ví dụ này cần tìm mẫu số chung nhỏ nhất (Tức là đi tìm một số nhỏ nhất
mà chia hết cho cả 4 và 6 số đó là 12).
Ta có:

Do đó:

1 1× 3 3
=
=
4 4 × 3 12
1 1× 2 2
12 : 6 = 2 nên =

=
6 6 × 2 12
1 1 3 2
1
- = - =
4 6 12 12 12

12 : 4 = 3 nên

+ Đối với ví dụ 2: (Tương tự ở phép cộng)
3
2

2- =

2 3
4 3 1
- = - =
1 2
2 2 2

a.3. Sai lầm khi thực hiện nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự
nhiên và ngược lại.
Với phép nhân thì các em ít mắc sai lầm song có một số dạng đặc biệt và một
số ít học sinh mắc phải.
VD1 : Tính ;
VD2: Tính:

2
3

2
3
6
x có học sinh làm : x = (nhầm với phép cộng)
5
5
5
5
5
4
3 x (nhân số tự nhiên với phân số và ngược lại)
7


Có học sinh làm: 3 x

4
12
4
21
4
147
21 × 7
=
hoặc 3 x =
x =
=
7×4
7
21

7
7
7
28

b.3. Nguyên nhân:
- Sự sai lầm thường rơi vào tiết Luyện tập. Do học sinh nắm quy tắc nhân
phân số chưa thật chắc đã nhầm sang phép cộng hai phân số cùng mẫu số.
- Trong ví dụ 2 ngoài việc không nắm được quy tắc nhân thì các em còn
không nắm được số tự nhiên là phân số đặc biệt có mẫu số là 1. Một số em thì nhầm
phép nhân với phép chia.
c.3. Biện pháp khắc phục:
- Trước khi làm phần bài tập (Luyện tập) yêu cầu học sinh nhắc lại quy tắc và
một số chú ý trong sách giáo khoa có liên quan đến kiến thức bài học.
- Trong khi thực hành mẫu giáo viên cần thực hiện từng bước một rõ ràng, cụ
thể không thể làm đơn giản (làm tắt). Để khi thực hiện những học sinh yếu nắm
được cách làm.
Phép nhân: Muốn nhân hai phân số, ta nhân tử số với tử số, mẫu số nhân
với mẫu số.
+ Hướng dẫn học sinh khắc phục:
2
3
2×3
6
x
=
=
(nhân tử số với tử số, mẫu số với mẫu số)
5
5

5×5
25
4
3
4
3 4 12
Với ví dụ 2: 3 x (vì 3 = ) nên 3 x = x =
7
1
7
1 7 7
4
21 4
84 12
Hoặc: 3 x
=
x
=
=
7
7
7
49 7

Với ví dụ 1:

(Đối với nhân số tự nhiên với phân số hoặc ngược lại thì ta chỉ việc nhân số
tự nhiên với tử số của phân số giữ nguyên mẫu số).
a.4. Phép chia phân số với phân số, số tự nhiên và ngược lại.
Với phép chia thì các em dễ sai lầm giữa phép nhân và phép chia, đến phần

này các em lúng túng không biết làm như thế nào.
VD1: Tính:

VD2: Tính:

3 5
3× 5
15
: =
=
7 8
7×8
56
3 5
5× 7
35
: =
=
7 8
8×3
24
3
3
3× 2
6
: 2 Học sinh làm sai: : 2 =
=
4
4
4

4

3
5
:
7
8

Học sinh làm sai:

b.4. Nguyên nhân.
- Phép chia hai phân số khó hơn các phép tính đã học trước đó vì nó vừa áp
dụng quy tắc chia vừa phải vận dụng kiến thức của phép nhân hai phân số đã học,
đặc biệt là việc đảo ngược phân số thứ hai.
- Các em sai lầm do không nắm được quy tắc nhân, chia phân số do đó nhầm
lẫn giữa phép nhân và phép chia. Từ đó đối với số tự nhiên cũng gặp sự sai lầm
tương tự.
c.4. Biện pháp khắc phục.


- Đối với ví dụ 1: Yêu cầu các em cần phân biệt rõ quy tắc nhân và chia. Giáo
viên cần chỉ rõ chỗ sai lầm, khi làm mẫu cần làm đủ các bước không nên làm tắt..
Quy tắc phép chia: Muốn chia một phân số cho một phân số, ta lấy phân
số thứ nhất nhân với phân số thứ hai đảo ngược.
Cụ thể:

3 5
3
8
3×8

24
: = x =
=
(nhân phân số thứ hai đảo ngược).
7 8
7
5
7×5
35

- Đối với ví dụ thứ 2: Giáo viên lại phải khắc sâu một lần nữa (số tự nhiên là
phân số đặc biệt) sau đó hướng dẫn cách làm:
3
3 2
3 1 3
:2= : = x =
4
4 1
4 2 8

* Một số lưu ý khi dạy bốn phép tính về phân số.
Lưu ý:
a. Tính chất giao hoán:
a
c
c
a
+
=
+ ;

b
d
d
b

a
c
c
a
x
=
x
b
d
d
b

b.Tính chất kết hợp:
e
c e
a
a c 
 +  ;
 +  +
=
+
f
b
b d 
d f 


a c  e a  c e 
 ×  × = ×  × 
b d  f b d f 

c. Tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng:
e
c e
a
a
c
a
x  +  =
x + x f
b
b
d
b
d f 

Ngoài các tiết học chính theo phân phối chương trình toán về phân số giáo
viên còn tổ chức rèn cho học sinh giải bài tập toán về phân số mỗi tuần 1-2 tiết. Nội
dung các bài tập toán ở Vở bài tập toán 4, đối với học sinh ở mức Hoàn thành tốt,
giáo viên tổ chức cho học sinh giải lượng bài tập nhiều hơn, giáo viên chỉ gợi ý đối
với bài toán khó, kiểm tra sát để kịp thời sửa chữa chỗ sai mà học sinh còn vướng
phải, đồng thời giáo viên giải thích chỉ rõ chỗ học sinh còn mắc phải.
Đối với học sinh ở mức Hoàn thành hoặc Chưa hoàn thành, giáo viên tổ chức
cho học sinh giải lượng bài tập ít hơn và nội dung bài tập phù hợp với trình độ
chuẩn của học sinh, giáo viên theo dõi gợi ý, giúp học sinh nhiều hơn, sửa chữa
điều chỉnh chỗ sai kịp thời, giải thích cho học sinh hiểu rõ. Đối với bài toán khó

giáo viên cần tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để tìm các bước giải, sau đó
từng cá nhân tự giải vào vở. Đối với học sinh tiến bộ giáo viên khuyến khích động
viên, khích lệ tạo động cơ học tập cho các em.
1.3.3. Kết quả đạt được:
- Sau khi thực hiện các giải pháp trên tôi nhận thấy kết quả học tập của HS
khi học kiến thức phần này đã có nhiều tiến bộ. Các em nắm vững kiến thức hơn và
thực hành thành thạo các bài tập liên quan đến 4 phép tính cộng, trừ, nhân và chia
có liên quan đến phân số.
1.4. Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học phân số.
1.4.1. Điểm mới cơ bản của giải pháp.


Ứng dụng CNTT trong dạy học toán ở Tiểu học đã được nhiều giáo viên áp
dụng và đạt nhiều thành công đáng kể. Tuy nhiên không phải giáo viên nào cũng
chú trọng vì việc soạn giảng giáo án điện tử rất mất thời gian và đòi hỏi kiến thức
nhất định của người GV về CNTT. Ở giải pháp này tôi đã tập trung nghiên cứu và
đưa vào giảng dạy những ứng dụng của CNTT trong các tiết dạy học về phân số.
Nhất là ở những bài hình thành biểu tượng ban đầu cho HS về khái niệm phân số,
các tính chất cơ bản của phân số, các phép tính về phân số và so sánh phân số.
1.4.2. Các bước thực hiện giải pháp:
Bước 1: Nghiên cứu nội dung chương trình dạy học phân số trong SGK Toán
lớp 4 để chọn lựa những nội dung, tiết học có thể sử dụng có hiệu quả CNTT.
- GV cần chọn lựa những bài học cần thiết phải có sự trợ giúp của CNTT để hình
thành cho HS có biểu tượng về khái niệm phân số, về khái niệm phân số, các tính
chất cơ bản của phân số,…Đặc biệt là các trò chơi học tập nhằm củng cố kiến thức
trong các tiết học. Các hỗ trợ về CNTT này phải gây hứng thú cho HS, giúp HS
nắm chắc hơn các kiến thức của bài học thay vì ghi nhớ máy móc.
Bước 2: Tiến hành soạn giáo án điện tử.
Trong Microsoft Office, PowerPoint là một trong những chương trình trình
diễn cho phép thực hiện hầu hết các yêu cầu trong giảng dạy theo phương pháp hiện

đại; là một chương trình có nhiều tiện ích đối với việc thiết kế, trình bày bài giảng
với nhiều tính năng đa dạng và phong phú. Để thiết kế một giáo án điện tử theo
chương trình PowerPoint đảm bảo các yêu cầu đúng về nội dung và đẹp về hình
thức. Đây là khâu quan trọng trong việc thiết kế giáo án. Giáo án được xây dựng phải
bảo đảm các nguyên tắc sư phạm, nội dung kiến thức cơ bản của bài giảng, đáp ứng
mục đích, yêu cầu đã đặt ra.
Điều rất quan trọng mà GVphải hết sức lưu tâm là khi soạn giáo án điện tử phải
căn cứ vào giáo án “nền” (giáo án “nền” là giáo án dùng cho các bài giảng theo
phương pháp truyền thống - chưa khai thác, sử dụng PowerPoint trong giảng dạy).
Trên cơ sở đó để tìm tòi, phát hiện, khai thác thế mạnh của PowerPoint nhằm tăng
cường tính tích cực hoá quá trình nhận thức trong hoạt động học tập của HS.
- Sau khi soạn xong phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai
sót, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện. Kinh nghiệm cho
thấy không nên chạy thử từng phần trong quá trình thiết kế bài giảng mà phải chạy
lại toàn bộ.
Bước 3: Tiến hành giảng dạy giáo án điện tử theo phân phối chương trình và
chỉnh sửa lại những điểm còn hạn chế của giáo án làm tư liệu cho năm học sau.
- Ở bước này GV cần lưu ý vì giáo án điện tử chỉ chỉ gồm một số slide, các
slide chỉ chứa từ khóa, hình ảnh… nên giáo viên phải xây dựng cho mình một đề


cương bài giảng. Đề cương ghi rõ số tiết dạy của môn học, tên bài giảng tương ứng
với các tiết học, nội dung cụ thể sẽ được trình bày trong mỗi tiết học là gì? Vấn đề
nào trình bày trước, vấn đề nào trình bày sau? Vấn đề nào cần được trọng tâm và
nhấn mạnh? Dành thời gian cho từng vấn đề là bao nhiêu? … Sở dĩ cần chuẩn bị kỹ
lưỡng như vậy là vì nếu tiết giảng dạy đó GV chưa đi hết nội dung các slide hay đã
trình bày hết nhưng thời gian còn thừa là đồng nghĩa với việc “cháy giáo án” và
không đảm bảo được yêu cầu của bài dạy. Kết hợp đề cương này cùng một bản in
cầm tay một cách hợp lý chắc chắn sẽ không mắc phải sự cố này.
1.4.3. Kết quả của giải pháp.

- Trong các tiết học, học sinh hào hứng và tích cực chiếm lĩnh kiến thức hơn.
Giờ học lôi cuốn được toàn bộ HS trong lớp cùng tham gia. Việc ghi nhớ và thực
hành các kiến thức mới của các em dễ dàng hơn tránh được sự nhàm chán cho HS.
- Nhờ vậy, kết quả học tập của HS trong khối lớp 4 cũng được cải thiện rõ rệt,
nhất là ý thức tham gia các hoạt động học tập và kĩ năng nắm kiến thức.
2. Ưu điểm, nhược điểm của giải pháp mới:
2.1. Ưu điểm:
Bước đầu thực hiện các giải pháp trên một cách có hệ thống, thường xuyên
hơn bản thân tôi và các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn khối 4 đã nhận thấy việc
dạy học kiến thức về Phân số rất quan trọng. Đồng thời các giải pháp trên thực sự
mang lại hiệu quả và hứng thú cho HS đối với phần kiến thức với Phân số nói riêng
và môn Toán nói chung.
2.2. Nhược điểm: (Không có)
III. Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến đã được áp dụng từ tháng 1 năm 2016 đến nay tại khối lớp 4
trường Tiểu học Thị Trấn.
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp dạy học môn Toán.
Các điều kiện để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên giảng dạy phải có kiến thức vững vàng về môn Toán nói chung và
môn Toán lớp 4 nói riêng, và có kĩ năng ứng dụng CNTT thành thạo để có thể thiết
kế cũng như tổ chức dạy các tiết học có ứng dụng CNTT.
- Giáo viên cần luôn lắng nghe, quan tâm đến những sai lầm HS mắc phải và
dự đoán những sai lầm có thể mắc, điều chỉnh các bước của từng giải pháp cho phù
hợp với tình hình của lớp.
Phạm vi có thể áp dụng sáng kiến: Tôi thiết nghĩ sáng kiến này không chỉ áp dụng cho
giáo viên dạy môn Toán khối lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn mà có thể áp dụng cho các khối
lớp 4 trong các trường Tiểu học khác trong và ngoài tỉnh có cùng đặc thù.
IV. Hiệu quả lợi ích thu được khi áp dụng sáng kiến:



Sau khi áp dụng các giải pháp trên trong dạy học kiến thức về Phân số tôi
nhận thấy kết quả thu được như sau:
Về phía giáo viên, các đồng chí đều chia sẻ và tích cực phản hồi. Từ đó
chúng tôi cùng trao đổi những vướng mắc trong quá trình thực hiện, phân tích
những kết quả đạt được.
Về phía học sinh, các em nắm chắc kiến thức, thực hành tốt và đạt kết quả khá
cao khi giáo viên chữa bài. Đồng thời các em hạn chế được những sai lầm dễ mắc.
Bảng 2: Chất lượng cuối năm học của học sinh ở khối 4 (năm học 2017 - 2018)
TSHS

Điểm 9 - 10
SL

180

Tỷ lệ

135

75

Điểm 7 - 8
SL
21

Tỷ lệ
11,7

Điểm 5 – 6
SL

23

Tỷ lệ
12,8

Dưới 5
SL
1

Tỷ lệ
0,5

(Nguồn tổ khối 4 năm học 2017- 2018)
Bảng 3: Chất lượng bài kiểm tra khảo sát do nhà trường tiến hành đối với học
sinh ở khối 4 năm học 2018 – 2019 (Tuần học thứ 33 - Do thời điểm nghiệm thu
sáng kiến chưa kết thúc năm học).
TSHS

Điểm 9 - 10
SL

190

140

Tỷ lệ
73,7

Điểm 7 - 8
SL

26

Tỷ lệ
13,7

Điểm 5 – 6
SL
23

Tỷ lệ
12,1

Dưới 5
SL
1

Tỷ lệ
0,5

(Nguồn tổ khối 4 năm học 2018 - 2019)
Nhận xét:
Qua hai năm triển khai áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân số
ở khối lớp khối 4 đã có hiệu quả. Trong các giờ học Toán, học sinh đã hứng thú
hơn, kĩ năng tính toán và giải toán với phân số đã nâng cao rõ rệt nhanh hơn và
chính xác hơn. Không khí học tập cũng sôi nổi hơn. Từ đó tháo gỡ được những băn
khoăn, vướng mắc đối với giáo viên khi dạy học mảng kiến thức này.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng sáng kiến.
- Sáng kiến kinh nghiệm của tôi sau một thời gian nghiên cứu đã chỉ ra được
những thực trạng còn tồn tại trong việc dạy học về phân số của giáo viên và học

sinh của khối lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.


- Đồng thời, tôi cũng chỉ ra được bài học: muốn truyền đạt cho HS nắm được
cách giải các bài toán về phân số, người GV phải nghiên cứu, đọc tài liệu, để tìm ra
các dạng bài tập theo nội dung kiến thức khác nhau một cách cụ thể. Muốn nắm
vững các kiến thức về Phân số phải củng cố cho HS nhiều kiến thức khác nhau
trong môn Toán như các dạng toán cơ bản, các tính chất cơ bản của các phép tính…
để HS dễ hiểu, dễ nhớ GV phải phối hợp nhiều phương pháp trong giảng dạy. Đặc
biệt coi trọng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS. Người GV chỉ đóng
vai trò gợi mở, dẫn dắt để HS tự tìm ra cách làm. Dạy cho HS cách quan sát, phân
tích các dữ kiện của đầu bài, tìm hiểu mối liên hệ giữa các dữ kiện, cách suy luận lô
gic.
- Ngoài các tiết học theo phân phối chương trình về Phân số, GV còn tổ chức
cho HS giải bài tập về Phân số mỗi tuần 1 đến 2 tiết ôn Toán. Đặc biệt, GV cần
chữa bài thường xuyên, cần quan tâm đến những sai lầm HS thường mắc phải, từ đó
có biện pháp khắc phục. Hay nói cách khác là đi từ những sai lầm của HS dễ mắc
để khắc sâu kiến thức cho HS tránh.
- Người giáo viên phải liên tục tự học, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, nhất
là khả năng ứng dụng CNTT trong các tiết học.
2. Những kiến nghị, đề xuất để triển khai, ứng dụng sáng kiến vào thực tiễn
Để các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân số cho học sinh lớp 4 trên
được thực hiện, chúng tôi xin có một số kiến nghị với các cấp quản lí ngành Giáo
dục và đào tạo:
- Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được giao lưu học tập kinh nghiệm
giảng dạy ở các trường điểm hoặc các mô hình hay của ngành.
- Nâng cao chất lượng các lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ hàng năm cho giáo viên.
- Cần tăng cường và từng bước đồng bộ hoá việc trang bị cơ sở vật chất cho các
trường, đảm bảo điều kiện để giáo viên thực hiện tốt công tác giảng dạy của mình.
3. Cam kết không sao chép bản quyền.

- Tôi xin cam đoan sáng kiến này do chính tôi nghiên cứu, áp dụng và thử
nghiệm không sao chép bản quyền của bất cứ ai.
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Phù Yên, ngày 02 tháng 5 năm 2019
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Đào Thị Nhung
Nguyễn Thị Vũ Hương
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân số cho học sinh
khối lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp dạy học môn Toán


3. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Vũ Hương

Nữ

Trình độ đào tạo: Đại học Giáo dục Tiểu học
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Điện thoại: 0987943252 Email:
Tỉ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Thị Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Địa chỉ: Khối 10, thị trấn Phù Yên, tỉnh Sơn La
ĐT: 02123863516
5. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 1 năm 2017


MỤC LỤC
Nội dung
1. Thông tin chung về sáng kiến
2. Mục lục
3. Danh mục những cụm từ viết tắt trong sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của giải pháp
II. Lí do chọn giải pháp
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
IV. Mục đích nghiên cứu

Trang

1
2
2
2


PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng tình hình dạy học phân số ở khối lớp 4 trường Tiểu
học Thị Trấn, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
1. Những thuận lợi, khó khăn.
2. Thực trạng việc dạy kiến thức về phân số ở khối lớp 4 tại nhà
trường.
3. Nguyên nhân của thực trạng.
II. Nội dung của sáng kiến
1. Bản chất của giải pháp mới.
1.1. Giải pháp 1: Khắc phục một số sai lầm cho HS khi học kiến thức

về Cấu tạo phân số.
1.2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng so sánh phân số với phân số, phân số
với số tự nhiên và ngược lại.
1.3. Giải pháp 3: Khắc phục một số sai lầm cho HS khi thực hiện bốn
phép tính với phân số.
1.4. Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phân số.
2. Ưu điểm, nhược điểm của giải pháp mới.
III. Khả năng áp dụng của sáng kiến
IV. Hiệu quả, lợi ích thu được khi áp dụng sáng kiến
PHẦN KẾT LUẬN
1. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình áp dụng sáng kiến.
2. Những kiến nghị, đề xuất được triển khai, ứng dụng sáng kiến vào
thực tiễn.
3. Cam kết không sao chép bản quyền.

3
3
3
3
4
5
5
5
7
9
13
15
15
15
17

17
17
17

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Chữ viết tắt
CBQL
HS
GV
CNTT

Chữ viết đầy đủ
Cán bộ quản lí
Học sinh
Giáo viên
Công nghệ thông tin


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ GD&ĐT, (2006), Chương trình Giáo dục phổ thông - Cấp Tiểu học,
NXBGD, Hà Nội.
2. Bộ GD&ĐT, (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông mới NXBGD, Hà Nội.
3. Bộ GD&ĐT, (2011), Điều lệ trường tiểu học.
4. Bộ GD&ĐT, (2010), Sổ tay hướng dẫn hoạt động dạy học cả ngày.
5. GD&ĐT, (2018), Thông tư số 17/2018/TT-BGD&ĐT ngày 22/8/2018 Thông tư
ban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn Quốc
gia đối với trường tiểu học
6. Nghị quyết số 29-NQ/TW



HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN PHÊ DUYỆT
......................................................................................................................................
................................................................................................................................
......................................................................................................................................


................................................................................................................................
......................................................................................................................................
................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
..........................................................................................................................
......................................................................................................................................
................................................................................................................................
......................................................................................................................................
................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
..........................................................................................................................
......................................................................................................................................
................................................................................................................................
......................................................................................................................................
................................................................................................................................
......................................................................................................................................
................................................................................................................................

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………


XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRÊN
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………



2/ Kết quả đạt được.
Kinh nghiệm được rút ra từ thực tế dạy học , năm học 2016 – 2017, năm học
2017 – 2018 tôi đã chú ý vận dụng các biện pháp trên một cách hợp lý và hiệu quả.
Chính vì vậy đã góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học toán của khối lớp 4
trong năm học 2016 – 2017; 2017 – 2018 . Cụ thể là :
Sau khi học sinh thi xong học kì II cho thấy kết quả rất khả quan.
* Có : 33/33 học sinh đạt yêu cầu về môn toán . Chia ra
+ Điểm Giỏi: 9 em
Đạt tỷ lệ: 27, 27 %
+ Điểm Khá:15 em
Đạt tỷ lệ: 45,45 %
+ Điểm TB: 9 em
Đạt tỷ lệ: 27, 27%
IV / KẾT LUẬN
1/ Tóm lược giải pháp:
Muốn truyền đạt cho học sinh nắm được cách giải các bài toán về phân số,
người giáo viên phải nghiên cứu, đọc nhiều tài liệu, sách tham khảo để tìm ra các
dạng bài tập theo nội dung kiến thức khác nhau một cách cụ thể. Sau đó sắp xếp các
bài toán đó theo hệ thống từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp (có dựa vào
chuẩn kiến thức kĩ năng 4).
Dạy các bài tập về phân số đòi hỏi học sinh phải huy động phối hợp
nhiều nội dung kiến thức khác về môn toán như các dạng toán cơ bản, các tính chất
của phép tính…. Để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ giáo viên phải phối hợp nhiều phương



×