Vết bầm máu
Định nghĩa
Bạn bị ngã xe, va ống quyển vào bàn uống cafê (mà bạn thề rằng việc đó đã xảy
ra cách đây hàng tháng) hay cụng đầu vào tường và khi thức dậy với một vết bầm to.
Điều đó khiến bạn thắc mắc: vết bầm đó là gì và mình phải xử trí sao đây?
Vết bầm là hậu quả của việc các mạch máu bị tổn thương, hoặc vỡ vì một lực
va chạm tác động vào da (lực này có thể do bạn chủ động tạo ra hoặc chỉ là vô ý để
búa đập trúng). Do máu từ các mạch máu bị tổn thương thấm vào các mô cũng như là
phản ứng của cơ thể đối với chấn thương làm cho vùng bị bầm sưng lên. Khi máu
thấm vào các lớp trên cùng của da sẽ tạo ra một vết bầm rộng màu đỏ tía hay còn gọi
là mảng xuất huyết.
Tại sao ở một số người dễ có vết bầm máu hơn những người khác?
Mức độ tổn thương để gây một vết bầm máu thay đổi theo tuổi. Trong khi ở trẻ
nhỏ là một lực va chạm mạnh thì ở người già thậm chí một va quẹt nhỏ cũng đủ tạo ra
một mảng xuất huyết lớn. Các mạch máu ngày càng dễ vỡ theo tuổi tác và vì vậy khi
lớn tuổi các vết bầm thậm chí có thể xảy ra mà không cần có va chạm trước đó.
Các thuốc tác động vào quá trình đông máu cũng có thể ảnh hưởng đến tần suất
xuất hiện vết bầm (vì làm tăng khả năng thấm máu vào da và các mô). Đây là loại
thuốc phổ biến trong chỉ định điều trị viêm khớp với tên gọi là thuốc kháng viêm
không steroid (ví dụ như ibuprofen/Advil, Nuprin và naproxen/Aleve) cũng như trong
các loại thuốc thông thường như aspirin. Warfarin(Coumadin) thường là thuốc được
chỉ định đặc biệt trong trường hợp bệnh nhân có cục máu đông ở chi hoặc tim nhằm
làm tan huyết khối này.
Thuốc đôi khi có thể làm hình thành dấu bầm máu nghiêm trọng đặc biệt là khi
dùng liều cao. Các thuốc chứa cortisone như prednisone cũng làm thúc đẩy hình thành
vết bầm máu vì chúng làm tăng khả năng dễ vỡ của các mạch máu nhỏ ở da.
Ngoài ra, những bệnh nhân bị bệnh di truyền về đông máu (như là bệnh ưa chảy
máu) hoặc là các bệnh mắc phải về đông máu (ví dụ các bệnh về gan như xơ gan) có
thể hình thành các mảng xuất huyết rộng hoặc thậm chí chảy máu đe dọa đến tính
mạng.
Hình dạng và diễn tiến thay đổi màu sắc của vết bầm máu
Các vết bầm máu diễn tiến theo một kiểu cố định và dựa vào đó ta có thể đoán
thời gian tồn tại của chúng. Khi mới xuất hiện, vết bầm có màu đỏ tươi của máu trong
da. Sau 1-2 ngày, các chất sắt tạo màu đỏ trong máu chuyển hoá và vết bầm chuyển
sang màu xanh dương hoặc màu đỏ tía. Qua ngày thứ 6, nó chuyển sang màu xanh lá
cây và tới ngày thứ 8-9 là màu vàng nâu. Nhìn chung cơ thể sẽ làm tiêu vết bầm máu
sau 2 hoặc 3 tuần và màu sắc da vùng đó trở về bình thường.
Chuyện gì sẽ xảy ra khi vết bầm không biến mất hay bị chỗ sưng không
xẹp?
Đôi khi, thay vì biến mất, vùng bị bầm máu trở nên cố định và có thể lan rộng
thực sự. Nó cũng có thể gây đau dai dẳng. Có hai nguyên nhân chính.
Thứ nhất, nếu lượng máu tích tụ dưới da hoặc trong cơ quá lớn, cơ thể thay vì
làm tiêu chúng thì lại tạo một màng bao bọc hình thành nên một u máu. Đó chỉ đơn
thuần là một bể máu nhỏ vách ngăn xung quanh. Nó có thể cần được bác sĩ dẫn lưu ra
ngoài.
Nguyên nhân thứ 2 hiếm gặp hơn là do vùng tổn thương lắng đọng calci-thành
phần chính của xương - trở nên bền vững và nhạy đau. Quá trình này gọi là vôi hoá dị
nguyên hay viêm cơ cốt hoá.
Tình trạng này được chuẩn đoán bằng X-quang và cần phải đến bác sĩ.
Một số nguyên nhân ít gặp của bầm máu và bệnh lý đi kèm
Thuật ngữ miêu tả các loại bầm máu khác nhau thường không chỉ liên quan đến
hình dạng mà còn đến nguyên nhân của nó. Nốt xuất huyết dùng để chỉ sự tích tụ
lượng máu nhỏ dưới da, đường kính từ 1-3 mm. Chúng có thể xuất hiện dưới dạng
nhiều chấm đỏ nằm rải rác khắp cơ thể (thường gặp nhất ở chi dưới).
Hầu hết các trường hợp có số lượng lớn và gợi ý một tình trạng bệnh lý nghiêm
trọng. Một số ví dụ bao gồm nhiễm trùng các lá van tim (viêm nội tâm mạc) hay bất
thường chức năng yếu tố đông máu (tiểu cầu). Sự hình thành vết bầm xung quanh rốn
có thể là do chảy máu trong ổ bụng. Bầm máu sau tai (dấu hiệu Battle’s) có thể báo
hiệu cho vỡ hộp sọ.
Cuối cùng, vết bầm máu có thể sờ thấy, chắc với số lượng nhiều, không liên
quan đến chấn thương thì có thể là dấu hiệu của nhiều loại bệnh tự miễn trong đó cơ
thể tự chống lại các mạch máu của chính mình. Do đó, mỗi một loại trên đều phải
được bác sĩ xem xét kỹ lưỡng.
Xử trí bầm máu
Có 2 điều bạn cần làm nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế hình thành vết bầm máu
sau chấn thương. Thứ nhất, hãy thử chườm lạnh. Để đá vào một túi nhựa, quấn khăn
tắm bên ngoài (vì nếu đá tiếp xúc trực tiếp vào da sẽ gây bỏng lạnh) rồi đặt lên vùng bị
chấn thương.
Ngoài thị trường cũng có bán sẵn các loại túi chườm lạnh tuy nhiên dùng túi
chứa loại đậu đông lạnh là thay thế thích hợp nhất. Nó thay đổi theo hình dạng của
vùng bị tổn thương và có thể tái sử dụng khi làm lạnh lại (tất nhiên đừng bao giờ ăn
chúng!!).
Nhiệt độ lạnh làm giảm lượng máu tới do đó hạn chế chảy máu vào lớp da và
làm giảm kích thước vết bầm. Theo cách này thì nhiệt độ lạnh cũng làm giảm phản
ứng viêm và giảm phù nề vùng bị chấn thương. Nếu có thể,nên kê cao chỗ bầm so với
tim. Càng để thấp dưới tim bao nhiêu thì máu sẽ càng chảy tới đó nhiều bấy nhiêu và
làm tăng chảy máu, sưng phù.
Tránh dùng các thuốc góp phần vào hình thành vết bầm máu như đã liệt kê ở
phần trên. Nếu bạn phân vân không biết loại thuốc bạn đang dùng có thuộc nhóm này