Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Đánh giá biến đổi nồng độ homovanillic acid huyết tương trên bệnh nhân Parkinson

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (238.83 KB, 7 trang )

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc

ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ HOMOVANILLIC ACID
HUYẾT TƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN PARKINSON
Nguyễn Đức Thuận1, Nhữ Đình Sơn1

TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi nồng độ homovanillic acid (HVA) huyết tương trên bệnh
nhân (BN) Parkinson. Đối tượng và phương pháp: Phân tích sự thay đổi nồng độ HVA huyết
tương dựa trên mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng trên 45 BN Parkinson (nhóm bệnh)
và 40 người khỏe mạnh (nhóm chứng). Kết quả: Nồng độ HVA huyết tương ở nhóm bệnh tăng
có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,01), nồng độ HVA huyết tương ở BN Parkinson
bị trầm cảm cao hơn so với nhóm không bị trầm cảm (p < 0,001). Hơn nữa, nồng độ HVA huyết
tương tăng theo mức độ trầm cảm và giai đoạn bệnh cũng như thời gian mắc bệnh. Kết luận:
Có mối liên quan giữa nồng độ HVA huyết tương với bệnh Parkinson trên lâm sàng.
* Từ khóa: Bệnh Parkinson; Nồng độ homovanillic acid huyết tương; Đặc điểm lâm sàng.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Parkinson, một loại bệnh thoái
hóa thần kinh tiến triển mạn tính, đang có
xu hướng gia tăng trong những thập niên
gần đây [1]. Sự rối loạn vận động ở BN
Parkinson được cho là có liên quan đến
tổn thương tế bào thần kinh của nhân
đen, là cấu trúc dưới vỏ trên bán cầu đại
não [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu trước đây
đã chứng minh rằng các triệu chứng rối
loạn vận động chỉ biểu hiện trên lâm sàng
khi có tổn thương khoảng 70 - 80% các tế
bào thần kinh của nhân đen [3]. Do đó,
những biểu hiện của thoái hóa tế bào


thần kinh có thể kéo dài nhưng không
thấy biểu hiện lâm sàng. Phát hiện sớm
giai đoạn không triệu chứng này có ý

nghĩa quan trọng trong chiến lược dự
phòng và điều trị bệnh Parkinson.
Một trong những phương pháp tiếp
cận để chẩn đoán giai đoạn không triệu
chứng ở BN Parkinson là đánh giá sự
biến đổi nồng độ dopamin và chất chuyển
hóa của nó trong huyết tương. Chất chuyển
hóa đầu tiên và quan trọng của dopamin
là HVA. Một số nghiên cứu trước đây
cũng đã xác nhận, HVA là một chỉ số quan
trọng đánh giá sự chuyển hóa dopamin trên
não [4]. Vì vậy, HVA có thể được sử dụng
như một chỉ số trong chẩn đoán sớm
cũng như theo dõi điều trị BN Parkinson.
Dựa trên những cơ sở khoa học trên,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
nhằm: Đánh giá sự biến đổi nồng độ HVA
trên BN Parkinson.

1. Bệnh viện Quân y 103
Người phản hồi (Corresponding author): Nguyễn Đức Thuận ()
Ngày nhận bài: 07/02/2020; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 22/02/2020
Ngày bài báo được đăng: 15/03/2020

21



T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
- Nhóm bệnh: 45 BN được chẩn đoán
xác định bệnh Parkinson (theo tiêu chuẩn
chẩn đoán của Hội Ngân hàng Não và
Parkinson Vương quốc Anh); khám bệnh
và điều trị tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh
viện Quân y 103, từ 9/2018 - 10/2019.
- Nhóm chứng: 40 người không mắc
bệnh Parkinson tương đồng về tuổi, giới
tính với nhóm bệnh điều trị nội trú tại Khoa
Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103
cùng thời gian nhóm bệnh.
Loại trừ các đối tượng nghiên cứu mắc
hội chứng Parkinson; đối tượng mắc
bệnh lý ảnh hưởng đến nồng độ HVA
huyết tương; đối tượng không biết chữ,
rối loạn chức năng nghe, đọc, viết hoặc
không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
- Phương pháp nghiên cứu: Phân tích
các triệu chứng lâm sàng của từng BN
tương ứng với thời gian lấy máu xét nghiệm
định lượng nồng độ HVA huyết tương.
- Chỉ tiêu nghiên cứu: Đặc điểm chung
về tuổi, đánh giá sự thay đổi về nồng độ

HVA giữa nhóm bệnh và nhóm chứng,
mối liên quan giữa nồng độ HVA và một
số yếu tố.
- Đánh giá mức độ rối loạn vận động theo
thang điểm đánh giá bệnh Parkinson [4].
- Đánh giá giai đoạn bệnh theo Hoehn
và Yahr [4].
- Đánh giá trầm cảm và mức độ trầm
cảm theo thang điểm Beck [5].
- Nồng độ HVA huyết tương được định
lượng bằng sắc ký lỏng tại Viện Nghiên cứu
Y Dược học Quân sự, Học viện Quân y.
22

3. Phân tích số liệu
Số liệu về nồng độ HVA huyết tương
giữa nhóm chứng và nhóm bệnh, giữa
nhóm BN có trầm cảm với nhóm không bị
trầm cảm được phân tích bằng phương
pháp so sánh T-test Student cho số liệu
độc lập. Số liệu về nồng độ HVA huyết
tương theo mức độ trầm cảm, theo giai
đoạn bệnh và mức độ bệnh ở nhóm BN
Parkinson được phân tích bằng phương
pháp so sánh phương sai một nhân tố
không lặp. Mối tương quan giữa thời gian
bị bệnh và nồng độ HVA huyết tương trên
BN Parkinson được phân tích bằng tương
quan hồi quy tuyến tính. Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê được xác định với giá trị

p < 0,05. Số liệu trong nghiên cứu này
được biểu diễn dưới dạng

± SD.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1. Đặc điểm chung của đối tượng
nghiên cứu
Bảng 1: Phân bố về tuổi của nhóm
nghiên cứu.
Nhóm tuổi

Nhóm bệnh Nhóm chứng
n

%

n

%

< 40

1

2,2

0

0


40 - 49

3

6,7

3

7,5

50 - 59

9

20,0

11

27,5

60 - 69

19

42,2

18

45,0


≥ 70

13

28,9

8

20,0

Tổng

45

100

40

100

p

> 0,05

Tuổi trung bình 63,98 ± 9,84 61,77 ± 9,53

Trên cả nhóm bệnh và nhóm chứng,
độ tuổi 60 - 69 chiếm tỷ lệ cao nhất, sau
đó là nhóm > 70 tuổi và nhóm tuổi từ 50 59, các nhóm tuổi khác chiếm tỷ lệ không

đáng kể. Tuổi trung bình ở nhóm bệnh là
63,98 ± 9,84, ở nhóm chứng là 61,77 ±
9,53. So sánh tuổi trung bình của 2 nhóm
thấy tuổi trung bình của nhóm bệnh cao
hơn không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).


T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc
2. Nồng độ HVA trên BN Parkinson

**

Biểu đồ 1: Nồng độ HVA huyết tương ở các nhóm nghiên cứu.
Nồng độ HVA huyết tương trung bình ở nhóm bệnh là 17,78 ± 3,84 ng/ml và ở
nhóm chứng là 12,89 ± 3,69 ng/ml. Sử dụng phương pháp thống kê T-test Student
với hai dãy số liệu độc lập cho thấy nồng độ HVA huyết tương ở nhóm bệnh cao hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,001).
3. Nồng độ HVA huyết tương ở mức độ bệnh Parkinson

***
*

Biểu đồ 2: Nồng độ HVA huyết tương ở các mức độ bệnh.
Nồng độ HVA huyết tương tăng dần trên BN từ mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng.
Nồng độ HVA huyết tương trung bình ở nhóm BN có trầm cảm nhẹ là 14,81 ± 3,36 ng/ml,
có trầm cảm vừa là 17,41 ± 1,88 ng/ml và ở nhóm mức độ nặng và rất nặng là 21,38 ±
3,06 ng/ml. Sử dụng phương pháp so sánh phương sai một nhân tố không lặp cho
23



T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc
thấy nồng độ HVA trung bình ở nhóm BN mức độ vừa cao hơn có ý nghĩa thống kê so
với nhóm BN mức độ nhẹ (p < 0,05), ở nhóm mức độ nặng và rất nặng cao hơn có
ý nghĩa thống kê so với ở nhóm mức độ nhẹ và mức độ vừa (p < 0,001).
4. Nồng độ HVA huyết tương ở các giai đoạn của bệnh Parkinson

***
*
*

Biểu đồ 3: Nồng độ HVA huyết tương ở các giai đoạn khác nhau.
Nồng độ HVA huyết tương tăng dần theo giai đoạn bệnh, từ giai đoạn 1 đến giai
đoạn 4 và 5. Nồng độ HVA huyết tương trung bình trên nhóm BN ở giai đoạn 1 là
13,83 ± 3,10 ng/ml; ở giai đoạn 2 là 16,78 ± 2,46 ng/ml, ở giai đoạn 3 là 19,24 ± 1,77 ng/ml
và ở giai đoạn 4 và 5 là 24,66 ± 1,48 ng/ml. So sánh phương sai một nhân tố không
lặp cho thấy nồng độ HVA huyết tương ở giai đoạn 2 cao hơn có ý nghĩa thống kê so
với giai đoạn 1 (p < 0,05), ở giai đoạn 3 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giai đoạn 1
và giai đoạn 2 (p < 0,05) và ở giai đoạn 4 và 5 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giai
đoạn 1, giai đoạn 2 và giai đoạn 3 (p < 0,001).
5. Mối liên quan giữa nồng độ HVA với trầm cảm trên BN Parkinson

Biểu đồ 4: Nồng độ HVA huyết tương trên BN có và không có trầm cảm.
Nồng độ HVA huyết tương trung bình ở nhóm BN không bị trầm cảm là 16,36 ±
4,15 ng/ml và ở nhóm BN trầm cảm là 18,64 ± 3,43 ng/ml. So sánh bằng phương pháp
24


T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc
thống kê T-test Student cho số liệu độc lập, thấy nồng độ HVA huyết tương ở nhóm BN có
trầm cảm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với ở nhóm BN không bị trầm cảm (p < 0,05).


*

Biểu đồ 5: Nồng độ HVA ở các nhóm BN trầm cảm.
Nồng độ HVA huyết tương trung bình ở nhóm BN trầm cảm nhẹ là 17,09 ±
3,02 ng/ml, ở nhóm BN trầm cảm vừa là 19,35 ± 3,31 ng/ml và ở nhóm trầm cảm nặng
là 20,82 ± 3,14 ng/ml. So sánh phương sai một nhân tố không lặp cho thấy nồng HVA
huyết tương ở nhóm BN trầm cảm nặng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với ở nhóm
BN trầm cảm nhẹ (p < 0,05).

6. Nồng độ HVA theo thời gian bị bệnh

Biểu đồ 6: Tương quan nồng độ HVA huyết tương với thời gian bị bệnh.
Phân tích tương quan hồi quy tuyến tính cho thấy nồng độ HVA huyết tương tương
quan thuận có ý nghĩa thống kê so với thời gian bị bệnh (r = 0,70, p < 0,001). Kết quả
này cho thấy thời gian bị bệnh càng lâu, nồng độ HVA huyết tương càng tăng.
25


T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập
trung phân tích sự thay đổi nồng độ HVA
huyết tương liên quan đến một số đặc
điểm lâm sàng trên BN Parkinson. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với
các nghiên cứu trước đây. Theo Pagano
và CS (2016), tuổi khởi phát trung bình
của BN Parkinson là 61,6 ± 9,73 và nhóm
tuổi từ 60 - 69 chiếm 39,81% (164/412

BN) [5]. Parkinson là bệnh thoái hóa thần
kinh tiến triển mạn tính gây biến đổi cấu
trúc của các tổ chức vỏ não và dưới vỏ
[6]. Sự biến đổi này có thể là nguyên
nhân làm giảm tuổi thọ ở BN Parkinson
[7]. Khi phân tích mối liên quan với một
số đặc điểm lâm sàng chính trên BN
Parkinson, chúng tôi thấy nồng độ HVA
huyết tương liên quan đến sự biểu hiện
bệnh lý của bệnh. Cụ thể là: thứ nhất,
nồng độ HVA huyết tương trên BN
Parkinson cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với nhóm người khỏe mạnh cùng độ
tuổi. Thứ hai, nồng độ HVA huyết tương
tăng dần theo mức độ bệnh, từ mức độ
nhẹ đến mức độ nặng. Thứ ba, nồng độ
HVA huyết tương tăng dần theo giai đoạn
bệnh, từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 và 5.
Thứ tư, nồng độ HVA huyết tương tăng
dần theo thời gian bị bệnh. Thời gian bị
bệnh càng lâu, nồng độ HVA càng cao.
Sự rối loạn chuyển hóa dopamin đã
được chứng minh trên BN Parkinson. Một
trong những con đường chuyển hóa của
dopamin là chuyển hóa thành HVA dưới
tác dụng của men COMT và được đào
thải ra ngoài qua nước tiểu [8]. Điều này
dẫn đến sự tăng nồng độ HVA cũng như
tỷ lệ nồng độ HVA/dopamin trong cơ thể
như ở dịch não tủy ở các nghiên cứu

26

trước đây [9]. Hơn nữa, nồng độ HVA
huyết tương cũng được xác nhận là một
chỉ số quan trọng phản ánh rối loạn
chuyển hóa dopamin trên não [4]. Cơ chế
bệnh lý nói trên có thể là nguyên nhân
gây biến đổi nồng độ HVA huyết tương
trong nghiên cứu hiện nay. Rõ ràng,
mức độ bệnh nặng, giai đoạn bệnh càng
muộn, thời gian bệnh càng kéo dài, rối loạn
chuyển hóa dopamin trên BN Parkinson
càng nặng.
Nghiên cứu trước đây ghi nhận khoảng
40 - 50% BN Parkinson có biểu hiện rối
loạn trầm cảm [10]. Tuy nhiên, một số
nghiên cứu cho thấy, nồng độ HVA huyết
tương không biến đổi trên BN trầm cảm
[11]. Trái lại, ở BN có rối loạn tâm thần
khác như tâm thần phân liệt, nồng độ
HVA huyết tương tăng [12]. Trong nghiên
cứu này, chúng tôi nhận thấy nồng độ
HVA huyết tương ở BN Parkinson trầm
cảm cao hơn so với BN Parkinson không
trầm cảm, sự khác biệt không có nghĩa
thống kê. Phân tích sâu hơn, chúng tôi
thấy nồng độ HVA tăng từ mức độ trầm
cảm nhẹ đến mức độ vừa và mức độ
nặng. Kết quả này cho thấy, rối loạn trầm
cảm có liên quan đến sự tăng nồng độ

HVA huyết tương trên BN Parkinson.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 45 BN Parkinson,
chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Nồng độ HVA huyết tương tăng có
ý nghĩa thống kê so với người khoẻ mạnh
cùng lứa tuổi.
- Nồng độ HVA huyết tương tăng
dần theo mức độ bệnh, giai đoạn bệnh
và thời gian bị bệnh với sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê.


T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 2-2020 - chuyªn ®Ò thÇn kinh häc
- Nồng độ HVA huyết tương ở BN trầm
cảm cao hơn BN không trầm cảm (p < 0,05);
nồng độ HVA huyết tương trên BN trầm
cảm mức độ nặng tăng có ý nghĩa thống
kê so với BN trầm cảm mức độ nhẹ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GBD 2016 Parkinson's disease collaborators
global, regional, and national burden of
Parkinson's disease. 1990 - 2016: A systematic
analysis for the global burden of disease
study 2016. Lancet Neurol. 2018.
2. Fahn S., Sulzer D. Neurodegeneration
and neuroprotection in Parkinson’s disease.
NeuroRx. 2004, 1 (1), pp.139-154.
3. El-Agnaf O.M.A., Salem S.A., Paleologou
K.E., Curran M.D., Gibson M.J., Court J.A. et al.

Detection of oligomeric forms of synuclein
protein in human plasma as a potential
biomarker for Parkinson’s disease. FASEB J.
2006, 20, pp.419-425.
4. Sternberg D.E., Heninger G.R., Roth R.H.
Plasma homovanillic acid as an index of brain
dopamine metabolism: Enhancement with
debrisoquin. Life Sci. 1983, 32 (21), pp.24472452.
5. Pagano G., Ferrara N., Brooks D.J.,
Pavese N. Age at onset and Parkinson’s
disease phenotype. Neurology. 2016, 86 (15),
pp.1400-1407.

6. Blair J.C., Barrett M.J., Patrie J. et al.
Brain MRI reveals ascending atrophy in
Parkinson's disease across severity. Front
Neurol. 2019, 10, p.1329.
7. Buter T.C., Van Den Hout A., Matthews
F.E., Larsen J.P., Brayne C., Aarsland D.
Dementia and survival in Parkinson’s disease:
a 12-year population study. Neurology. 2008,
70 (13), pp.1017-1022.
8. Hugo Juárez Olguín, David Calderón
Guzmán, Ernestina Hernández García,
Gerardo Barragán Mejía. The role of dopamine
and its dysfunction as a consequence of
oxidative stress. Oxidative Medicine and
Cellular Longevity. Special Issue. 2016.
9. Stefani A., Pierantozzi M., Olivola E. et al.
Homovanillic acid in CSF of mild stage

Parkinson's disease patients correlates with
motor impairment. Neurochem Int. 2017, 105,
pp.58-63.
10. Reijnders J.S., Ehrt U., Weber W.E. et al.
A systematic review of prevalence studies of
depression in Parkinson's disease. Mov Disord.
2008, 23, pp.183-189.
11. Roy A. Plasma HVA levels in depressed
patients and controls. J Affect Disord. 1988,
14 (3), pp.293-296.
12. D.P.Devanand, Jennifer G. Gotto,
Thomas B. Cooper et al. Plasma homovanillic
acid in psychotic depression. Depression.
1993, 1 (6), pp.309-314.

27



×