MỤC LỤC
DẪN NHẬP:......................................................................................................... 2
NỘI DUNG:.......................................................................................................... 2
I.Đặc điểm tự nhiên, dân cư, xã hội:......................................................................2
1.Lịch sử hình thành:.........................................................................................2
2.Điều kiện tự nhiên:.........................................................................................6
3.Dân cư – xã hội:..............................................................................................9
II.Đặc điểm về văn hóa:.......................................................................................11
1.Văn hóa sản xuất:..........................................................................................11
2.Ẩm thực:.......................................................................................................12
3.Trang phục:...................................................................................................14
4.Kiến trúc – nhà ở:.........................................................................................16
5.Tôn giáo – tín ngưỡng:.................................................................................20
6.Lễ hội:........................................................................................................... 22
7.Nghệ thuật:...................................................................................................24
KẾT LUẬN:........................................................................................................ 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO:..................................................................................35
DẪN NHẬP:
Người ta vẫn hay gọi cái tên Sài Gòn – Gia Định với sự tưởng nhớ về một thời
lịch sử đã qua. Gia Định vẫn là một tỉnh cho đến khi sáp nhập vào Sài Gòn trở
thành vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định lớn nhất nhì Việt Nam. Hơn nữa, Sài
Gòn thời bấy giờ còn được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” từ khi thực dân
phương Tây xâm lược bởi một diện mạo mới mẻ mà người Pháp và Mỹ đã khoác
lên cho vùng đất này. Sài Gòn – Gia Định không chỉ là nơi lưu giữ những hồi ức
chiến tranh, mà còn là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa bao đời của người
Việt. Ngày nay, nếu thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị của cả nước, thì Sài
Gòn là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam. Điều đó cho thấy sức sống bền bỉ và
không ngừng vươn lên của Sài Gòn, luôn hướng đến những giá trị mới, không sợ
thách thức khó khăn, nâng mình lên đến tầm cao.
NỘI DUNG:
I. Đặc điểm tự nhiên, dân cư, xã hội:
1. Lịch sử hình thành:
Vào khoảng thế kỷ thứ 5, Sài Gòn Gia Định là vị trí của hai nước nằm sát
cạnh nhau: Thù Nại và Bà Lị.
Thời gian sau cả hai nước này đều bị nước Phù Nam kiêm tính và đặt kinh đô
ở Vyâdhapura. Qua thế kỷ thứ 6 đến lượt nước Phù Nam lại bị thôn tính do Tiểu
vương Kambuja ra đời, gọi là nước Chân Lạp hay Cao Miên.
Triều đình Chân Lạp thuở đó với bộ máy nhà nước khá quy củ. Phần đất có
hai khu vực rõ rệt, miền khô lục Chân Lạp và miền trũng úng Thủy Chân Lạp.
Thế kỷ thứ 14 nước Chân Lạp bị quân Mã Lai áp đảo dày xéo, buộc phải thần
phục. Lại về sau bị Xiêm đặt ách thống trị. Khoảng thời gian này đã có lúc chiến
tranh biên giới Xiêm La và Chân Lạp đụng độ nhau rất quyết liệt khiến quân lính
cả hai bên sợ hãi tìm cách đào ngũ nhập vào số các sắc dân Mã, Việt, Chăm,
Chân Lạp cùng nhau chạy loạn.
Sau cuộc chiến dữ dội ấy, thế lực Chân Lạp sút kém dần. Rõ rệt nhất ở vào thế
kỷ 16 đất đai của họ bị lấn dần. Trong Hoàng tộc lúc đó lại thường xuyên xảy ra
nội loạn tranh chấp ngôi báu.
Sang đầu thế kỷ 17 vua Chân Lạp là Chey Choetha II đã xin cưới một công
nương nhà Đại Việt, con gái vua Hy Tông Nguyễn Phúc Nguyên (1617-1635).
Mục đích của Chân Lạp muốn dựa thế lực nhà Nguyễn hòng chống lại Xiêm La
(tức Thái Lan). Còn mục đích của Đại Việt muốn nhân cơ hội lấy tình thân thông
gia, giữ ôn hòa lân bang và để đặt bước khai hoang.
Biên niên sử Khơ Me chép: Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi. Ngài
liền cho xây cung điện nguy nga tại Oudong , rồi cử hành lễ cưới trọng thể với
một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa Nguyễn (người ta phỏng đoán đó
là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi, Nguyễn Phước Nguyên). Hoàng hậu Sam
Đát Việt Nam cho đem nhiều người đồng hương tới Campuchia, có người được
làm quan lớn trong triều, có người làm các nghề thu công và có người buôn bán
hay vận chuyển hàng hóa.
Cuộc hôn nhân của công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp được hình thành
vào năm 1620. Bà được phong làm Hoàng hậu với tước hiệu "Somdach - preia
Peaccac - Vodey - Prea - Roriac - Khsattrey". Từ đó mối giao bang giữa Đại Việt
và Chân Lạp khá êm đẹp. Dân hai nước được tự do qua lại sinh sống cả hai bên
lãnh thổ của nhau. Vậy là nơi rừng rú hoang dã Thủy Chân Lạp với tên
Preinokor có thêm nhiều hơn vết chân người Việt. Các danh từ được phiên âm từ
Preinokor ra Sài Gòn - Kaskrobey ra Bến Nghé và Nông Nại ra Đồng Nai đã
được xuất hiện từ nhóm người Việt này đến lưu cư đầu tiên.
Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho
lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Vua Chân
Lạp đã mau mắn gửi quốc thư hồi âm chấp thuận việc chúa Nguyễn muốn đặt
trạm thu thuế tại 2 nơi đó. Sự việc này đã là một thực thể chính đáng cho chúa
Nguyễn nhà Đại Việt với công trình khai hoang xứ Đàng Thổ.
Năm 1658, "Nặc Ông Chân phạm biên cảnh", Hiền Vương liền sai "phó tướng
Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá
kinh thành và bắt được vua nước ấy". Sau được tha tội và được phong làm Cao
Miên quốc vương "giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự
ở ngoài biên cương. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu
dân của nước ta đên ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất". Như
vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên cảnh" của Việt Nam.
Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, người Việt Nam còn đến làm ăn và định cư
rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết: dân tộc Thái mới lập
quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán đảo Đông Dương và chủ yếu trên
lưu vực sông Mê Nam. Nước này gọi là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm
1939 mới đổi tên là Thái Lan.
Sử Việt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện: Năm 1674 (tức là 51
năm sau khi lập đồn thu thuế và 16 năm sau sự kiện Mô Xoài) xảy ra một biến
cố chính trị và quân sự quan trọng: Vua Chân Lạp là Nặc ông Nộn bị người
hoàng tộc Nặc Ông Đài nổi lên đánh đuổi. Ông Nộn sang cầu cứu chúa Nguyễn.
Chúa Nguyễn sai Nguyễn Dương Lâm đem quân vào giúp, thâu phục luôn 3 lũy
Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674
vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ông Thu làm Cao
Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ông Nộn làm phó vương ở Sài
Gòn. Ông Nộn lập dinh cơ có lẽ ở vùng đất cao ráo từ đồi sau này gọi là đồi Cây
Mai đến vùng Phú Thọ hiện giờ. Ông Nộn 15 năm ở Sài Gòn cũng hoạt động
quân sự nhiều cuộc đối đầu với vua Chân Lạp mà không thành.
Năm 1679 (tức 56 năm sau khi lập đồn thu thuế và 5 năm sau khi Ông Nộn
đóng ở Sài Gòn). Đồn dinh Tân Mỹ không phải là một cái đồn có nhiệm vụ kinh
tế, mà mang tính chất quân sự, chính trị, cai quản; có giám quân, cai bộ và ký lục
với dinh thự của bộ sậu ấy, có trại lính để sai phái và để bảo vệ phó vương Chân
Lạp, bảo vệ việt kiều. Đồn dinh cũng có nhiệm vụ lập làng chia xóm, tổ chức
phố chợ. Thực tế đó là một chánh quyền bán chánh thức của chúa Nguyễn.
Cuối năm 1679 chúa Nguyễn cho phép các đoàn người Minh của Trần
Thượng Xuyên vào Biên Hòa và của Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho-là những
đất chúa Nguyễn thực tế xem như là do mình quản trị, cũng là những vùng đã có
lưu dân Việt Nam khai hoang lập ấp từ đầu thế kỷ 17.
Hai viên Tổng binh người Minh không chịu hàng phục nhà Thanh, kéo hai
đạo quân và gia quyến, thân thuộc xuống phía nam, xin chúa Nguyễn đùm bọc;
chúa Nguyễn cho đoàn Trần Thượng Xuyên vào vùng Biên Hòa, cho đoàn
Dương Ngạn Địch vào Mỹ. Nông Nại đại phố thịnh mà không hút được Sài Gòn,
trái lại nó bị Sài Gòn hút vào vì Sài Gòn ở một thế trung tâm hơn. ý kiến nói
rằng ở miền Nam, ở vùng Sài Gòn, người Minh có công khai hoang trước rồi
người Việt mới tới sau lập phủ huyện, là một ý kiến hoàn toàn sai. Người Việt đã
tới đây khai hoang lập ấp 70, 80 năm trước rồi, sau người Minh mới đến. Tuy
vậy vai trò kinh tế của người Minh ta không xem nhẹ, càng không phủ nhận.
Người Minh mau chóng bị Việt hóa.
Năm 1688, phó tướng của Dương Ngạn Địch là Hoàng Tấn làm phản, giết
Dương Ngạn Địch, và mưu đồ bá chiếm, cát cứ. Chúa Nguyễn phái Mai Vạn
Long đem quân vào diệt Hoàng Tấn, rồi Mai Vạn Long cùng Trần Thượng
Xuyên đánh lên kinh đô Chân Lạp. Nặc Ông Nộn có mặt trong cuộc hành quân
đó. Mai Vạn Long và Trần Thượng Xuyên đưa vua Chân Lạp Nặc Ông Thu về
Sài Gòn thương thuyết với chúa Nguyễn. Nặc Ông Thu trở lại kinh thành
Oudong làm vua Chân Lạp và đồng ý hợp sức với chúa Nguyễn chống Xiêm.
Xiêm bị chận đứng lại.
Năm 1697, con của Nặc Ông Nộn là Nặc Ông Yêm từ Sài Gòn về Oudong
được Nặc Ông Thu gả con gái để sau này Yêm nối ngôi Thu làm vua Chân Lạp.
Từ nay ở Sài Gòn không còn có phó vương.
Bốn mươi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Cảnh vào
"kinh lý" miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh - khi ấy đất đai đã mở
rộng khắp miền đông Nam Bộ ngày nay.
Ông cho đặt đại bản doanh tại Cù Lao Phố bằng sự nhận xét thần tốc về mọi
mặt: đất đai hoang phế mênh mông nhưng toàn là sình lầy cùng rừng rậm; nhân
lực thì yếu kém, đời sống sinh hoạt của các sắc dân quá thô thiển thật là thiên
nan vạn nan! Nhưng với ý chí quả cảm, bất kể nguy khó hiểm nghèo Lễ Thành
Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra kế sách cấp tốc: Khai hoang mở cõi và dàn xếp
biên cương.
Song song với việc khẩn hoang Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
thi hành ngay việc chia ranh định vùng mong sớm đưa chúng dân vào nề nếp an
cư.
Về hành chính: Trên cơ sở lưu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp",
ông chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh trấn
biên (Biên Hòa ngày nay). Lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh
Phiên Trấn (tức Sài Gòn). Mỗi trấn có lưu thủ quản trị, dưới có cai bạ coi về
ngân khố và ký lục coi về hình án. Trấn Biên bao gồm từ Bình Thuận đến Nhà
Bè. Phiên Trấn bao gồm từ Tân Bình đến Cần Giuộc (Long An).
Phủ Gia Định ngày đó là gồm từ Bình Thuận, Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến
Long An. Khi đó địa bàn Đồng Nai Gia Định được nới rộng thêm ra hàng ngàn
dặm vuông, các chủng dân được quy tụ dựng thành chòm xóm. Dân số có đến
40.000 hộ.
Về thương mại: ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi
Nhà Bè cổ nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương lưu với
các ngã: Cù Lao Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và
Gò Vấp. Đặc biệt bến tàu Châu Đại Phố của nhóm Hoa thương nhem nhúm còn
quá luộm thuộm, giờ đây cũng được khuyến khích cho có qui cũ. Vị trí này sau
đã nhanh chóng thành tên Cảng Đại Phố. Đây chính là bến cảng non trẻ nhất của
miền này ở cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18.
Về quân sự: Đã có sẵn một lực lượng binh chủng gồm: thủy binh, bộ binh,
tinh binh và thuộc binh. Thống suất cho cắt đặt các cơ đội canh phòng yên ổn
thôn trang và quân lính cả hai dinh lo bảo vệ chủ quyền tại suốt vùng đất mới
thành lập.
Thời ấy, vua Cao Miên (tức Chân Lạp) là Nặc Ông Thu. Mặc dầu bên trong
hoàng tộc của họ vẫn thường xảy ra nổi loạn tranh chấp nhưng bên ngoài đối với
sự định vùng biên giới của nhà Đại Việt cũng là ổn định cho cả đôi bên Việt
Miên. Sự thần phục tiến cống được họ nối lại như trước.
Sau hết đến vấn đề di dân và khuyến nông đã được triều đình chúa Nguyễn
chấp thuận. Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh cấp tốc phái thuộc
binh đi hô hào chiêu mộ dân chúng từ miền Ngũ Quảng vào Gia Định lập
nghiệp.
Sự hình thành của Sài Gòn Gia Định ngày nay bắt đầu tư thuở cha ông đi khai
phá và lập nghiệp cách đây hơn ba thế kỷ là vậy.
2. Điều kiện tự nhiên:
• Vị trí địa lý
Tiểu vùng Sài Gòn – Gia Định thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, về địa
lý thuộc vùng nam bộ Việt Nam, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp
tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà
Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
TP.Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư
quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là
tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50
km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và
là cửa ngõ quốc tế . Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài
Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với
hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.
• Ðịa hình
Sài Gòn – Gia Định nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và
đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống
Nam và từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình.
Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện
Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao
trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi
Long Bình (quận 9).
Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các
quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao
trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m.
Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội
thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn.
Vùng này có độ cao trung bình 5-10m.
Sông Sài Gòn đoạn qua trung tâm thành phố và bán đảo Thủ Thiêm
Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá
đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
• Khí hậu, thời tiết
Tiểu vùng Sài Gòn – Gia Định nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo. Cũng như các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết TPHCM
là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi
phối môi trường cảnh quan sâu sắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
• Địa chất – đất đai
Ðất đai vùng này được hình thành trên hai tướng trầm tích-trầm tích
Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen.
Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây
Bắc và Ðông Bắc thành phố, gồm phần lớn các huyện Củ Chi, Hóc môn, Bắc
Bình Chánh, quận Thủ Ðức, Bắc-Ðông Bắc quận 9 và đại bộ phận khu vực nội
thành cũ.
Ðiểm chung của tướng trầm tích này, thường là địa hình đồi gò hoặc lượn
sóng, cao từ 20-25m và xuống tới 3-4m, mặt nghiêng về hướng Ðông Nam.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc
màu; đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu
chiếm phần lớn diện tích.
Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm
tích này có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông và
bãi bồi... nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện
tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn
(45.500 ha (23,6). Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là
"giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.
• Nguồn nước và thủy văn
Về nguồn nước, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, thành
phố Hồ Chí minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất phát triển.
Ngoài trục các sông chính kể trên ra, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch
chằng chịt, như ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch
Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé,
Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam Thành phố thuộc địa
bàn các huyện Nhà Bè, Cần Giờ mật độ kênh rạch dày đặc; cùng với hệ thống
kênh cấp 3-4 của kênh Ðông-Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình
Chánh đã giúp cho việc tưới tiêu kết quả, giao lưu thuận lợi và đang dần dần
từng bước thực hiện các dự án giải tỏa, nạo vét kênh rạch, chỉnh trang ven bờ, tô
điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, phát huy lợi thế hiếm có đối với một đô thị
lớn.
Ðại bộ phận khu vực nội thành cũ có nguồn nước ngầm rất đáng kể, nhưng
chất lượng nước không tốt lắm. Về thủy văn, hầu hết các sông rạch Thành phố
Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông. Mỗi
ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều thâm nhập sâu vào các kênh
rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp
và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.
Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu khả
năng úng lụt đối với những vùng trũng thấp; nhưng ngược lại, nước mặn lại xâm
nhập vào sâu hơn. Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích cây trồng
bằng việc tăng vụ mùa canh tác. Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống kênh
mương, đã có tác dụng nâng cao mực nước ngầm trên tầng mặt lên 2-3m, tăng
thêm nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của thành phố.
• Thảm thực vật
Trên cơ sở các yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ở thành phố Hồ Chí Minh,
như đã trình bày; người ta đã khái quát hóa thành ba kiểu sinh thái cảnh - kiểu
lập địa - mà, tương ứng với nó là ba hệ sinh thái thảm thực vật rừng tiêu biểu;
rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa, rừng úng phèn và rừng ngập mặn.
Các thảm thực vật rừng nguyên sinh, hiện tại hầu như không còn; song sự tìm
hiểu nó sẽ giúp ích cho việc đánh giá tiềm năng điều kiện lập địa, xác định
phương hướng phục hồi và xây dựng các thảm thực vật đạt hiệu quả mong
muốn, nhất là về cảnh quan, môI trường sinh thái ở một Thành phố đông dân cư
của vùng nhiệt đới.
3. Dân cư – xã hội:
Thành phố Hồ Chí Minh (hiện nay vẫn được gọi phổ biến với tên cũ là Sài
Gòn) là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là đầu tàu kinh tế và trung tâm
văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Trên cơ sở diện tích tự nhiên, thì
thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn thứ nhì Việt Nam (sau khi thủ đô Hà Nội
được mở rộng). Nếu xét về quy mô dân số, thì thành phố Hồ Chí Minh là đô thị
lớn nhất Việt Nam. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh cùng với thủ đô Hà Nội là
đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.
• Dân cư
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, thành
phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06
km².
Dân số năm 1929 là 123.890 người trong số đó có 12.100 người Pháp. Non 40
năm sau, năm 1967 thành phố đã tăng gấp 10 lần với dân số là 1.485.295.
Kể từ sau 1975, dân số Sài Gòn gia tăng nhanh, nhất là dân nhập cư không
kiểm soát được, nên nhà cửa xây cất bừa bãi. Theo thống kê chính thức, dân số
Sài Gòn năm 1975 là 3.498.120 người. Tính đến năm 2012, dân số toàn thành
phố Hồ Chí Minh đạt gần 7.750.900 người, với diện tích 2095,6 km2, mật độ
dân số đạt 3699 người/km². Trong các thập niên gần đây, Thành phố Hồ Chí
Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác
vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số nam.
Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Những năm
gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận
mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người
nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày
có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010,
con số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm
2009, toàn Thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người
nước ngoài sinh sống. Trong đó, nhiều nhất là người Kinh có 6.699.124 người,
các dân tộc khác như người Hoa có 414.045 người, người Khmer có 24.268
người, người Chăm 7.819 người, người Tày có 4.514 người, người Mường 3.462
người, ít nhất là người La Hủ chỉ có 1 người.
Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh
chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước.
• Xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng
thêm một lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc
sức khỏe. Các tệ nạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi
trường... gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền
nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương
hàn... hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát triển, như tim mạch,
tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp... đều xuất hiện ở Thành phố
Hồ Chí Minh.
Về mặt hành chính, Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh chỉ quản lý các cơ
sở giáo dục từ bậc mầm non tới phổ thông. Các trường đại học, cao đẳng phần
lớn thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.
Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố.
Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào
bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng
giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Trình độ dân trí
chưa cao và chênh lệch giữa các thành phần dân cư.
Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị
lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải,
thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường
thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây
dựng và công nghiệp sản xuất.
II.Đặc điểm về văn hóa:
1. Văn hóa sản xuất:
• Thời xưa:
Những ngày đầu sơ khai, đây là vẫn còn là vùng đất nghèo lạc hậu, kinh tế
kém phát triển.mặt khác, triều đình nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách “ bế
quan tỏa cảng” làm cho lĩnh vực buôn bán kinh doanh của vùng cũng như cả
nước bị trì truệ.
Vùng này chịu ảnh hưởng của người Hoa khi du nhập vào. Do đó, mà các
ngành nghề cổ truyền, những tri thức về sản xuất, kinh doanh của người Hoa đã
mang vào Nam Bộ, Sài Gòn - Chợ Lớn. Những người thợ thủ công tài hoa khi di
cư vào nước ta đã chuyển tải các ngành sản xuất gốm xứ, gạch ngói, dệt vải, dệt
lụa, thuộc da, làm giấy, bút mực và nghề in, lúc đầu họ giữ bí quyết nghề nghiệp,
nhưng sau do yêu cầu của sản xuất, họ đã chuyển giao công nghệ.
Về nông nghiệp đây là vùng trồng lúa gạo lớn nhất Đông nam á.Các làng nghề
thủ công nghiệp còn hạn chế và chưa phát triển.
• Hiện đại:
Ngày nay thành phố Hồ Chí Minh được xem là đầu tàu kinh tế của cả nước.
Trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay, chủ yếu phát triển trong linh vực kinh
doanh, buôn bán thông qua các chợ, bến, phố…chính vì vậy, mà trong giai đoạn
này các phố chợ buôn bán sầm uất, mọc lên ngày nhiều.Hệ thống các siêu thị,
trung tâm mua sắm , chợ ngày càng da dạng và phong phú.
Ngoài ra, đây là nơi tập trung nhiều cư dân từ mọi miền đất nước và thế giới
đến sinh sống.Do đó, mà nhu cầu công việc của vùng cao hơn hẳn so với các
vùng khác nên tạo điều kiện cho các khu công nghiệp, khu chế xuất hình thành
và phát triển.Bên cạnh đó , cũng tạo cơ sở phát triển cơ sở hạ tầng.
2. Ẩm thực:
"Gia Định thành thông chí" của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng năm 1820, có
đoạn "Vùng Gia Định nước Việt Nam, đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo
đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời, Người tứ xứ,
nhà nào tục nấy. Đất thuộc sao Dương Châu, gần Mặt trời, khí hậu nóng bức, nên
người Gia Định trọng tiết nghĩa...". có những mặt ưu đãi con người, "vật thực
nhiều, không lo sự đói kém, rét mướt"... đó là nơi "gạo trắng nước trong", nên
con người Sài Gòn có nếp sống khá thoải mái.
Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục (quyển 6) đã nhận xét: "Đất Đồng
Nai bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu... mỗi nhà có thể mướn 50, 60 người cày
ruộng và nuôi đến hàng 300 - 400 con trâu bò, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không
rỗi, hàng năm đến tháng mười một, mười hai thường giã gạo, bán lấy tiền ăn Tết,
chạp. Từ tháng giêng trở đi, không làm công việc xay giã. Sài Gòn trong tâm
thức của những khách ẩm thực vẫn được mệnh danh là thành phố không “đêm”.
Bởi lẽ, từ sáng tinh mơ cho đến tối muộn, vẫn một cuộc sống nhộn nhịp, rộn rã
những thanh âm, người mua, kẻ bán… Cái tuổi 300, cái tuổi không già bởi
“thành phố tôi rất trẻ”. Trẻ trung trong diện mạo, trẻ trong sự năng động và phát
triển nhanh chóng của một thành phố công nghiệp và “trẻ” trong việc tiếp biến
văn hóa ẩm thực cổ-kim, Đông-Tây.
Không ít khách thập phương đổ về Sài gòn để hòa vào nhịp sống “không biết
mệt mỏi” của xứ sở này. Một nét riêng, hào phóng, sôi động và lộng lẫy khác
hẳn với sự trầm tư, thanh tao, nho nhã và cổ kính của người Bắc hay cái dặt dè,
chu đáo, lo xa của người miền Trung. Sài Gòn kiêu hãnh là thế. Nói là ẩm thực
Sài Gòn có lẽ là chưa đủ mà phải gọi cho ra, cho đúng cái tên ẩm thực Sài GònNam Bộ, bởi Sài Gòn là tâm điểm của toàn vùng Nam Bộ và là ngã ba đường
của Bắc-Nam- Đông –Tây. Mà Bắc ở đây bao gồm cả miền Bắc và miền Trung,
Đông là vùng Đông Nam bộ, Tây là Tây Nam bộ và cũng là chỉ phương Tây,
luồng văn hóa mới thổi hồn vào văn hóa Sài Gòn nói chung và văn hóa ẩm thực
Sài Gòn nói riêng. Hòn ngọc Viễn Đông ấy là nơi tiếp biến của văn hóa ẩm thực
Trung Quốc, Ấn, Pháp, Mỹ, Nhật, Úc….và nhiều, nhiều những vùng quốc gia,
lãnh thổ từ thế kỷ 18 đến nay. Khách trong nước hay ngoài nước, khi tìm đến Sài
Gòn đều có thể thỏa mãn hương vị ẩm thực của mình bởi ở xứ sở giàu có này,
không có gì là không tìm thấy.
Từ khu phố của người Tây, người Hoa hay người Việt, đâu đâu cũng có thể
gọi cho mình các món ngon của người Hoa, Ấn, Nhật, Tây Ban Nha hay các
món Pháp nổi tiếng, xúc xích Đức, humburger Mỹ, nhiều món ăn truyền thống
của người Nga và say xưa hương vị thịt nướng của Tiệp khắc với đủ các loại
rượu bia nổi tiếng nhất. Sài Gòn đã mở lòng mình ra mà giao lưu tiếp biến những
tinh hoa văn hóa ẩm thực của mọi miền, mọi quốc gia trên thế giới, không như
cách mà những người ít tìm hiểu về văn hóa của người Sài Gòn vô tình nói “văn
hóa Sài Gòn lai căng”. Sự mở rộng đó không làm mất đi cái truyền thống văn
hóa lâu đời của người Việt Nam.
Những hàng quán ven đường, xe đẩy bán hàng rong là nét đặc trưng của phố
phường Sài Gòn thế kỷ 20.
Những cửa hàng, tiệm ăn được bài trí đơn giản, tạm bợ bên đường, trên một
góc phố hay những sạp hàng hóa nho nhỏ là địa điểm được nhiều người dân Sài
Gòn xưa yêu thích. Một trong số những thú vui của phụ nữ Sài Gòn thời ấy là…
ăn chợ. Trong lúc đi dạo phố phường hay xách làn đi mua thức ăn, các cô gái
thường ngồi nghỉ chân ở một gánh hàng rong, quán ăn trong chợ để lót dạ bằng
bát bún riêu hay cháo vịt.
Người Sài Gòn xưa nay nổi tiếng ăn ngọt và cay, món nào trong bữa ăn của họ
cũng không thể thiếu hai hương vị này.
Sài gòn có nhiều loại hủ tíu như hủ tíu Sa Đéc, hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Nam
Vang, hủ tíu bò viên, hủ tíu Tàu… và một món hủ tíu ngày trước được coi như
nét duyên riêng của vùng đất này: hủ tíu gõ.
Tính chất thứ ba và quan trọng nhất của ẩm thực Sài Gòn là sự tập hợp tinh
hoa của ẩm thực Nam Bộ và sự nâng cao truyền thống ẩm thực miền Nam lên
mức cổ điển. Ví dụ : mắm Nam Bộ là món ăn của thời khẩn hoang. Rau đồng,
rau vườn, cá sông, cá biển, mắm cá linh tinh lang tang, ăn cho no để lo mở cõi.
Vậy mà mấy trăm năm sau, món lẩu mắm nay đã trở thành món ăn cao cấp. Dân
nhà giàu Sài Gòn - Chợ Lớn xưa và nay đãi khách bằng lẩu mắm mới sang, và
phải nói rằng lẩu mắm có lẽ là kiệt tác sáng giá nhất của văn hóa ẩm thực Việt
Nam.
Rau, cá, thịt, mắm làm thành món lẩu : hơn 20 loại rau để trong hai dĩa rau to
tướng, từ ngó sen, bông súng tới giá, bắp chuối và đủ loại rau thơm. Rồi một mớ
thập cẩm : lươn, cá rô, cá kèo, cá chạch, cá ngác, cá lóc, bông lau, basa, cá thu…
Rồi thêm vô thịt ba rọi, mực, tôm, cua, tàu hủ… cùng lên lửa với nước cốt mắm
sặc thơm lừng. Thêm hai dĩa bún hay một thố cơm, ba xị rượu ngon, một dĩa tỏi
gừng ớt hiểm và thế là ta có đủ đất trời, âm dương, hài hòa và bổ dưỡng nhất
trong món lẩu Việt Nam bất hủ.
Ẩm thực thuần túy Sài Gòn đúng là sự tổng kết lịch sử ẩm thực của đất
phương Nam từ thời khai hoang với mắm, canh chua, cá lóc nướng trui… tới
thời hiện đại với bò bảy món, trứng rùa Côn Đảo, tôm hùm Biển Đông. Có lẽ
không quá đáng khi nói ẩm thực Sài Gòn là tập đại thành tinh hoa ẩm thực Việt
Nam trên một vùng đất không rộng quá 2.100 km2 mà lại đủ sức mời gọi hơn
một chục nền ẩm thực của Á, Âu, Mỹ tới kết bạn và đua tài với ẩm thực Sài Gòn,
Nam Bộ Việt Nam mà chưa biết ai hơn ai.
Nguời Sài Gòn có thói quen ăn nhanh. Không cầu kỳ, như người Miền Bắc
người ta có thể ngồi ăn bất kì đâu có thể ngồi lề đường, vỉa hè hay từ những cửa
hàng bình dân đến những cửa hàng sang trọng. Bữa sáng người ta có thể ăn
nhanh một món gì đó rồi lao vào công việc, họ không quan trọng bữa ăn như
những người ở miền Bắc.
3. Trang phục:
Dân cư sinh sống ở Sài Gòn xưa là bốn dân tộc Khowme, việt, hoa, chăm.
Mỗi dân tộc có một phong cách trang phục riêng. Những bộ trang phục của mỗi
dân tộc này nhắc nhớ thuở ban sơ của sài gòn với những giồng đất, kênh rạch
và sự giao thoa văn hóa của một thương cảng sầm uất thuở ban đầu. khowme,
việt, hoa, chăm là bốn dân tộc chính có mặt từ những ngày đầu của sài gòn.
Người khowme là cư dân lâu đời nhất định cư trên giồng đất cao, sau đó, người
việt đến khai phá từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Người Hoa đến đây lập
nghiệp từ cuối thế kỷ XVII. Truyền thống buôn bán của những người hoa trong
phong trài phản Thanh phục Minh được mang sang đây, góp phần vào sự phát
triển của thương cảng lớn này. Sau đólà những bước chân của người Chăm đặt
lên đây trong cuộc Nam tiến khá mạnh mẽ vào cuối thế ky XIX. Và nếp sinh
hoạt, đặc điểm văn hóa, kinh tế ảnh hưởng thông qua cách ăn mặc, trang phục.
thuở ban đầu, người Hoa sang Việt Nam vẫn tóc đuôi sam, áo lụa tàu điểm hoa
văn hoặc chữ phúc, hai tay rộng, mũ rộng vành và chủ yếu sinh sống bằng nghề
tiểu thủ công và buôn bán.
Trong khi đó, người Khowme ưa mặc khăn rằn, váy áo gọn, thiên về nét nền
nã, duyên dáng của miệt đồng bằng nam bộ, thuận tiện cho việc đồng áng. Người
chăm phát triển về thổ cẩm, trang phục hơi cầu kỳ về tiết tấu hoa văn trên nền
vải vóc.
Người chăm ở sài gòn cũng có cách ăn mặc khác so với người chăm ở ninh
thuận bình thuận nhờ những cách điệu để thích ứng với khí hậu và sự năng động,
không khí phố phường với những bộ váy áo biến tấu nhiều so với truyền thống,
ít khi chít chăn và mang hai khuyên bằng chùm len, vải đỏ hai bên tai.
Trong khi đó, người kinh quen với đồng áng, lúa nước, lại chọn khăn rằn quấn cỏ
và áo nâu sồng, quần đen thanh thoát trên những đồng lúa hay trên sông nước
ngày xưa… đặc biệt là chiếc áo bà ba là nét đặc trưng của người kinh ở sài gòn.
Nó tạo thành nét đẹp duyên dáng đậm đà của người dân sài gòn xưa và nét đẹp
đó còn tồn tại đến tận ngày nay.
( trang phục người dân sài gòn thuở sơ khai)
(áo dài sài gòn xưa)
Đặc trưng trang phục của người dân thành phố Hồ Chí Minh
Sau khi đất nước độc lập thống nhất, cùng việc xây dựng đất nước, và giai
đoạn hội nhập quốc tế, sài gòn cũng như các thành phố lớn ở nước ta đã tiếp thu
văn hóa, trong đó trang phuc là vấn đề thay đổi lớn, ngoài những trang phục
truyền thống được bảo tồn và phát huy, thì có những trang phục mang tính
phương đông và phương tây cũng đang tồn tại và phát triển mạnh.
Đặc biệt trong đó quần jean và áo phông là trang phục phổ biến nhất. nó phù
hợp với sự năng động và thoải mái, để phù hợp hơn với sự nhộn nhịp của thành
phố cũng như dễ dàng hoạt động.
Bên cạnh đó trang phục của phương đông như áo xám sườn cũng được một
bộ phận người dân ưa chuộng và mặc. nhưng không phải giữ nguyên mà còn
được cách tân để mang thêm tính hiện đại.
Bên những mặc tích cực thì sự du nhập văn hóa trang phục còn mang tính chất
quá đà, không phù hợp với thuần phong mỹ tộc. những loại trang phục gây nên
sự phản cảm.
4. Kiến trúc – nhà ở:
Sài Gòn – Gia Định theo những thăng trầm lịch sử chia làm ba trào lưu kiến
trúc: Kiến trúc bản địa, kiến trúc Đông Dương và kiến trúc hiện đại.
• Kiến trúc bản địa
Kiến trúc bản địa được mô tả là nhà phố dọc theo sông Bến Nghé cùng cảnh
đô thị phồn hoa trên bến dưới thuyền, rồi chùa chiền, lăng tẩm, dinh trấn, nhà ở
cổ xưa với mái ngói âm dương, ít gian, chái rộng, mái thấp, vách gạch, cột cây
kê tán...
Đó là Phụng Sơn Tự (chùa Gò) trên đường Ba Tháng Hai được lập vào đầu
thế kỷ 19 trên một đồi nhỏ, bao quanh là ao; hoặc chùa Giác Lâm, chùa Giác
Viên... Kiến trúc rất thanh thoát, nhẹ nhàng từ mái cho đến bố cục bên trong.
Đây là những di sản văn hóa kiến trúc rất tuyệt vời.
Dinh Tân Xá(1790) – ngôi nhà cổ nhất Sài Gòn
Mặt bằng ngôi nhà có dạng hình chữ "Nhất", tuy xây dựng phục vụ cho việc
thờ thượng Công giáo nhưng ngôi nhà vẫn được quay về hướng nam theo quan
điểm dựng nhà truyền thống của người Việt. Nhìn chung, ngôi nhà được dựng
theo kiểu ba gian hai chái Nam Bộ với diện tích 136m2, trên mái có lợp ngói âm
dương, dưới mái có 6 hàng cột chạy dài, mỗi hàng có 6 cột gỗ, gian giữa rộng
nhất dùng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, khung cửa và các cánh cửa đều
chạm trổ hoa lá như tạo thêm sức sống cho mặt tiền của căn nhà. Trên cao là một
khám thờ bằng gỗ để mộc, chạm trổ các đề tài: "song phượng triều dương" ở
trên, "tam phúc" ở bao lam, hình hoa lá ở phần chân.
• Kiến trúc Đông Dương
Khi người Pháp có mặt tại Đông Dương vào giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ
20, đô thị Sài Gòn hình thành một hình thái kiến trúc châu Âu có kết hợp thiên
nhiên và tập quán xây dựng địa phương. Các hình thái vòm, cột, chóp, phù điêu,
tượng, tranh tường của châu Âu được đưa vào hầu hết.
Các công trình thời đó phảng phất đường nét các thời kỳ kiến trúc như
Classique, Gothique, Baroque nhưng ở phần mái, cửa, sảnh, hiên, bố cục công
trình thì lại không theo kiến trúc cổ điển phương Tây.
Kỹ thuật và vật liệu xây dựng: Sử dụng rộng rãi kỹ thuật và liệu xây dựng mới
như hệ khung bêtông cốt thép chịu lực, khung thép tiền chế, sành sứ nhiều màu,
ngói ardoise (đá xám chẻ), gạch caro. Các phương tiện kỹ thuật mới khá tiên tiến
được áp dụng như: cột thu lôi, đèn điện, cổng sắt uốn.
Giải pháp kiến trúc: Áp dụng các giải pháp thông thoáng, cách nhiệt để phù
hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới như bố trí các dãy hành lang, dàn pergola
rộng rãi chạy dọc theo công trình. Trên phần tường sát trần thường bố trí các lam
gió để tạo sự thông thoáng và lấy sáng cho không gian bên trong. Đa số các công
trình được bố trí thêm các sân trong, giếng trời để tăng sự thông thoáng và chiếu
sáng tự nhiên.
Những cây cột một trụ truyền thống của Việt Nam được chẻ thành hai cây. Ở đây có cả sự
pha trộn kiến trúc Việt Nam và các nước châu Á / Chi tiết trần diềm vừa pha trộn kiến trúc
đền đài châu Âu vừa kết hợp các hoạ tiết châu Á
Mái: Sử dụng mái bằng (đối với các công trình lớn) hoặc mái lợp ngói
( đối với các công trình nhỏ hơn). Mái ngói thường nhô ra xa để che nắng mưa,
có bố trí các “khu đĩ” để tạo sự thông thoáng cho phấn bên trong. Xuất hiện các
sênô thu nước mưa chạy dọc theo mái. Một số công trình sử dụng dạng mái vút
cong ở các góc, mái chồng diêm theo kiểu kiến trúc truyền thống, có hoa văn
trang trí ở đỉnh mái và các góc cong của mái.
Các chi tiết thiết kế cửa, vòm trần và mái nhà
Cửa: Bố trí nhiều cửa trên tường công trình. Cửa sổ cao, mở rộng để tăng sự
thông thoáng, chiếu sáng tự nhiên. Các công trình sử dụng phổ biến kiểu cửa lá
sách, đảm bảo được sự thông gió tự nhiên cho không gian bên trong ngay cả
trong lúc đóng. Cửa sổ không chỉ được bố trí trên tường công trình, mà còn được
bố trí phía ngoài hành lang, đặc biệt là hành lang ở những phía chịu sáng trực
tiếp của mặt trời.
Trang trí: Sử dụng rộng rãi các môtíp trang trí với màu sắc, kiểu dáng đa
dạng. Các môtíp trang trí Việt – Hoa như: “lưỡng long chầu nguyệt”, pháp vân,
lân sư, rồng phụng, cỏ cây hoa lá…
Các môtíp trang trí kiểu Khmer – Chăm như: rắn naga, hoa Mạn đà la, chữ
viết…
Các môtíp trang trí kiểu Phục hưng, cổ điển Pháp như: lan can con triện, gờ chỉ,
tranh tượng, phù điêu, hoa lá, các thức cột…
Có lúc còn pha trộn cả những phong cách thời thượng của thế giới lúc bấy giờ
như Art Nouveau, Art Déco.
Một dãy nhà cổ có kiến trúc Ðông Dương trên đường Hải Thượng Lãn Ông (quận 5, TP.HCM)
“Phong cách kiến trúc Đông Dương” là tên gọi những sáng tạo của các kiến
trúc sư Pháp và đã để lại cho chúng ta rất nhiều công trình đẹp. Một số công
trình lớn và tiêu biêu cho lối kiến trúc này ở Sài Gòn như: nhà thờ Đức Bà, chợ
Bến Thành, bảo tàng Nam Kỳ, nhà hát Lớn, Dinh Độc Lập, bưu điện trung tâm
Sài Gòn,…
Dinh Độc Lập Sài Gòn (1868)
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (1876)
Bưu điện trung tâm Sài Gòn (1886)
• Kiến trúc hiện đại
Phong cách kiến trúc Đông Dương chấm dứt vào đầu thập niên 1970 khi
hướng sáng tác kiến trúc bị ảnh hưởng bởi hướng hiện đại quốc tế. Từ năm 2000
trở đi xứ Sài Gòn theo trào lưu kiến trúc cao tầng, hay còn gọi là kiến trúc hiện
đại. Các công trình kiến trúc đô thị hiện nay được xây theo kiểu hoàn toàn mới.
Đó là việc hướng đến sự đơn giản trong bố cục hình khối không gian, tổ chức
mặt bằng tự do phi đối xứng, mặt đứng loại bỏ việc sử dụng các họa tiết trang trí
của trường phái cổ điển cũng như việc sử dụng vật liệu mới như kính, thép, bê
tông.
Tòa nhà Bitexco – tiêu biểu cho kiến trúc hiện đại ở Sài Gòn
5. Tôn giáo – tín ngưỡng:
Bên cạnh sự giao lưu với văn hoá của người Hoa (đạo Phật, Khổng, Nho…)
văn hoá phương Tây cũng từng bước thâm nhập vào văn hoá Sài Gòn- Gia Định.
Người Pháp có mặt trên mảnh đất này nhằm tìm kiếm thị trường buôn bán và
truyền bá đạo Thiên Chúa.
Do vị trí chiến lược đặc biệt, Sài gòn là nơi hội tụ của nhiều luồng dân cư dân
tộc từ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ đến định cư sinh sống trong nhiều thời
điểm lịch sử khác nhau. Ngoài ra dưới thời Mỹ-Ngụy còn một số lớn binh lính,
công nhân viên chức nước ngoài như Mỹ, Pháp, Canada, Úc, Philippines, Đài
Loan, Thái Lan... đến Sài Gòn. Nên cộng đồng dân cư ở Sài Gòn-Gia Định có rất
nhiều thành phần khác nhau về địa phương, dân tộc, tôn giáo... (75% người
Công giáo di cư từ các tỉnh miền Bắc về tập trung ở các vành đai Sài Gòn.).
Văn hoá Mỹ dần thay thế văn hoá Pháp, ảnh hưởng trên mảnh đất Sài Gòn trên
nhiều phương diện. Đạo Tin Lành cũng dần dần được truyền vào Sài Gòn cùng
với sự có mặt của người Mỹ.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn thành phố Hồ Chí Minh có 13 tôn
giáo khác nhau đạt 1.983.048 người, nhiều nhất là Phật giáo có 1.164.930 người,
tiếp theo là Công Giáo đạt 745.283 người, đạo Cao Đài chiếm 31.633 người,
Đạo Tin lành có 27.016 người, Hồi giáo chiếm 6.580 người, Phật Giáo Hòa Hảo
đạt 4.894 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.387 người. Còn lại các
tôn giáo khác như Ấn giáo có 395 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 298 người,
Minh Sư Đạo có 283 người, đạo Bahá'í có 192 người, Bửu Sơn Kỳ Hương 89
người và 67 người theo Minh Lý Đạo.
Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam là một tổ chức tôn giáo - xã hội dựa trên nền
tảng là Phật giáo nhưng độc lập với Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động với
phương châm hành đạo là "Tu học-hành thiện-ích nước-lợi dân".
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa, do Ngô Lợi (thường được
tín đồ gọi là Đức Bổn Sư) sáng lập. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào
Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực
dân Pháp. Sau khi vuaHàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn
lại những hoạt động tín ngưỡng.
Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo (gọi tắt là Minh Sư đạo) là 1
giáo hội tôn giáo có giáo lý dựa trên Phật giáo Thiền Tông, Đạo giáo và Nho
giáo tại Việt Nam và là nhánh chính trong năm nhánh của Ngũ chi Minh đạo.
Phương châm tu của đạo là "Phổ độ chúng sinh - Chân tu giải thoát".
Đạo Baha’i là một tôn giáo thế giới độc lập có những tín đồ ở khắp mọi nơi.
Baha’i, theo cổ ngữ Ả Rập nghĩa là (Người noi theo ánh sáng củaThượng đế) ra
đời năm 1863 tại Ba Tư (cũ) nay là Iran, người sáng lập là Baha'u'llah (có nghĩa
là vinh quang của Thượng Đế). Tôn giáo Baha’i bắt nguồn từ phong trào chủ
nghĩa Babi (còn gọi là tôn giáo Babi) ra đời ở Ba Tư, kéo dài từ năm 1844-1852.
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (còn được gọi là đạo Lành) được khai sáng năm
1849 bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên. Là một giáo phái có ảnh hưởng
lớn đến lịch sử và chính trị tại Nam Kỳ (Việt Nam) từ giữa từ giữa thế kỷ 19.
Minh Lý Đạo hay Đạo Minh Lý, nói tắt là Minh Lý, là một Chi trong Ngũ chi
Minh đạo, có liên quan tới cả Minh Sư Đạo và Đạo Cao Đài. Đạo ra đời lấy Tam
giáo làm tôn chỉ, dung hòa các tín ngưỡng, thực hiện cơ tận độ trong buổi hạ
ngươn, tiếp tục và hoàn thành sứ mạng cho Chánh pháp để hướng dẫn nhơn sanh
tự tu, tự độ tránh khỏi sanh tử khổ đau, thực hiện lòng từ bi, bác ái, bình đẳng
xây dựng xã hội hoà bình, an lạc.
Về tín ngưỡng: là một con người người Việt Nam với truyền thống “uống
nước nhớ nguồn” thì cư dân vùng Sàu Gòn – Gia Định cũng như các vùng khác
có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng như là thờ Thành Hoàng làng theo dấu chân Nam
tiến của người Việt, vẫn tồn tại ở vùng đất này. Trong cái buổi Sài Gòn ban đầu
ấy, tuy gọi là thành thị nhưng dáng vẻ của thôn dã vẫn còn đậm nét đó đây. Tuy
nhiên những tín ngưỡng này lại không thật sự đậm nét như ở các vùng khác như
Bắc Bộ.
Do người Hoa đặt chân lên Nam bộ vào thế kỉ 17, nên ngay từ ngày đầu đến
đây, cộng đồng người Hoa đã nhanh chóng hoà nhập mình vào các cộng đồng
dân tộc khác, đặc biệt là người Việt trên mảnh đất Nam bộ nói chung và Sài Gòn
- thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Văn hoá người Hoa mau chóng có sự hội
nhập với văn hoá bản địa. Trong đó nổi bật là phải kể đến là hệ thống tín ngưỡng
của người Hoa như: Quan Công, Thiên Hậu, Ngũ Hành Nương Nương, Thần
Tài,…với các cơ sở tín ngưỡng được xây dựng ở Chợ Lớn mà đến ngày nay vẫn
còn hương khói không chỉ dành riêng cho người Hoa mà còn có cả người Việt.
6. Lễ hội:
• Lễ hội Tết nguyên tiêu của người Hoa
Theo truyền thống của người Trung Hoa, rằm tháng Giêng Âm lịch là Tết
Nguyên Tiêu, còn gọi là Lễ hội đèn hoa hoặc hội hoa đăng. Đây là một trong
những ngày lễ quan trọng và thiêng liêng nhất vào đầu năm mới của người Trung
Hoa.
Tết Nguyên tiêu, hay Tết Thượng nguyên là lễ hội truyền thống của đồng bào
người Hoa tổ chức tiếp diễn sau Tết Nguyên đán, vào ngày Rằm tháng Giêng. Lễ
hội Nguyên tiêu của bà con trên phố người Hoa thường bắt đầu từ 12 đến 15
tháng giêng Lễ hội đón mừng đêm trăng tròn đầu tiên trong năm, đồng thời cũng
là hoạt động để kết thúc những ngày vui tết theo tập quán của người Hoa.
Đến với Đêm hội Nguyên Tiêu, mọi người được thưởng thức và tham gia
nhiều hoạt động giải trí vô cùng đặc sắc, mang đậm văn hóa truyền thống Trung
Hoa. Mở đầu đêm hội là màn diễu hành nghệ thuật hoành tráng của những chiếc
xe hoa được trang trí lộng lẫy cùng màn biểu diễn của các đoàn lân sư rồng, đội
múa, đội y võ dưỡng sinh, đội cà kheo và các em thiếu nhi, học sinh từ các trung
tâm Hoa văn, trung tâm văn hóa tại địa phương.
Thần tài xuống đường đem may mắn đến mọi nhà
Múa lụa của tiên nữ
Màn biểu diễn song hỉ lâm môn
Tiếp theo phần diễu hành là chương trình ca múa nhạc dân gian Trung Hoa
với nhiều tiết mục phong phú, được đầu tư công phu, kỹ lưỡng từ nội dung kịch
bản đến trang phục, đạo cụ, khiến khán giả say mê thưởng thức và ủng hộ nhiệt
liệt.
Ngoài hai chương trình chính nêu trên, Đêm hội Nguyên Tiêu còn tổ chức
triển lãm các tác phẩm hội họa và thư pháp do các họa sĩ, nghệ nhân tại đây sáng
tạo để mọi người có thể thưởng lãm. Bên cạnh đó, trò chơi dân gian đố đèn hoa
cũng thu hút sự chú ý và tham gia của rất nhiều khách tham dự, đặc biệt là các
bạn trẻ.
Đêm hội Nguyên Tiêu tổ chức định kỳ hàng năm nói chung không chỉ góp
phần gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân gian của cộng đồng người Hoa sinh
sống tại Sài Gòn mà còn tạo được một sân chơi vui tươi, ý nghĩa cho người dân
thành phố trong những ngày đầu năm mới.
• Lễ hội nghinh Ông ở Cần Giờ
Lễ hội nghinh Ông là tục thờ cá "Ông" phổ biến từ Quảng Bình trở vào Nam
là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân. Hàng năm,từ ngày 15 dến 17
tháng 8 âm lịch tại lăng Ông Thủy tướng được vua Tự Đức ban sắc phong: “Nam
Hải tướng quân” thuộc Xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh
đều diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ để tưởng nhớ công ơn cá
"Ông".
Lễ hội còn có các tên gọi khác như: Lễ rước cốt Ông, Lễ cầu ngư, Lễ tế cá
Ông, Lễ cúng Ông, Lễ nghinh Ông, Lễ nghinh Ông Thủy tướng... Nhưng tất cả
đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" là thần bảo trợ nghề cá và các nghề
trên biển nói chung, và từ đó trở thành tín ngưỡng của ngư dân.
Ngày 15/8 không khí lễ hội đã diễn ra nhộn nhịp ở bên ngoài lăng với nhiều
hoạt động văn hoá sôi nổi. Sáng ngày 16/8, khoảng 10h, các vị trong hội lăng
trong trang phục chỉnh tề làm lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống
thuyền rồng ra biển. Đoàn ghe nghinh xuất phát tại bến đò Cần Giờ - Vũng Tàu.
Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con hai bên phố bày lễ vật
nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thuỷ tướng, có
hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển
nghênh ông. Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vật. Trên các ghe lớn nhỏ
này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước đi khoảng
hai giờ thì quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thuỷ tướng. Tại bến
một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng.
Đoàn múa rồng đón Ông về dinh
Khi rước ông vào lăng, các nghi thức đón và tế diễn ra trang trọng, đúng với
nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông
Thuỷ tướng. Ngoài lăng, có các hoạt động văn hoá văn nghệ.
Vào khoảng 20 - 23h cùng ngày lễ cúng tế, hát bội vẫn tiếp tục diễn ra trong
lăng.
7. Nghệ thuật:
Văn học
Văn học ở Sài Gòn - Gia Ðịnh xưa có thể chia làm hai bộ phận:
• Văn học dân gian:
Văn học dân gian là bộ phận văn học do quần chúng nhân dân sáng tạo nên.
Có thể nói, ngay từ khi những cư dân đầu tiên đến ngụ cư vùng đất này thì văn
học dân gian bắt đầu xuất hiện.
Nhìn một cách tổng quát, văn học dân gian thành phố gồm một số thể loại
chính sau đây:
-
Ca dao - dân ca:
Chiếm một số lượng lớn và phổ biến rộng khắp nơi từ thị tứ đến vùng nông
thôn ngoại thành. Ðây là loại sáng tác dân gian thường được cấu theo thể thơ lục
bát mang đậm màu sắc dân tộc và được sử dụng trong các hình thức diễn xướng:
hát ru, hò, hát đối đáp, lý, nói thơ...
-
Vè:
Là loại văn vần, có tính tự sự. Cũng như các tỉnh Nam Bộ khác, vè ở thành
phố thường xuất hiện dưới các thể vãn 2, vãn 3, vãn 4, vãn 5 (nhất là vãn 4) và
một ít sử dụng thể thơ lục bát hoặc biến thể của lục bát.
-
Truyện kể:
Ở Sài gòn, truyện kể phần lớn là những chuyện về sự tích, đặc biệt các chuyện
kể về sấu và cọp, cùng các giai thoại. Thần thoại hầu như không có ở vùng đất
này, còn chuyện cổ tích thì chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Các chuyện kể ở thành phố
thường giản đơn, ít tình tiết và đặc biệt mang nhiều yếu tố kỳ ảo có tính chất
hoang đường.
Ngoài 3 loại chính kể trên, văn học dân gian thành phố còn có tục ngữ và câu
đố.
Nhìn chung văn hóa dân gian thành phố mang một số đặc điểm:
+ Trước hết, nó vừa có nét riêng của một vùng đất, đồng thời có nét chung của
Nam Bộ và đặc biêt nó chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của văn học dân gian vùng
Ngũ Quảng, điều này có thể thấy rõ ở hát ru - một loại hình có tính truyền thống
và ít có tính ứng tác nhất.
+ Trong điều kiện lịch sử - xã hội của cư dân một vùng đất được hình thành
muộn (từ cuối thế kỷ XVII) văn học dân gian thành phố mất đi một số yếu tố của
xã hội mà ở đó cuộc đấu tranh giai cấp và chống ngoại xâm trở thành vấn đề
trung tâm của thời đại, nhất là trong điều kiện thành phố luôn luôn là điểm nóng
bỏng của phong trào đấu tranh cách mạng.
• Văn học viết:
Trước khi có văn học viết bằng chữ quốc ngữ la tinh, ở Sài Gòn, một giai
đoạn dài, văn học Hán Nôm đã tồn tại và phát triển mạnh mẽ.
-
Văn học Hán Nôm:
Vào khoảng năm 80 của thế kỷ XVIII, tại đây đã xuất hiện thi xã đầu tiên gọi
là Sơn Hội Gia Ðịnh, tập hợp khá nhiều nhà văn, nhà thơ lúc ấy như: Trịnh Hoài
Ðức, Ngô Nhơn Tịnh, Diệp Minh Phụng, Vương Kế Sinh, Huỳnh Ngọc Uẩn...
Sự xuất hiện các thị xã, với các nhà thơ cùng các tác phẩm của họ đã biến Sài
Gòn thành một trung tâm văn hóa lớn ở về phía Nam của Tổ quốc.
Từ thế kỷ XVIII đến năm 1860, nhiều tác phẩm Hán - Nôm đã ra đời, nay có
thể kể: Cấn trại thi tập, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Ðức (1765 1825), Thập Anh thi tập của Ngô Nhơn Tịnh (1761-1813) Hoa Nguyên thi thảo,
Nhất thống địa dư chí của Lê Quang Ðịnh (1767-1813), Mộng Mai đình thảo thi
của Trương Hảo Hiệp (1795 - 1851),...