Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

Đoàn TNCS hồ chí minh phường vị xuyên TP nam định với sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (357.68 KB, 56 trang )

TRUNG ƯƠNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM
-*-*-*-*-*-*-*-*-*-*-*-

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài :

ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH PHƯỜNG VỊ XUYÊN
- TP NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH VỚI VIỆC GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
Giảng viên hướng dẫn : Thạc sỹ Dương Thị Hiền
Học viên thực hiện

: Hoàng Anh Tuấn

Lớp

: K42b

Niên khoá

: 2006 - 2008

Nam Định - tháng 6 năm 2008
`


LỜI CẢM ƠN

Sau ba tháng thực tập và viết chuyên đề tốt nghiệp tại Ủy ban nhân


dân Phường Vị Xuyên, đến nay chuyên đề “ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Phường Vị Xuyên - Tp Nam Định với sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc “ của em cơ bản đã được hoàn thành.
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất của mình tới các thầy
cô giáo Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam, các đồng chí cán bộ Ủy ban
nhân dân Phường Vị Xuyên, các đồng chí trong ban chấp hành Đoàn
phường cùng toàn thể các Đoàn viên thanh niên trong phường … đã tạo
điều kiện và giúp đỡ em rất nhiều để em có thể hoàn thành được chuyên đề
của mình. Và đặc biệt là cô giáo đáng kính Dương Thị Hiền, người đã
hướng dẫn em rất tận tình và đầy trách nhiệm trong suốt quá trình viết
chuyên đề của em, em xin gửi tới cô lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất
của mình.
Do thời gian tiếp cận thực tế tại địa phương cơ sở còn ít cùng với
kinh nghiệm thực tế của bản thân em chưa tích luỹ được nhiều nên chắc
chắn chuyên đề của em không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em
rất mong sẽ nhận được những lời chỉ dạy, những ý kiến đóng góp chân
thành của các thầy cô giáo và các đồng chí để chuyên đề của em được hoàn
thiện hơn và đạt kết quả tốt.
Em xin chân thành cảm ơn !
Nam Định, ngày 25 tháng 06 năm 2008
Học viên

Hoàng Anh Tuấn


PHẦN MỞ ĐẦU
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong từng quốc gia,
văn hóa và phát triển đã và đang là những vấn đề thu hút sự quan tâm của

không chỉ những người lãnh đạo các quốc gia mà của cả từng gia đình, cá
nhân. Thông điệp của UNESCO ( tổ chức văn hóa giáo dục Liên hợp
quốc ) về vai trò to lớn của văn hóa trong sự phát triển bền vững của “thập
kỷ Quốc tế phát triển văn hóa” vừa qua đã chứng minh rằng: “không chỉ có
sự phát triển kinh tế - xã hội một cách lành mạnh, bền vững, nếu sự phát
triển ấy không nhắm tới mục tiêu văn hóa, không dựa trên động lực văn
hóa”. Vì vậy, việc Đảng và nhà nước ta kiên trì đường lối phát triển trên cơ
sở coi “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đồng
thời có tác động tích cực đến việc phát triển văn hóa ở các cấp, các ngành,
từ Trung ương đến địa phương.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : "Trong công
cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cần phải chú ý đến, cũng phải
coi là quan trọng như nhau, đó là chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội
". Văn hóa Việt Nam là thành quả lao động sáng tạo và đấu tranh dựng
nước, giữ nước hàng nghìn năm của cộng đồng các dân tộc sống trên đất
nước Việt Nam, là kết quả giao lưu quốc tế, tiếp thu những tinh hoa của
nhiều nền văn minh trên thế giới. Giữ vững bản sắc và không ngừng phát
triển từ đời này qua đời khác, văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm
hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang


của dân tộc. Ngày nay cùng với xu thế " quốc tế hoá " là hoà nhập vào
cùng dòng chảy chung của nhân loại, chúng ta đang tiến hành công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH
trong những năm qua, Đảng ta thấy rằng xây dựng CNXH không thể
không coi trọng vấn đề văn hóa. Dự thảo báo cáo chính trị của đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đặt vấn đề xây dựng văn hóa ngang tầm
với các vấn đề quan trọng khác, xem phát triển văn hóa có ý nghĩa như

phát triển và dịch chuyển cơ cấu, chính sách đối với các thành phần kinh
tế, phát triển khoa học công nghệ, giáo dục quốc phòng, an ninh, đối
ngoại ... Mặt khác, cùng với việc thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, nền kinh tế thị trường đã tạo ra tâm lý tiêu dùng, lối sống chạy theo
vật chất tầm thường trong một bộ phận dân cư. Đặc biệt là chiến lược "
diễn biến hoà bình bạo loạn lật đổ " của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch đang chĩa mũi nhọn vào nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Tệ sùng bái nước
ngoài, coi thường các giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực
dụng, cá nhân vị kỷ ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc,
không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà trà đạp lên tình nghĩa gia
đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Bên cạnh đó tệ nạn buôn
lậu và tham nhũng phát triển, nạn mê tín dị đoan khá phổ biến, nhiều hủ
tục cũ và mới lan tràn nhất là trong việc cưới xin, tang lễ, lễ hội ... Trong
bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khóa VIII), đồng chí Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã chỉ rõ : "
Những tiêu cực đang xuất hiện có chiều hướng gia tăng trên nhiều lĩnh
vực của đời sống văn hóa tinh thần nhất là sự xuống cấp về tư tưởng,
đạo đức và đời sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên và
nhân dân ... dẫn tới nguy cơ đối với vận mệnh của Đảng và sự phát triển
của đất nước “.


Một dân tộc muốn tồn tại và phát triển được, ngoài những điều kiện
về kinh tế, chính trị, dân tộc đó phải có nền văn hoá và nền văn hoá ấy phải
mang đậm những nét văn hoá truyền thống của dân tộc mình.
Ngay từ thời kỳ đầu hình thành và phát triển, văn hóa là nhu cầu
không thể thiếu được trong đời sống xã hội loài người. Xã hội càng phát
triển thì nhu cầu văn hóa của con người càng phong phú, đa dạng.
Trong mối quan hệ với đời sống xã hội, văn hóa có vị trí và vai trò

hết sức quan trọng, nó có quyết định trong việc giáo dục nhân cách, bồi
dưỡng đạo đức, phẩm chất, năng lực thẩm mỹ và thoả mãn nhu cầu tình
cảm cho quần chúng nhân dân.
Trong thời đại ngày nay, văn hóa đã trở thành một trong những mối
quan tâm lớn của các quốc gia, các dân tộc. Tất cả đang tìm cho mình con
đường phát triển đất nước và xã hội một cách toàn diện nhất, và văn hóa
được coi là một nhân tố quan trọng, quyết định đến tính bền vững của con
đường phát triển đó.
Một vấn đề nóng bỏng hiện nay đang được coi là vấn đề sống còn
của tất cả các dân tộc. Đây là vấn đề bức thiết, đang diễn ra không chỉ riêng
đối với một dân tộc hay một quốc gia nào, mà nó đang diễn ra trên toàn thế
giới, đó là : “ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ”.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, văn hóa được Đảng và Nhà nước ta
coi là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Nghị quyết Trung ương 05 khoá VIII của Đảng khẳng định : “ Tiếp tục xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nền tảng
tinh thần dân tộc, chúng ta phải coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”.
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế và các nền kinh tế phụ
thuộc lẫn nhau, cộng với sự bùng nổ thông tin truyền thống đang là nguy


cơ đồng hóa các nền văn hóa, sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc chẳng
những giúp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mà còn rất cần thiết việc bảo
vệ độc lập và tự do của mỗi dân tộc. Nghị quyết Trung ương 04 khoá VIII
đã viết : “ Giới thiệu rộng rãi các giá trị văn hóa dân tộc của các nước
phát triển, văn hóa đi liền với sự mở rộng giao lưu văn hóa với nước
ngoài, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại làm giàu thêm nền văn
hóa Việt Nam. Ngăn chặn đấu tranh chống sự xâm nhập của các văn hóa
phẩm độc hại, bảo vệ nền văn hóa dân tộc”.

Nước Việt Nam ta có một nền văn hóa dân tộc ra đời từ rất sớm cùng
với sự hình thành và phát triển của đất nước, được truyền từ đời này sang
đời khác một cách bình dị nhưng rất phong phú và đa dạng, thể hiện sức
sống mãnh liệt của nhân dân các dân tộc. Đó là nền văn hóa của quần
chúng lao động trong quá trình sản xuất và chiến đấu. Văn hóa Việt Nam là
tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt
Nam sáng tạo, là kết quả của quá trình tiếp thu tinh hoa của các nền văn
hóa trên thế giới, trên cơ sở xây dựng và bồi đắp thêm cho nền văn hóa của
dân tộc ngày càng phong phú và đa dạng để không ngừng hoàn thiện mình,
chính vì vậy văn hóa dân gian các dân tộc Việt Nam luôn phản ánh rõ nét
những đặc điểm mang tính dân tộc đậm đà, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của
dân tộc Việt Nam.
Văn hóa là một mục tiêu nhân văn xây dựng và giáo dục con người,
tư tưởng coi trọng ngang nhau cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong
tiến trình xây dựng đất nước mới có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc, sự phát triển của xã hội sẽ nảy sinh những vấn đề cấp bách mà chúng
ta cần phải giải quyết, song quyết không thể duy nhất hóa, chỉ tập trung giải
quyết các vấn đề trước mắt mà không nghĩ đến toàn cục, đến những mối
liên hệ phổ biến, đến sự phát triển lâu bền. Coi trọng ngang nhau về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội không có nghĩa là mỗi bộ phận đó của xã hội
tách rời nhau, càng không có nghĩa cái nào là cơ sở, cái nào là cơ bản. Theo


Chủ tịch Hồ Chí Minh : “ Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng nhưng cơ
sở hạ tầng có kiến thiết rồi thì văn hóa mới kiến thiết được ”. Văn hóa có
một vị trí đặc biệt như vậy bởi vì văn hóa gắn liền toàn diện với đời sống
của dân tộc. Trong triết lý phát triển xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì
văn hóa gắn bó trực tiếp với quá trình Cách mạng của nhân dân và nó bắt
nguồn, trưởng thành và phát triển từ chính cuộc sống của nhân dân, theo sự
phát triển của xã hội. Cho đến nay văn hóa Việt Nam vẫn còn nguyên

những giá trị truyền thống của đất nước và con người Việt Nam.
Ngày nay trước những biến đổi của xã hội, nền văn hóa dân tộc đang
bị coi nhẹ, lớp trẻ ngày nay có xu thế hưởng thụ nền văn hóa hiện đại, văn
hóa phương Tây. Hơn thế nữa, do văn hóa dân gian chưa phát huy hết thế
mạnh của mình, các chương trình văn hóa dân gian chưa mang lại cho quần
chúng nhân dân những tiết mục hay, đặc sắc, vì thế chưa khơi dậy được sự
say mê, yêu thích văn hóa dân tộc, các di sản văn hóa chưa được bảo tồn
thật tốt, việc trùng tu ít nhiều làm sai lệch với khuôn mẫu ban đầu, tuy sặc
sỡ nhưng chưa trang nghiêm. Ở nhiều địa phương, người dân thậm chí
không biết về di sản văn hóa địa phương mình, không biết hát các làn điệu
dân ca hay các phong tục tập quán của vùng mình, các cấp chính quyền địa
phương chưa thực sự quan tâm thỏa đáng đến sự tồn tại và phát triển các di
sản văn hóa, các nét truyền thống văn hóa dân tộc là việc làm cần thiết
cùng góp phần làm cho văn hóa dân tộc luôn trong sáng, luôn đáp ứng
được nhu cầu của người dân.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII cũng xác định nhiệm vụ của
công tác giáo dục lý tưởng với mục tiêu “ Giáo dục lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội “. Xây dựng bản lĩnh chính trị, ý thức tự tôn dân
tộc, đạo đức Cách mạng, lối sống, nếp sống cho thanh thiếu niên, động viên
tuổi trẻ tích cực tham gia xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc, đồng thời tăng cường giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết cho thanh
thiếu niên về các giá trị văn hóa truyền thống, về ý chí quật cường của nhân


dân ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong suốt bốn nghìn năm lịch
sử, giáo dục lòng tự hào dân tộc để những chủ nhân tương lai của đất nước
tích cực góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, công cuộc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc trên phạm vi cả nước nói chung, ở phường Vị Xuyên –
Thành phố Nam Định nói riêng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. . Tuy

nhiên, công cuộc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở một số địa
phương nhất là cấp phường, quận, bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ
còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, bức xúc cần được giải quyết. Vị Xuyên là
một phường trung tâm của TP Nam Định. Trên địa bàn có 32 cơ quan,
trường học từ cấp mầm non đến Đại học. Trong phường có nhiều hộ buôn
bán kinh doanh trên các phố sầm uất như Hàn Thuyên, Hùng Vương…
Chính vì lý do trên, là người cán bộ Đoàn trong tương lai, với mong
muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở địa phương, dựa vào những giải pháp
khả thi nhằm nâng cao nhận thức, tư tưởng, hành động của Đoàn viên
thanh niên, tôi đã chọn đề tài “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Phường Vị
Xuyên- TP Nam Định với sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc” làm chuyên đề tốt nghiệp cho khóa đào tạo của mình.
II. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề
Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, đánh giá đúng nguyên nhân của
thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa sự nghiệp giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên địa bàn phường Vị Xuyên - TP
Nam Định.
III. Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường
Vị Xuyên trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
IV. Nhiệm vụ của chuyên đề


1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận của vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc.
2. Nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường Vị Xuyên.
3. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng sự
nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn phường Vị

Xuyên - TP Nam Định.
V . Phạm vi nghiên cứu
1. Không gian : trên địa bàn phường Vị Xuyên - TP Nam Định.
2. Thời gian : từ năm 2006 đến nay.
VI. Khách thể nghiên cứu:
- Thanh niên, cán bộ Đoàn.
- Cán bộ Đảng, cơ quan, ban ngành, đoàn thể.
- Nhân dân địa phương.
VII.Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp đọc, nghiên cứu tài liệu.
2. Phương pháp quan sát.
3. Phương pháp trò chuyện.
4. Phương pháp điều tra.


PHẦN HAI
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT
HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA
1. Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “ văn hóa “ có từ rất lâu trong lịch sử ngôn ngữ nhân loại,
cả ở phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông, Trung Quốc là nước
có nền văn hóa phát triển rất sớm, rực rỡ và vĩ đại, là một trong bốn chiếc
nôi của văn hóa thế giới : Ai Cập, La Mã, Trung Hoa và Ấn Độ.
Văn hóa Trung Quốc rất gần với văn hóa Việt Nam do sự giao lưu
rất lâu đời. Ví dụ : nước Âu Lạc gắn với Triệu Đà, Trọng Thuỷ, Văn Miếu
Quốc Tử Giám thờ Đức Khổng Tử … Thuật ngữ “ văn hóa “ xuất hiện từ

đời Chu ( Trung Quốc ) cách đây khoảng 3000 năm, “ Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ “ ( quan sát dáng vẻ con người để giáo hóa thiên hạ ).
Đến đời Tây Hán, ông Lưu Hướng là người đầu tiên trong tác phẩm của
mình dùng từ “ văn hóa “ : “ Bậc thánh nhân trị thiên hạ trước hết dùng văn
đức, sau mới dùng vũ lực. Phàm là dùng vũ lực đối với những kẻ chống đối
bất trị, dùng văn hóa không được thì phải chinh phạt “. Ông Chu Thích
cũng là người dùng thuật ngữ “ văn hóa “ rất sớm : “ Văn hóa là để làm
cho bên trong hòa mục, còn võ công là để sửa sang bên ngoài”. Theo ông,
văn hóa để đối nội, võ công để đối ngoại.
Ở phương Tây, thuật ngữ “ văn hóa “ xuất hiện từ thời cổ Hy Lạp
cách đây khoảng 2000 năm. Thuật ngữ này có gốc La Tinh là “ Cultus “
( cày cấy, vun trồng, chăm bón, làm ruộng, huấn luyện, cải thiện … ), là


hoạt động thường ngày của con người về giáo dục, nâng cao dân trí.
Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 14, nhân loại trì trệ trong “ đêm trường
Trung cổ “. Đến thời kỳ Phục hưng, xuất hiện rất nhiều nhà văn hóa khổng
lồ về văn học nghệ thuật : Williams Shakespeare, Leonardo Da Vinci …
khai thác nhân văn, họ coi “ Văn hóa là năng lực để con người sáng tạo ra
những giá trị “.
Vào thế kỷ 19, khoa học văn hóa ra đời. Martin Taylor là người đầu
tiên đã đưa ra định nghĩa “ văn hóa “ trong tác phẩm của mình ( năm 1871 )
: “ Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà
con người đã đạt được trong xã hội “, “ Văn hóa là tất cả những gì do con
người sáng tạo ra một cách có ý thức và vì sự tiến bộ của nhân loại “.
Ngày nay, thuật ngữ “ văn hóa “ còn đang được tiếp tục bổ sung và
hoàn thiện, do lịch sử loài người luôn vận động và phát triển. Theo các nhà
nghiên cứu văn hóa thì hiện nay có khoảng hơn 400, thậm chí cả nghìn
định nghĩa văn hóa theo các góc độ tiếp cận khác nhau.
Văn hóa là sự thể hiện năng lực, bản chất của con người, là các giá

trị xã hội của con người. Lịch sử của con người về thực chất là lịch sử của
văn hóa, do đó trình độ phát triển về văn hóa còn biểu hiện ở trình độ làm
chủ xã hội, làm chủ bản thân của con người. Xã hội loài người phát triển từ
thấp đến cao, từ tổ chức đơn giản của xã hội công xã nguyên thủy đến tổ
chức phức tạp của xã hội hiện đại. Quá trình đó gắn liền với sự phát triển
của văn hóa nhân loại mà động lực chính là do trình độ làm chủ xã hội, làm
chủ bản thân của con người không ngừng phát triển.
Trong quá trình lao động sản xuất, con người dần dần chế ngự được
bản năng động vật, phát triển tính người, tính xã hội của mình, từng bước
nhận thức được quy luật phát triển của xã hội, làm chủ bản thân đồng thời
hoàn thiện nhân cách của mình. Có thể nói rằng văn hóa là sản phẩm của


con người và chính văn hóa lại góp phần hoàn thiện con người trong cuộc
sống để con người lại sáng tạo nên những giá trị văn hóa cao hơn.
Văn hóa là một hình tượng xã hội bao gồm một phạm vi rất rộng. Đã
có nhiều định nghĩa về văn hóa, cuộc sống càng phát triển phong phú thì
những định nghĩa đó càng nhiều. Mỗi định nghĩa đều diễn tả nội dung của
nó từ góc độ này hay góc độ khác của văn hóa. Tuy nhiên chúng ta vẫn có
thể đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh sau đây : Văn hóa là toàn
bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình
lịch sử, nhằm tự hoàn thiện mình và thúc đẩy lịch sử ngày càng phát triển.
Bác Hồ kính yêu đã từng nói: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sẵn sàng hy
sinh nhằm thích ứng nhu cầu đời sống đòi hỏi có sự sinh tồn”. Chúng ta có
thể chia văn hóa thành hai lĩnh vực : văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
- Văn hóa vật chất : Là toàn bộ những giá trị do sản xuất vật chất
của con người sáng tạo ra trong lịch sử. Trong các giai đoạn phát triển khác
nhau của xã hội thì sản phẩm do xã hội tạo ra cũng khác nhau, phản ánh
các giai đoạn phát triển khác nhau của văn hóa.

- Văn hóa tinh thần : Là toàn bộ những sản phẩm và giá trị được tạo
ra trong sản xuất tinh thần của con người, bao gồm : tư tưởng chính trị, đạo
đức, văn học nghệ thuật, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo.v.v.. Khi
nói đến văn hóa thì văn hóa tinh thần được đề cập nhiều hơn.
Sự nghiệp đổi mới của đất nước, của Đảng và nhân dân ta đòi hỏi
phát huy cao độ năng lực tinh thần của con người Việt Nam về trí tuệ, đạo
đức, tâm hồn, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là một sự sáng tạo to lớn của
nhân dân ta đồng thời là quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy
nguồn lực trí tuệ, bản lĩnh của mỗi con người Việt Nam. Sự thay đổi về cơ


cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hóa của mọi tầng lớp
dân cư, quá trình dân chủ hóa xã hội … là yếu tố quan trọng làm thay đổi đời
sống văn hóa dân tộc.
Đến đây ta có thể nhấn mạnh một điều : “ Văn hóa là kết quả lao
động sáng tạo của con người trong suốt tiến trình lịch sử của mình ”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người đã sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ để ăn, mặc, ở,
đi lại … các phương tiện sử dụng toàn bộ các sáng tạo văn minh đó chính
là văn hóa” .
2. Khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc
Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến mặt bất biến của văn hóa trong
quá trình hình thành và phát triển của lịch sử. Dĩ nhiên, văn hóa là một hệ
thống những giá trị tinh túy, bền vững, là nơi hội tụ của những tinh hoa văn
hóa dân tộc. Các hệ thống quan hệ này mang những tên gọi riêng, có thể
chứa đựng những cách lý giải khác nhau trong cách biểu hiện qua các thời
đại. Cải tạo các hệ thống quan hệ này thành cái bất biến là nhu cầu trong

tâm thức của con người. Các nhu cầu này khá ổn định và về cơ bản là như
nhau ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không liên quan đến tài sản hay học vấn,
mặc dù một tầng lớp này có thể chiếm ưu thế so với các tầng lớp khác.
Nói đến bản sắc dân tộc tức là nói đến những đặc trưng tiêu biểu
riêng, không thể trộn lẫn nền văn hóa của một dân tộc này với nền văn hóa
của các dân tộc khác. Bản sắc dân tộc biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức
phát triển của một dân tộc.
3. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Văn hóa Việt Nam như tất cả chúng ta đều biết, có lịch sử hàng
nghìn năm. Nếu hiểu câu nói đó từ góc độ văn học, thì có nghĩa là nền văn


hóa Việt Nam với lịch sử hình thành và phát triển lâu dài đã khẳng định
được mình với tư cách là một nền văn hóa độc lập, bình đẳng với các nền
văn hóa khác, có bản sắc riêng, có các khuôn mẫu văn hóa riêng và bản thân
nó là tài sản kế thừa của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.
Như đã được chứng minh, nền văn hóa Việt Nam ngay từ thời dựng
nước đã được hình thành trong sự phân biệt với các nền văn hóa Trung Hoa
và Nam Á. Sự hội nhập của các dòng văn hóa Đông và Tây đã có ở Việt
Nam ngay từ những năm đầu Công nguyên. Còn vài thế kỷ gần đây và cả
trong giai đoạn “ mở cửa “ hiện nay thì Việt Nam gần như một “ trường thể
nghiệm “ của các mô hình văn hóa ngoại sinh.
Trong một hoàn cảnh như thế mà văn hóa Việt Nam vẫn không bị “
biến mất “ trong sự đồng hóa, khai hóa, vẫn tồn tại được như là một nền
văn hóa riêng chứ không phải là phiên bản của bất kỳ một nền văn hóa nào
khác, thì rõ ràng đây là một thực tế rất đáng phải chú ý khi xem xét mối
quan hệ giữa văn hóa và phát triển.
Nếu một trong những đặc trưng của lịch sử văn hóa Việt Nam là luôn
luôn đối thoại, giao lưu với các nền văn hóa khác mà chủ thể của nó thường
lại là những kẻ đối đầu, có những nền văn minh hùng mạnh hơn, thì những

bản sắc riêng, khuôn mẫu riêng của văn hóa Việt Nam chắc chắn phải bao
gồm các giá trị đặc biệt về ứng xử, phải có lối ứng xử thông minh và khôn
ngoan tới mức nào đó, các chủ thể văn hóa Việt Nam mới tiếp thu được
những giá trị tốt đẹp của văn hóa ngoại sinh, đồng thời chiến thắng hoặc
tránh được những âm mưu “ đồng hóa “, “ khai hóa “ của các cường quốc
là chủ thể của các nền văn hóa ấy.
Trong điều kiện của thế giới ngày nay, những gì trong văn hóa Việt
Nam có thể coi là sức mạnh của nó, giúp nó tiếp tục khẳng định mình và
đóng vai trò là động lực thúc đẩy xã hội phát triển? Về điều này, có thể nêu
ra một số phẩm chất đã định hình ở cộng đồng người Việt, những phẩm


chất mà vai trò của chúng trong đời sống xã hội đã được thừa nhận bởi số
đông, như là những giá trị “ tiềm ẩn “, như là những định hướng bên trong
đối với hoạt động xã hội như sau :
Thứ nhất, một trong những sức mạnh của văn hóa Việt Nam là
phương thức ứng xử đặc biệt của người Việt trước hiện thực : linh hoạt,
năng động, mềm dẻo, thích nghi, thích ứng nhanh với hoàn cảnh.
Thứ hai, phong cách sống của người Việt : tôn trọng tình nghĩa, ghét
cực đoan ( cả hai phẩm chất này đều là sản phẩm được kết tinh dài lâu từ
trong lịch sử. Hoàn cảnh sống nông thôn - nông nghiệp - làng xã, cuộc đấu
tranh phức tạp và gay gắt với các triều đại phong kiến hùng mạnh ở phương
Bắc để bảo vệ nền độc lập dân tộc, những thời kỳ đấu tranh giành độc lập
và đối thoại với các nền văn minh Âu, Mỹ … Tất cả các giai đoạn lịch sử
đó đã định hình trong văn hóa người Việt và tạo thành nét ưu trội về lối sống
và phương thức ứng xử).
Thứ ba, trong tương quan với các cộng đồng quốc tế khác, cộng
đồng người Việt thường ít nhiều tự hào về phẩm chất trí tuệ của mình.
Những phẩm chất nói trên nếu được khuyến khích và nuôi dưỡng
hợp lý chắc chắn sẽ có tác dụng không nhỏ trong việc thúc đẩy mỗi người

hành động vì sự phát triển của xã hội và tương lai của dân tộc vì chúng là
những động lực văn hóa.
Việt Nam của chúng ta là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam
của châu Á. Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm lao động
sáng tạo, đấu tranh kiên cường trong quá trình dựng nước và giữ nước của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả của sự giao lưu và tiếp thu tinh
hoa của nhiều nền văn hóa trên thế giới để không ngừng hoàn thiện mình.
Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam,
làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.


Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là những giá trị tinh thần riêng, đã
được đúc kết tạo thành những đặc điểm chính của dân tộc Việt Nam.
Những đặc điểm này là của riêng dân tộc Việt Nam, không thể nhầm lẫn
với bất kỳ dân tộc nào khác. Trong quá trình giao lưu và hội nhập, văn hóa
Việt Nam đào thải những điều nay không còn thích hợp để tiếp thu những
cái mới tích cực hơn, phù hợp hơn, để con người Việt Nam có đủ cái tầm
làm chủ đất nước mình. Những cái đó gọi là “ hòa nhập mà không hòa tan,
đổi mới mà không đổi màu “, đó là những sự thay đổi để giữ cho kỳ được
độc lập dân tộc. Chính vì thế, trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, dân
tộc Việt Nam đã giành được độc lập mà không bị Hán hóa. Thời kỳ Pháp
thuộc, dù có tiếp thu văn hóa Pháp, Việt Nam đi theo Chủ nghĩa Mác Lênin để giành lại độc lập dân tộc. Dù đi theo Chủ nghĩa xã hội, Việt Nam
vẫn nhanh chóng mở cửa để bước vào thời kỳ phát triển hiện đại mà không
gây nên một sự xáo trộn nào trong xã hội.
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, do tự bảo vệ
được nền văn hóa của mình nên dân tộc Việt Nam ta đã vượt qua mọi khó
khăn thử thách để tồn tại và phát triển, bản sắc dân tộc của văn hóa Việt
Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được xây dựng nên
qua lịch sử hàng nghìn năm, tạo thành những nét đặc sắc riêng của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam, đó là lòng yêu nước

nồng nàn, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết
cá nhân, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù
sáng tạo trong lao động, tế nhị trong cư xử, giản dị trong lối sống .v.v.. Bản
sắc dân tộc còn mang đậm nét trong các hình thức biểu hiện tính dân tộc
độc đáo.
Bản sắc của mỗi dân tộc thể hiện những màu sắc chung mang tính
đại diện cho dân tộc đó qua mọi thời đại. Nó bao gồm cả đạo đức,
phong cách, lối sống … của con người Việt Nam, của các dân tộc sinh
sống trên lãnh thổ Việt Nam.


“ Bản sắc văn hóa Việt Nam được bồi đắp ngày càng thêm rạng rỡ
bằng trí tuệ và tâm hồn của biết bao thế hệ, tự hào về truyền thống yêu
nước nồng nàn và ý chí bất khuất quật cường, tinh thần nhân văn cao cả,
tình nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung của nhân dân ta luôn hướng tới chân thiện - mỹ” ( nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười ). “ Đó là lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa
tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng
xử, tính giản dị trong lối sống …” - Nghị quyết Trung ương 05 khóa VIII
của Đảng CSVN.
4. Nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc:
Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định
việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là
một vấn đề cấp bách mang tính chiến lược lâu dài, là vấn đề có ý nghĩa
sống còn với quốc gia, dân tộc.
Đối với thế hệ trẻ, vấn đề giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc
trong lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao ý thức về bản sắc văn
hóa dân tộc đã thức tỉnh những ai mơ hồ về lịch sử dân tộc, suy giảm lòng
tự hào dân tộc, mơ hồ về giá trị truyền thống, bị choáng ngợp bởi những
thành tựu văn minh kỹ thuật phương Tây mà mất tự tin, mất lòng tin vào

dân tộc.
Tại hội nghị lần thứ X Ban chấp hành TW khóa IX khai mạc ngày 0507-2004 tại Hà Nội, đồng chí Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã khẳng định
việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam phải tiến hành song song:” Bởi
kinh tế và văn hóa là hai chân của sự phát triển, chúng ta không thể đi chân
ngắn, chân dài, chân cao, chân thấp, không chỉ chăm lo phát triển nền tảng
vật chất( kinh tế) của xã hội mà không chăm lo phát triển nền tảng tinh
thần( văn hóa) của xã hội”.


II. VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN VỚI VIỆC GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC:
1. Khái niệm về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Thanh niên là lớp người đang trưởng thành, bắt đầu ở cuối tuổi dậy
thì và kết thúc vào thời kỳ đã hoàn thiện về thể chất và định hình về nhân
cách, một thời kỳ phát triển tương đối ổn định. Theo quy ước hiện nay, độ
tuổi thanh niên Việt Nam được tính từ 15 đến 28 tuổi.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị xã hội của thanh niên
Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập,
lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, tự nguyện
phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh
cách mạng, Đoàn đã tập hợp được đông đảo thanh niên, phát huy chủ nghĩa
anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thời kỳ mới,
Đoàn tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chất
tốt đẹp của mình, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đoàn thường xuyên bổ sung lực
lượng trẻ cho Đảng, tổ chức vận động Đoàn viên, thanh niên cả nước đi
đầu trong sự nghiêp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ

quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội hậu bị tin cậy của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là đội quân xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ
nghĩa của thanh niên, là đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của tuổi trẻ, là lực lượng chính trị nòng cốt trong phong trào thanh niên và
trong các tổ chức thanh niên Việt Nam. Ngoài ra Đoàn còn lãnh một trách
nhiệm rất lớn lao được Đảng và nhà nước giao cho là phụ trách và dìu dắt


Đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh, tổ chức của những thiếu niên,
nhi đồng xuất sắc.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức trong hệ thống chính trị, hoạt
động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Trong hệ thống chính trị, Đoàn là một thành viên bình
đẳng với các thành viên khác, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đoàn giữ vai
trò nòng cốt, định hướng chính trị cho Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam,
phối hợp với các thành viên khác trong công tác thanh niên, phát huy hiệu
quả các chức năng của mình trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đoàn
luôn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn đoàn kết, hợp tác bình đẳng với các
tổ chức thanh niên tiến bộ trên thế giới phấn đấu vì tương lai và hạnh phúc
của tuổi trẻ, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thế hệ trẻ thanh niên, thiếu niên là những người kế tục sự nghiệp
Cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và của Đảng, là người cầm
nắm tương lai của dân tộc, tương lai văn hóa của nước nhà. Trong nhiều
nghị quyết, Đảng đã khẳng định : " Thế hệ trẻ có vai trò lịch sử rất quan
trọng, là lớp người năng động nhất trong nhân dân, là lực lượng xung kích
Cách mạng, Đảng và Bác Hồ vĩ đại luôn coi trọng thế hệ trẻ, coi trọng công
tác thanh niên, động viên thế hệ trẻ hăng hái chiến đấu, học tập, tu dưỡng,
góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi lịch sử vẻ vang của đất nước.

Có thể nói, thế hệ trẻ có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp Cách mạng, sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa ".
Hiện nay thế hệ trẻ Việt Nam vẫn phát huy được tính tích cực cơ bản
của mình trong các lĩnh vực, thể hiện rõ sự năng động, ý chí vươn lên trên
nhiều lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, đạo đức, lối sống. Bởi thế, thế hệ trẻ giữ
vai trò to lớn không chỉ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trong lĩnh vực xây


dựng kinh tế văn hóa mà còn đi đầu trong việc xây dựng một lối sống mới
của đất nước nhằm tạo dựng diện mạo con người mới, xã hội mới, nên việc
nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, nhu cầu của thế hệ trẻ trở thành tầm quan
trọng hàng đầu, một nhân tố quyết định đến việc xây dựng con người mới,
văn hóa mới Việt Nam. Gần đây khi đề cập đến việc xây dựng con người
mới, Nghị quyết hội nghị lần thứ 05 Ban chấp hành TƯ Đảng ( khóa VIII )
đã nhấn mạnh những đức tính cần có của con người Việt Nam :
Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc
và Chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn
lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc, chủ nghĩa và tiến bộ xã hội.
Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,
nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước cộng đồng, có ý thức
bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,
năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
Thiết nghĩ, thế hệ trẻ cần chú trọng đến các đức tính trong tiếp nhận
giáo dục, tự giáo dục để bồi bổ và hoàn thiện nhân cách con người mới.
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
mỹ và thể lực .
Trong đó rất quan trọng phải phát huy mặt tích cực, ưu điểm ; hạn

chế khuyết điểm và những thiếu hụt khiến cho nhân cách thế hệ trẻ được
nảy nở theo những chuẩn mực chân - thiện - mỹ.
2.Vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với việc giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc:
Nghị quyết 04 của Ban chấp hành TƯ Đảng đã khẳng định vai trò
của thanh niên đối với Cách mạng Việt Nam : “ Sự nghiệp đổi mới có


thành công hay không, đất nước ta bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng
trong cộng đồng thế giới hay không là tùy thuộc và thanh niên, vào việc
bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên “. “ Công tác thanh niên là vấn đề
sống còn của dân tộc, quyết định sự thành bại của Cách mạng Việt Nam “,
vai trò của thanh niên đã được khẳng định. Vậy Đoàn thanh niên thực sự
xứng đáng là người gánh vác sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Nhà nước ta đã ra Nghị quyết 05 chuyên bàn về văn hóa và sự
nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, đề ra mục
tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cho thanh niên vì thanh niên có vai trò rất
quan trọng trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam hiện nay.
Nghị quyết 26 của Bộ chính trị đã nhấn mạnh : “ Thanh niên ta ngày
nay lớn lên trong thời kỳ lịch sử vĩ đại của dân tộc, được Đảng và chế độ
mới đào tạo, bồi dưỡng và phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, có
những cống hiến xuất sắc và trưởng thành nhanh chóng. Nhiều tấm gương
tiêu biểu về chủ nghĩa anh hùng Cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam đã
xuất hiện trên các lĩnh vực trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa “.
Có thể khẳng định thế hệ trẻ Việt Nam luôn luôn là niềm tự hào của Đảng,
của toàn nhân dân, trên mặt trận sản xuất, học tập, công tác và trên mọi lĩnh
vực khác, thế hệ trẻ đều làm tốt vai trò của mình, đã có nhiều tấm gương
sáng trong xí nghiệp, hợp tác xã, cơ quan, nhà trường … Thanh niên ngày
nay đã bộc lộ tinh thần dám nghĩ dám làm, không ngại khó ngại khổ tham

gia tích cực vào sự nghiệp văn hóa nghệ thuật.
Trong giai đoạn hiện nay, thế hệ trẻ Việt Nam vẫn không ngừng phát
huy tính tích cực cơ bản của mình trong các lĩnh vực, thể hiện rõ sự năng
động, ý chí vươn lên trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa nghệ
thuật, đạo đức, lối sống … Bởi thế hệ trẻ giữ vai trò to lớn không chỉ trong
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trong lĩnh vực xây dựng kinh tế, văn hóa mà còn


đi sâu trong việc xây dựng lối sống của đất nước nhằm tạo diện mạo con
người mới trong xã hội mới.
Đoàn thanh niên là lực lượng nhạy bén trong việc tiếp thu những tinh
hoa văn hóa của các nước trên thế giới, từ đó chắt lọc làm giàu thêm nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Thực hiện việc tổ chức quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và trên cơ sở Nghị quyết đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VII, hai
phong trào lớn “ Thanh niên lập nghiệp “ và “ Tuổi trẻ giữ nước “ được
triển khai rộng khắp, góp phần cổ vũ hàng triệu thanh niên vươn lên lập
thân, lập nghiệp, xung kích thực hiện các chương trình kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh của đất nước tạo sự chuyển biến tích cực trong nội dung,
phương thức đoàn kết tập hợp thanh niên và công tác xây dựng tổ chức Đoàn
trên toàn quốc.
Hai phong trào lớn “ Thanh niên lập nghiệp “ và “ Tuổi trẻ giữ nước
“ là một chủ trương đúng đắn được triển khai có hiệu quả, đánh dấu bước
phát triển mới của công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong điều kiện
mới, tạo nên nguồn lực tinh thần và vật chất, làm chuyển biến nhận thức và
hành động của cán bộ, Đoàn viên thanh niên cả nước, được xã hội quan
tâm ủng hộ ( báo cáo Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VII ).
Công tác tư tưởng - văn hóa, tuyên truyền giáo dục của Đoàn bám
sát các chủ trương, đường lối của Đảng được thanh niên tiếp nhận một cách
tích cực. Các hoạt động giáo dục truyền thống dân tộc và Cách mạng,

truyền thống của Đảng, của Đoàn được triển khai có hiệu quả. Các hoạt
động văn hóa, giáo dục về lối sống, nếp sống cho thanh thiếu niên thông
qua cuộc vận động “ Hai xây, một chống “ ( Xây dựng nếp sống nơi công
cộng, trong gia đình, chống tệ nạn xã hội ), SV 96, Bẩy sắc cầu vồng, các
cuộc thi thanh niên thanh lịch, nét đẹp Đội viên, liên hoan thanh niên hát
dân ca và cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống ở khu


dân cư “ do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động... Tất cả những phong
trào trên khi phát động được đông đảo thanh niên ủng hộ, hưởng ứng mạnh
mẽ và thiết thực.
Văn hóa gắn liền với thế hệ trẻ như một quá trình tự nhiên bởi lẽ văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực quan trọng thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội đồng thời là mục tiêu của CNXH. Công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước là hiện thân của một đời sống văn hóa rộng lớn
với những sáng tạo vật chất và tinh thần cao đẹp. Đây là sự nghiệp của
nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Nguồn lực to lớn của tuổi trẻ chỉ có thể được
tăng cường khi kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của văn hóa
dân tộc. Phát triển thoát khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào
nguy cơ thoái hóa.
Trách nhiệm to lớn của thế hệ trẻ ngày nay trong công việc chuẩn bị
hành trang đi vào thế kỷ mới là phải góp phần xây dựng con người Việt
Nam về tâm hồn, tình cảm và lối sống. Mặt tích cực của cơ chế thị trường
giúp cho tuổi trẻ sống chủ động, ngày càng trở nên nhạy bén với thời cuộc,
thích nghi nhanh với những biến đổi xã hội và có phản ứng linh hoạt.
Đoàn thanh niên vốn là tổ chức có môi trường văn hóa, đúng vậy, họ
phải có bản lĩnh văn hóa gắn liền với thế hệ trẻ như quá trình tự nhiên bởi
lẽ văn hóa là nền tảng của xã hội. Mỗi Đoàn viên thanh niên là một chiến
sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Tóm lại, cốt lõi của bản lĩnh văn hóa là
giữ gìn, phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc theo tinh thần “

gạn đục, khơi trong “ mà Bác Hồ kính yêu đã dạy.
Là lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức hoạt động, kỷ niệm ngày lễ lớn
của dân tộc thông qua đó để tuyên truyền nhắc nhở cho Đoàn viên thanh
niên biết được truyền thống của ông cha ta. Một truyền thống đầy vẻ vang.


III. MỘT SỐ TƯ TƯỞNG QUAN ĐIỂM VỀ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc:
Thuở đương thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo xây
dựng khối đoàn kết cũng như sự nghiệp phát triển văn hóa của tất cả các dân
tộc. Người nhìn thấy rõ các sắc thái riêng của văn hóa mỗi dân tộc, không
chỉ là nét văn hóa cá thể của nó mà chính cái sắc thái cá thể đó làm phong
phú đa dạng, đậm đà bản sắc văn hóa Việt Nam. Chính ở đó ta tìm thấy “
tiếng nói chung “ của nền văn hóa Việt Nam, của cộng đồng các dân tộc từ
nghìn đời nay cùng sống, lao động, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam.
Tất cả chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt tôn
trọng lối sống văn hóa giữa các dân tộc. Người luôn mong các dân tộc Việt
Nam được bình đẳng sao cho các dân tộc miền núi tiến kịp miền xuôi,
Người chăm lo đến đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc và tất cả tấm
lòng yêu thương, trìu mến, một tình cảm đầm ấm, tôn trọng và công bằng.
Theo Người, một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải
là nền tảng tinh thần cho quá trình giữ vững độc lập dân tộc, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thể hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH. Giữ
vững bản sắc dân tộc không có nghĩa là thực hiện việc “ đóng cửa “ để xây
dựng một nền văn hóa đơn điệu, nghèo nàn mà phải nhìn ra thế giới, tiếp
thu tinh hoa văn hóa dân tộc của các nước trên thế giới để làm giàu và
phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam. Phải có sự đào thải những cái cũ

cái lỗi thời, cả cái tuy mới xuất hiện nhưng độc hại, để củng cố, giữ gìn và
phát huy những cái tốt đẹp, cái tinh hoa của dân tộc, tiếp thu các giá trị văn
hóa cao đẹp của nhân loại, hình thành nền văn hóa mới phù hợp với truyền
thống của dân tộc, theo hướng phát triển của nền văn hóa hiện đại, đáp ứng


với yêu cầu, nhiệm vụ của Cách mạng nước ta. Trong quá trình xây dựng,
chúng ta cần phải nắm vững, quán triệt các quan điểm chủ đạo của Đảng về
văn hóa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng gia đình văn
hóa mới, tổ ấm suốt đời của con người, tế bào lành mạnh của xã hội, nơi “
thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn “, nơi thế hệ trẻ được nuôi
dưỡng, giáo dục trong tình thương yêu để trở thành những người chiến sỹ
của sự nghiệp xây dựng.
Chính sách văn hóa đúng đắn do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và
sức hấp dẫn lớn của Người đã thu hút nhiều nhà trí thức, nhà khoa học, nhà
văn và nghệ sĩ, dẫn dắt học sinh đi vào Cách mạng, đem trí tuệ, nhiệt tình
cống hiến cho đất nước, xây đắp cho nền văn hóa dân tộc.
Sự nghiệp văn hóa lớn lao nhất, quan trọng nhất của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là đã huy động được sức mạnh truyền thống hàng nghìn năm của văn
hóa dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa của các thời đại, lãnh đạo thành
công sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm
người, quyền được sống một cuộc sống xứng đáng cho nền văn hóa Việt
Nam, cũng là một sự nghiệp có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới,
góp phần vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, từng
bước tiến lên thanh toán chủ nghĩa thực dân, xóa đi một vết nhơ trong lịch
sử và trong nền văn hóa của loài người.
Sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đem đến cho kho tàng văn hóa
thế giới những giá trị lớn, thể hiện khát vọng của nhân dân các nước trong
cuộc đấu tranh vì quyền dân tộc cơ bản, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Mỗi dân tộc khẳng định bản sắc văn hóa của mình và phát triển sự hiểu biết
đối với các dân tộc khác.
2. Những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam:
Hội nghị lần thứ 05 Ban chấp hành TƯ Đảng ( họp từ ngày 6/7/1998


×