BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC………………
----------
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
VĂN HÓA VÀ DU LỊCH VĂN HÓA (NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI KAREN)
Sinh viên thực hiện: ........................
Lớp: .....................
......., năm 2020
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên - TS. .............., trường
Đại ……………., là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình để tôi có thể
hoàn thành Tiểu luận này. Xin chân thành cảm ơn tập thể gảng viên, cán bộ, nhân viên
cùng toàn thể bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả tiểu luận
………………..
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thái Lan là một quốc gia thanh bình và xinh đẹp, một trong những địa điểm du lịch
khám phá được yêu thích nhất tại Đông Nam Á gồm 60 tộc người sinh sống với 50% là
tộc người Thái. Đây là một thiên đường du lịch với con người thân thiện và hiếu khách,
một đất nước nhiệt đới độc đáo với nền văn hóa và lịch sử lâu đời. Thái Lan tỏa sáng với
những ngôi đền rực rỡ, nguy nga và lộng lẫy. Thái Lan dường như có mọi thứ: cảnh đẹp
chùa chiền, bãi biển rực nắng, thành phố sầm uất, và một nền ẩm thực tuyệt vời.
Đến với Chiang Mai – thành phố lớn thứ 5 nổi bật bậc nhất miền Bắc Thái Lan, du
khách không chỉ ghé thăm Wat Phrathat Doi Suthep nằm trên sườn núi Suthep ở độ cao
hơn 1000m, Wat Chedi Luang với kiến trúc độc đáo của triều đại Lanna và nghệ thuật
Bắc Thái, trại voi Mae Sa, vườn thú Chiang Mai - nơi sinh sống của hơn 200 loài động
vật có vú, chim từ châu Á và châu Phi; mà còn có cơ hội ghé thăm một ngôi làng độc đáo
– Làng “cổ dài” Karen.
Nằm khép mình khiêm tốn trong một thung lũng sát vùng biên giới Thái Lan tiếp giáp
với Myanmar, làng “cổ dài” Karen được xây dựng bởi chính phủ Thái Lan với mục đích
thu hút du khách như một trong những điểm đến văn hóa – du lịch “đặc sản” của miền
Bắc Thái Lan. Nét đặc biệt tạo nên sự độc đáo của ngôi làng là những người phụ nữ với
chiếc cổ dài ngoằng. Bước chân vào ngôi làng “cổ dài”, cuộc sống ồn ào và sôi động đầy
náo nhiệt của thế kỷ 21 dường như dần biến mất và thay vào đó là không gian yên bình
đến kì lạ.
Để hiểu hơn về cuộc sống, về những nét văn hóa đặc sắc, những truyền thuyết thú vị,
huyền bí của các dân tộc thiểu số trên thế giới nói chung và tộc người Karen nói riêng,
em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Văn hóa và du lịch” (Nghiên cứu trường
hợp người Karen)
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về những nét văn hóa và những hoạt động du lịch
diễn ra xung quanh cuộc sống của bộ tộc người Karen
3. Lịch sử nghiên cứu
Một số bài báo viết về tộc người Karen như:
-
“East Asia/Southeast Asia: Burma — the World Factbook - Central
-
Intelligence Agency”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2010.
“Karen people”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2015.
“Burmese Refugee Population in the US – BACI Official website”. baciindy.org. Ngày 7 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm
-
2017.
“Burmese Community Profile” (PDF). dss.gov.au. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày
-
30 tháng 12 năm 2016.
“Census Profile, 2016 Census, Statistics Canada”. Ngày 8 tháng 2 năm 2017.
“Karen refugees find freedom, hope in Windsor”. Bản gốc lưu trữ ngày 27
tháng 1 năm 2015.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tộc người Karen
- Phạm vi nghiên cứu: Chiang Mai – Thái Lan
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lí thông tin: Nghiên cứu tài liệu, tập hợp thông tin và xử lí
các dữ liệu liên quan.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích và tổng hợp lại các dữ liệu đã thu thập.
5. Bố cục đề tài
Gồm các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Văn hóa
Chương 3: Hoạt động du lịch vùng người Karen
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Khái niệm
1.1.
Khái niệm tộc người
Theo nghĩa hẹp, “tộc người có thể được hiểu là một cộng người có chung tiếng
mẹ đẻ. Như vậy, tộc người tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc
- ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ”. Theo nghĩa
này, tộc người là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau
và có chung các đặc điểm về văn hoá mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc
sử dụng một ngôn ngữ” [2]
Theo nghĩa rộng, “tộc người được hiểu là một cộng đồng người liên kết với
nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ,
chính trị,… Sự kết hợp các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng, một cấu trúc
mang tính văn hoá chủ yếu - một nền văn hoá riêng biệt. Nói một cách ngắn gọn,
tộc người là một tập thể hay đúng hơn, là một cộng đồng người, được gắn bó với
nhau bởi một nền văn hoá riêng biệt. Theo nghĩa này, các yếu tố trong hệ thống tộc
người có thể phát triển không đồng đều ở mỗi thành viên, hay sự vắng mặt của một
trong số các yếu tố ở một thành viên cũng không làm cho họ tách khỏi nhóm tộc
người của mình”. [2]
Cách hiểu theo nghĩa rộng trên đây cho phép bao quát tốt hơn các nhóm cộng
đồng tộc người hiện đang tồn tại. Ở đây, mặc dù có những ranh giới không rõ
ràng, nhưng chúng vẫn là thực thể thực tế so với so với những con số thống kê đơn
giản về các cá nhân chỉ được xác định theo một tiêu chuẩn duy nhất.
Để nhận thức chính xác và sâu sắc hơn về tộc người hay nhóm tộc người (group
ethnique), điều quan trọng là phải hiểu được những đặc điểm của các yếu tố cấu
thành của nó. Về vấn đề này, chúng ta có thể tiếp cận các yếu tố đặc trưng sau:
“Trước hết là yếu tố nhân chủng . Đây là yếu tố nền tảng của việc xác định
nguồn gốc tộc người. Căn cứ vào yếu tố này chúng ta có thể xác định được các tộc
người được sinh ra từ những bộ phận nào của nhân loại; chúng xuất hiện khi nào
và hoà nhập vào nhau ra sao… Khi căn cứ vào yếu tố đặc trưng này, điều quan
trọng là phải nc các thành phần lịch sử khác nhau của cư dân trong tộc người, chứ
không phải chỉ là thu thập và phân tích các dữ liệu nhân chủng trực quan. Những
thành phần cư dân ít nhiều có tính nguyên gốc, cùng với những thành phần cư
dân đóng góp về sau làm thành cơ sở cho qt phát triển tộc người. Các phương
hướng pha tạp, kết hợp kế cận hay chồng chéo của các thành phần cư dân sẽ soi
sáng cho tình trạng hiện tại của tộc người” [3].
“Thứ hai là yếu tố dân số. Bất cứ tộc người nào cũng đều được xác định bằng
số lượng người mà nó tập hợp. Chính vì vậy, những số liệu thống kê về dân số là
đặc biệt quý giá để đo lường cả về mức độ tiến hoá của tộc người. Mặt hhác, chúng
còn soi sáng cả về quá trình phát sinh, phát triển hay triển vọng của tộc người” [3].
“Thứ ba là yếu tố ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiêu chí cơ bản để phân biệt tộc
người này với tộc người khác. Nó là sợi dây liên hệ đặc biệt giữa các thành viên
của tộc người. Ngôn ngữ vừa là dấu hiệu bên ngoài, vừa là một yếu tố cấu kết bên
trong của cộng đồng tộc người. Nó là sở hữu chung, tài sản chung của tộc người, là
phương tiện chuyển tải nền văn hoá của tộc người” [3].
“Thứ tư là yếu tố lãnh thổ. Với tư cách là một xã hội toàn vẹn và tự lập, mỗi tộc
người đều chiếm một phần lãnh thổ riêng trên bề mặt trái đất. Lãnh thổ là cái
khung vật chất mà trong đó tộc người được cố định, thích nghi và cải biến môi
trường tự nhiên. Lãnh thổ của các tộc người có sự khác nhau về hình thức và tuỳ
thuộc vào khả năng và cung cách sinh sống của họ” [3].
“Thứ năm là yếu tố phương thức sản xuất. Mỗi tộc người đều hình thành trong
nó một lối sống nhất định. Lối sống đó phụ thuộc vào môi trường thiên nhiên,
phương thức sản xuất của riêng nó. Đó là công nghệ, tri thức, tín ngưỡng,…
Phương thức sản xuất có khả năng chấn chỉnh lại lối sống tổng thể. Phương thức
sản xuất là cái dễ biến đổi, nhưng là cái làm cho mỗi tộc người mang đặc trưng
riêng, làm cho nó trở thành thuần nhất có cấu trúc riêng và phân biệt nó với các tộc
người khác”.
“Thứ sáu là yếu tố văn hoá và ý thức tộc người. Tộc người, với tư cách là công
động người, tồn tại trên lãnh thổ của mình, có những nét độc đáo về văn hoá. Theo
nghĩa rộng, văn hoá của tộc người là những cái “phi vật chất” bao gồm những di
sản tinh thần của cộng đồng tộc người dưới tất cả các hình thức của nó. Nó dựa
trên cái giá đỡ đặc biệt là ngôn ngữ. Bất cứ một thành viên nào của tộc người mà
về mặt tinh thần được hình thành trước hết bởi ngôn ngữ thì đều có thể hoàn thiện
thế giới quan của mình thông qua sự thanh lọc của văn hoá tộc người. Điều này tạo
cho thành viên đó một nhân cách cơ sở mà trong nhiều trường hợp, anh ta không ý
thức được. Nó tạo cho anh ta một tập hợp những tri giác, tình cảm và sự nhận biết
về giá trị chung của cộng đồng tộc người. Đó chính là ý thức tộc người” [3].
Như vậy có hiểu chung nhất: “Tộc người (ethnie/ethnos) là một tập đoàn
người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và ý thức tự
giác cộng đồng” [1].
1.2.
Du lịch tộc người
Du lịch tộc người là một trong hình thức của du lịch cộng đồng, đề cao vai trò
của người dân bản địa. Với hình thức du lịch này, các tộc người bản địa là chủ
nhân có quyền tham gia các hoạt động du lịch và phải được hưởng lợi từ các hoạt
động du lịch.
Du lịch tộc người là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tố: Du khách, doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ, cư dân bản địa, chính quyền cơ sở. Bốn yếu tố này luôn quan hệ
khăng khít với nhau. Du khách muốn thỏa mãn các nhu cầu du lịch thì phải có các
doanh nghiệp cung cấp, có người dân bản địa tham gia, và được chính quyền địa
phương tạo điều kiện thuận lợi trong quản lý, định hướng. Người dân muốn thu
được nhiều lợi nhuận qua hệ thống dịch vụ đều thành lập ban đại diện của những
gia đình tham gia dịch vụ du lịch. Ban đại diện là đầu mối nhằm quản lý các dịch
vụ lưu trú, ăn nghỉ, sinh hoạt....
2. Khái quát về tộc người Karen
2.1.
Địa bàn cư trú của người Karen
“Karen là một bộ tộc có nguồn gốc từ Myanmar nhưng khoảng những năm
1980 và 1990 bị quân đội truy quét nên đã chạy tới Chiang Mai để định cư. Tuy
đã di cư đến nơi đây 2 thập kỷ nhưng họ vẫn giữ được nét văn hóa riêng như
theo chế độ mẫu hệ và những chiếc cổ dài cho tất cả những cô gái trong làng”.
“Làng cổ dài Karen nằm sát khu vực biên giới giữa Thái Lan và Myanmar.
Nơi này cách Chiang Mai chừng 180km, cách thành phố Chiang Rai khoảng 30
km, nằm tĩnh lặng sau con đường cao tốc số 1019”.
“Người Karen sống chủ yếu ở các ngọn đồi giáp ranh với khu vực miền núi
phía đông và đồng bằng Irrawaddy của Myanmar, chủ yếu ở bang Kayin (trước
đây là bang Karen), với một số người ở bang Kayah, miền nam bang Shan,
vùng Ayeyarwady, vùng Tanintharyi, vùng Bago và ở miền bắc và miền tây
Thái Lan”
“Tổng số Karen rất khó ước tính. Cuộc điều tra dân số đáng tin cậy cuối
cùng của Myanmar được tiến hành vào năm 1931. Một bài báo VOA năm 2006
trích dẫn ước tính bảy triệu ở Myanmar. Có 400.000 Karen khác ở Thái Lan,
nơi họ là lớn nhất trong các bộ lạc trên đồi”.
Một số Karen đã rời các trại tị nạn ở Thái Lan để tái định cư ở những nơi
khác, bao gồm cả Bắc Mỹ, Úc, New Zealand và Scandinavia. Năm 2017, dân số
Karen diaspora được ước tính là khoảng 67.000.
2.2.
Truyền thuyết cổ dài
Theo quan niệm của dân tộc Karen, họ là dòng dõi con cháu phượng hoàng nên
cổ dài được xem là tiêu chuẩn của người phụ nữ, càng nhiều vòng cổ thì phụ nữ
càng đẹp và quý phái. Cũng có những lý giải khác cho rằng, phụ nữ Karen đeo
vòng cổ là để tránh bị bộ tộc khác bắt đi làm nô lệ, hay để tránh bị hổ tấn công vào
vùng cổ...Ở làng Karen, các bé gái khi lên 5 tuổi sẽ được đeo chiếc vòng cổ đầu
tiên. Số vòng cổ sẽ tăng theo thời gian, tính theo năm và sẽ theo họ suốt đời. Kể từ
khi đeo vòng cổ, những người phụ nữ Karen sẽ mang theo đến suốt đời. Để vệ
sinh vòng cổ sáng bóng, những người phụ nữ Karen sẽ tắm trong nước ngâm
hương liệu truyền thống.”Ngoài đeo vòng cổ, họ còn đeo vòng tay, chân và những
chiếc khuyên tai to và nặng. Cuộc sống của bộ tộc làng Karen lặng lẽ, tách biệt với
sự ồn ào và náo nhiệt của thế giới hiện đại. Trong làng, người phụ nữ có nhiệm vụ
ở nhà chăm con và dệt vải”
Tại làng, một số phụ nữ có chiếc cổ cao tới 25cm với hơn 20 chiếc vòng. Trung
bình, tổng khối lượng vòng mà các phụ nữ ở làng phải đeo sẽ rơi vào khoảng 10
đến 20kg. Tập tục này được lưu giữ từ đời này qua đời khác cho tới ngày nay.
Chính vì thế người phương Tây gọi họ là Girrafe women (những người phụ nữ
hươu cao cổ).Cổ của họ thật ra cũng như chúng ta nhưng vì phải đeo nhiều vòng cổ
nên theo thời gian khiến cho xương bả vai bị chùng xuống, các đốt sống cổ dài ra
nên thoạt nhìn cổ của họ có thể cao gấp đôi người bình thường.
“Thật ra cũng không ai biết rõ truyền thống này bắt nguồn từ đâu.Với phụ nữa
Karen họ xem vùng cổ là vùng nhạy cảm của người phụ nữ và không để ai nhìn
vào cổ kể cả chồng. Được biết, những chiếc vòng chỉ được tháo ra 3 lần trong cuộc
đời mỗi người phụ nữ. Lần đầu là khi kết hôn, lần thứ hai khi sinh con và lần thứ 3
khi họ qua đời. Phụ nữ ở đây mang những chiếc vòng cổ này suốt. Khi cần làm vệ
sinh cổ thì những người phụ nữ trong làng sẽ tụ tập lại và ngâm mình vào nước
thảo dược để làm sạch cổ và những chiếc vòng”.
Hình ảnh cô gái đeo vòng cổ trong bộ tộc người Karen
(Nguồn: tác giả sưu tầm)
2.3.
Chế độ mẫu hệ
“Đặc trưng chế độ mẫu hệ trong xã hội truyền thống của người dân tộc Êđê thế
hiện ở nhiều khía cạnh trong cuộc sống, từ quan hệ gia đình, xã hội đến cả các kiến
trúc nhà ở, nhạc cụ cồng chiêng... Trong đó, nét đặc trưng nhất là chế độ mẫu hệ
thể hiện trong cuộc sống hôn nhân gia đình người Karen”
“Theo truyền thống từ xa xưa, người có quyền lực cao nhất trong gia đình
người Karen là phụ nữ. Xã hội mẫu hệ của người Karen là xã hội do người phụ nữ
làm chủ. Con cái sinh ra mang họ mẹ chứ không mang họ bố. Người phụ nữ làm
chủ trong hôn nhân. Họ thích ai, yêu ai thì sẽ báo cáo với mẹ, gia đình để cưới
người họ yêu. Người được cưới ấy cư trú bên nhà vợ. Khi sinh con đẻ cái thì mang
họ vợ. Chẳng may, cô vợ anh ta bị mất thì nhà vợ hoặc dòng họ nhà vợ thì tìm một
người phụ nữ khác để kết hôn với anh ta”.
Chế độ mẫu hệ của người Karen, xét ở một khía cạnh nào đó có tính nhân văn.
Nhưng thực tế có thể kéo theo nhiều hệ lụy không đáng có, không đảm bảo quyền
tự do yêu đương, quyền lựa chọn hạnh phúc của con người, nhất là nam giới.
Trong gia đình, tuy phụ nữ là chủ gia đình nhưng người đàn ông cũng đóng một
vai trò nhất định trong gia đình.
CHƯƠNG 2
VĂN HÓA
2.1.Văn hóa vật chất của người Karen
Trước hết phải nói về người Karen, là nhóm dân tộc tới nay vẫn còn dùng trống
đồng ở Myanmar.
Trống đồng của người Karen
.
Trống đồng Karen thuộc loại trống đồng loại Heger III có trang trí là hình mặt
trời ở trung tâm và nhiều vòng tròn đồng tâm với các mô típ chính là cá và chim.
Trên mặt trống ở 4 góc là hình những con cóc chồng lên nhau, thường là 3 tầng.
Do đó, loại trống này còn gọi là trống cóc (frog drum).
Trống đồng là nhạc cụ được người Karen rất coi trọng, sử dụng trong các buổi
cúng lễ để gọi hồn tổ tiên về chứng giám các đám cưới, đám tang, mừng nhà mới
hay để xua đuổi tà ma. Người Karen cũng tin rằng trong trống đồng có các linh
hồn ngự trị nên họ cất giữ trống cẩn thận và phải làm lễ cúng trống nếu mặt trống
bị thay đổi biến dạng.
Hoa văn trên trống đồng Myanmar của người Karen
Trống đồng là nhạc cụ được người Karen rất coi trọng, sử dụng trong các buổi
cúng lễ để gọi hồn tổ tiên về chứng giám các đám cưới, đám tang, mừng nhà mới
hay để xua đuổi tà ma. Người Karen cũng tin rằng trong trống đồng có các linh
hồn ngự trị nên họ cất giữ trống cẩn thận và phải làm lễ cúng trống nếu mặt trống
bị thay đổi biến dạng.
Người Karen cũng thường để các đồ quý giá trong trống đồng và chôn cất ở nơi
kín đáo, tin rằng đó là những của mà sau khi họ chết sẽ đem theo. Tục chôn trống
đồng cùng với người chết cũng từng gặp ở người Karen, cho những thủ lĩnh của bộ
tộc.
Trống đồng còn là biểu tượng của sự giàu có và quyền lực đối với người Karen.
Thậm chí bang Karenni (một bang nhánh của người Karen trước đây) dùng hình ảnh
mặt trống đồng làm biểu tượng trên lá cờ của mình.
Cờ của người Karen
Người Karen có truyền thuyết nói rằng họ xuất phát từ một vùng “sông cát bay”
(river of running sand). Người ta cho rằng đó là nói tới sông Hoàng Hà ở Trung Quốc.
Nhưng với nền văn hóa trống đồng sâu sắc vẫn còn tới nay như vậy thì người Karen
không thể nào khởi nguồn từ vùng sông Hoàng Hà được. Nhóm dân tộc này chắc
chắn có khởi nguồn ở khu vực văn hóa trống đồng tại Đông Nam Á.
Một nhóm người Karenđược biết đến nhiều nhất là nhóm người cổ dài Kayan, nổi
tiếng bởi tục đeo các vòng đồng ở cổ. Những người phụ nữ Kayan quấn các vòng
đồng quanh cổ từ khi còn nhỏ. Có truyền thuyết cho rằng những chiếc vòng cổ này là
tượng trưng cho cổ rồng.
Phù điêu phụ nữ người Karen với những chiếc vòng đồng trên cổ, cổ tay và cổ chân.
Một nhóm người Karenđược biết đến nhiều nhất là nhóm người cổ dài Kayan, nổi
tiếng bởi tục đeo các vòng đồng ở cổ. Những người phụ nữ Kayan quấn các vòng
đồng quanh cổ từ khi còn nhỏ. Có truyền thuyết cho rằng những chiếc vòng cổ này là
tượng trưng cho cổ rồng.
2.1.
Văn hóa tinh thần người Karen
Người cổ dài Karen không chỉ đeo các vòng đồng ở cổ mà ở cổ tay, cổ chân họ
cũng đeo những chiếc vòng này. So sánh thì tục đeo vòng ở cổ tay cổ chân rất tương
đồng với những chiếc vòng đồng trong văn hóa Đông Sơn.
Tín ngưỡng của người Karen cho rằng dân tộc mình được hình thành do kết quả sự
kết hợp giữa mẹ rồng (a female dragon) và cha tiên (a male angel). Họ được sinh ra từ
một trong những quả trứng của rồng. Truyền thuyết khởi nguồn này của người Karen
chỉ rõ mối liên hệ nguồn gốc trực tiếp với người Việt cổ, cùng là dòng giống Rồng
Tiên, dùng trống đồng, vòng đồng.
Hình tượng rồng trong văn hóa Karen tới nay còn rất phổ biến. Các bức chạm
khắc gỗ hình rồng, hình chim phượng được dùng để trang trí khách sạn, công sở,
gia đình ở nhiều nơi. Hình rồng còn dùng trong tạo hình các giá đỡ cho các bộ
cồng chiêng. Cồng chiêng cũng là nhạc cụ và văn hóa phổ biến ở Karen
Chạm gỗ hương hình rồng đỡ cồng của tộc người Karen
Con rồng của người Karen còn biến thể thành một loài linh thú đầu sư tử,
sừng và chân hươu, vòi và ngà voi, thân và đuôi cá, cánh chim. Biểu tượng linh thú
này dùng phổ biến trong các trang trí chùa đền, ngai vàng…
Hìn
h mẫu một bộ giá cồng chiêng với linh thú dạng rồng của người Karen
Tại Karen, Lễ hội chém dê được chọn là một trong những lễ hội độc đáo nhất
thế giới. Lễ hội kéo dài hai tuần liên tiếp với những lễ nghi, hiến tế, ăn mừng để
tưởng nhớ chiến thắng của nữ thần Durga trước quỷ hắc ám Mahishasura”.
CHƯƠNG 3
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÙNG NGƯỜI KAREN
3.1.
Chương trình du lịch
Ngôi làng thực của người Karen nằm sát biên giới Thái Lan và Myanmar,
nơi hiểm trở và phải đi bộ nhiều ngày mới tới. Còn ngôi làng cho khách du lịch
đến tham quan do chính phủ Thái Lan xây dựng nằm trong một thung lũng xanh,
giữa những khóm tre la đà, con đường nhỏ nở đầy hoa và xung quanh có rất nhiều
ruộng dưa, ruộng dâu tây.
Ở Karen có một làng nghề độc đáo. Các sạp hàng hóa nằm sát hai bên
đường cũng bán những sản phẩm là các đồ trang sức bằng bạc và đồng, những
chiếc khăn thổ cẩm, khăn tay màu sắc do các cô gái dân tộc dệt bằng tay, những
tấm postcard với hình ảnh là chính các cô gái cổ dài với nụ cười tươi trên môi. Các
cô gái cổ dài đang ngồi dệt sau khung cửi, họ đều là những cô gái đã được tuyển
chọn trong làng.
Đa số người trong làng Karen sống bằng nghề làm du lịch, buôn bán đồ thủ
công mỹ nghệ, nhất là vải tự dệt. Đến đây, ngoài được chứng kiến những tập tục
đặc trưng trong cuộc sống hằng ngày của người Karen, khách du lịch còn có thể
chiêm ngưỡng những sản phẩm thủ công độc đáo. Từng mảnh vải thổ cẩm được
dệt khéo léo, từng chiếc túi xách được đan tỉ mỉ, tranh thêu, tượng gỗ cũng được
bán khắp các sạp hàng. Đến làng cổ dài, du khách sẽ dễ dàng bắt gặp không ít
những thiếu nữ mặc đồ truyền thống, miệt mài bên khung dệt vải. Dù cuộc sống tại
làng có thể không dư giả, song họ vẫn hết mực gắn bó và gìn giữ phong tục “đeo
những chiếc vòng đồng”.
3.2 Tác động
Nhờ du lịch, kinh tế của những người cổ dài Karen đã khá hơn, hàng ngày
có rất đông du khách hiếu kỳ đến thăm và tìm hiểu đời sống của một trong những
bộ tộc kỳ lạ nhất thế giới này. Chiếc vòng cổ giả mà các gian hàng đều có giúp du
khách có thể trong một vài phút cũng thành một người cổ dài, đương nhiên ai cũng
phải rướn lên mới có thể vừa
Kết quả của nghiên cứu cho thấy du lịch ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống
của người Karen. Những người dân khi được hỏi đã khẳng định mạnh mẽ rằng du
lịch có nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Du lịch phát triển sẽ làm cho cuộc
sống, đời sống của họ phát triển theo, nếu du lịch không phát triển hoặc chậm hay
kém phát triển, kết quả sẽ ngược lại. Kết quả của nghiên cứu này cũng khẳng định
rằng mục đích của phát triển du lịch là việc nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân bản địa, khi một nơi nào đó trở thành điểm đến du lịch thì đời sống của
người dân trong cộng đồng bị ảnh hưởng bởi du lịch, sự hỗ trợ của người dân là rất
quan trọng đối với các hoạch định, sự phát triển bền vững của du lịch.
Sự phát triển của ngành Du lịch đã và đang góp phần bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên và đóng góp đáng kể vào sự phát triển
kinh tế của tộc người Karen. Tuy nhiên, tại một số khu vực trong làng cổ, các khu
bảo tồn thiên nhiên dưới sự phát triển du lịch cũng đang gây ra nhiều quan ngại.
KẾT LUẬN
Kayan là một nhóm thuộc tộc người Karen gốc Tây Tạng, sống ở vùng biên
giới với Thái Lan. Với những đặc trưng vô cùng độc đáo, ngôi làng của người cổ
dài đã được xây dựng thành một trong những điểm đến du lịch văn hóa đặc sắc ở
miền Bắc Thái Lan.
Sự phát triển của ngành du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào sự
phát triển KT - XH của làng cổ Karen, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân, góp phần vào công cuộc xóa đói
giảm nghèo cải thiện sinh kế cho tộc người Karen.
Văn hóa của người Karen trong đó đặc biệt là tục lệ đeo vòng bằng đồng
quanh cổ, cổ tay và đầu gối, mắt cá chânvà các lễ hội đã tạo ấn tượng sâu sắc cho
khách du lịch, để khi họ nhắc đến với một thái độ hết sức thán phục trước những
nghi thức cũng như con người và không gian diễn ra lễ hội. Đó là điều minh chứng
cho sự thu hút ngày một tăng trong các lễ hội của người Karen. Những nét văn hóa
của người Karen được đưa vào phát triển du lịch bước đầu đã mang lại hiệu quả.
Song cũng có những vấn đề đặt ra cho du lịch ở đây đó là những khó khăn trong
khâu quản lí và tổ chức, xúc tiến quảng bá, sự yếu kém về cơ sở vật chất, cơ sở hạ
tầng và lực lượng lao động thực sự là rào cản khá lớn làm hạn chế phần nào sự hấp
dẫn của các loại hình du lịch. Tuy số lượng khách có tăng nhưng hầu hết du khách
đến đây mang tính tự phát nên doanh thu không đáng kể, các điểm tham quan du
lịch, công trình kiến trúc xuống cấp do không có kinh phí trùng tu sửa chữa. Các
chương trình du lịch gắn với bản sắc văn hóa Karen đúng nghĩa còn hạn chế, thiếu
điểm nhấn nên không thu hút được nhiều khách du lịch. Văn hóa của người Karen
mang những nét rất riêng và độc đáo, nếu Thái Lan có những phương án đầu tư và
khai thác hợp lí thì có thể tạo ra một sản phẩm du lịch có ý nghĩa, góp phần làm đa
dạng các loại hình du lịch ở Karen.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] GS.TS.Phan Hữu Dật,(1973), Cơ sở dân tộc học, Nxb Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, H.
[2] GS.TS.Phan Hữu Dật,(1973), Cơ sở dân tộc học, Nxb Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, H.
[3] Lê Sỹ Giáo (chủ biên),(2004), Dân tộc học đại cương (tái bản lần
thứ tám), Nxb Giáo dục, H.
[4] GS. Đặng Nghiêm Vạn,(2003), Cộng đồng Quốc gia dân tộc, Nxb
Đại học Quốc gia TPHCM, Tp.HCM.
[6] PGS.TS.Bùi Xuân Đính,(2012), Các tộc người trên thế giới (giáo
trình dùng cho sinh viên ngành Việt Nam học, văn hóa, du lịch tại các
trường đại học, cao đẳng), Nxb Thời đại, H.
[7] J.V.Stalin,(1957), Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, Nxb Sự thật,H.
PHỤ LỤC
Một số hình ảnh về làng cổ Karen