Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

SKKN CHUAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (138.52 KB, 15 trang )

Vµi biÖn ph¸p ®Ó d¹y c¸ch tÝnh thÓ tÝch c¸c h×nh ë líp 5
phần
: phần mở đầu
. Lý do chọn đề tài:
1. Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong việc đào tạo lớp người
lao động mới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước.
Chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước trong bối cảnh một thế giới luôn biến động, một xã hội thông
tin đang bùng nổ và một thời đại mà tiến bộ khoa học và công nghệ
đang phát triển như vũ bão trong điều kiện thị trường cạnh tranh và
hội nhập quốc tế.
êu cầu đối với việc dạy học hiện nay đã thay đổi cơ bản và cao
hơn trước: để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, chúng ta cần có một nguồn nhân lực với chất lượng cao. Điều
này chỉ có thể có được khi chất lượng đào tạo ở nhà trường từ bậc
mầm non đến đại học có một bước đột phá. Chính vì vậy, chất lượng
dạy học trở thành vấn đề bức xúc. Nếu như trước đây việc dạy học
chỉ thuần tuý là truyền thụ kiến thức cho học sinh theo đúng chương
trình quy định thì nay yêu cầu của việc dạy học là phải khơi dạy tiềm
năng trí tuệ của người học, dạy cho họ phương pháp nghiên cứu,
phương pháp giải quyết vấn đề để người học có thể tự mình học tập
suốt đời và mục tiêu cuối cùng là đào tạo ra người lao động thích
ứng với xã hội công nghiệp, với nền kinh tế thị trường và có khả
năng hội nhập.
2.Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của việc tính thể
tích các hình ở lớp 5.
Việc hình thành khái niệm và xây dựng công thức tính thể tích
các hình ở lớp 5 đặc biệt quan trọng vì:
1.1 Cung cấp cho học sinh khái niệm ban đầu về thể tích từ đó
các em biết so sánh thể tích của các hình (lớn hơn, bé hơn, bằng


nhau) hay thể tích của hình này là tổng thể tích của những hình
khác...
1.2 Việc xây dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5
giúp học sinh ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày như tính
thể tích phòng học có dạng hình chữ nhật, đồ vật có dạng hình lập
phương, tính số nước chứa trong bể hình trụ... chúng rất gần gũi với
1
Vµi biÖn ph¸p ®Ó d¹y c¸ch tÝnh thÓ tÝch c¸c h×nh ë líp 5
trẻ thơ. Từ đó giúp các em có phương pháp nhận thức một mặt của
thế giới xung quanh và biết hành động có hiệu quả trong cuộc sống.
1. Đặc biệt với khái niệm và công thức tính thể tích các hình
giúp các em phát triển óc tưởng tượng, sự tư duy trừu tượng, tính
khái quát. Đó cũng chính là nền tảng giúp các em học tốt môn học
hình không gian sau này.
1.4 Việc dạy yếu tố hình học nói chung, dạy khái niệm và xây
dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5 nói riêng được dạy
thông qua các hoạt động thực hành để tích luỹ những hiểu biết cần
thiết cho học sinh. Song những kiến thức kỹ năng hình học được thu
lượm như vậy qua con đường thực nghiệm lại rất cần thiết trong
cuộc sống, rất cần thiết cho việc học tập các tuyến kiến thức khác
trong môn toán tiểu học như số học, đo đại lượng, giải toán... cũng
như có tác dụng tốt cho việc học tập các môn mỹ thuật, thủ công, tự
nhiên xã hội...và cần thiết cho cuộc sống.
1.5 Rèn cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy
luận, phương pháp giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông
minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo. Đây cũng sẽ hình
thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như
cần cù, cẩn thận, có tinh thần vượt khó, làm việc có khoa học, có nề
nếp... để có thể học và tiếp thu tốt các giáo trình toán học ở bậc cao
hơn, đủ sức phục vụ cho công việc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đát

nước hiện nay.
Tóm lại: Việc tính thể tích các hình ở lớp 5 đặc biệt quan trọng
vì thế hơn ai hết mỗi giáo viên chúng ta cần xác định đúng đắn vị trí,
mục tiêu, yêu cầu để có những tác động tích cực đến học sinh nhằm
đạt được những kết quả như mong muốn.
. Xuất phát từ thực trạng việc dạy và học hình thành khái
niệm và xây dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5.
..1. Việc dạy của giáo viên
+ Giáo viên làm việc không khoa học, làm việc nhiều, hầu như
làm hết công việc của học sinh nên cung cấp kiến thức đặc biệt là
khái niệm, công thức tính thể tích các hình đều dưới dạng áp đặt.
+ Giáo viên còn chưa linh hoạt, sáng tạo mà chủ yếu dựa vào
bài soạn, sách giáo viên để dạy cho học sinh mà chưa tính dến đối
tượng học sinh lớp mình phụ trách khác hẳn với học sinh ở Thủ đô
Hà Nội.
2
Vµi biÖn ph¸p ®Ó d¹y c¸ch tÝnh thÓ tÝch c¸c h×nh ë líp 5
+ Giáo viên chưa thể hiện được vai trò của mình là người
hướng dẫn các hoạt động còn học sinh mới là trung tâm của mọi hoạt
động nên học sinh không có cơ hội làm nhiều, nói nhiều, thực hành
nhiều để các em tự chiếm lĩnh tri thức mới.
Ví dụ 1: Khi dạy bài kThể tích hình lập phương (Toán 5, trang
155).
Giáo viên thường chỉ cho học sinh quan sát hình lập phương
(giáo viên đưa ra) và nhận xét về các cạnh (bằng nhau) trong lúc học
sinh không được cầm, quan sát rồi thực hành đo các cạnh.
Hay là cách tính thể tích cũng vậy. Học sinh đếm trên hình vẽ
rất trừu tượng số hình lập phương cạnh 1 cm có trong hình lập
phương lớn cạnh 4 cm. Giáo viên hỏi có bao nhiêu hình lập phương
tất cả học sinh sẽ nhìn vào hình và sách giáo khoa để trả lời có tất cả

64 hình. Vậy V = 4 x 4 x 4 = 64 cm
Hay thể tích hình lập phương = cạnh x cạnh x cạnh.
Cách dạy này học sinh không được thực hành việc lắp ghép
các hình lập phương cạnh 1 cm và hình lập phương cạnh 4 cm để các
em tự tìm kết quả về thể tích.
+ Giáo viên chưa chú trọng đến việc phát triển tư duy, óc sáng
tạo, tính độc lập trong suy nghĩ cho học sinh nên không phát hiện
được học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng và học sinh yếu kém để
giúp đỡ.
Ví dụ: kBài Thể tích hình hộp chữ nhật (Toán 5 trang 15, 154)
Sau khi giáo viên cho học sinh quan sát hình a (trang 15) và
yêu cầu học sinh tính số hình lập phương ở mỗi lớp. Những học sinh
có năng khiếu các em sẽ biết ngay mỗi lớp có: x 4 hình lập phương
cạnh 1 cm (hình b) nhưng những học sinh yếu kém các em sẽ đếm
lần lượt từng hàng rồi cộng lại rất lâu: + + + = 12 hình. Sau đó
giáo vien chuyển sang dạy công thức ngay nên các em sẽ rất mơ hồ
trong khi trẻ có năng khiếu lại nhàm chán (vì quá dễ đối với các em).
+ Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu chủ yếu là hoạt
động cả lớp dưới sự hướng dẫn chung của giáo viên mà chưa chú ý
đến các hình thức tổ chức dạy học như nhóm nhỏ, cặp, hoạt động cá
nhân ... để học sinh có cơ hội bộc lộ tầm hiểu biết của mình.
+ Các phương pháp dạy học phối hợp chưa linh hoạt, sáng tạo
mà chủ yếu sử dụng các phương pháp truyền thống đặc biệt chú
trọng phương pháp quan sát và hỏi đáp để hình thành khái niệm và
xây dựng công thức tính thể tích các hình. Giáo viên ít quan tâm đến
3
Vµi biÖn ph¸p ®Ó d¹y c¸ch tÝnh thÓ tÝch c¸c h×nh ë líp 5
phương pháp dạy học hiện đại để phát huy tính tích cực chủ động
của các em đó là phương pháp thực hành luyện tập để học sinh tự
tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức.

Ví dụ bài: kThể tích hình trụ (Toán 5 trang 159T, 160)
Giáo viên hỏi: Muốn tính thể tích hình trụ ta làm thế nào?
Học sinh trả lời: Lấy diện tích đáy nhân với chiều cao.
Giáo viên kết luận: Vậy muốn tính thể tích hình trụ ta lấy diện
tích đáy nhân với chiều cao.
+ Sau mỗi bài dạy công thức mới giáo viên ít quan tâm đến
việc vận dụng thực tế cuộc sống nhưng yêu cầu học sinh tính thể tích
của phòng học hình hộp chữ nhật mà các em đang học bằng số đo cụ
thể. Vì thế ở học sinh tiểu học các em sẽ không thấy được tầm quan
trọng cuả việc hiểu và nắm chắc công thức tính thể tích các hình để
có thể giúp gia đình, vận dụng thực tiễn. Đó cũng là một niềm vui
lớn của các em.
- Giáo viên chưa mở rộng các công thức có thể suy ra từ công
thức gốc như:
1. Hình hộp chữ nhật:
V= a x b x c
Suy ra : c = V : ( a x b)
(a x b) = V : c
a = V : c : b
b = V : c : a
2. Hình trụ:
V = (r x r x ,14) x h
suy ra : h = V : (r x r x ,14)
(r x r x ,14) = V : h
Vì thế mà học sinh gặp rất khó khăn khi làm các bài tập như
bài 4 (Toán 5, trang 156).
+ Giáo viên chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa cách tính thể
tích các hình (cả hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ thì thể
tích đều bằng diện tích mặt đáy nhân với chiều cao) nói riêng và mối
quan hệ chặt chẽ giữa chu vi, diện tích, thể tích các hình nói chung.

+ Dạy thể tích hình trụ giáo viên thường không minh hoạ để
học sinh biết viết công thức tính thể tích đó là: V = (r x r x ,14) x h
mà giáo viên chỉ cho các em nhớ quy tắc vì vậy học sinh sẽ khó hiểu
mà nhanh quên (Bài thể tích hình trụ Sách Toán 5, trang 159, 160).
4
Vài biện pháp để dạy cách tính thể tích các hình ở lớp 5
+ Giỏo viờn ớt quan tõm n vic hc sinh dựng n v o th
tớch do vy phn ln cỏc em dựng tờn n v rt lỳng tỳng.
Vớ d: Bi 2, Toỏn 5, trang 156, tit: lý thuyt tng hp.
Tớnh din tớch xung quanh, din tớch tom phn, th tớch hỡnh
hp ch nht cú chiu di a, chiu rng b, chiu cao c.
a) a = 7 cm, b = 5 cm, c = 6 cm
b) a = 1,2 m, b = 0,8 m, c = 0,5 m
Hc sinh gii:
a) Din tớch xung quanh hỡnh hp ch nht:
( 7 + 5 ) x 2 x 6 = 144 (cm)
Din tớch ton phn hỡnh hp ch nht:
144 + ( 7 x 5 x 2 ) = 214 (cm)
Th tớch hỡnh hp ch nht:
7 x 5 x 6 = 210 (cm
2
)
Cú hc sinh lm: 7 x 5 x 6 = 210 (cm)
Giỏo viờn cha hng cho hc sinh cỏch hc, phng phỏp
hc tr hng thỳ, yờu thớch vi vn tru tng v y mi m
ny.
..2. Vic hc ca hc sinh
+ Vỡ tip nhn mt cỏch th ng cỏc khỏi nim, cụng thc
nờn cỏc em thng nhanh quờn, vn dng kin thc thng khụng
linh hot v nhiu khi mỏy múc.

+ Hc sinh khụng th th hin c ht kh nng sỏng to ca
mỡnh qua vic vn dng cỏc cụng thc tớnh th tớch cỏc hỡnh núi
riờng v cụng thc toỏn núi chung.
+ Hu nh hc sinh ch bit lm theo, núi theo giỏo viờn hoc
cỏc bi mu trong sỏch, cũn cỏc dng khỏc trong sỏch giỏo khoa hc
sinh s khụng t lm c.
+ Hc sinh hc tp th ng v núi chung trỡnh phỏt trin
nhn thc thp.
+ Hc sinh khụng c chun b ỳng mc hot ng c
lp sỏng to vỡ luụn luụn b l thuc vo ngi khỏc.
+ Hc sinh hc tp thng ớt hng thỳ, nng lc cỏ nhõn ca
s ụng hc sinh khụng cú iu kin bc l v phỏt trin y .
+ Hc sinh dựng ngụn ng toỏn hc, ký hiu, n v o cũn
nhiu lỳng tỳng (qua cỏc vớ d ó nờu trờn).
+ Cụng thc tớnh th tớch cỏc em d nhm ln vi cụng thc
tớnh din tớch xung quanh, din tớch ton phn.
5
Vµi biÖn ph¸p ®Ó d¹y c¸ch tÝnh thÓ tÝch c¸c h×nh ë líp 5
+ Trí tưởng tượng của trẻ còn hạn chế nên các em gặp rất
nhiều khó khăn khi phải làm những bài tập như Bài 6, trang 158 (tiết
luyện tập tổng hợp).
Một số viên gạch như nhau, mỗi viên đều có 2 mặt là hình
vuông, được xếp thành một hình chữ nhật như hình bên. Tính:
a) Thể tích mỗi viên gạch.
b) Thể tích của hình hộp.
Hay bài 4 trang 150 (tiết k thể tích một hình)
Thực trạng nêu trên đã kéo dài và cản trở mạnh mẽ đến việc
đào tạo những người lao động mới, năng động, tự tin, sáng tạo, cản
trở những cải tiến mới về phương pháp dạy học và những sáng tạo
của giáo viên tiểu học có tâm huyết với nghề nghiệp. Vì thế tôi mạnh

dạn đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới
dạy học nói chung và đổi mới việc tính thể tích các hình ở lớp 5 nói
riêng.
phần
. Nội dung
Những biện pháp giúp giáo viên và học sinh khắc phục
khó khăn và sai lầm thường gặp.
1. Đối với giáo viên:
+ ở bậc tiểu học, giáo viên đứng lớp là ông thầy dạy toàn cấp
từ lớp 1 đến lớp 5, dạy toàn diện các môn học. Xét về mặt tác động
tâm lý, người giáo viên tiểu học là thần tượng của học sinh, là linh
hồn của trẻ, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời mỗi người
(mọi người đều phải trải qua bậc tiểu học). ở tiểu học, thầy là nhất, là
toàn quyền của knền văn minh nhà trường, mọi thứ đều hoà hợp, tích
tụ qua ông thầy mới đến học trò. Các em thường bảo: kThầy dạy em
thế, người khác nói em không nghe, kể cả bố mẹ cũng vậy.
+ ở bậc tiểu học, kiến thức không phải là khó, cái khó là
nghiệp vụ, phương pháp, kỹ năng phải rất linh hoạt, uyển chuyển.
Người thầy phải có sức sống, phải có cái hồn ă lòng nhân ái thương
yêu học sinh như thương yêu con đẻ của mình, có vậy thì việc chăm
6

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×