Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

DMPPDH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.67 KB, 8 trang )

SỞ GD&ĐT QUẢNG TRỊ
TRƯỜNG THPT SỐ 2 ĐAKRÔNG
-----*****-----
KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN
TIN HỌC NĂM HỌC 2010 - 2011
I. MỤC ĐÍCH:
Năm học 2010 - 2011 được xác định là "Năm học đổi mới quản lí và nâng
cao chất lượng giáo dục", giáo dục THPT tập trung thực hiện một trong những
nhiệm vụ trọng tâm sau: Tiếp tục thực hiện các cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, "Nói không với tiêu cực trong thi cử và
bệnh thành tích trong giáo dục", "Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo
đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực". Tập trung chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học và đánh giá
kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng; tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học, thực hiện tích hợp trong dạy học các môn học; chú trọng
giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh; tăng cường cơ hội tiếp cận giáo
dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường việc ứng dụng dạy học theo
chuẩn kiến thức kỷ năng cho học sinh dân tộc thiểu số; thí điểm và chuẩn bị tích
cực các điều kiện triển khai dạy bộ môn theo chương trình mới; duy trì, củng cố
và nâng cao chất lượng giáo dục THPT. Tiếp tục đổi mới công tác quản lí, chỉ
đạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục; đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học và quản lí; chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức,
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo.
Khai thác, ứng dụng CNTT phục vụ tốt dạy học theo phương pháp
mới, sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp với nội dung chương trình bộ
môn. Tổ chức tốt việc sử dụng thiết bị dạy học, tránh tình trạng dạy chay, đọc
chép.
II. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
Ngay từ đầu năm học, bản thân tôi được phân công giảng dạy môn Tin
học. Với công việc được giao tôi luôn thực hiện nghiêm túc chủ đề năm học
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tiếp tục đổi mới PPDH


theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động học tập của học sinh. Việc
đổi mới gắn với khai thác, sử dụng thiết bị dạy học trên cơ sở bám chuẩn kiến
thức, kĩ năng của từng bộ môn và phù hợp với từng đối tượng học sinh. Đi đôi
với việc truyền thụ kiến thức bộ môn cần chú trọng tích hợp kiến thức nhiều
môn. Đối với môn Tin học có đặc thù riêng cần gắn việc học vào việc vận dụng
tốt để hỗ trợ cho học sinh trong việc thực hành và có thể kết hợp với môn học
khác để phát triển tư duy cho học sinh.
Bản thân tôi đã lập kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học theo các định
hướng sau:
1.Công tác tham mưu:
- Tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn, đồng thời
phối hợp với Hội phụ huynh học sinh để giáo dục học sinh tốt về văn hóa, đạo
đức và kĩ năng sống.
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và ban cán sự của từng lớp để làm tốt
việc kiểm tra tự học ở nhà của học sinh.
- Phối hợp với giáo viên của các bộ môn khác để tìm hiểu về kiến thức
của các kiến thức liên quan đến môn học đó. VD: Tin học lớp 11; Thuật toán tin
học 10; và tin học lớp 12.
2. Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ:
- Soạn bài bằng giáo án điện tử; luôn tìm tòi, nghiên cứu tài liệu cung cấp
cho trang Website của bản thân, của ngành. Bước đầu biết lập nguồn liệu "học
liệu mở" bao gồm các phần mềm dạy học, các tư liệu dạy học, các bài soạn,
được sắp xếp có hệ thống.
- Tích cực tự học, tự bồi dưỡng trình độ chuyên môn, trong đó chú trọng
công tác bồi dưỡng ứng dụng CNTT vào trong dạy học. Việc khai thác mạng
Internet, soạn giảng Bài giảng điện tử sử dụng ngày càng thành thạo hơn.
- Thường xuyên nghiên cứu tài liệu, học hỏi anh chị em đồng nghiệp, vừa
dạy vừa ứng dụng CNTT .
- Tích cực dự giờ một số chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học có ứng
dụng CNTT. Sau khi thực hiện chuyên đề và rút kinh nghiệm để áp dụng, cụ

thể tập trung vào các vấn đề sau:
+ Dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.
+ Dạy học thông qua các hoạt động học tập của học sinh.
+ Dạy học chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh.
+ Ứng dụng CNTT vào dạy học.
+ Hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia giải toán và các kiến thức
và bài tập trên mạng.
+ Dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Đăng kí một việc làm mới đầu năm học: “Làm dụng cụ trực quan để
giảng dạy bài 3. Giới thiệu về máy tính”.
- Thực hiện nghiêm túc công tác thăm lớp dự giờ theo quy định của
chuyên môn: 1 tiết/ 1 tuần.
- Tham gia mượn và sử dụng các thiết bị dạy học có hiệu quả.
3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm thúc đẩy đổi mới PPDH:
+ Quan điểm về đổi mới: Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động "Nói không
với tiêu cực trong thi cử" hướng tới mục tiêu đánh giá đúng thực chất chất lượng
học tập của học sinh và là động lực để học sinh học tập và rèn luyện. Tăng
cường các biện pháp quản lí quá trình tổ chức kiểm tra (từ khâu ra đề, coi thi,
chấm thi, vào điểm,..).
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải được thực hiện trong
suốt quá trình học tập để động viên, khuyến khích tinh thần học tập của học
sinh. Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự đánh giá kết quả học tập của mình.
Đổi mới kiểm tra đánh giá vừa phải đạt tới mục tiêu là đánh giá chính xác,
công bằng, khách quan trình độ học vấn của học sinh, vừa phải góp phần điều
chỉnh và thúc đẩy đổi mới PPDH và động viên, khuyến khích học sinh học tập.
+ Hình thức kiểm tra, đánh giá: Đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá
học sinh, phối hợp giữa kiểm tra miệng, kết hợp hình thức kiểm tra tự luận với
trắc nghiệm; kiểm tra thực hành trên máy; đổi mới cách ra đề kiểm tra theo
hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụng kiến thức, hạn chế lối học vẹt,
ghi nhớ máy móc. Đối với môn Tin học yêu cầu học sinh cần phải vận dụng

được những kiến thức đã học vào tiết thực hành, thông hiểu và vận dụng sáng
tạo của học sinh.
+ Rèn luyện khả năng tự kiểm tra đánh gía của học sinh để học sinh tự đánh giá
kết quả tự học của mình theo sự hướng dẫn của giáo viên trong yêu cầu của đổi
mới PPDH.
4. Thực hiện phương pháp dạy học tích cực.
a. Phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để
học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên;
qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động
nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến
thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện
không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng
khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài
nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ
để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ
trợ của các phương tiện nghe – nhìn. <!--[endif]-->
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi
được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự
vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu
biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả
lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp
tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học sinh giống như
người tự lực phát hiện kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học
sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêmmột bước về trình độ
tư duy.<!--[endif]-->
b. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:
- Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh

gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực
tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong kinh
doanh. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những
vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng
đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như
một mục tiêu giáo dục và đào tạo.
- Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và
giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra:
+ Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết.
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
+ Phát biểu kết luận;
+ Đề xuất vấn đề mới.
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực
hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá
kết quả làm việc của học sinh.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn
đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi
cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh
phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải

pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng
đánh giá.
Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của
mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự
đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.
Các
mức
Đặt vấn đề Nêu giả thuyếtLập kế hoạch
Giải quyết vấn
đề
Kết luận,
đánh giá
1 GV GV GV HS GV
2 GV GV HS HS GV + HS
3 GV + HS HS HS HS GV + HS
4 HS HS HS HS GV + HS
Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa
nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát
triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời
sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
c. Phương pháp hoạt động nhóm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích,
yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ
định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao
cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi
người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích
cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành
viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua
với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả

học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×