Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (368.28 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ QUYÊN

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10

Đà Nẵng - 2020


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: GS.TS. VÕ XUÂN TIẾN

Phản biện 1: GS.TS. Trương Bá Thanh
Phản biện 2: GS.TS. Đỗ Nguyễn Trọng Hoài

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Quản lí kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 01 tháng 3 năm 2020

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng



1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BTXH là một chủ trương, chính sách lớn mang ý nghĩa nhân
văn của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất
nước. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công tác BTXH
ngày càng được quan tâm, các văn bản đã được sửa đổi, bổ sung phù
hợp với yêu của xã hội. Đến nay, công tác BTXH đã trở thành một
trong những bộ phận quan trọng của chính sách an sinh xã hội của
nước ta, góp phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong xã hội.
Kon Tum là một tỉnh miền núi của vùng Tây Nguyên - một
vùng được đánh giá có tiềm năng phát triển lớn của cả nước nhưng
tổng thu nhập nông bình quân thấp nhất vùng Tây Nguyên do gặp
phải nhiều khó khăn như địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn, đất bị xói
mòn, rửa trôi, bạc màu nhiều, thường xuyên thiếu nước phục vụ sản
xuất nông nghiệp ... Đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn.
Trong số các huyện của Kon Tum, Ngọc Hồi có công tác BTXH đã
được chú trọng nên đời sống của các đối tượng đã phần nào được cải
thiện. Tuy nhiên, công tác BTXH trên địa bàn huyện vẫn chưa đáp
ứng được đầy đủ và toàn diện đòi hỏi của xã hội, công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động bảo trợ còn nhiều hạn chế, bất cập. Do
đó, cần có những thay đổi, chấn chỉnh ngay trong việc thực hiện
công tác quản lý nhà nước về BTXH tại huyện trong thời gian đến.
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả quyết định thực hiện đề tài
“Quản lý nhà nước về BTXH tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum”
làm đề tài cho luận văn cao học của mình, đồng thời nhằm cung cấp
một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chính
sách BTXH tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum trong thời gian đến.



2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu phân tích, đánh giá thực trạng
công tác quản lý nhà nước về BTXH tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon
Tum; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý nhà nước về BTXH tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực
tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về BTXH.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum;
tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về BTXH tại
huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum được phân tích trong giai đoạn 2014 –
2018 và các giải pháp đề xuất được áp dụng đến năm 2025.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định tính,
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như tổng hợp, thống kê
mô tả, điều tra xã hội học, so sánh, đối chứng.
5. Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn được trình bày gồm 03 chương,
cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến công tác quản lý nhà
nước về bảo trợ xã hội.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã
hội tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước về bảo trợ xã hội tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
6. Tổng quan về tình hình nghiên cứu



3
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của BTXH
 Khái niệm BTXH
Có thể hiểu: BTXH là hệ thống các chính sách, chế độ của nhà
nước và hoạt động cộng đồng nhằm giúp những người yếu thế trong
xã hội như người già, trẻ em, người khuyết tật, người có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn … ổn định cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng.
 Đặc điểm BTXH
- BTXH mang tính nhân văn.
- BTXH là hoạt động của cả chính quyền lẫn cộng đồng xã hội.
- BTXH là một hoạt động phi lợi nhuận, mang tính cộng đồng
rộng lớn.
1.1.2. Ý nghĩa của BTXH
- BTXH là công cụ để phân phối tiền bạc, của cải vật chất …
nhằm giúp đỡ cho các đối tượng yếu thế, bất hạnh trong xã hội, góp
phần thu hẹp sự phân hóa giàu nghèo, mức sống của các thành phần
dân cư trong xã hội.
- BTXH có ý nghĩa to lớn về chính trị-xã hội, thể hiện thái độ,
quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với những đối tượng yếu thế
trong xã hội hay những người gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống,
góp phần ổn định xã hội, giảm sự bất ổn trong đời sống của người
dân.
- BTXH là một chính sách, định chế quan trọng trong hệ thống

pháp luật về an sinh xã hội.


4
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về BTXH
Có thể hiểu: Quản lý nhà nước về BTXH là một dạng thức quản
lý nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền thông
qua việc sử dụng các chủ trương, chính sách và quy định pháp luật
để điều chỉnh hành vi của các chủ thể (tổ chức và cá nhân) tham gia
vào hoạt động BTXH của Nhà nước nhằm đảo bảo sự ổn định và
phát triển xã hội.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BTXH
1.2.1. Ban hành, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật
về BTXH
 Ban hành các chính sách pháp luật về BTXH
Các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyền thực hiện việc quản
lý nhà nước về BTXH bằng công cụ là các quy định pháp luật, chính
sách liên quan đến hoạt động BTXH. Ở các địa phương thì việc thực
thi công tác quản lý nhà nước về BTXH được thực hiện bằng việc áp
dụng các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của cấp trên và
tự xây dựng các chính sách trong phạm vi được cho phép để áp dụng,
thực hiện.
 Phổ biến chính sách pháp luật về BTXH
Tuyên truyền, phổ biến các chính sách, quy định của pháp luật về
BTXH là việc cung cấp thông tin về các chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước về BTXH đến với người dân để họ biết, hiểu và
thực hiện theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về BTXH.
1.2.2. Tổ chức bộ máy nhà nƣớc về BTXH
Chính phủ quy định trách nhiệm cho các bộ, ngành, các cơ quan

liên quan trong thực hiện quản lý nhà nước về BTXH, cụ thể:
- Ở trung ương: Bộ LĐ-TB & XH chủ trì, phối hợp với các bộ,


5
ngành khác thực hiện như: Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền
thông … thực hiện.
- Ở cấp tỉnh: UBND tỉnh chỉ đạo Sở LĐ-TB & XH chủ trì, phối
hợp với các sở, ngành liên quan như Sở Tài chính, Sở Thông tin và
Truyền thông thực hiện.
- Ở cấp huyện: UBND huyện chỉ đạo Phòng LĐ-TB & XH chủ
trì, phối hợp với các phòng, ban liên quan thực hiện.
- Ở cấp xã: UBND xã chỉ đạo công chức phụ trách LĐ-TB & XH
thực hiện công tác BTXH.
1.2.3. Quản lý thu, chi BTXH
a. Lập dự toán thu, chi
- Dự toán thu: Thu từ các nguồn như ngân sách nhà nước cấp; ủng
hộ, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng; tài trợ quốc tế và
các tổ chức phi chính phủ khác.
- Dự toán chi: Chi cho các đối tượng BTXH được trợ cấp hằng
tháng và chi hỗ trợ đột xuất cho các đối tượng theo quy định; chi cho
công tác quản lý nhà nước về BTXH như văn phòng phẩm, tài sản,
công cụ phục vụ quản lý …
b. Tổ chức hoạt động thu, chi cho các đối tượng BTXH
- Hoạt động thu: Thực hiện từ các nguồn như ngân sách địa
phương phân bổ cho hoạt động BTXH và quản lý nhà nước về
BTXH; ngân sách Trung ương cấp bổ sung; các khoản tài trợ của các
tổ chức, cá nhân cho địa phương thực hiện công tác BTXH.
- Hoạt động chi: Lựa chọn và quyết định phương thức chi trả, thời
gian và địa điểm chi trả; triển khai chi trả các khoản BTXH và báo

cáo, chuyển giao chứng từ chi BTXH.
1.2.4. Thanh tra, kiểm tra hoạt động BTXH
UBND các cấp tỉnh, huyện sẽ tiến hành kiểm tra, thanh tra về


6
hoạt động BTXH theo thẩm quyền của cấp mình, cụ thể sẽ thực hiện
kiểm tra, thanh tra về trình tự thủ tục, hồ sơ thực hiện hoạt động
BTXH; quản lý và thực hiện thu, chi BTXH, quyết toán.
1.2.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm đối với
việc thực hiện hoạt động BTXH
Việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc
thực hiện hoạt động BTXH phải thực hiện theo đúng các quy định
của đảng, pháp luật của nhà nước. Đồng thời, sau giải quyết khiếu
nại, tố cáo cần phải xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân có vi
phạm, khuyết điểm trong việc thực hiện hoạt động BTXH, cần tránh
trường hợp bao che gây mất lòng tin trong nhân dân.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ BTXH
1.3.1. Cơ chế quản lý
1.3.2. Sự quan tâm lãnh đạo của địa phƣơng
1.3.3. Nhân lực công tác trong lĩnh vực BTXH
1.3.4. Tình hình phát triển kinh tế của địa phƣơng


7
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO
TRỢ XÃ HỘI TẠI HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM
2.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NGỌC HỒI,

TỈNH KON TUM
2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình và điều kiện tự nhiên
Huyện Ngọc Hồi nằm ở phía bắc tỉnh Kon Tum, cách thành phố
Kon Tum khoảng 60 km theo Quốc lộ 14; có phía bắc giáp huyện
Đắk Glei, phía đông bắc giáp huyện Tu Mơ Rông, phía đông giáp
huyện Đắk Tô, phía nam giáp huyện Sa Thầy, phía tây giáp Lào và
Campuchia với chiều dài 62,7 km.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Ngọc Hồi giai đoạn 2014 2018 tương đối cao khi luôn đạt tỷ lệ tăng trưởng trên 12,0%/năm
trong suốt giai đoạn này.
2.1.3. Tình hình xã hội và đối tƣợng BTXH
 Tình hình dân số trên địa bàn huyện
Tổng dân số toàn huyện Ngọc Hồi tính đến cuối năm 2018 là
57.059 người, trong đó tỷ lệ dân sống ở thành thị (dao động từ
28,17% đến 32,47%) ít hơn nhiều so với dân sống ở nông thôn
 Tình hình các đối tượng BTXH trên địa bàn huyện
Số lượng đối tượng BTXH thường xuyên của huyện tương đối
lớn, chiếm gần 10% tổng số dân toàn huyện (năm 2018 có 5.354
người thuộc đối tượng BTXH thường xuyên). Trong số các nhóm đối
tượng BTXH thường xuyên thì nhóm thứ năm và thứ sáu (người cao
tuổi, người tàn tật) chiếm số lượng lớn.
Các đối tượng thuộc diện hỗ trợ đột xuất như hộ gia đình thiếu
đói trong và sau thiên tai (lũ, cháy rừng …), bị thương nặng do tai


8
nạn giao thông hay tai nạn lao động, chết do thiên tai (lũ quét, sạc lỡ
…), hộ nghèo hay cận nghèo sống ven rừng bị sập nhà do sạc lở …
cũng tương đối lớn (giai đoạn 2014-2018 dao động từ 86 người đến
237 người).

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
BTXH TẠI HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM GIAI
ĐOẠN 2014-2018
2.2.1. Thực trạng ban hành, tuyên truyền, phổ biến chính
sách, pháp luật về BTXH tại huyện Ngọc Hồi
a. Việc ban hành các văn bản để chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn,
báo cáo việc thực hiện chính sách về BTXH
Trong những năm gần đây (từ năm 2017 đến năm 2019) Phòng
LĐ-TB & XH huyện, UBND huyện Ngọc Hồi và UBND các xã trên
địa bàn huyện Ngọc Hồi đã quan tâm nhiều hơn đến ban hành các
văn bản để chỉ đạo, đôn đốc, báo cáo việc thực hiện hoạt động
BTXH trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản để
hướng dẫn các đơn vị cấp dưới (xã, thị trấn) thực hiện việc tiếp nhận,
kiểm tra, tổng hợp, hướng dẫn hoàn thiện các hồ sơ đối tượng
BTXH, xét duyệt đối tượng trợ giúp xã hội, lập báo cáo định kỳ …
vẫn chưa được Phòng LĐ-TB & XH huyện, UBND huyện quan tâm
thực hiện.
b. Việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về
BTXH
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về BTXH
chưa được chú trọng thực hiện.


9
Bảng 2.1: Hoạt động tuyên truyền, phổ biến
Năm
Chỉ tiêu

2014


2015

2016

2017

2018

02

01

0

02

02

Số lần tổ chức
tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về
BTXH
Nguồn: Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi, 2019
Hoạt động tuyên truyền, phổ biến hầu như chỉ thực hiện khi cấp
trên có văn bản chỉ đạo, đôn đốc thực hiện và chủ yếu tổ chức tuyên
truyền, phổ biến thông qua các cuộc họp tổ dân phố, tổ đoàn kết tại
các địa phương mà không tổ chức các hình thức tuyên truyền khác
như qua panô, biểu ngữ, đài truyền thanh, truyền hình địa phương ...
c. Kết quả khảo sát mức độ tiếp cận thông tin về BTXH
Thực hiện khảo sát ý kiến các đối tượng BTXH tại huyện Ngọc

Hồi về nguồn thông tin họ tiếp cận với chính sách BTXH, kết quả
minh họa tại bảng 2.2.
Bảng 2.2: Nguồn thông tin tiếp cận chính sách BTXH
Tổng số lượt lựa chọn
Nguồn thông tin tiếp
cận chính sách
BTXH

Tỷ lệ giữa số
người lựa
chọn/tổng số
người được
khảo sát (%)

Số người
lựa chọn

Tỷ lệ so
với tổng số
lượt lựa
chọn (%)

Truyền hình, báo chí

102

21,84

36,17


Chính quyền địa
phương (đài truyền
thanh, họp dân để
phổ biến …)

97

20,77

34,39


10
Internet

64

13,70

22,69

Bạn bè, người thân,
người quen

183

39,20

64,89


Tổ chức từ thiện

21

4,49

7,44

Tổng cộng

467

100

165,58

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2019
Kết quả khảo sát một lần nữa cho thấy hoạt động tuyên truyền,
phổ biến chính sách, pháp luật về BTXH tại huyện Ngọc Hồi của
chính quyền địa phương trong những năm qua còn ít và chưa hiệu
quả.
2.2.2. Thực trạng bộ máy Nhà nƣớc về BTXH tại huyện Ngọc
Hồi
a. Cơ quan Nhà nước thực hiện hoạt động BTXH
Phòng LĐ-TB & XH huyện chịu trách nhiệm chính trong việc
tham mưu giúp UBND huyện thực hiện hoạt động BTXH trên địa
bàn huyện. Đồng thời, tại các xã thuộc huyện (08 xã, thị trấn) thì có
cán bộ phụ trách công tác LĐ-TB & XH chịu trách nhiệm chính
trong việc tham mưu giúp UBND xã thực hiện hoạt động BTXH trên
địa bàn xã đó.

b. Tổ chức bộ máy của cơ quan thực hiện hoạt động BTXH
Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi được UBND tỉnh Kon
Tum giao 07 biên chế và hiện nay Phòng đang thực hiện đủ 07 biên
chế được giao. Mỗi xã, thị trấn đều có 01 cán bộ, công chức phụ
trách lĩnh vực này.


11
Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn của nhân lực thực hiện hoạt
động BTXH
Trình độ
Đơn vị
Phòng LĐ-TB & XH
huyện
Các xã, thị trấn
Tổng cộng

Trung cấp

Cao đẳng

Đại học

0

03

04

03


03

02

03

06

06

Nguồn: Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi, 2019
Nhìn chung, ở cấp xã thì nhân lực cơ bản đảm bảo trình độ
chuyên môn theo quy định nhưng ở cấp huyện vẫn còn nhân lực
chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định (Thông tư số 11/2014/TTBNV ngày 09/10/2014 của Bộ Nội vụ) ở cấp huyện (03 người có
trình độ cao đẳng).
c. Kết quả khảo sát về cảm nhận mức độ phức tạp của hồ sơ,
thủ tục và thái độ làm việc của cán bộ, công chức
Phần lớn người tham gia khảo sát cho rằng việc thực hiện các hồ
sơ, thủ tục về BTXH là phức tạp và rất phức tạp.
Bảng 2.4: Mức độ phức tạp của hồ sơ, thủ tục
Mức độ phức tạp
Tần số
Tỷ lệ (%)
Hoàn toàn không phức tạp

02

0,70


Không phức tạp

06

2,12

Bình thường

19

6,73

Phức tạp

111

39,36

Rất phức tạp

144

51,09

Tổng cộng

282

100


Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2019


12
Kết quả khảo sát cho thấy có đến 39,36% cho rằng phức tạp,
51,09% cho rằng rất phức tạp.
Bảng 2.5: Thái độ làm việc của cán bộ thực hiện hoạt động
BTXH
Thái độ làm việc
Hoàn toàn không có trách nhiệm
Thiếu tinh thần trách nhiệm
Bình thường
Tương đối có tinh thần trách nhiệm
Tinh thần trách nhiệm cao
Tổng cộng

Tần số

Tỷ lệ (%)

02
46
122
89
23
282

0,70
16,31
43,28

31,56
8,15
100

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2019
Phần lớn các đối tượng BTXH tham gia khảo sát cho rằng cán bộ
thực hiện hoạt động BTXH (cán bộ phụ trách LĐ-TB & XH tại các
xã, thị trấn) chỉ tương đối có tinh thần trách nhiệm khi họ giải quyết
các hồ sơ, thủ tục cho người dân.
2.2.3. Thực trạng thu, chi BTXH tại huyện Ngọc Hồi
a. Dự toán thu, chi BTXH
Các nguồn thu cho hoạt động BTXH trên địa bàn huyện Ngọc
Hồi từ trước đến nay hầu như chỉ có nguồn từ NSNN do UBND
huyện cấp, các nguồn thu từ các tổ chức, cá nhân ủng hộ hầu như
không có.
Các khoản dự toán chi cho hoạt động BTXH trong giai đoạn 2014
– 2018 cũng có xu hướng tăng lên. Năm 2014, tổng mức dự toán chi
cho hoạt động BTXH là 4.722 triệu đồng thì đến năm 2018 con số
này là 7.750 triệu đồng.


13
Bảng 2.6: Dự toán thu BTXH
ĐVT: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Dự kiến các khoản thu
- Số dư năm trước
chuyển sang
- Thu từ NSNN cấp

- Thu từ các khoản tài
trợ của các tổ chức, cá
nhân

2014

2015

2016

2017

2018

4.722

4.939

6.198

7.633

7.750

38

05

25


0

0

4.684

4.934

6.173

7.633

7.750

0

0

0

0

0

Nguồn: Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi, 2019
Bảng 2.7: Dự toán chi BTXH
ĐVT: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Dự kiến các khoản

chi
- Trợ cấp hằng
tháng
- Kinh phí mua
BHYT cho các đối
tượng BTXH
- Trợ cấp đột xuất
- Các khoản chi
khác

2014

2015

2016

2017

2018

4.722

4.939

6.198

7.633

7.750


4.010

4.120

5.260

6.600

6.600

442

464

503

553

645

240

320

400

440

460


30

35

35

40

45

Nguồn: Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi, 2019
Nhìn chung, trong giai đoạn 2014 – 2018, Phòng LĐ-TB & XH
huyện Ngọc Hồi đã thực hiện lập dự toán thu, chi BTXH một cách
kịp thời, đảm bảo theo đúng quy định.
b. Thực trạng tổ chức thu, chi tài chính cho hoạt động BTXH
Các khoản thu cho hoạt động BTXH của huyện Ngọc Hồi chủ
yếu từ nguồn NSNN cấp.


14
Bảng 2.8: Thu BTXH
ĐVT: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu

2014

2015

2016


2017

2018

Tổng thu

4.945

5.632

7.016

7.163

7.577

40

02

19

0

02

4.300

4.700


5.300

5.450

5.800

605

910

1.690

1.700

1.745

0

20

07

15

30

- Số dư năm trước
chuyển sang
- Từ NSNN cấp đầu

năm
- Từ NSNN cấp bổ
sung
- Thu từ các khoản
tài trợ của các tổ
chức, cá nhân

Nguồn: Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi, 2019
Tổng chi cho hoạt động BTXH trên địa bàn huyện Ngọc Hồi tăng
trong suốt giai đoạn 2014 – 2018, cụ thể năm 2014 tổng chi là 4.943
triệu đồng thì đến năm 2018 tổng mức chi là 7.562 triệu đồng, tăng
2.619 triệu đồng, tương ứng tăng 52,98%.
Bảng 2.9: Chi BTXH
ĐVT: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
Tổng chi
- Trợ cấp hằng tháng
- Kinh phí mua
BHYT cho các đối
tượng BTXH
- Trợ cấp đột xuất
- Các khoản chi khác

2014

2015

2016


2017

2018

4.943
4.134

5.613
4.737

7.016
5.932

7.163
6.032

7.562
6.263

421

457

502

586

638

362

26

378
41

534
48

493
52

602
59

Nguồn: Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi, 2019
Qua số liệu dự toán chi và số liệu thực tế chi cho thấy số liệu dự


15
toán chi còn chênh lệch nhiều so với số liệu thực tế chi ở một số mục
chi, đặc biệt là chi trợ cấp hằng tháng.
c. Kết quả khảo sát mức độ kịp thời trong chi trả BTXH
Phần lớn các đối tượng BTXH tham gia khảo sát cho rằng các
khoản trợ cấp được chính quyền địa phương thực hiện chi trả một
cách kip thời.
Bảng 2.10: Mức độ kịp thời trong chi trả BTXH
Mức độ kịp thời
Tần số
Tỷ lệ (%)
Rất chậm trễ


01

0,35

Chậm trễ

06

2,10

Bình thường

48

17,02

Kịp thời

165

58,55

Rất kịp thời

62

21,98

282


100

Tổng cộng

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2019
Như vậy, phần lớn những người thuộc đối tượng BTXH cho rằng
việc chi trả các khoản trợ cấp cho các đối tượng BTXH của chính
quyền địa phương là kịp thời.
2.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động BTXH
Trong giai đoạn này, Phòng LĐ-TB & XH huyện đã thực hiện 21
cuộc kiểm tra, thanh tra tại 08 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
Qua thanh tra, kiểm tra nhận thấy:
- Ưu điểm: Có 08/08 xã, thị trấn thành lập Hội đồng xác định mức
độ khuyết tật và Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội theo quy định;
các xã, thị trấn thực hiện xác lập và lưu trữ hồ sơ đối tượng BTXH
một cách nghiêm túc.
- Tồn tại, hạn chế: Có 03 trường hợp không thống nhất giữa kết
luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật với kết luận của Hội


16
đồng xét duyệt trợ giúp xã hội (xã Đắk Ang có 01 trường hợp, xã Bờ
Y có 02 trường hợp); có 07 trường hợp cán bộ LĐ-TB & XH của xã
chậm phát hiện và báo giảm đối tượng BTXH (trẻ em mồ côi cả cha
lẫn mẹ đã quá 16 tuổi nhưng chậm phát hiện và báo giảm đối tượng
BTXH) dẫn đến chi sai đối tượng số tiền 9.360.000 đồng; một số xã
chậm kiện toàn Hội đồng xác định mức độ khuyết tật (khi có sự thay
đổi nhân sự), Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội; thời gian thẩm
định, đề nghị xét duyệt hồ sơ cho đối tượng BTXH tại một số xã còn

chậm so với quy định …
2.2.5. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi
phạm trong thực hiện hoạt động BTXH tại huyện Ngọc Hồi
a. Kết quả thực hiện
Trong giai đoạn 2014 - 2018, Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc
Hồi tiếp nhận (trực tiếp từ người dân và do các cơ quan chức năng
chuyển đến theo thẩm quyền xử lý) 31 đơn phản ánh, kiến nghị,
khiếu nại. Phòng đã xử lý đối với 07 đơn khiếu nại đối với 07 trường
hợp thuộc đối tượng BTXH nhưng không được cấp xã chấp nhận hồ
sơ, xử lý hồ sơ chậm; lưu 24 đơn, thư phản ánh không đúng sự thật,
nặc danh. UBND cấp xã đã tiếp nhận 47 đơn khiếu nại của người
dân, xử lý đúng quy định 36 đơn, 07 đơn xử lý chậm so với quy định
và 04 đơn bỏ sót không xử lý; tiếp nhận 50 lượt phản ánh, khiếu nại
trực tiếp của người dân và đã giải thích, trao đổi làm rõ các thắc mắc,
khiếu nại của người dân.
b. Kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát cho thấy có đến 21,63% đối tượng BTXH tham
gia khảo sát cho rằng việc tiếp nhận, xử lý các phản ánh, khiếu nại,
tố cáo của người dân về BTXH của chính quyền địa phương cấp xã,
thị trấn còn rất chậm trễ, 38,31% cho rằng còn chậm trễ, chỉ có


17
3,54% cho rằng rất kịp thời và 14,54% cho rằng kịp thời.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ BTXH TẠI HUYỆN NGỌC HỒI
2.3.1. Thành tựu đạt đƣợc
Kịp thời ban hành các văn bản (công văn, báo cáo …) để chỉ đạo,
đôn đốc và báo cáo tình hình thực hiện hoạt động BTXH trên địa bàn
huyện; tổ chức bộ máy cơ quan thực hiện hoạt động BTXH cơ bản

đảm bảo đúng quy định về số lượng cán bộ, viên chức theo biên chế
cho phép và chất lượng cán bộ, viên chức (trên khía cạnh tiêu chuẩn,
bằng cấp); hằng năm, lập dự toán thu, chi cho hoạt động BTXH đúng
quy định (đúng biểu mẫu, kịp thời); thực hiện hoạt động chi trả các
khoản trợ cấp cho các đối tượng BTXH trên địa bàn huyện cơ bản
đảm bảo đúng quy định và được đa số các đối tượng BTXH tham gia
khảo sát đánh giá là kịp thời; Phòng LĐ-TB & XH huyện đã thực
hiện 21 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 08 xã, thị trấn trên địa bàn huyện
và thực hiện công tác tiếp nhận, xử lý, giải quyết phản ánh, khiếu
nại, tố cáo của công dân về BTXH cơ bản đảm bảo theo đúng quy
định.
2.3.2. Tồn tại, hạn chế
- Phòng LĐ-TB & XH huyện chưa quan tâm thực hiện việc ban
hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị cấp dưới (xã, thị trấn), chưa
quan tâm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về BTXH cho các đơn
vị cấp dưới (xã, thị trấn) đúng mức;
- Tỷ lệ người dân cảm thấy việc thực hiện các hồ sơ, thủ tục
BTXH là phức tạp hoặc rất phức tạp là khá lớn nhưng cán bộ thực
hiện hoạt động BTXH tại các xã, thị trấn cũng còn nhiều lúng túng
trong việc hướng dẫn cho người dân;
- Phòng LĐ-TB & XH huyện cũng như các cấp, các ngành liên


18
quan tại huyện chưa quan tâm, chú trọng nhiều đến việc tổ chức thực
hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách BTXH
đến người dân;
- Chất lượng công tác lập dự toán thu, chi các khoản BTXH chưa
cao, số chi thực tế ở nhiều khoản chi cao hơn nhiều so với số dự toán
(đặc biệt là mục trợ cấp hằng tháng);

- Sau thanh tra, kiểm tra về thực hiện hoạt động BTXH của cấp
xã, thị trấn, Phòng LĐ-TB & XH huyện chưa đề nghị xử lý hoặc xử
lý nghiêm khắc đối với các cán bộ có liên quan đến các sai phạm,
đặc biệt là các trường hợp tắc trách trong công tác;
- Ở cấp xã vẫn còn tình trạng tiếp nhận, xử lý, giải quyết các phản
ánh, khiếu nại, tố cáo của người dân về BTXH tương đối chậm trễ;
tiếp nhận, xử lý và tổ chức thẩm định hồ sơ BTXH của người dân
còn chậm trễ.
2.3.3. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế
- Thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo của UBND huyện, UBND các xã, thị
trấn trong việc thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp
luật, chính sách BTXH đến người dân.
- Phòng LĐ-TB & XH huyện với nhân lực ít trong khi công việc
chuyên môn nhiều nên tập trung nhiều cho việc thực hiện công việc
chuyên môn mà chưa dành nhiều thời gian cho việc hướng dẫn
chuyên môn nghiệp vụ cho cấp dưới.
- Năng lực chuyên môn, trình độ chuyên môn và nhận thức về
trách nhiệm phục vụ nhân dân của một bộ phận cán bộ thực hiện hoạt
động BTXH ở cấp xã, thị trấn còn hạn chế.
- Trình độ dân trí của đại bộ phận đối tượng BTXH trên địa bàn
huyện còn hạn chế.


19
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI HUYỆN NGỌC
HỒI, TỈNH KON TUM
3.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG, MỤC TIÊU CỦA CÔNG
TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BTXH TẠI HUYỆN NGỌC

HỒI
3.1.1. Quan điểm, định hƣớng của công tác quản lý nhà nƣớc
về BTXH
 Quan điểm phát triển
- Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội; mở rộng
đối tượng thụ hưởng BTXH.
- Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế-xã
hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã
hội.
- Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội.
 Định hướng phát triển
- Mở rộng các đối tượng BTXH trên địa bàn huyện một cách phù
hợp với khả năng ngân sách của huyện.
- Nhà nước giữ vai trò trụ cột, đồng thời tăng cường sự tham gia
của các nguồn lực xã hội hóa để thực hiện hoạt động BTXH.
- Giữ vững nguyên tắc thực hiện hoạt động BTXH công bằng,
minh bạch, đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả.
3.1.2. Mục tiêu công tác quản lý nhà nƣớc về BTXH
- Đảm bảo 100% đối tượng BTXH phải được nhận các khoản trợ
cấp hằng tháng, trợ cấp đột xuất theo đúng quy định, kịp thời.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính
sách BTXH đến người dân.


20
- Đẩy mạnh nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ
cán bộ, cộng tác viên thực hiện hoạt động BTXH trên địa bàn huyện.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiện
hoạt động BTXH, phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN

LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BTXH TẠI HUYỆN NGỌC HỒI
3.2.1. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật,
chính sách BTXH đến ngƣời dân
Trong thời gian đến huyện cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật, chính sách BTXH đến người dân. Để làm được
việc này, cần phải thực hiện một số giải pháp, cụ thể như sau:
- UBND huyện cần quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện để Phòng
LĐ-TB & XH huyện (chủ trì) cùng với các ban, ngành liên quan phối
hợp với nhau tăng cường tổ chức các đợt tuyên truyền, phổ biến pháp
luật, chính sách BTXH đến người dân.
- Phòng LĐ-TB & XH huyện chủ động lên kế hoạch tổ chức hoạt
động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách BTXH cho người
dân; phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, thị trấn, đặc biệt là với cán
bộ LĐ-TB & XH của cấp xã để thực hiện hoạt động tuyên truyền,
phổ biến pháp luật, chính sách BTXH đạt hiệu quả cao nhất; thực
hiện việc nghiên cứu, rà soát các văn bản quy định hiện hành về hoạt
động BTXH để kiểm tra, phát hiện sự trùng lắp, chồng chéo nhau,
bất cập của các quy định đang có hiệu lực thi hành của các văn bản
để từ đó có những kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp,
đảm bảo áp dụng thuận lợi trong thực tế.
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy hoạt động BTXH
 Tăng cường công tác hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho
cấp xã


21
Trong thời gian đến Phòng LĐ-TB & XH huyện cần tăng cường
công tác tập huấn, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ trong thực
hiện công tác BTXH cho cấp xã và đội ngũ cộng tác viên. Để làm tốt
công tác tập huấn, hướng dẫn này, cần thực hiện một số giải pháp

như: Lập kế hoạch đào tạo, tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ; cần
chú trọng đến nghiệp vụ, cụ thể từng bước thực hiện của việc tiếp
nhận, kiểm tra ban đầu đối với các hồ sơ BTXH của người dân; tổ
chức lớp học tập trung tại huyện, phát công văn yêu cầu các xã, thị
trấn cử cán bộ tham gia tập huấn, học tập để thể hiện sự nghiêm túc
trong hướng dẫn nghiệp vụ; sau huấn luyện, tập huấn cần phải yêu
cầu cán bộ cấp xã tăng cường nghiên cứu tài liệu, văn bản và hướng
dẫn cho người dân thực hiện các thủ tục, hồ sơ về BTXH.
 Nâng cao chất lượng phục vụ người dân của công chức cấp xã
trong việc thực hiện hoạt động BTXH
Trong thời gian đến cần nhanh chóng nâng cao chất lượng phục
vụ người dân trong việc thực hiện hoạt động BTXH của công chức
cấp xã. Để làm được điều đó, cần tập trung thực hiện một số giải
pháp sau:
- UBND huyện cần chỉ đạo chấn chỉnh thái độ phục vụ nhân dân
của cán bộ, công chức cấp xã nói chung, trong việc thực hiện hoạt
động BTXH nói riêng; quán triệt phải chấm dứt tình trạng sai sót, tắt
trách dẫn đến ảnh hưởng quyền lợi người dân; xử lý nghiêm các
trường hợp cán bộ, công chức tắt trách trong thực hiện nhiệm vụ liên
quan đến BTXH; chỉ đạo các xã chưa kiện toàn Hội đồng xác định
mức độ khuyết tật, Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội như Đắk Ang,
Đắk Xú, Bờ Y.
- Phòng LĐ-TB & XH huyện cần chỉ đạo công chức phụ trách
hoạt động BTXH ở các xã thực hiện rà soát, bổ sung những đối


22
tượng thuộc diện BTXH vào danh sách đối tượng BTXH của xã,
thông báo, hướng dẫn những đối tượng này thực hiện hồ sơ, thủ tục
theo quy định để được hưởng các khoản trợ giúp xã hội nhằm đảm

bảo không bỏ sót các đối tượng BTXH trên địa bàn huyện; tăng
cường công tác giám sát việc xét duyệt đối tượng, đề xuất đối tượng
BTXH theo diện khó khăn đột xuất, ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ
… từ các xóm làng, tổ đoàn kết, thôn để đảm bảo tính công bằng,
minh bạch, đề nghị đúng đối tượng thật sự khó khăn và tránh bỏ sót
đối tượng.
 Phát triển đội ngũ cộng tác viên cho hoạt động BTXH ở các
xã, thị trấn
Phòng LĐ-TB & XH huyện Ngọc Hồi chủ động xin ý kiến của
UBND huyện về việc phát triển đội ngũ cộng tác viên công tác xã
hội nói chung, cho hoạt động BTXH nói riêng. Sau đó, lập kế hoạch
phát triển đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội; đề nghị UBND xã,
thị trấn trên địa bàn huyện thực hiện việc tuyển chọn, ký hợp đồng
cộng tác viên, tạo điều kiện để các cộng tác viên tham gia các khóa
đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cộng tác viên công
tác xã hội.
3.2.3. Hoàn thiện công tác thu, chi BTXH
Trong thời gian đến Phòng LĐ-TB & XH huyện cần nâng cao
chất lượng công tác lập dự toán thu, chi hoạt động BTXH theo
hướng tăng mức độ chính xác của các khoản chi trong Bảng dự toán
chi. Để làm được điều đó, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu
sau:
- Tăng cường tổng hợp, thống kê, theo dõi và dự báo về số đối
tượng BTXH ở các xã, thị trấn trên địa bàn huyện ở những năm tiếp
theo bằng cách đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào việc quản lý các đối


23
tượng BTXH.
- Cán bộ trực tiếp lập dự toán thu, chi BTXH của Phòng LĐ-TB

& XH huyện phải thường xuyên theo dõi, tích cực tổng hợp thông tin
về số liệu chi thực tế cho hoạt động BTXH của những năm trước để
ngày càng nâng cao mức độ chính xác của số liệu dự toán so với số
liệu thực tế thực hiện.
- Hiện tại cán bộ phụ trách lĩnh vực BTXH của huyện là người
được đào tạo về chuyên ngành kinh tế phát triển (bậc đại học) nên
việc lập dự toán thu, chi cho hoạt động BTXH vẫn gặp nhiều khó
khăn nhất định. Vì thế, trong thời gian đến cán bộ phụ trách lĩnh vực
BTXH của Phòng LĐ-TB & XH huyện cần tranh thủ, tích cực học
hỏi thêm nhiều về lĩnh vực tài chính, kế toán.
3.2.4. Tăng cƣờng thanh tra, kiểm tra BTXH
Trong thời gian đến cần hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra về
BTXH tại huyện Ngọc Hồi. Để làm được điều đó cần thực hiện một
số giải pháp như:
- Cần mở rộng các nội dung thanh tra, kiểm tra đối với công tác
BTXH tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện một cách toàn diện hơn.
- Cần tăng cường việc kiểm tra, thanh tra đột xuất để đảm bảo
tính bất ngờ đối với các đối tượng được kiểm tra, thanh tra.
- Bên cạnh việc tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra cũng cần
tăng cường công tác giám sát việc xét duyệt đối tượng, đề xuất đối
tượng BTXH theo diện khó khăn đột xuất, ảnh hưởng của thiên tai,
bão lũ …
3.2.5. Hoàn thiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về BTXH
Trong thời gian đến cần tăng cường công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý đơn thư liên quan đến BTXH, cụ thể:
- UBND huyện nhanh chóng chỉ đạo UBND các xã tăng cường và


×