CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG VÀ LUẬT NGÂN HÀNG
I. Khái niệm hoạt động Ngân hàng và cấu trúc hệ thống Ngân hàng, tổ chức tín dụng
1. Khái niệm hoạt động Ngân hàng
Thời kỳ sản xuất hàng hoá phát triển làm xuất hiện sự trao đổi hàng hoá giản đơn. Cùng với sự xuất hiện
của nền kinh tế hàng hoá và sự trao đổi sản phẩm làm ra đã làm xuất hiện vật ngang giá chung để trao đổi. Trên
cơ sở đó, đồng tiền xuất hiện thích ứng với quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ.
Quan hệ trao đổi hang hoá phát triển làm xuất hiện tầng lớp thương nhân mới làm nghề đổi tiền để đáp
ứng nhu cầu. Sau đó, các tầng lớp này làm thêm dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay. Dần dần phát triển thành
nghề kinh doanh và gọi làm nghề Ngân hàng. Hoạt độngban đầu này mang hình thức như "tiệm cầm đồ". Bao
gồm các hoạt động cơ bản sau:
+ Thanh toán bù trừ chuyển lẫn nhau thông qua việc mua bán cùng Ngân hàng.
+ Nghiệp vụ chuyển ngân tức chuyển từ nơi này đi nơi khác.
+ Ngân hàng thực hiện bảo lãnh chiếc khấu.
Giai đoạn cho vay (cung ứng tiền)
- Ngân hàng tạo ra tiền các chứng thư do Ngân hàng phát hành như séc ngày nay.
- 1609 - 1694 các Ngân hàng đều có quyền tạo ra các giấy bạc, gây cản trở cho lưu thông và phát triển kinh
tế, Nhà nước can thiệp vào hoạt động Ngân hàng để hạn chế việc phát hành.
Các Ngân hàng ngày càng phát triển và đa dạng về nghiệp vụ kinh doanh. Nhiều loại chủ thể hoạt động
trong lĩnh vực Ngân hàng, Ngân hàng TW, Ngân hàng TM, Ngân hàng chính sách, Tổ chức tín dụng phi Ngân
hàng....
Ở nhiều nước không đưa ra một định nghĩa tổng quát về hoạt động Ngân hàng mà liệt kê các hoạt động
được coi là hoạt động Ngân hàng.
Ví dụ: Theo đạo luật về ngành tín dụng của CHLB Đức 1992, Luật Ba Lan 1989. Luật tổ chức tài chính
và Ngân hàng của Malaysia 1989... liệt kê các hoạt động Ngân hàng như:
- Huy động tiền gửi Ngân hàng.
- Cấp tín dụng.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán...
Việt Nam, theo điều 9 Luật Ngân hàng và điều 20 khoản 7 luật TCDN (12.12.1997) "Hoạt động Ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
* Đối tượng kinh doanh của Ngân hàng là tiền tệ.
+ Nội dung kinh doanh chủ yếu của hoạt động Ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng
các dịch vụ thanh toán
2. Cấu trúc hệ thống NH, TCTD: bộ phận bên trong hợp thành. Ngày này phổ biến ở các QG gồm:
a. Ngân hàng Trung ương:
- Với tư cách là cơ quan phát hành tiền duy nhất của một quốc gia. Ngân hàng Trung ương có vai trò rất lớn đối
với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Trên thế giới mô hình tài chính của Ngân hàng Trung ương có 2 loại: Ngân hàng Trung ương thuộc sở
hữu Nhà nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam và Ngân hàng Trung ương thành lập dưới dạng CTCP: Mỹ,
Hungary.
+ Ngân hàng Trung ương không thuộc chính phủ (Đức, Mỹ: gọi là cục dự trữ Liên Bang.
+ Ngân hàng Trung ương trực thuộc chính phủ: (Việt Nam, Pháp, Nga, Trung Quốc) Chính phủ có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động rất lớn của Ngân hàng Trung ương, chịu sự lãnh đạo và chi phối của chính phủ.
Chức năng của Ngân hàng Trung ương:
+ Phát hành tiền, quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng và là NH của các Ngân hàng.
+ Mở và quản lý tài chính cho các Ngân hàng.
+ Cấp tín dụng cho các NH nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.
Ví dụ: Ngân hàng Công thương nợ Ngân hàng Ngoại thương 10 USD
Ngân hàng ngoại thương nợ Ngân hàng Công thương 8.000 USD Thanh toán thông qua Ngân hàng
Trung ương.
1
Cách 1
(1)
thanh toán từng lần.
(2)
Cách 2: Cả hai gửi tất cả tiền vào phòng thanh toán bù trừ
Ghi nợ Ngân hàng Công thương
Ghi có Ngân hàng Ngoại thương : 2.000 USD
Lúc này quan hệ giữa Ngân hàng Trung ương và các Ngân hàng khác là bình đẳng.
b. Các tổ chức tín dụng: Là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng.
- Nội dung kinh doanh chủ yếu là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụnh, cung ứng các dịch
vụ thanh toán.
- Căn cứ vào phạm vi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, pháp luật của các nước quy định các tổ chức
tín dụng gồm hai loại: TCTD là Ngân hàng và TCTD phi Ngân hàng.
+ Các tổ chức TD là Ngân hàng được phép thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan: Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng ĐT và phát triển, Ngân hàng chính sách,
Ngân hàng hợp tác (HTX; Quỹ TDND).
+ Các TCTD phi Ngân hàng là loại hình TCTD chỉ được phép thực hiện một số hoạt động Ngân hàng
như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ
thanh toán. Nếu nhận tiền gửi thì chỉ được nhận tài khoản từ 1 triệu trở lên.
Ví dụ: Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính (có thể cho vay bằng vốn của họ)
II. Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực Ngân hàng
1. Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
- Chính sách tiền tệ quốc gia có ảnh hưởng to lớn đối với quá trình và ổn định kinh tế - xã hội. Do đó
việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia phải theo có chế độ và trật tự chặt chẽ.
Ở Việt Nam , Luật Ngân hàng 1997 quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ quyền hạng
xây dựng dự án tiền tệ quốc gia để trình chính phủ xem xét trình Quốc Hội quý định và TC thực hiện chính
sách này.
- Điều 2, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: "Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận
của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân".
2. Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý và duy trì trật tự cho các hoạt động Ngân
hàng trong nền kinh tế
Lĩnh vực Ngân hàng là nơi tích tụ và điều hòa nhiều loại nguồn vốn là nơi thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia. Lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao và liên quan đến nhiều lợi ích của nhiều loại chủ thể trong nền kinh tế.
Đảm bảo an toàn cho hoạt động Ngân hàng và phát huy vai trò tích cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội,
đòi hỏi Nhà nước cùng đồng bộ những biện pháp trong đó có sử dụng pháp luật. Thể hiện trên các mặt:
+ Nhà cùng pháp luật để quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh Ngân hàng trong nền kinh
tế Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định các điều kiện hoạt động Ngân hàng; điều kiện trình
tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD và giấy phép hoạt động Ngân hàng của các
tổ chức khác quy định nhiệm vụ và quyền hạng quản lý nhàn nước của NH Nhà nước Việt Nam ...
+ Nhà nước cùng pháp luật làm công cụ để xây dựng hệ thống Ngân hàng, TCTD phù hợp với mục tiêu,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Chính sách của Nhà nước về xây dựng các loại hình TCTD ghi nhận ở điều 4 Luật các TCTD: 12/12/1997.
1/ Thống nhất quản lý với mọi hoạt động Ngân hàng, xây dựng các tổ chức tín dụng hiện đại, đủ sức
đáp ứng đủ nhu cầu vốn và dịch vụ Ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia, đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, bảo vệ lợi ích hành pháp của người gửi tiền.
2/ Đầu tư vốn và nguồn lực khác để phát triển các TCTD Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức này giữ
vai trò chủ đạo và chủ lực trên thương trường tiền tệ.
3/ Phát triển các Ngân hàng chính sách hoạt động không những mục đích lợi nhuận phục vụ nghĩa vụ và
các chính sách khác nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.
4/ Bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hành pháp khác trong hoạt động của các TCTD hợp tác nhằm
tạo điều kiện cho người lao động tương trợ nhau trong sản xuất và đời sống.
2
Ghi nợ ngân hàng ngoại thuơng 8.000 USD
Ghi có ngân hàng công thương 8.000 USD
Ghi nợ ngân hàng công thuơng 10.000 USD
Ghi có ngân hàng ngoại thương 10.000 USD
5/ Xử dụng các Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân với chính sách ưu
đãi về vốn, lãi suất và các điều kiện vay vốn.
+ Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh doanh Ngân hàng
trong nền kinh tế vì hoạt động kinh doanh Ngân hàng còn tiềm ẩn những rủi ro cao: Nhà nước ban hành các
quy định nhằm hạn chế và kiểm soát hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Ví dụ: Điều 79 Luật các TCTD: Tổng dư nợ cho vay đối với 1 khách hàng không vượt quá 15% vốn của
TCTD trừ tổng hợp đối với các khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của chính phủ, của các tổ chức, cá
nhân hay trường hợp vay là các TCTD khác.
+ Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ ngăn ngừa, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
lĩnh vực Ngân hàng: Quy định về trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp... góp
phần trong việc bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân tham gia các quan hệ xã hội trong lĩnh vực Ngân
hàng trong nền kinh tế.
3. Nhà nước thành lập và sử dụng hệ thống Ngân hàng, TCTD Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế quốc dân
Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng TMQD, Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng chính sách và các
loại hình TCTD khác. Hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao nên các Ngân hàng, TCTD Nhà
nước đóng vai trò là công cụ của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng Ngân hàng của
Nhà nước và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
- Vai trò chủ đạo thể hiện: Hệ thống Ngân hàng, CTCD Nhà nước hoạt động trên tất cả các lĩnh vực
Ngân hàng với quy mô hoạt động rộng nên có ảnh hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế và có tác động chi phối
đối với hoạt động Ngân hàng của các thành phần kinh tế khác.
4. Nhà nước kích thích sự phát triển của các hệ thống Ngân hàng, TCTD
Nhà nước tạo môi trường kinh tế, môi trường pháp lý.
Thực hiện các tác động trực tiếp bằng chính sách thu hút đầu tư, chính sách ưu đãi thức.
III. Khái niệm chung về luật Ngân hàng
1. Định nghĩa
Luật Ngân hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động Ngân hàng, các quan hệ về tổ chức hoạt động của các TCTD và
hoạt động Ngân hàng của các tổ chức khác.
Luật Ngân hàng điều chỉnh hai nhóm quan hệ chính:
Các quan hệ quản lý Nhà nước về Ngân hàng: Là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Nhà
nước thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng trong nền kinh tế.
Ví dụ: Quan hệ cấp, thu hồi giấy phép hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Quan hệ thanh tra giữa Ngân hàng Nhà nước với các TCTD.
Phương pháp hoạt động mang tính mệnh lệnh phục tùng.
Các quan hệ tổ chức và kinh doanh Ngân hàng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức,
thực hiện hoạt động kinh doanh Ngân hàng của các TCTD và hoạt động Ngân hàng của các tổ chức khác.
Phương pháp tác động bình đẳng, thỏa thuận.
Như vậy đối tượng điều chỉnh của luật Ngân hàng gồm các nhóm quan hệ xã hội sau:
+ Quan hệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
+ Quan hệ tổ chức và hoạt động của các TCTD.
+ Quan hệ kinh doanh Nhà nước của các tổ chức không phải là TCTD không những được Nhà nước cho
phép thực hiện một số hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
2. Nguồn của luật Ngân hàng
- Là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hay phê chuẩn theo
hình thức, trình tự, thủ tục luật định có chứa các quy phạm pháp luật Ngân hàng.
Hiến pháp 1992
Các đạo luật có quy phạm pháp luật về Ngân hàng như Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luật các TCTD, BL DS, Luật thương mại ...
Các văn bản dưới luật có chứa các quy phạm pháp luật Ngân hàng:
- Pháp lệnh do UBTVQH ban hành.
- VB Pháp luật do chính phủ ban hành.
- VB Pháp luật do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ, VB Pháp luật liên bộ ban hành.
3
CHƯƠNG 2:ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
I. Lịch sử hình thành, vị trí pháp lý, tư cách pháp nhân và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt
nam.
1. Lịch sử hình thành
Giữa thế kỷ XIX Pháp sang xâm lược độc chiếm nước ta, Ngân hàng đầu tiên xuất hiện ở Việt nam đó
là Ngân hàng Đông Dương (1875). Điều này cho thấy kinh tế Việt Nam thời đó chưa có gì, giai cấp tư sản Việt
Nam còn non yếu chưa có tiếng nói gì trong giới tài chính.
Việt Nam sau cánh mạng tháng 8 thành công do chính quyền còn non yếu nên không quốc hữu hóa
được Ngân hàng Đông Dương. Lúc này ngân sách còn 1.250.000 đồng tiền Đông Dương.
Ngày 31/01/1946 Hồ chí Minh ký sắc lệnh số 18/SL phát hành giấy bạc Việt Nam (có giá trị lưu hành
từ vĩ tuyến 16 đến Nha Trang). Ngày 23/11/1946 Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 2 đã quyết định phát hành giấy
bạc lưu hành trong cả nước. Đồng tiền đó gọi là đồng tiền tài chính (tiền cụ Hồ), khi này cho lưu hành hai loại
đồng tiền trên lãnh thổ Việt Nam.
Đến năm 1950 đồng tiền tài chính mất giá trầm trọng. Ngày 06/05/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc
lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam với tư cách là Ngân hàng trung ương Việt Nam và sắc
lệnh số 17/SL quy định “mọi công việc của Nha Ngân Khố Quốc Gia và Nha Tín Dụng Sản Xuất giao cho Ngân
hàng Quốc gia phụ trách. Như vậy ngay từ khi thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã thực hiện hai chức
năng khác nhau đó là Ngân khố và Ngân hàng. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sau đó đổi tên thành Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam được tổ chức thành hệ thống thống nhất từ trung ương đến quận, huyện do Nhà nước độc
quyền sở hữu và quản trị. Bên cạnh đó có Ngân hàng chuyên nghiệp và ưũy tiết kiệm XHCN. Hệ thống này tồn
tại cho đến ngày miền nam giải phóng nó thay thế hệ thống Ngân hàng Sài gòn củ cho đến năm 1988.
2. Vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt nam.
Tháng 8/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời nhưng mãi đến năm 1951 mới thành lập được
Ngân hàng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam trong sắc lệnh số 15/SL không trực tiếp quy định vị trí pháp lý của
Ngân hàng quốc gia nhưng có đề cập Tổng giám đốc là người lãnh đạo Ngân hàng quốc gia có danh vị như Bộ
trưởng.
Ngày 26/10/1961 Hội đồng Chính Phủ ban hành Nghị định 171/CP về tổ chức và hoạt động Ngân hàng nhằm
đáp ứng việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), Ngân hàng quốc gia đổi tên thành Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
So với săc lệnh số 15/SL vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước được quy định rõ ràng hơn:
- Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Hội Đồng Chính Phủ.
- Mặt khác, theo Nghị định này Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ cho hoạt động
của mậu dịch quốc doanh, xí nghiệp quốc doanh. Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền quản lý
Nhà nước với hoạt động của các xí nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Nghị định số 63/NĐ - CP ngày 16/06/1977 quy định cơ cấu tổ chức và bộ máy của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một cơ quan ngang bộ thuộc hộ động Chính phủ có trách nhiệm
thống nhất quản lý công tác phát hành tiền, quản lý tiền mặt và điều hòa lưu thông tiền tệ, quản lý tín dụng, thanh
tóan trong ngoài nước, quản lý ngoại hối, quỹ Ngân sách Nhà nước.
Thời kỳ này Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với vị trí pháp lý vừa là cơ quan của Chính phủ, vừa là tư cách của
Ngân hàng Trung ương vừa là Ngân hàng trung gian.
Ngày 09/10/1987 Chính phủ ra quyết định số 172 quy định chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước, là một tổ
chức hạch toán kinh tế chuyên ngành, thực hiện hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, là hệ
thống Ngân hàng cấp một.
Ngày 26/03/1988 Hội đông Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 53/HĐBT về tổ chức bộ máy Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và chuyển sang hệ thống Ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ.
Ngày 23/05/1990 Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, Công
ty tài chính. Trong văn bản này xác định rõ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng
và là cơ quan duy nhất phát hành tiền. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và Ngân
hàng trung ương của các Ngân hàng.
4
Ngày 12/12/1997 luật Ngân hàng Nhà nước và luật các Tổ chức tín dụng ra đời. Khảng định địa vị
pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng trung ương của nước
cộng hòa XHCN Việt Nam.
3. Tư cách pháp nhân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Để xác định tư cách pháp nhân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chúng ta cũng căn cứ trên 4 đặc
trưng chung theo quy định tại điều 94 của Bộ luật dân sự, nếu không đảm bảo một trong 4 đặc trưng đó thì
không có tư cách pháp nhân.
Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước thành lập. Như vậy xét về đặc
trưng này thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập hợp pháp.
Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Từ khi thành lập đến nay Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam tuy có sự thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử nhưng được cơ cấu một cách chặt chẽ như sau:
Hệ thống tổ chức Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn từ 1951 đến 1987:
Hệ thống Ngân hàng Nhà nước từ 1987 đến năm1990:
Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước có vốn pháp định thuộc sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao vốn, tài
sản để hoạt động.
Điều 43 luật Ngân hàng Nhà nước quy định “Vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước do Ngân sách
Nhà nước cấp. Mức vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định” (5.000 tỷ
VNĐ).
Ngoài vốn pháp định Ngân hàng Nhà nước còn được giao các loại tài sản khác và được lập quỹ từ chênh lệch
thu chi nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
5
Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam tt
Ngân hàng
công thương
Việt Namtt
Ngân hàng
đầu tư TW
Ngân hàng
ngoại thương
TWTT
Ngân hàng
công thương
Tỉnh, TPnn
Ngân hàng
công thương
Quận, Huyệnnn
Chi nhánh Ngân
hàng Nhà nước
Tỉnh, TPnn
Chi nhánh Ngân
hàng Nhà nước
Quận, Huyệnnn
Ngân hàng
đầu tư Tỉnh,
TPTT
Ngân hàng
ngoại thương
khu vựccc
Ngân hàng
nông nghiệp
Việt Namtt
Ngân hàng
nông nghiệp
tỉnh, TPnn
Ngân hàng
nông nghiệp
quận, huyệnnn
Ngân hàng Nhà
nước TWcc
Quỹ tiết kiệm
XHCN TWXX
Ngân hàng đầu
tư TW
Ngân hàng ngoại
thương TWnn
Quỹ tiết kiệm
Tỉnh, TPnn
Quỹ tiết kiệm
Quận, Huyệnnn
Quỹ tiết kiệm
Phường, xãnn
Chi nhánh Ngân hàng
Nhà nước Tỉnh, TPnn
Chi nhánh Ngân
hàng Nhà nước
Quận, Huyệnnn
Ngân hàng đầu
tư Tỉnh, TPnn
Ngân hàng ngoại
thương khu vưc
Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật.
3. Chức năng của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước đồng thời có hai tư cách pháp lý
a. Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý về Nhà nước, đây là chức năng cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Trong lĩnh vực
này Ngân hàng Nhà nước thực hiện những chức năng sau:
- Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạt phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để trình Chính phủ.Quy định tại điều 3 và điều 5 Luật
Ngân hàng Nhà nước:
+ Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, mức lạm phát dự kiến hàng năm để Chính phủ xem xét
tình Quốc hội quyết định; tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; quyết định lượng tiền cung ứng, bổ
sung cho lưu thông hằng năm, mục dích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo UBTVQH; quyết định chính
sách cụ thể khác và giải pháp thực hiện.
+ Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý chuyên ngành trực tiếp xây dựng dự án chính sách tiền tệ
quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này.
+ Ngoài ra Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển hệ thống Ngân hàng và
các tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, ban hành
các văn bản về quy phạm pháp luật về tiền tệ và họat động Ngân hàng.
- Cấp và thu hồi giấy phép hoạt động Ngân hàng của các tổ chức khác. Quyết định giả thể, chấp thuận
chia tách, hợp nhất, sát nhập các tổ chức tín dụng.
- Kiểm tra, thanh tra hoạt động Ngân hàng, kiểm soát tín dụng, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
tiền tệ và hoạt động Ngân hàng theo thẩm quyền.
- Quản lý vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
Ngoài ra, điều 5 Luật Ngân hàng Nhà nước còn quy định về hoạt động thanh tóan quốc tế, hoạt động
ngoại hối:
- Chủ trì lập và theo dõi kết quã thực hiện cán cân thanh tóan quốc tế.
- Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng.
- Ký kết tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng theo quy định của pháp luật .
- Đại diện cho nước CHXHCN Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ và Ngân hàng quốc tế trong trường hợp
Chính phủ, Chủ tịch nước ủy quyền.
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Ngân hàng, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ Ngân
hàng.
b. Với tư cách là Ngân hàng Trung ương của nước CHXHCN Việt Nam
Ngân hàng Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ quyền hạn Ngân hàng như sau: (khoản 2 điều 5)
- Tổ chức in đúc, bảo quản vận chuyển tiền, thực hiện nghiệp vụ phát hàNgân hàng , thu hồi thay thế và
tiêu hũy tiền.
- Thực hiện tái cấp vốn Ngân hàng ằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh tóan cho nền
kinh tế.
- Điều hành thị trường tiền tệ, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở.
- Kiểm soát dự trữ quốc tế, quản lý dự trử ngoại hối Nhà nước.
- Tổ chức hệ thống thanh tóan qua Ngân hàng, làm dịch vụ thanh tóan, quản lý các phương tiện thanh
tóan.
- Làm đại lý: tổ chức đấu thầu, phát hành Ngân hàng và thanh tóan tín phiếu, trái phiếu Kho bạc giấy
tờ có giá khác của Chính phủ và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước.
- Tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ thông tin Ngân hàng.
Ngoài ra, khi tình hình kinh tế - xã hội thay đổi Ngân hàng Nhà nước còn có thể phải thực hiện các nhiệm
vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
II. Hệ thống tổ chức - lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước
1. Hệ thống tổ chức
Theo quy định tại điều 10 luật Ngân hàng Nhà nước có cơ cấu tổ chức như sau:
Trụ sở chính đặt tại thủ đô Hà nội là triung tâm lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng
Nhà nước.
6
Chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước là đơn vị trực thuộc của Ngân hàng Nhà nước không có tư
cách pháp nhân chịu sự lãnh đạo, điều hành và tập trung thống nhất của thống đốc. Chi nhánh thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của thống đóc đặt tại các tỉnh, thành phố thuộc trung ương.
Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo điều 12 của luật Ngân hàng Nhà nước:
+ Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng và giấy phép họat động
Ngân hàng của các tổ chức kinh tế khác, quyết định giải thể, chấp thuận chia tách, sát nhập, hợp nhất các tổ chức tín
dụng trên địa bàn.
+ Thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn và cho vay, thanh tóan đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
+ Cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ Ngân hàng khác cho tổ chức tín dụng và kho
bạc Nhà nước.
+ Kiểm tra, thanh tra hoạt động Ngân hàng trên địa bàn đựoc phân công.
- Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước, có nhiệm vụ đại diện theo sự ủy
quyền của thống đốc (khác chi nhánh Ngân hàng Nhà nước là văn phòng đại diện không được tiến hành hoạt
động Ngân hàng). Việc thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài do thủ tướng Chính phủ quyết định.
Ngân hàng Nhà nước còn có các đơn vị trực thuộc, đó là:
+ Đơn vị sự nghiệp: là những đơn vị được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu
khoa học, cung ứng dịch vụ tin học, thông tin, báo chí chuyên ngành Ngân hàng (không làm nghiệp vụ Ngân
hàng).
+ Các doanh nghiệp trực thuộc: là những đơn vị thành lập để cung cấp sản phẩm chuyên dùng phục vụ
cho hoạt động Ngân hàng như: nhà in Ngân hàng, xí nghiệp cơ khí Ngân hàng.
2. Lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước
Hiện nay trên thế giới có hai hình thức: lãnh đạo điều hành tập thể và lãnh đạo điều hành theo chế độ 1
lãnh đạo (thủ chế).
Lãnh đạo điều hành tập thể : Thống đốc là người đại diện của Ngân hàng trung ương. Ngoài ra, có hội
đồng quản trị trong trương hợp thành lập dưới dạng công ty cổ phần như hệ thống dự trữ Liên bang Hoa kỳ.
Lãnh đạo điều hành theo chế độ 1 lãnh đạo : thống đốc (chủ tịch) Ngân hàng trung ươnglà người duy
nhất chịu trách nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ hoạt động của Ngân hàng trung ương. Ví dụ như Trung quốc.
Ở Việt Nam, Điều 11 Luật Ngân hàng Nhà nước quy định:
* Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ chịu trách nhiệm lãnh đạo và điều hành
Ngân hàng Nhà nước.
Thống đốc Ngân hàng chịu trách trước Chính phủ.
Như vậy, về cơ chế lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay theo phương thức
thủ trưởng chế.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tổ chức chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước:
Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước.
Chịu trách nhiệm trước thủ tướng Chính phủ trước quốc hội về lĩnh vực mình phụ trách.
Đại diện pháp nhân Ngân hàng Nhà nước.
* Các cán bộ nhân viên Ngân hàng Nhà nước:
Có các nhiệm vụ:
- Giử bí mật hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước, bí mật hoạt động của tổ chức tín dụng và
bí mật tiền gửi của khách hàng.
- Không được làm tư vấn, đại diện hoặc công tác viên cho các tổ chức tiền tệ tín dụng, thương mại, tài
chính hoặc các tổ chức kinh doanh khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không được lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận hối lộ, sách nhiểu, mưu lợi cá nhân.
Ngoài ra, để tư vấn cho Chính phủ trong việc quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền về chính sách tiền tệ quốc
gia. Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước quy định:
Chính phủ thành lập hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia (không phải là bộ phận thuộc Ngân
hàng Nhà nước).
III. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước
1. Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Điều 15 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định Ngân hàng Nhà nước trong việc thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia:
7
- Chủ trì xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng lượng tiền bỏ ra lưu thông hàng năm
trình Chính phủ.
- Điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; Thực hiện việc đưa tiền ra lưu thông, rút
tiền từ lưu thông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi lượng tiền cung ứng đã được Chính phủ phê
duyệt.
Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ sau:
* Công cụ tái cấp vốn: Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước
nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh tóan cho các Ngân hàng.
- Đối tượng được tái cấp vốn là các tổ chức tín dụng với điều kiện nhất định.
- Công cụ tái cấp vốn được Ngân hàng Nhà nước sử dụng dưới các hình thức như sau:
1. Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng: Đây là hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước cho các
Ngân hàng đã cho vay đối với khách hàng.
2. Cho vay bằng cầm cố các chứng từ có giá ngắn hạn.
3. Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
*Công cụ lãi suất: Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn
định lãi suất kinh doanh hoặc dưới hình thức áp dụng lãi suất đối với tái cấp vốn. (Điều 18 Luật Ngân
hàng).Thông qua đó để nới lõng hoặc thắt chặt lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.
* Tỷ giá hối đoái: Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào cung cầu ngoại tệ trên thị trường và nhu cầu điều
tiết của Nhà nước xác định và công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam.
* Dự trử bắt buộc (reserve requirement): là quyền bắt buộc các tổ chức tín dụng phải ký gửi tại Ngân
hàng Trung ương một phần của tổng số tiền gửi mà họ nhận được từ mọi giới theo một tỷ lệ nhất định.
Để duy trì hoạt động kinh doanh của mình, các tổ chức tín dụng đều phải lập quỹ dự trử để đáp ứng chi
trả đột xuất phòng ngừa rũi ro.
Theo quy định của luật Ngân hàng Nhà nước và điều 20 Quyết định số 52/QĐ ngày 16/02/1999 về tỷ lệ
dự trử bắt buộc thì tổ chức tín dụng phải gửi ở Ngân hàng Nhà nước số tiền gửi theo mức từ 0% đến 20% tổng
số dư tiền gửi ở các tổ chức tín dụng từng loại tiền gửi trong từng thời kỳ.
+ Nghiệp vụ thị trường mở: là nghiệp vụ mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn: tín phiếu kho bạc,
chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước...trên thị trường tiền tệ.
2. Phát hành tiền
Là cung ứng tiền vào lưu thông làm phương tiện thanh toán.
Điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan duy
nhất phát hành tiền của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam bao gồm tiền giấy và tiền kim loại.
Nghị định 87 (31/10/1998) về phát hành, thay thế thu hồi tiền giấy, tiền kim loại) Ngân hàng Nhà nước
căn cứ tông cung cầu tiền tệ trên thị trường của nền kinh tế để phát hành.
Nội dung bao gồm: - Tổ chức in, đúc, thiết kế mẫu
- Bảo quản tiền
- Vận chuyển tiền (sử dụng xe chuyên dùng, công an giám sát)
- Tiêu hủy tiền (nát, rách,...)
- Thu hồi thay thế tiền
3. Hoạt động tín dụng
Mục đích nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng.
- Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện dưới các hình thức bảo lãnh, tạm ứng
cho ngân sách Nhà nước, cho vay.
- Bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài theo chỉ
địng của thủ tướng chính phủ.
- Tạm ứng cho ngân sách Nhà nước dể xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách Nhà nước theo quyết
định của Thủ tướng Chính phủ.
- Cho vay là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước. Theo đó Ngân hàng Nhà nước cho
các tổ chức tín dụng là Ngân hàng vay ngắn hạn (hình thức tái cấp vốn theo Điều 17 luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam).
- Trước đây, hệ thống Ngân hàng 1 cấp:
Ngân hàng Nhà nước cho vay đối với nhiều loại đối tượng: các Ngân hàng, các doanh nghiệp,...
8
Sau cải cách hệ thống Ngân hàng năm 1990. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo vay đối với các Ngân hàng,
thể hiện Ngân hàng Nhà nước là Ngân hàng của các Ngân hàng.
4. Mở tài khoản, hoạt động thanh toán và ngân quỹ:
Nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao:
- Ngân hàng Nhà nước được mở tài khỏan ở Ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, tổ chức Ngân
hàng quốc tế.
- Ngân hàng Nhà nước được mở và quản lý tài khoản thực hiện các giao dịch cho các tổ chức tín
dụng trong nước, kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tiền tệ, Ngân hàng quốc
tế.
- Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn có thẩm quyền cung cấp các dịch vụ thanh toán cho hệ thống
các tổ chức tíng dụng, cho các khách hàng khác, thực hiện các hoạt động Ngân hàng đối ngoại.
+ Thanh toán thông qua thị trường trên Ngân hàng giữa các tổ chức tín dụng
+ Làm dịch vụ thông tin Ngân hàng
5. Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối
- Ngoại hối: + Ngoại tệ, vàng bạc,... trước đây. Nghị định 63/1998/NĐCP bao gồm:Tiền nước ngoài
(tiền giấy, tiền kim loại)
Công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài.
Giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài
Đồng tiền chung châu Âu và các đồng tiền chung dùng trong thanh toán quốc tế hoặc khu vực.
Vàng tiêu chuẩn quốc tế: có dấu hiệu kiểm định chất lượng và trọng lượng có mác hiệu của người sản
xuất quốc tế công nhận.
Đồng tiền đang lưu hành ở Việt Nam trong trường hợp chuyển vào hoạc chi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
hay được sử dụng làm công cụ thanh toán quốc tế (trước đây không có quy định này)
- Hoạt động ngoại hối là hoạt động đầu tư, vay, cho vay, mua bán, bảo lãnh và các giao dịch khác về
ngoại hối.
Nghị định 63/1998/NĐCP quy định - Ngoại hối chỉ được lưu hành thông qua hệ thống Ngân hàng, tổ
chức và cá nhân được phép hoạt động ngoại hối.
Tư cách pháp lý: Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện việc quản lý Nhà
nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối.
- Điều 37 luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: toàn quyền quản lý hành chính Nhà nước của
Ngân hàng Nhà nước về ngoại hối
* Xây dựng các dự án Luật. Pháp lệch về quản lý ngoại hối.
* Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối
* Kiểm soát ngoại hối của các tổ chức tín dụng
Quản lý ngoại hối bằng nghiệp vụ:
- Nhà nước giao cho Ngân hàng Trung ương dự trữ ngoại hối, nhằm thực hiện chính sách hệ quốc gia,
đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước.
- Hoạt động ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước thực hiện trên thị trường trong nước và quốc tế. Điều
39 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997.
6. Thanh tra Ngân hàng
a/ Khái niệm:
Thanh tra Ngân hàng là bộ phận của hoạt động quản lý Nhà nước về Ngân hàng. Do đó hoạt động của
thanh tra Ngân hàng có đặc điểm của hoạt động thanh tra Nhà nước.
Đặc điểm:
- Hoạt động thanh tra Ngân hàng mang tính quyền lực Nhà nước, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
thực hiện.
Điều 50 Luật Ngân hàng: thanh tra Ngân hàng là thanh tra chuyên ngành, đứng đầu là chánh thanh tra.
- Thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý Nhà nước về Ngân hàng. Thanh tra chuyên ngành có quyền
thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà
nước về tiền tệ Ngân hàng.
Có quyền thanh tra hoạt động của các tổ chức, đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước và tổ chức hoạt động
của các tổ chức tín dụng, hoạt động Ngân hàng của các tổ chức khác.
- Quan hệ giữa thanh tra và thanh tra Ngân hàng tuân theo những quy định của pháp luật về thanh tra.
9
b/ Đối tượng thanh tra, nội dung của hoạt động thanh tra Ngân hàng:
- Đối tượng thanh tra là: tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động Ngân hàng của
các tổ chức khác.
- Nội dung của hoạt động thanh tra Ngân hàng: Điều 52 luật Ngân hàng Nhà nước
1, Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, việc thực hiện các quy định
trong giấy phép hoạt động Ngân hàng.
2, Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi
phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng.
3, Kiến nghị các biện pháp đảm bảo thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng (Điều 52
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Điều 54, 55 quy định về trách nhiệm của thanh tra Ngân hàng và quyền của đối tượng thanh tra.
Câu hỏi:
1. Tại sao nói Ngân hàng nhà nước là ngân hàng của các ngân hàng?
2. Vị trí pháp lý của Ngân hàng Trung ương Việt nam được xác định như thế nào?
----------------------------------------------
CHƯƠNG 3: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
I. Khái niệm tín dụng, khái niệm hoạt động tín dụng, khái niệm tổ chức tín dụng, các loại tổ chức tín
dụng
1. Khái niệm tín dụng, khái niệm hoạt động tín dụng và các tổ chức tín dụng:
a. Khái niệm tín dụng:
“Tín dụng” xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng Anh là Credit.
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, “tín dụng” có nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển
nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang
người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm tín dụng trên đây được thể hiện ba mặt cơ bản sau đây:
+ Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác.
+ Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời.
+ Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm
gọi lợi tức. Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy đủ cả ba mặt.
* Tín dụng ra đời rất sớm gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Cơ sở ra đời của
tín dụng xuất phát từ:
- Có sự tồn tại và phát triển của hàng hoá
- Có nhu cầu bù đắp thiếu hụt khi gặp biến cố nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh, đảm bảo
cuộc sống bình thường.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tuỳ thuộc vào giác độ tiếp cận mà tín dụng có thể được
hiểu như là:
Sự trao đổi các tài sản hiện tại để được nhận các tài sản cùng loại trong trong lai. Hoặc có thể định
nghĩa tín dụng như là quan hệ kinh tế, theo đó một người thoả thuận để người khác được sử dụng số tiền hay
tài sản của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả.
Trong đời sống, tín dụng hiện diện dưới nhiều hình thái khác nhau. Tín dụng thương mại là một doanh
nghiệp thỏa thuận bán chịu hàng hóa cho khách hàng. Tín dụng Ngân hàng việc các Ngân hàng thương mại huy
động vốn của khách hàng để sau đó lại cho khách hàng khác vay với mục đích kiếm lời.
Ngoài ra, việc Chính phủ hay những doanh nghiệp phát hành các trái phiếu ra ngoài công chúng để vay
tiền của các tổ chức, cá nhân cũng được xem là những hình thức tín dụng.
Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nghiệp vụ cho thuê tài chính do những công ty cho thuê tài
chính thực hiện đối với khách hàng là các doanh nghiệp cũng được xem là một hình thức tín dụng đặc thù của nền
kinh tế thị trường.
b/ Khái niệm hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng
Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng được định nghĩa là
việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thoả thuận cấp tín dụng cho khách
10
hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân
hàng và các nghiệp vụ khác.
Khác với các loại hình giao dịch khác ở những đặc điểm sau đây:
- Về chủ thể, một bên tham gia giao dịch bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện hoạt động tín
dụng theo qui định của pháp luật. Chủ thể này tham gia giao dịch với tư cách là người đầu tư (người cho vay hay
chủ nợ) và có quyền đòi tiền của người nhận đầu tư (người vay hay con nợ) khi hợp đồng đáo hạn.
-Về nguồn vốn, các tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng cho khách hàng chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy
động của tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu hay vay nợ của tổ chức
tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng. Đặc điểm này cho phép phân biệt hoạt động tín dụng của các tổ
chức tín dụng với hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, với đặc tính của nguồn vốn cho vay là vốn dự
trữ phát hành.
- Cơ chế kinh doanh của tổ chức tín dụng là “đi vay để cho vay” nên hoạt động tín dụng của các tổ
chức này thường có độ rủi ro cao và có ảnh hưởng dây chuyền đối với nhiều tổ chức, cá nhân trong nền kinh
tế.
c. Khái niệm tổ chức tín dụng:
Việt Nam, Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 12/12/97 quy định:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung
nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán”.
+ Tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp nhưng khác các doanh nghiệp khác:
+ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ.
+ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu và thường xuyên mang
tính nghề nghiệp là hoạt động Ngân hàng.
+ Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
+ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về Ngân
hàng và các quy định khác của pháp luật.
Ví dụ: Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thương mại quốc doanh vừa chịu sự điều chỉnh của luật
các Tổ chức tín dụng, vừa chịu sự điều chỉnh của luật Doanh nghiệp Nhà nước.
2. Các loại tổ chức tín dụng
Các tổ chức tín dụng thành lập và tồn tại theo các hình thức pháp lý do pháp luật quy định. Mỗi loại
hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo từng phương thức có đặc điểm riêng và thực hiện hoạt động kinh
doanh theo phạm vi pháp luật quy định.
- Căn cứ vào phạm vi nghiệp vụ kinh doanh Tổ chức tín dụng được phân thành hai nhóm:
* Tổ chức tín dụng là Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Tổ chức tín dụng là Ngân hàng gồm có: (Căn cứ theo tính chất và mục tiêu hoạt động):
+ Ngân hàng thương mại
+ Ngân hàng phát triển: Tập trung huy động vốn trung và dài hạn, đầu tư trung và dài hạn vì sự phát
triển, chủ yếu đầu tư trực tiếp qua các dự án.
+ Ngân hàng đầu tư: huy động vốn với mục tiêu trung và dài hạn cũng vì sự phát triển nhưng thông qua
hình thức đầu tư gián tiếp qua chứng từ có giá.
+ Ngân hàng chính sách: từ năm 1990 đến nay như Ngân hàng phục vụ người nghèo, không hoạt động
lợi nhuận, tạo vốn dưới hình thức đặc thù để cho vay ưu đãi hoặc vốn bình thương trên thị trường để cho vay
ưu đãi nhưng được Nhà nước bù pghần chênh lệch lãi suất.
+ Ngân hàng hợp tác đầu tư, Ngân hàng hợp tác nông thôn và các loại Ngân hàng hợp tác khác (HTX
Tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân).
* Tổ chức tín dụng phi Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động Ngân
hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm
dịch vụ thanh toán.
Tổ chức tín dụng phi Ngân hàng gồm có:
+ Công ty tài chính: Là một tổ chức tín dụng được thành lập nhằm mục đích cho vay để pháp triển sản
xuất hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của các đối tượng khác trong xã hội.
+ Công ty cho thuê tài chính: cho vay tài sản thông qua việc đầu tư tài chính vào tài sản.
11
+ Các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng khác.
- Căn cứ vào tính chất sở hữu về điều lệ các tổ chức tín dụng ở Việt Nam phân thành các loại hình sau:
* Tổ chức tín dụng Nhà nước là loại hình Tổ chức tín dụng được Nhà nước thành lập cấp vốn điều lệ và
bổ nhiệm người quản trị điều hành, là quan hệ cho vay phát sinh giữa Nhà nước với dân cư. Tổ chức tín dụng
quốc doanh (Ngân hàng quốc doanh) là những Ngân hàng chiếm vị trí ưu thế trong hệ thống các tổ chức tín
dụng nước ta.
- Tính chất sở hữu: là doanh nghiệp Nhà nước (là một tổ chức kinh doanh được Nhà nước thành lập
quản lý và cấp vốn ban đầu, Nhà nước bổ nhiệm người lãnh đạo và điều hành).
- Về phương diện pháp lý: là một doanh nghiệp công lập, do Nhà nước cấp vốn điều lệ.
- Tính chất nội dung hoạt động kinh doanh: đa năng, (ngắn, trung và dài hạn) tuỳ theo tính chất nguồn
vốn huy động. Hoạt động cả trong và ngoài nước và các dịch vụ khác theo pháp luật.
- Phạm vi hoạt động: kinh doanh tiền tệ đối với mọi thành phần kinh tế, thuộc lĩnh vực sản xuất, lưu
thông, xây dựng trong và ngoài nước. Tuy nhiên mỗi Ngân hàng có một định hướng trong hoạt động của nó.
+ Ngân hàng công thương chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, giao thông vận
tải, bưu điện.
+ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn: chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.
+ Ngân hàng ngoại thương: chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
+ Ngân hàng đầu tư & phát triển: chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản.
- Là một dạng doanh nghiệp Nhà nước
- Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay nhằm thực hiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước.
- Kinh doanh tiền tệ theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước
Tổ chức tín dụng Nhà nước gồm:
+ Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHCT, NHNN & PTNT, NHNT).
+ Công ty tài chính quốc doanh
+ Ngân hàng chính sách: Doanh nghiệp hoạt động công ích.
Ví dụ: Nhà nước phát hành công trái hay tín phiếu kho bạc.
Nhà nước: đi vay; dân cư: người cho vay. Mục đích của tín dụng Nhà nước nhằm hình thành và sử
dụng quỹ Ngân sách Nhà nước.
Việc Nhà nước cho vay (kho bạc) không phải là kinh doanh mà thực chất là có tổ chức xã hội.
*Tổ chức tín dụng cổ phần: là loại hình tổ chức tín dụng được thành lập trên cơ sở góp vốn của Nhà
nước và của các cổ đông khác để thực hiện hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Thuộc loại hình công ty cổ phần (về bản chất). Nên chịu sự điều chỉnh của luật các Tổ chức tín dụng
và luật doanh nghiệp (công ty cổ phần)
Thích ứng với nền kinh tế thị trường gồm:
+ Ngân hàng thương mại: Theo Nghị định 49/CP - 12.09.2000 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng
thương mại: Ngân hàng thương mại là Ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Ngân hàng thương mại gồm: Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần của
Nhà nước và nhân dân.
Được khai thác mọi nguồn vốn trong và ngoài nước từ mọi thành phần kinh tế như nhận tiền gửi có kỳ
hạn, không có kỳ hạn, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu Ngân hàng, vay Ngân hàng Nhà
nước và các tổ chức tín dụng khác. Đồng thời phải có nghĩa vụ tôn trọng giới hạn về mức huy động vốn.
Được tiếp nhận vốn tài trợ, uỷ thác đầu tư từ ngân sách từ các tổ chức quốc tế, quốc gia cho các chương
trình đầu tư và phát triển kinh tế xã hội.
Được quyền cho vay đối với mọi đối tượng khi thoả mãn các điều kiện vay vốn theo luật định. Đồng
thời có nghĩa vụ tôn trọng và chấp hành giới hạn khống chế về cho vay.
Được hùn vốn liên doanh bằng nguồn vốn tự có theo tỷ lệ quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Được làm dịch vụ thanh toán giữa các Ngân hàng.
Được kinh doanh tiền tệ và dịch vụ đối ngoại khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Được tiến hành các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác nếu đủ các điều kiện về thị trường nguồn vốn,
về hiệu quả kinh doanh, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ được Ngân hàng Nhà nước cho phép như kinh doanh vàng,
bạc, kim khí quý, đá quý, thu đổi ngoại tệ, cất trữ, mua bán chuyển nhượng các chứng khoán. Nghiệp vụ về tín
12
dụng cho thuê tài chính, bảo lãnh tín dụng, thực hiện các dịch vụ tư vấn về tài chính tiền tệ theo yêu cầu của
khách hàng.
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng phải tôn trọng các quy định về phạm vi hoạt động lãi suất, hạn
mức huy động vốn cho vay, vốn về tỷ giá hối đoái, về giá trị mua bán vàng, bạc, tỷ lệ hùn vốn liên doanh, tỷ lệ
bắt buộc tối thiểu, trích lập, sử dụng các quỹ dự trữ pháp định làm nghĩa vụ với ngân sách.
- Công ty tài chính: thẩm quyền cơ bản giống Ngân hàng thương mại.
+ Chỉ được huy động vốn dưới hình thức phát hành tín phiếu trong giới hạn cho phép.
+ Không được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân.
+ Cho vay ngắn hạn, trung hạn là chủ yếu, phục vụ việc mua bán hàng hoá dịch vụ của các tổ chức và
cá nhân trên địa bàn.
+ Không được làm dịch vụ thanh toán
- Hợp tác xã tín dụng
+ Được huy động vốn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn trong và ngoài xã viên.
+ Được vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
+ Cho vay ngắn hạn đối với xã viên.
+ Được làm các uỷ thác dịch vụ tài chính tín dụng cho Nhà nước, cho các tổ chức cá nhân khác.
- Quỹ tín dụng nhân dân:
Nghị định 48/2001/NĐ - CP 13.08.2001 tổ chức và hoạt động quỹ tín dụng nhân dân.
Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nghiêm, tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên,
nhằm phát huy mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân phải bảo đảm bù đắp chi
phí và có tích luỹ để phát triển. Số lượng thành viên tối thiểu là 30 thành viên (không khống chế về số lượng).
+ Được huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tín nhiệm về
kết quả hoạt động của quỹ.
+ Được cho các thành viên vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
+ Được làm dịch vụ thành toán nếu đủ điều kiện được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
+ Nhận vốn tài trợ của Nhà nước, của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
+ Yêu cầu người vay cũng có các tài liệu về tài chính, sản xuất, kinh doanh liên quan đến khoản vay.
+ Được tuyển chọn, sử dụng đào tạo hoạt động lựa chọn các hình thức trả lương, thưởng, thực hiện các
quyền của người sử dụng lao động. Theo quy định của pháp luật.
+ Thành viên được góp vốn theo quy định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước và không quá 30% so
với tồn tại vốn điều lệ của quỹ tín dụng nhân dân tại thời điểm góp vốn và nhượng chuyển.
Nội dung và phạm vi hoạt động: cũng tương tự Ngân hàng thương mại quốc doanh.
Gồm: Ngân hàng thương mại cổ phần và Công ty tài chính cổ phần
+ Tổ chức tín dụng hợp tác: là tổ chức tín dụng do các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập để
hoạt động Ngân hàng theo luật tổ chức tín dụng và luật hợp tác xã nhằm tương tự nhau phát triển sản xuất kinh
doanh và đời sống.
Gồm: - Ngân hàng hợp tác xã
- Hợp tác xã tín dụng, là tổ chức kinh tế tập thể hoạt động chủ yếu là huy động vốn trong xã viên và
cho xã viên vay, cho vay ngắn hạn là chủ yếu.
- Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức được thành lập dưới hình thức hợp tác xã.
- Các hình thức khác: thành viên là cá thể, pháp nhân tự nguyện gia nhập cùng tiến hành theo nguyên
tắc kinh doanh nhằm mục tiêu trợ giúp lẫn nhau.
+ Quy mô nhỏ
+ Phạm vi hoạt động hẹp
+ Nghiệp vụ kinh doanh đơn giản
Mục tiêu chính là tưởng trợ giúp đỡ các thành viên trong tổ chức cá nhân, nên đối với loại hình này
không bị cấm cho vay đối với những người lãnh đạo của tổ chức hoặc những người thân thuộc của người lãnh
đạo.
* Quỹ tín dụng nhân dân là một loại hình doanh nghiệp tập thể có chức năng kinh doanh tiền tệ và thực
hiện các dịch vụ Ngân hàng.
13
Phạm vi và địa bàn hoạt động rộng hơn hợp tác xã tín dụng (trong phạm vi xã cho vay đối với xã viên
của mình).
* Quỹ tín dụng nhân dân có thể thực hiện một số hoạt động dịch vụ Ngân hàng theo sự uỷ quyền của
Ngân hàng Nhà nước. Còn hợp tác xã tín dụng không có khả năng đó.
+ Tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài: tà tổ chức tín dụng có một phần vốn trên 100% vốn điều
lệ của tổ chức tín dụng nước ngoài. Thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.
- Điều 11 Luật tổ chức tín dụng quy định: Nhà nước có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực Ngân hàng, khuyến khích việc huy động các nguồn vốn tín dụng từ nước ngoài đầu tư vào cuộc sống phát
triển kinh tế ở Việt Nam, tạo điều kiện để tổ chức tín dụng tăng cường hợp tác với nước ngoài nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các tổ chức này.
Theo pháp luật hiện hành tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài gồm:
* Tổ chức tín dụng liên doanh (5 triệu đô la): Ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên
doanh. Vốn điều lệ là vốn góp của bên Ngân hàng Việt Nam và bên Ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng liên
doanh có trụ sở chính tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Được hoạt động cả VNĐ và ngoại tệ theo quy định trong giấy phép.
Ngân hàng liên doanh chỉ đủ tư cách pháp nhân khi được cấp giấy phép chứng nhận điều hành kinh
doanh.
Tổ chức tín dụng phi Ngân hàng là 100% vốn nước ngoài (5 triệu đô la).
** Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài (50 tỷ đô la): là một bộ phận của Ngân hàng nước ngoài (Ngân
hàng nguyên xứ) hoạt động tại Việt Nam thì chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Chỉ có đủ tư cách pháp nhân khi được cấp giây phép đăng ký kinh doanh. Ngoài chi nhánh không được
mở chi nhánh phụ (bên chi nhánh nước ngoài) tất cả là một pháp nhân duy nhất.Chi nhánh Ngân hàng nước
ngoài chịu sự điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng. Chi nhánh Ngân
hàng nước ngoài khác với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác.
II. Quy chế thành lập, cấp giấy phép hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá sản, thánh lý tổ chức tín
dụng
1. Quy chế thành lập và cấp giấy phép hoạt động đối với tổ chức tín dụng:
Giấy phép hoạt động là chứngchỉ hành nghề của tổ chức tín dụng.
Trước đây việc cấp giấy phép thành lập và giấy phép hoạt động là hai khâu nay đơn giản hoá thủ tục
hành chính, tránh chồng chéo phiền hà trong việc cấp giấy phép thành lập , giấy phép hoạt động cho các tổ
chức tín dụng hoạt động.
Điều 21 Luật các tổ chức tín dụng:
- Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập hoạt động thuộc Ngân hàng Nhà nước. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước hay uỷ quỳen cho thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ
chức tín dụng trên địa bàn của chi nhánh.
* Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với tổ chức tín dụng, giấy phép hoạt
động Ngân hàng:
a/ Đối với tổ chức tín dụng (Điều 14 và Điều 22 Luật các tổ chức tín dụng):
1- Có nhu cầu hoạt động Ngân hàng trên địa bàn xin hoạt động đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế và
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức tín dụng.
2 - Có vốn pháp định theo quy định của pháp luật. Vốn trong các tổ chức tín dụng là cơ sở quan trọng
để xác định mức huy động vốn, khả năng cho vay vốn và căn cứ để tính các tỷ lệ an toàn cho các hoạt động của
tổ chức tín dụng.
Ví dụ: Nghị định 82/1998/NĐCD 3/10/98 về ban hành danh mục vốn pháp định của các tổ chức tín
dụng:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh:
Ngân hàng nông nghiệp 2.200 tỷ VNĐ
Ngân hàng công thương, ngoại thương 1.100 tỷ VNĐ
- Ngân hàng thương mại cổ phần: Đô thị: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh 70 tỷ VNĐ,
Thành phố khác 50 tỷ VNĐ
Nông thôn 5 tỷ VNĐ
3 - Thành viên sáng lập phải là tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tài chính (ảnh hưởng đến hợp
đồng kinh doanh của tổ chức tín dụng).
14
4 - Người quản trị, điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình độ chuyên môn phù hợp với từng
loại hình tổ chức tín dụng: đảm bảo cho tổ chức tín dụng an toàn, hiệu quả, hạn chế tình trạng phá sản trong tổ chức
tín dụng.
5 - Có điều lệ tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của luật các tổ chức tín dụng và quy định khác
của pháp luật.
Điều lệ xác định: Mục tiêu, phương hướng, phạm vi, nội dung hoạt động, phương hướng, cách thức tổ
chức bộ máy quản lý, chế độ tài chính.
Điều 30 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “ Điều lệ của tổ chức tín dụng chỉ được thực hiện sau khi
được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y”
6- Có phương án kinh doanh khả thi, đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả. Ngoài ra, các tổ chức tín
dụng có vốn đầu tư nước ngoài phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Đối với tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi Ngân hàng 100% vốn nước ngoài phải được
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động Ngân hàng, được cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài cho phép hoạt động tại Việt Nam.
Đối với chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cần thêm điều kiện:
Được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép mở chi nhánh tại Việt Nam.
Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có văn bản đảm bảo khả năng giám sát toàn bộ hoạt động của
chi nhánh tại Việt Nam.
Ngân hàng nước ngoài có văn bản bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi
nhánh tại Việt Nam.
b/ Đối tổ chức không phải là tổ chức tín dụng
Điều kiện là:
Hoạt động Ngân hàng là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động chính.
Có đủ vốn và điều kiện vật chất phù hợp với yêu cầu của hoạt động Ngân hàng.
Có đội ngũ am hiểu hoạt động Ngân hàng.
Có phương án kinh doanh khả thi về hoạt động Ngân hàng.
* Thủ tục xin cấp giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động:
- Tổ chức tín dụng muốn được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải lập hồ sơ và thực hiện các thủ
tục theo các yêu cầu quy định tại Đ22 - 23 Luật các tổ chức tín dụng.
Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập gồm:
1. Đơn xin cấp giấy phép thành và hoạt động
2. Dự thảo điều lệ
3. Phương án hoạt động 3 năm đầu trong đó nêu rõ hiệu quả và lợi ích kinh tế hoạt động Ngân hàng.
4. Danh sách, lý lịch các văn bản chứng minh năng lực, trình độ hoạt động chuyên môn của thành viên
sáng lập, thành viên họat động quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, tổng mức vốn góp, phương án góp vốn
và danh sách những cá nhân, tổ chức góp vốn.
5. Tình hình tài chính và những thông tinliên quan khác về cổ đông lớn.
6. Chấp nhận của UBND có quyền về nơi đặt trụ sở của tổ chức tín dụng.
* Đối với tổ chức tín dụng nước ngoài cần bổ sung thêm:
Điều lệ tổ chức tín dụng nước ngoài
Giấy phép hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài
Văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cho phép tổ chức tín dụng ngoài hợp đồng tại Việt
Nam.
Bảng cân đối tài chính, bảng tổng kết lỗ lãi đã được kiểm toán và báo cáo tình hình hoạt động3 năm
gần nhất của tổ chức tín dụng nước ngoài (nếu là tổ chức tín dụng liên doanh)
Họ tên, lý lịch của người điều hành tổ chức tín dụng nước ngoài ở Việt Nam.
* Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thì phải có:
Đơn xin cấp giấy phép hoạt động Ngân hàng
Quyết định hay giấy phép thành lập giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề hiện tại.
Điều lệ
Danh sách lý lịch thành viên hội đồng quản trị, tổng giảm đốc ban kiểm soát.
Tình hình tài chính 3 năm gần nhất
Phát động hoạt động kinh doanh.
15
(Đối với doanh nghiệp thông thường nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc ủy ban nhân dân
cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở kinh doanh sau 15 ngày có kết quả).
- Trong thời gian 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu, thẩm tra, đối
chiếu với quy định để cấp giấy phép những từ chối cấp giấy phép.
Từ chối cấp giấy phép Ngân hàng phải có văn bản giải thích rõ lý do. Nếu cấp thì phê chuẩn điều lệ.
* Trách nhiệm của tổ chức tín dụng kể từ khi được cấp giấy phép:
- Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép phải nộp một khoản lệ phí cấp giấy phép theo quy định. Pháp
lệnh năm 1990 quy định 0,2 vốn điều lệ. Bây giờ BTC có quy định riêng.
- Phải sử dụng đúng tên và hoạt động đúng nội quy ghi trong giấy phép.
- Sau khi được cáp giấy phép tổ chức tín dụng phải đăng ký kinh doanh (tại phòng đăng ký kinh doanh)
và khai trương hoạt động theo quy định tại điều 25, 26, 27, 28 Luật các tổ chức tín dụng.
Tổ chức tín dụng khi có thay đổi một trong các điểm sau phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
bằng văn bản trước khi tiến hành.
Tên của tổ chức tín dụng
Mức vốn điều lệ, mức vốn được cấp.
Địa điểm đặt trụ sở chính, sở giao dịch, chi nhánh văn phòng đại diện.
Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động.
Chuyển nhượng cổ phần có ghi tên quá tỷ lệ quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tỷ lệ cổ phần của các cổ đông lớn.
Thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc và thành viên làm kiểm soát.
Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận - tổ chức tín dụng phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về những thay đổi đó và phải đăng ký báo Trung ương và thực hiện theo quy định Điều 31 Luật các
tổ chức tín dụng.
** Điều kiện hoạt động
- Tổ chức tín dụng đã được cấp giấy phép, muốn tiến hành hoạt động phải có đủ các điều kiện sau:
1. Có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
2. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn pháp định và trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt
động của Ngân hàng.
3. Phần vốn pháp định góp bằng tiền phải gửi vào tài khoản phong tỏa (không được hưởng lãi) mở tại
Ngân hàng Nhà nước trước khi hoạt động tối thiểu 30 ngày. Số vốn này sẽ được giải tỏa khi tổ chức tín dụng
hoạt động.
4. Đăng báo Trung ương và địa phương theo quy định của pháp luật về nội dung quy định trong giấy
phép.
- Đối với các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng đã được cấp giấy phép hoạt động Ngân hàng muốn tiến
hành hoạt động Ngân hàng phải có đủ đỉều kiện sau:
1. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có trụ sở kinh doanh phù hợp với yêu cầu hoạt động Ngân
hàng;
2. Đăng báo trung ương, địa phơng theo quy định của pháp luật về nội dung quy định trong giấy phép.
Các tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thì trong thời hạn 12 tháng phải hoạt động.
** Thu hồi giấy phép: (Điều 29)
Tổ chức tín dụng khi rơi vào một trong các trường hợp sau:
1. Có chứng cứ là hồ sơ xin cấp giấy phép có những thông tin cố ý làm sai sự thật.
2. Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép mà tổ chức đó không hoạt động.
3. Tự nguyện hoặc bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc giải thể;
4. Chia tách, sát nhập, hợp nhất, phá sản;
5. Hoạt động sai mục đích;
6. Không có đủ các điều kiện để hoạt động.
Sau khi bị thu hồi giấy phép, Tổ chức tín dụng đó phải chấm dứt ngay các hoạt động Ngân hàng.
Quyết định thu hồi giấy phép được Ngân hàng Nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại
chúng.
2. Quy chế kiểm soát đặc biệt
a. Khái niệm:
Kiểm soát đặc biệt là biện pháp quản lý Nhà nước do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng đối với Tổ
16
chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toánnhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống các
tổ chức tín dụng.
Mục đích của việc kiểm soát đặc biệt nhằm giúp đở cho các tổ chức tín dụng đang gặp khó khăn về
thanh tóan, chi trả để vượt qua khó khăn tài chính đó, đẩm bảo sự an toàn cho TCTD và cho cả hệ thống
TCTD.
Điều 92 khoản l Luật các tổ chức tín dụng có quy định: "Kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín
dụng được đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất
khả năng thanh toán".
b. Đốt tượng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt
Đối tượng bị kiểm soát đặc biệt là những tổ chức tín dụng có một trong các dấu hiệu sau:
- Có nguy cơ mất khả năng chi trả. (Khả năng chi trả của tổ chức tín dụng được xác định bằng tỷ lệ
giữa tài sản 'Có" có thể thanh toán ngay so với các loại tài sản "Nợ” phải thanh toán tại một thời điểm nhất
định của tổ chức tín dụng).
- Nợ không có khả năng thu hồi có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
- Khi số lỗ luỹ kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% tổng số vốn điều lệ thực có và các quỹ.
c. Trình tự tiến hành kiểm soát đặc biệt
Khi một tổ chức tín dụng phải đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt thì Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước ra quyết định đặt tổ chức tín dụng đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
Quyết định này ghi rõ tên tổ chức tín dụng, lý do, thời hạn kiểm soát đặc biệt, họ tên những thành viên
được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cử làm nhiệm vụ kiểm soát và nhiệm vụ cụ thể của ban kiểm soát đặc
biệt.
- Quyết định này được Ngân hàng Nhà nước thông báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các cơ
quan hữu quan trên địa bàn để phối hợp thực hiện mà không đa ra công luận.
Ban kiểm soát đặc biệt được thành lập sẽ thực hiện nhiệm vụ trong khi tiến hành kiểm soát, ban kiểm
soát có thẩm quyền sau:
Chỉ đạo hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc) tổ chức tín dụng được đặt vào tình
trạng kiểm soát đặc biệt xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động;
Chỉ đạo và giám sát việc triển khai các giải pháp được nêu trong phương án củng cố đã được ban kiểm
sát đặc biệt thông qua;
Báo cáo Ngân hàng Nhà nước về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện phương án củng cố tổ chức tín
dụng;
Được quyền đình chỉ những hoạt động không phù hợp với phương án củng cố đã được thông qua các
quy định về an toàn trong hoạt động Ngân hàng có thể gây phương hại đến lợi ích của ngời gửi tiền;
Có quyền tạm đình chỉ quyền quản trị, điều hành, kiểm soát tổ chức tín dụng của các thành viên hội
đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) nếu xét thấy cần
thiết;
Có quyền yêu cầu người quản trị, ngời điều hành miễn nhiệm, đình chỉ công tác đối với những người
có hành vi vì phạm, không chấp hành phương án củng cố đã được thông qua.
Kiến nghị với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc gia hạn hoặc chấm dứt thời hạn kiểm soát đặc
biệt; về khoản cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng trong trường hợp cấp bách để đảm bảo khả năng chi trả
tiền gửi của khách hàng.
Ban kiểm soát đặc biệt phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong quá trình thực hiện việc
kiểm soát đặc biệt.
Đối với tổ chức tín dụng khi đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt thì hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng
giám đốc (giám đốc) tổ chức tín dụng đó có trách nhiệm:
Xây dựng phương án củng cố tổ chức và hoạt động trình ban kiểm soát đặc biệt thông qua và tổ chức
triển khai thực hiện phương án đó;
Tiếp tục quản trị, kiểm soát, điều hành hoạt động và bảo đảm an toàn tài sản của tổ chức tín dụng, trừ
irờng hợp bị ban kiểm soát đặc biệt tạm đình chỉ quyền quản trị, điều hành, kiểm soát;
Chấp hành các yêu cầu của ban kiểm soát đặc biệt liên quan đến tổ chức, quản trị, kiểm soát điều hành
tổ chức tín dụng;
Trường hợp cần thiết được thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, tổ chức tín dụng được vay đặc
biệt ở các tổ chức tín dụng khác hoặc ở Ngân hàng Nhà nước. Khoản vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả
17
trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tín dụng.
Việc kiểm soát đặc biệt được kết thúc trong các trường hợp sau:
- Hết thời hạn kiểm soát đặc biệt mà không được gia hạn;
- Hoạt động của tổ chức tín dụng trở lại bình thường;
- Trước khi kết thúc thời hạn kiểm soát đặc biệt, tổ chức tín dụng được sáp nhập, hợp nhất;
- Tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản.
Việc kết thúc kiểm soát đặc biệt thực hiện bằng một quyết định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Quyết
định này được thông báo cho các cơ quan liên quan.
3. Quy chế pháp lý về phá sản, giải thể, thanh lý tổ chức tín dụng
a/. Phá sản tổ chức tín dụng
Thuộc phạm vi điều chỉnh của luật phá sản doanh nghiệp.
Ngoài ra đối với các tổ chức tín dụng, Điều 98 Luật các tổchức tín dụng quy định: Sau khi Ngân hàng
Nhà nước đã có văn bản về việc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh
toán của tổ chức tín dụng mà tổ chức tín dụng đó vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì có thể bị tòa án
mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của luật phá sản doanh nghiệp.
b/ Giải thể tổ chức tín dụng
Giải thể tổ chức tín dụng là việc chấm dứt sự tồn tại một tổ chức tín dụng, xóa tên tổ chức tín dụng đó
trong sổ đăng ký kinh doanh.
Giải thể tổ chức tín dụng có bản chất pháp lý khác với phá sản tổ chức tín dụng về lý do, nguyên llhân,
thủ tục tiến hành và hậu quả pháp lý.
Theo quy đính của luật tổ chức tín dụng, việc giải thể tổ chức tín dụng được thực hiện trong các trường
hợp sau:
- Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán hết nợ và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
- Khi hết hạn hoạt động mà tổ chức tín dụng không xin gia hạn hoặc xin gia hạn mà không được Ngân
hàng Nhà nước chấp thuận;
- Bị thu hồi giấy phép hoạt động.
c/ Thanh lý tổ chức tín dụng
- Trong trường hợp tổ chức tín dụng bị tuyên bố phá sản, việc thanh lý của tổ chức tín dụng được thực hiện
theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.
- Trong trường hợp tổ chức tín dụng giải thể thì tổ chức tín dụng phải tiến hành thanh lý ngay dưới sự
giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Mọi chi phí liên quan đến thanh lý do tổ chức tín dụng bị thanh lý chịu.
III. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý tổ TCTD
1. Cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng
Tùy thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động, loại hình tổ chức tín dụng, pháp luật quy định cơ cấu tổ
chức của chúng.
Đối với những tổ chức tín dụng có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng thì cơ cấu tổ chức bao gồm hội
sở chính và đơn vị trực thuộc.
Hội sở chính là cơ quan quản lý và chỉ đạo hoạt động của toàn hệ thống, đồng thời trực tiếp thực hiện
các nghiệp vụ kinh doanh.
Các đơn vị trực thuộc là các sở giao dịch, các chi nhánh, văn phòng đại diện được lập ở những nơi có
nhu cầu hoạt động kể cả ở ngoài nước khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Các đơn vị trực thuộc là đại
diện của pháp nhân có con dấu riêng, trực tiếp giao dịch với khách hàng, hạch toán kinh tế nội bộ.
Ngoài ra, các tổ chức tín dụng có thể được thành lập các công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân, hạch
toán kinh tế độc lập bằng vốn tự có để hoạt động trên một số lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, bảo hiểm theo quy
định của Chính phủ.
Nếu được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, tổ chức tín dụng còn được thành lập các đơn vị sự nghiệp
trong tổ chức của mình.
Tổ chức tín dụng có thể được mở sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, thành lập công ty khi có
đủ các điều kiện sau:
- Có thời gian hoạt động tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
- Hoạt động kinh doanh có lãi, tình hình tài chính lành mạnh;
- Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra nội bộ hoạt động có hiệu quả;
- Hệ thống thông tin đáp ứng được yêu cầu quản lý;
18
- Không vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động Ngân hàng và các quy định khác của pháp
luật.
2. Bộ máy quản lý của tổ chức tín dụng
Việc hình thành các cơ quan trong bộ máy quản lý của mỗi tổ chức tín dụng do tính chất sở hữu vốn
điều lệ trong tổ chức đó quyết định.
a. Bộ máy quản lý trong tổ chức tín dụng Nhà nước
Tổ chức tín dụng Nhà nước đặt dới quyền quản trị của hội đồng quản trị, quyền điều hành của tổng giám
đốc hoặc giám đốc. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc tổ chức
tín dụng Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc ủy quyền cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
quyết định. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Nhà nước về sự phát triển của tổ chức mình theo mục tiêu
Nhà nước giao. Hội đồng quản trị được lập ra ban kiểm soát để giúp hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát hoạt
động của bộ máy điều hành và các đơn vị trực thuộc. Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ do hội đồng quản trị
giao, phải báo cáo và chịu trách nhiện trước hội đồng quản trị.
Cơ quan điều hành tổ chức tín dụng Nhà nước đứng đầu là tổng giám đốc hoặc giám đốc, Tổng giám
đốc (giám đốc) là đại diện hợp pháp của pháp nhân, có quyền điều hành cao nhất trong tổ chức tín dụng Nhà
nước.
b/ Bộ máy quan lý trong tổ chức tín dụng cổphần
Các cơ quan trong bộ máy quản lý của tổ chức tín dụng cổ phần gồm: đại hội cổ đông, hội đồng quản
trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc hoặc giám đốc.
Đại hội cổ đông là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong tổ chức tín dụng cổ phần. Đại hội cổ
đông bầu ra hội đổng quản trị, bầu ra ban kiểm soát để quản trị và kiểm soát các hoạt động kinh doanh của tổ
chức mình. Điều hành các hoạt động hàng ngay của tổ chức tín dụng cổ phần là tổng giám đốc hoặc giám đốc
do hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn nhiệm.
c/ Bộ máy quản lý trong tổ chức tín dụng có vốn đầu t nước ngoài
* Đối với tổ chức tín dụng liên doanh, cơ quan lãnh đạo cao nhất là hội đồng quản trị.
- Các bên liên doanh chỉ định người của mình tham gia hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần
vốn góp vào tổ chức tín dụng liên doanh.
- Chủ tịch hội đồng quản trị do các bên thỏa thuận cử ra.
- Tổng giám đốc và phó tổng giám đốc do hội đồng quản trị bổ nhiệm để điều hành hoạt động và chịu trách
nhiệm trước hội đồng quản trị về hoạt động điều hành.
- Tổng giám đốc hoặc phó tổng giám đốc thứ nhất phải là ngời của tổ chức tín dụng Việt Nam, cư trú
tại Việt Nam.
* Đối với tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại
Việt Nam thì bộ máy quản lý chỉ có giám đốc.
- Giám đốc do tổ chức tín dụng nước ngoài (nguyên xứ) bổ nhiệm và được sự đồng ý của Chính phủ
Việt Nam.
d. Bộ máy quản lý trong tổ chức tín dụng hợp tác
- Bộ máy quản lý của loại hình tổ chức tín dụng này bao gồm: Đại hội thành viên, hội đồng quản trị,
ban kiểm soát, người điều hành.
- Đại hội thành viên là cơ quan có quyền cao nhất.
Đại hội thành viên bầu ra HĐ quản trị để quản lý tổ chức tín dụng giữa hai ký đại hội, bầu ra ban kiểm
soát để thay mặt các thành viên kiểm soát các hoạt động của tổ chức mình.
Người điều hành trong tổ chức tín dụng hợp tác là giám đốc (hoặc chủ nhiệm) do hội đồng quản trị bổ
nhiệm và miễn nhiệm.
IV. Hoạt động của tổ chức tín dụng
1. Hoạt động huy động vốn
Vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng chủ yếu là từ nguồn vốn huy động. Vì vậy, hoạt động huy
động vốn là nghiệp vụ kinh doanh quan trọng trong các nghiệp vụ kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Pháp luật quy định, tổ chức tín dụng có thể được huy động vốn thông qua các hình thức: Nhận tiền gửi,
phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng hoặc được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước.
a. Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền
gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi có thể được hưởng lãi hoặc không được hư-
19
ởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền.
Pháp luật quy định các loại tiền gửi và quyền huy động các khoản tiền gửi đối với từng tổ chức tín
dụng để nhằm các mục đích sau:
Thứ nhất, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, giúp cho tổ chức tín
dụng sử dụng vốn huy động đạt hiệu quả, đảm bảo khả năng chi trả, đồng thời thông qua đó Nhà nước kiểm
soát có hiệu quả, hạn chế được các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Thứ hai, để người có tiền nhàn rỗi lựa chọn hình thức gửi thích hợp tùy thuộc vào mục đích và khả
năng nguồn vốn của người gửi tiền.
Trong nền kinh tế, tiền gửi của các pháp nhân, thể nhân nhiều loại. Mỗi loại tiền có đặc tính riêng và
việc sử dụng chúng liên quan đến an toàn trong kinh doanh của tổ chức tín dụng. Do đó Điều 45 luật các tổ
chức tín dụng quy định quyền huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng như sau:
- Ngân hàng được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Tổ chức tín dụng phi Ngân hàng được nhận gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức cá nhân
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Để bảo vệ lợi ích của người gửi tiền và bảo đảm khả năng chỉ trả của tổ chức tín dụng, luật các tổ chức
tín dụng có các quy định cụ thể về nghĩa vụ của các tổ chức tín dụng như: Tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo
hiểm tỉền gửi, mức bảo toàn hoặc bảo hiểm theo quy định của Chính phủ;
- Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền mặt theo yêu cầu, đảm bảo trả đầy đủ, đúng hạn gốc và
lãi cho mọi khoản tiền gửi ...
Tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó
số dư bình quân không thấp hơn mức dự trử bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước quy định.
b. Huy động vốn bàng phát hành các giấy tờ có giá
- Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị tr-
ường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc, lãi
cho người mua sau một thời gian nhất định.
- Về phía người mua các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành là chứng chỉ ghi nhận việc đầu
tư vốn và quyền được hưởng thu nhập.
- Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành được chuyển nhượng quyền sở hữu dưới các hình
thức mua, bán, tặng, cho, thừa kế hoặc người sở hữu giấy tờ có giá có thể dùng làm vật cầm cố.
- Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành có thể là giấy tờ có ghi tên hoặc không ghi tên.
- Tổ chức tín dụng muốn huy động vốn bằng phát hành các giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều kiện
mà pháp luật quy định cho từng loại giấy tờ có giá.
Việc tổ chức tín dụng phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn trong dân cư có thể được thực hiện
thường xuyên hoặc không thường xuyên do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định hoặc được ghi trong
giấy phép hoạt động (xem Điều 46 Luật các tổ chức tín dụng).
c. Huy động vốn bằng vay vốn giữa các tổ chức tín dụng
Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế - xã hội, pháp luật còn cho phép tổ chức
tín dụng được vay vốn của các tổ chức tín dụng trong nước và các tổ chức tín dụng nước ngoài.
- Các tổ chức tín dụng cho nhau vay chủ yếu được thực hiện trên thị trường liên NH.
- Việc vay vốn giữa các tổ chức tín dụng nhằm điều hòa, phân phối vốn để tăng cường khả năng thanh toán,
đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động của từng tổ chức tín dụng. Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng tín dụng.
- Khi tổ chức tín dụng thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì có thể vay vốn của các tổ chức
tín dụng nước ngoài. Hoạt động vay vốn của tổ chức tín dụng nước ngoài do tổ chức tín dụng thực hiện thuộc
diện quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
d. Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng Nhà nước sử dụng nhiều loại công cụ trong đó có
công cụ tái cấp vốn.
Điều 48 luật các tổ chức tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng là Ngân hàng được vay vốn ngắn hạn của
Ngân hàng Nhà nước dới hình thức tái cấp vốn theo quy định của luật Ngân hàng Nhà nước (Điều 30).
- Theo quy định của pháp luật hiện hành, đối tượng được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước là tổ chức tín
dụng là Ngân hàng được vay ngắn hạn bằng việc tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước thông qua các hình thức: Cho
20
vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiếu khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay có
đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Ngoài ra, tổ chức tín dụng trong trường hợp đặc biệt tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất
an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng thì có thể được Ngân hàng Nhà nước cho vay khi được Thủ tướng
Chính phủ chấp thuận.
2. Hoạt động tín dụng
* Khái niệm: Hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng là việc chuyển nhượng quyền sở hữu vốn của tổ
chức tín dụng cho các tổ chức, cá nhân với điều kiện hoàn trả lại một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị được
chuyển nhượng sau một thời gian được thỏa thuận trước.
Hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng là hoạt động kinh doanh tiềm ẩn rủi ro cao do tính chất kéo dài
của các quan hệ kinh doanh. Chính vì vậy, so với các hoạt động kinh doanh khác thì hoạt động tín dụng của tổ
chức tín dụng chịu sự điều chỉnh chi tiết và chặt chẽ của pháp luật.
Điều 49 Luật tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dư-
ới các hình thức cho vay, chiếu khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các
hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước".
Hoạt động tín dụng bao gồm:
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho khách hàng.
Tổ chức tín dụng được quyền cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống tùy thuộc vào tính chất và khả năng nguồn vốn của
tổ chức tín dụng.
Khi cho vay, tổ chức tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc, quy chế pháp lý về cho vay.
- Chiết khấu thương phiêú và các giấy tờ có giá ngắn hạn là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín
dụng thông qua việc mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn
thanh toán.
- Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa
bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê.
- Bảo lãnh Ngân hàng và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Đối tượng là mọi tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật(đầy đủ về pháp lý, kinh
tế, về phương án kinh doanh, vốn).
3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Thực chất là họat động nhận tiền gửi.
-Đối tượng là mọi tổ chức, cá nhân, khách hàng trong và ngoài nước.
-Có quyền mở tài khoản nơi thuận tiện nhất cho hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng gắn liền với các hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng. Pháp luật quy định tổ chức tín
dụng trong các hoạt động này có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Tổ chức tín dụng được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tại các tổ chức tín dụng khác.
Riêng tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi bắt buộc phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì
tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước quy định.
- Tổ chức tín dụng được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
Đối với tổ chức tín dụng là Ngân hàng, ngoài các quyền và nghĩa vụ trên còn có quyền:
-Được mở tài khoản cho khách hàng trong nước và ngoài nước.
- Được thực hiện các dịch vụ thanh toán như: cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ
thanh toán trong nước cho khách hàng;
- Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ và các dịch vụ thanh toán khác do Ngân hàng Nhà nước quyết
định;
Khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép, Ngân hàng được thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế.
Ngoài ra, Ngân hàng còn được tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
Ngân hàng trong nước, được tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho
phép.
4. Các hoạt động kinh doanh khác
- Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng khác. Tổng mức vốn góp, mua cổ phần
của tổ chức tín dụng trong tất cả các doanh nghiệp không được vượt quá mức tối đa do Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước quy định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng.
21
Ngoài ra, tổ chức tín dụng nếu thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định còn có thể tham gia thị
trường tiền tệ để thực hiện hoạt động kinh doanh.
- Tổ chức tín dụng được kinh doanh ngoại hối và vàng ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế
khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
- Tổ chức tín dụng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt
động Ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng;
- Được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khầch hàng; được làm các dịch vụ bảo quản
vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
Tổ chức tín dụng được lập công ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Riêng
Ngân hàng có thể được cung ứng các dịch vụ bảo hiểm.
Theo quy định của luật tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng không được trực tiếp kinh doanh bất động
sản.
V. Các biện pháp bảo đảm an toàn trong kinh doanh Ngân hàng
1. Biện pháp quản lý Nhà nước
- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng; kiểm soát đặc biệt.
- Kiểm tra, thanh tra;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Ngân hàng (Nghị định 20/ 2000/NĐ-CP ngày 15.6.2000
về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Ngân hàng)
2. Những hạn chế để đảm bảo an toàn trong họat động kinh doanh Ngân hàng
Pháp luật của các nước thường có các quy định hạn chế sau:
- Cấm các tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng có các mối quan hệ có thể dẫn tới việc lợi dụng vay
vốn để hưởng lợi bất chính hoặc có các quan hệ có thể tạo điều kiện cho việc vi phạm pháp luật. Điều 77 Luật các tổ
chức tín dụng:thanh viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đóc, Ban kiểm soát, quan hệ bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành
viên Hội đồng quản trị, người thẩm định xét duyệt cho vay...
- Cấm tổ chức tín dụng cho vay đối với một khách hàng vượt quá mức cho phép.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam giới hạn cho vay đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự
có, Trung Quốc là 10%, Pháp là 40%.
- Hạn chế cho vay đối với một số đối tượng quy định tại điều 78 chỉ được vay tối đa không quá 5 %
vốn tự có. Và duy trì các tỷ lệ an tòan:
+ Dự trử bnắt buộc từ o% đến 20% tổng vốn huy động.
+ Tỷ lệ đảm bảo khả năng chi trả bằng tài sản “có” có thể thanh tóan ngay/tài sản “nợ” phải trả ngay tại
một thời điểm nhất định. (Tỷ lệ này theo quy định tại Điều 81 là bằng 1.
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng tỷ lệ vốn tự có so với tài sản "Có" kể cả các cam kết
ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro;
+ Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn;
+ Tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi.
3. Biện pháp đảm bảo tiền vay bằng tài sản
Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 quy định giao dịch bảo đảm tiền vay.
Thông tư 06/2000/TTNHNN ngày 04/04/2000 hướng dẫn thi hành Nghị định 178.
- Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: Thế chấp, Cầm cố, Bảo lãnh bằng tài sản, Bảo đảm bằng tài
sản hình thành từ vốn vay.
- Biện pháp bảo đảm tiền vay không bằng tài sản:
Tổ chức tín dụng khách hàng để cho vay không bằng tài sản bảo đảm. Cho vay không có tài sản bảo
đảm theo quy định của Chính phủ. Cho vay bảo lãnh bằng tín chấp của các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần
chúng.
- Biện pháp bảo hiểm tiền gửi: Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999.
22
- CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
I. Chế độ cho vay của các tổ chức tín dụng
1. Những vấn đề chung về cho vay
a/ Khái niệm: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với điều kiện có hoàn trả cả gốc và
lãi.
- Chủ thể tham gia:Bên vay và bên cho vay
- Đối tượng là tiền.
- Hình thức pháp lí là hợp đồng tín dụng.
b/ Hợp đồng tín dụng
* Khái niệm: Hợp đồng tín dụng là sựu thỏa thuận chung bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên
cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả
thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả
gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm.
Hợp đồng tín dụng là một dạng của hợ đồng vay , nên mang những đặc điểm của hợp đồng vay tài sản
nói chung đó là hợp đồng đơn vụ theo quy định tại khoản 2 điều 405 BLDS.
*Hình thức của hợp đồng tín dụng
Pháp luật qui định mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lí
(điều 51 - Luật các tổ chức tín dụng). Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì những ưu điểm sau đây của việc
kí kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản:
- Một là, hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực
hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
- Hai là, việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố công khai, chính thức
về mối quan hệ pháp lí giữa những người lập ước để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những
phương cách xử sự hợp lí, an toàn trong trường hợp cần thiết.
Ba là, việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ quan hữu trách của
chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn. Chẳng hạn như việc thu thuế, lệ phí, kiểm tra, thanh tra tài chính,
kiểm soát hoạt động thương mại của các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
* Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng tín dụng bao gồm:
Bên cho vay (các tổ chức tín dụng)
Bên vay (các tổ chức cá nhân có đủ những điều kiện do luật định).
- Các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay (tổ chức tín dụng).
1. Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp;
2. Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y;
3. Có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hợp pháp;
4. Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng.
- Các điều kiện chủ thể đối với bên vay: các pháp nhân (DNNN, HTX, Công ty TNHH, CTCP,
DNCVDTNN, các tổ chức khác), cá nhân, tổ hợp tác,hộ gia đìn, doanhnghiệp tư nhân.
1. Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với các tổ chức (pháp nhân hay tổ chức
không phải pháp nhân như hộ gia đình, tổ hợp tác) còn phải có người đại diện hợp pháp có năng lực và thẩm
quyền đại diện;
2. Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Ngoài điều kiện chung là năng lực chủ thể, tổ chức và cá nhân muốn vay vốn của các tổ chức tín dụng
còn phải có thêm những điều kiện riêng áp dụng đối với từng chế độ cho vay cụ thể.
- Đốí với khoản vay theo chế độ tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản thì bên vay phải có phương án
sử dụng vốn khả thi và có đủ uy tín đối với tổ chức tín dụng, đồng thời phải là đối tượng thuộc diện được cho
vay không cần bảo đảm theo quy định của Chính phủ;
- Đốí với khoản vay theo chế độ tín dụng có bảo đảm thì bên vay phải có phương án sử dụng vốn khả thi và
có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp
đồng bảo lãnh.
* Nội dung của hợp đồng tín dụng
23
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với
nhau một cách tự nguyện và phù hợp với pháp luật.
Các điều khoản này phản ánh những quyền, nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên tham gia hợp đồng.
Nội dung của hợp đồng tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện và nguyên tắc
hợp pháp.
Theo qui định tại điều 51 - Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng tín dụng phải bao gồm
các điều khoản cụ thể sau đây:
- Điều khoản về điều kiện vay vốn. Khi thoả thuận điều khoản này, các bên cần ghi rõ trong hợp đồng
những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thì mới được chấp nhận vay vốn. Cho vay có đảm bảo hay
không có đảm bảo; hình thức bảo đảm tiền vay; giá trị tài sản bsỏ đảm; biện pháp xử lý tài sản bảo đảm (gán
nợ, bán đấu giá).
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng. Trong điều khoản này, các bên phải thỏa thuận về số tiền vay, lãi
suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn;
- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín dụng về ngày, tháng,
năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày kí hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên
cũng thỏa thuận trước về thời gian gia hạn; các bên thỏa thuận phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án hoặc
chu kỳ kinh doanh hoặc khả năng trả nợ;
- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay, các
bên phải thỏa thuận rõ rằng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp
đồng vay đáo hạn;
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay, trong đó các bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào
mục đích gì (ví dụ, mua vật tư hàng hoá để kinh doanh hay mua hàng hoá để tiêu dùng...); việc chuyển nhượng
hay không chuyễn nhượng hợp đồng.
- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng. Đây là điều khoản mang tính chất tùy nghi, theo đó
các bên có quyền thỏa thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng hoà giải, hoặc
lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình.
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản như cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng
chính), hoặc lập thành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính.
c/ Giao kết hợp đồng tín dụng (Quy trình cho vay)
- Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng.
Bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị
chính là đơn xin vay, kèm theo các giấy tờ tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phư-
ơng án sử dụng vốn vay. (bao gồm: giấy đề nghị vay vốn. tên, địa chỉ, số tiền cần vay, mục đích vay, cam kết
sử dụng vốn, cam kết trả nợ và những cam kết khác, các giấy tờ tài liệu khác chứng minh đủ điều kiện vay
vốn)
Các tài liệu này được bên xin vay gửi cho tổ chức tín dụng xem xét, thẩm định và được coi như một
bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng.
Ngoài ra, mặc dù pháp luật thực định chưa dự liệu nhưng thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt
Nam còn cho thấy rằng bên đề nghị giao kết hợp đồng cũng có thể là tổ chức tín dụng.
Trên thực tế, để tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng, các Ngân hàng cổ
phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam trong nhiều năm qua đã từng chủ
động tìm kiếm khách hàng để giao kết hợp đồng tín dụng với tư cách là bên đề nghị.
Trong trường hợp này, văn bản đề nghị là thư chào mời được gửi cho các tổ chức, cá nhân có khả năng
tài chính mạnh mà tổ chức tín dụng lựa chọn là bên đối tác. Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng)
thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những điều khoản dự thảo cụ thể để cho
bên kia xem xét chấp nhận.
- Thẩm định hồ sơ tín dụng
Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ pháp lí do tổ chức tín dụng thực
hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không.
Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ, cho nên pháp
luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định
rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay.
24
Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết hoặc pháp luật có qui định, tổ chức tín dụng có thể thành lập hội
đồng tín dụng để thẩm định hoặc thuê, trưng cầu các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền thẩm định.
Theo khoản 3, điều 15, qui chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo
quyết định số 324/1998/QĐ-NHNNI ngày 30 tháng 9 năm 1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), thời
hạn thẩm định hồ sơ là 10 ngày làm việc (đối với khoản vay ngắn hạn) và 45 ngày làm việc (đối với các khoản
vay trung, dài hạn).
Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và
phải nêu rõ lí do từ chối cho vay.
- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định chấp nhận
hoặc từ chối cho vay, dựa vào kết quả thẩm định, phân tích và điều tra tín dụng đối với khách hàng.
Chấp nhận cho vay (hay chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng) là hành vi pháp lí do tổ chức tín
dụng (thông qua người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng) thực hiện dưới hình thức một văn bản chính
thức gửi cho bên vay với nội dung đồng ý cho vay kèm theo lời đề nghị gặp gỡ để thoả thuận các điều khoản
cụ thể của hợp đồng tín dụng.
- Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng
Các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng (bao gồm các điều khoản chủ
yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tuỳ nghi). Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã
chính thức kí tên vào văn bản hợp đồng tín dụng.
2. Các loại hợp đồng cho vay thông dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
a/ Hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tài sản
- Khái niệm: cho vay có bảo đảm là một loại quan hệ pháp luật tín dụng trong đó tố chức tín dụng thoả
thuận để cho khách hàng vay được sử dụng một số tiền của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có
hoàn trả trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của người vay hoặc sự bảo lãnh của người thứ
ba.
Biện pháp bảo đảm đó là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh.
- Tài sản bảo đảm: Mục 2 chương VI Thông tư 06. Nghị định 85 điều 11 (sữa đổi bổ sung NĐ 178
ngày 29/12/1999)
+ Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc thuộc quyền sở hữu của người
bảo lãnh.Nếu tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu.
+Tài sản bảo đảm là tài sản được phép giao dịch.
+ Tài sản không có tranh chấp tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm.
+ Tài sản mà pháp luật quy định phải bảo hiểm thì khách hàng vay hoặc người bảo lãnh phải mua bảo
hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm.
Ø
Cầm cố tài sản để vay vốn ở tổ chức tín dụng
* Khái niệm: Cầm cố tài sản vay vốn ở tổ chức tín dụng là việc bên vay cam kết dùng các động sản của
mình để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng.
* Tài sản cầm cố (Đối tượng cầm cố) gồm những động sản có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
- Đang thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên vay;
- Có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay;
- Không có trạnh chấp, không bị pháp luật cấm hoặc hạn chế chuyển nhượng.
Ngoài ra, đối với những động sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng kí quyền sở hữu thì giấy tờ chứng
nhận quyền sở hữu tài sản cũng đương nhiên thuộc về tài sản cầm cố.
* Về thủ tục cầm cố, hình thức cầm cố pháp luật qui định rằng việc cầm cố phải tuân thủ các qui tắc
pháp lí sau đây:
- Việc cầm cố phải được lập thành văn bản có thủ tục công chứng Nhà nước. Văn bản này gọi là hợp
đồng cầm cố.
Về nguyên tắc, hợp đồng cầm cố phải do các bên trực tiếp kí kết và sau đó phải được chứng thực bởi
công chứng viên hoặc cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền. Sự chứng thực của cơ quan Công chứng Nhà
nước đối với hợp đồng cầm cố có tác dụng tạo ra chứng cứ pháp lí ghi nhận tính xác thực của việc cầm cố, góp
phần ngăn ngừa các vi phạm pháp luật và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân trong lĩnh
vực tín dụng;
25